Từ xưa đến nay, ruộng đất luôn là tư liệu sản xuất quan trọng, thứ tài sản quý giá của mọi quốc gia, nhất là đối với các quốc gia có đa số cư dân làm nghề nông nghiệp.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
BỘ MÔN LỊCH SỬ
NGUYỄN THỊ LÝ
SỞ HỮU VÀ SỬ DỤNG RUỘNG ĐẤT Ở HUYỆN
PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
(TỪ 1997 ĐẾN 2008)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Lý Lớp: Cử nhân Lịch Sử K5 Khóa: 2007-2011 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Duy Tiến
Thái Nguyên, 2011
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay, ruộng đất luôn là tư liệu sản xuất quan trọng,thứ tài sản quý giá của mọi quốc gia, nhất là đối với các quốcgia có đa số cư dân làm nghề nông nghiệp
William Petty (1623-1687) một nhà kinh tế học ở thế kỷ XVII
đã nhận định về tầm quan trọng của đất đai đối với đời sống con
người như sau: “Lao động là cha, đất là mẹ của của cải vật
chất”.
Việt Nam là một quốc gia có hơn 90% dân số làm nôngnghiệp cho nên ruộng đất càng trở nên quan trọng và quý giá.Phần mở đầu của luật đất đai được quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ 15-10-1993
đã nhận định:
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các nhu cầu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”.
Trang 4Ở nước ta, dưới chế độ phong kiến, nông nghiệp luôn luôngiữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Nó là nguồn chủ yếu cungcấp lương thực, thực phẩm; là ngành duy nhất tạo ra thức ăn cácloại cho con người.
Mà ruộng đất và nông dân lại là yếu tố cơ bản của nôngnghiệp và nông thôn “Ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọngnhất, là loại tư liệu sản xuất đặc biệt, không gì có thể thay thếđược” Chính vì vậy mà các nhà nước phong kiến luôn quan tâmđến vấn đề ruộng đất Các vương triều phong kiến luôn đề ranhững chính sách nhằm nắm được ruộng đất để có nguồn thuthuế làm bổng lộc, lương cho đội ngũ quan lại, binh lính và giảiquyết phần nào những đòi hỏi của nông dân
Đầu năm 1930, từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập thìcách mạng ruộng đất đã trở thành nội dung chủ yếu của nhiệm
vụ chống phong kiến, là một trong hai nhiệm vụ chủ yếu củacách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Với đường lối đúng đắn,coi ruộng đất là nội dung cơ bản của chính sách liên minh côngnông, Đảng đã tập hợp được đông đảo quần chúng làm nênthắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945, sau đó đánh đuổi thựcdân Pháp 1954
Trang 5Sau năm 1954, đất nước chia cắt thành hai miền Nam, Bắcvới những hoàn cảnh và nhiệm vụ cách mạng khác nhau MiềnBắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng đã chủ trương tiến hànhtập thể hóa nông nghiệp từ năm 1958 trở đi Theo đó, hầu hếtruộng đất cũng như sản xuất nông nghiệp đều đặt dưới sự quản
lý của hợp tác xã Miền Nam còn chưa được giải phóng khỏi áchthống trị của đế quốc phong kiến nên nhiệm vụ của cách mạngruộng đất lúc này là: “Thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn
đề ruộng đất cho nông dân, làm cho người cày có ruộng” Thắnglợi của cách mạng ruộng đất đã xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộngđất, bóc lột của địa chủ phong kiến và thực dân, thực hiện triệt
để khẩu hiệu: “Người cày có ruộng”
Trước yêu cầu đổi mới và để tiếp tục phát triển kinh tế nôngnghiệp, ngày 13/1/1981, chỉ thị 100 CT/TW ra đời quyết địnhchủ trương thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đếnnhóm và người lao động Năm 1981 được coi là dấu mốc khởiđầu cho một quá trình đổi mới từng bước cơ chế quản lý nôngnghiệp nói chung, cơ chế quản lý hợp tác xã nông nghiệp nóiriêng ở nước ta Tiếp theo đó, ngày 5/4/1988, Bộ chính trị Trungương Đảng đã ra nghị quyết về “Đổi mới quản lý kinh tế nông
Trang 6nghiệp” (gọi tắt là Nghị quyết 10) Nghị quyết 10 đã tiến mộtbước dài trong việc định lại vị trí của kinh tế hộ gia đình và vaitrò quyền lợi của người lao động trong quan hệ kinh tế nôngthôn Từ đây, ruộng đất đã chuyển từ chế độ sở hữu tập thể sangchế độ công hữu tư dụng (sở hữu tư nhân hạn chế).
Năm 1997, sau hơn 30 năm hợp nhất với tỉnh Bắc Kạn thànhtỉnh Bắc Thái, tỉnh Thái Nguyên đã được tái lập lại gồm 9 đơn
vị hành chính trực thuộc: các huyện Định Hóa, Võ Nhai, PhúLương, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình, thị xã Sông Công
và thành phố Thái Nguyên Trong đó, huyện Phú Bình nắm giữmột vị trí quan trọng, Đảng bộ Phú Bình trở thành đầu mối trựcthuộc tỉnh ủy Thái Nguyên Sự đổi mới của Đảng đã đáp ứngđúng tâm lý, nguyện vọng của đông đảo nhân dân, khơi dậy mộtkhí thế mới, cổ vũ hàng triệu hộ nông dân bỏ vốn, bỏ sức pháttriển sản xuất, xây dựng nông thôn Tại Phú Bình, diện tích vàsản lượng lúa không ngừng tăng Năm 1998 diện tích lúa gieotrồng tăng từ 12952 ha lên 13528 ha (năm 2000), sản lượng lúatăng từ 43399 tấn (năm 1998) lên 52085 tấn (năm 2000) Sở dĩsản lượng cũng như diện tích trồng lúa của huyện Phú Bìnhtrong những năm này ổn định và có sự tăng trưởng khá là do sự
Trang 7thay đổi về sở hữu và sử dụng ruộng đất Tuy nhiên cho tới nayvẫn chưa có một công trình khoa học hay một tài liệu chuyênkhảo nào nghiên cứu một cách chi tiết về vấn đề này.
Xuất phát từ lý do nêu trên chúng tôi chọn đề tài “Sở hữu và
sử dụng ruộng đất ở huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên 2008” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Chúng tôi hi vọng sẽ gópmột phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu mức độ sử dụng ruộng đấtcủa từng giai tầng Trên cơ sở đó, giúp chúng ta có cái nhìn cănbản và toàn diện về tình hình kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân,tập quán sản xuất… Từ đó, tác giả mong muốn đóng góp thêm
1997-cơ sở khoa học cho Đảng bộ và địa phương trong việc quản lýruộng đất, phát triển nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, vấn đề ruộng đất đã được trình bày trong nhiềutác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng ta và các nhà nghiên cứukhoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Về lịch sử chế độ ruộng đất thời kỳ cổ trung đại và cận đại cócác chuyên khảo của các tác giả như: Phan Huy Lê: Chế độ
Trang 8ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ, Nxb Văn-sử-địa,
Hà Nội, 1959; Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất ở ViệtNam thế kỷ XVII, Nxb khoa học xã hội, tập 1, Hà Nội, 1982…
Về vấn đề ruộng đất trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ
có tác phẩm: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1975 của đồng chí Trường Chinh; giai cấp vô sản vớivấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật, HàNội, 1965 của đồng chí Lê Duẩn
Về vấn đề ruộng đất, nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ đổimới có những tác phẩm như: Thực trạng nông nghiệp nông thôn
và nông dân Việt Nam từ năm 1976 đến 1990, Nxb Thống Kê,
Hà Nội, 1991 của Nguyễn Sinh Cúc; vấn đề sở hữu và sử dụngruộng đất trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở ViệtNam, Nxb Chính Trị quốc gia, Hà Nội, 1999 của Hoàng Việt.Gần đây, nhất là tác phẩm “Quá trình thực hiện quyền sở hữuruộng đất cho nông dân ở Thái Nguyên (1945-1957); Nxb chínhtrị quốc gia của tiến sĩ Nguyễn Duy Tiến Một công trình nghiêncứu quy mô về tình hình cải cách ruộng đất của tỉnh TháiNguyên trong giai đoạn 1945-1957 xem xét mức độ sở hữu,phương thức sử dụng ruộng đất của từng giai tầng Tiếp theo là
Trang 9đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử : sở hữu và sử dụng ruộng đất ởtỉnh Thái Nguyên (1988- 2005) của Phí Văn Liệu; Đại học sưphạm – ĐHTN ;2009 cũng đã bảo vệ thành công và nhận được
sự đánh giá cao
Bên cạnh đó có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn
đề ruộng đất huyện Phú Bình như:
Tác phẩm “Đồn điền của người Pháp ở Bắc Kỳ” của Tạ ThịThúy
Tác phẩm “Tiểu chí Thái Nguyên” 1932 của công sứ Pháp E.Chinard có đề cập nhiều vấn đề như diện tích đất đai, chăn nuôi,một số đồn điền lớn ở Thái Nguyên trong đó có huyện Phú Bình.Luận văn “Huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên qua tư liệu địa
bạ triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” của tác giả Lê Thị ThuHương Một công trình nghiên cứu tập hợp có hệ thống các tàiliệu và kết quả nghiên cứu về tình hình sở hữu ruộng đất củahuyện Phú Bình”
Đề tài nghiên cứu khoa học “Đồn điền của thực dân Pháp ởhuyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên” của Trương Thị KhánhDung tập trung nghiên cứu những hoạt động chung nhất của quá
Trang 10trình cướp đất, khai thác, quản lý và bóc lột của thực dân Pháptại các đồn điền ở huyện Phú Bình trong giai đoạn từ năm 1897đến năm 1945.
Với số lượng tài liệu đồ sộ trên đây, tình hình ruộng đất, nôngnghiệp, nông thôn và nông dân ở nước ta trong suốt một thời kỳdài đã phần nào được làm rõ Tuy nhiên trong phạm vi nghiêncứu nhỏ hẹp là “Sở hữu và sử dụng ruộng đất ở huyện Phú Bìnhtỉnh Thái Nguyên 1997-2008” thì cho tới nay vẫn chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu Mặc dù vậy, các công trình nghiêncứu đi trước đã phác họa bức tranh toàn cảnh về vấn đề ruộngđất, nông nghiệp, nông thôn ở nước ta Đó là ý kiến gợi mở quýbáu, là cơ sở để tôi nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốtnghiệp
3 Đối tượng nghiên cứu, mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là:
Tìm hiểu về tình hình sở hữu và sử dụng ruộng đất trong đónhấn mạnh về phương thức khai thác ruộng đất ở huyện Phú
Trang 11Bình – một huyện có 98,8% cư dân nông thôn sống bằng nôngnghiệp trong các làng xã từ sau khi có quyết định tách tỉnh năm1997.
3.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các nguồn tư liệu và các kết quảnghiên cứu về ruộng đất huyện Phú Bình, mục đích của đề tàinghiên cứu này là nhằm:
Hệ thống hoá các nguồn tư liệu về ruộng đất ở huyện PhúBình từ 1997-2008
Xem xét sự thay đổi về hình thức sở hữu và phương thức sửdụng ruộng đất ở huyện Phú Bình so với giai đoạn trước đó
Xem xét những biến đổi trong sản xuất nông nghiệp ở huyệnPhú Bình
Tìm hiểu những mặt mạnh, những vấn đề còn yếu kém ở địaphương trong quá trình sản xuất Trên cơ sở đó đưa ra một vàigiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng quyền sở hữu ruộngđất cho nông dân huyện Phú Bình
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Phạm vi không gian được nghiên cứu của đề tài là toàn bộhuyện Phú Bình hiện nay.
Phạm vi thời gian được nghiên cứu là từ năm 1997 (từ khi cóquyết định tách tỉnh) đến 2008
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng cácnguồn tài liệu sau:
Tài liệu chuyên khảo: các tạp chí chuyên ngành, các tácphẩm thông sử đã được công bố và xuất bản…
Tài liệu lưu trữ: bao gồm các Thông tư, Chỉ thị, Sắc lệnh, Sốliệu thống kê, Báo cáo của các cơ quan, Đảng và nhà nước cáccấp đang lưu tại phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thái Nguyên, lưu trữ Ủyban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy TháiNguyên…Đây đều là những tài liệu có độ chính xác cao và đángtin cậy
Trang 13Nguồn tư liệu địa phương: Lịch sử đảng bộ huyện Phú Bình,
Dư địa chí Thái Nguyên (trong đó có ghi chép rất kỹ về huyệnPhú Bình tỉnh Thái Nguyên)
Nguồn tư liệu điền dã: để hiểu thêm thực tế những vấn đềruộng đất trong thời kỳ này, cũng như để thẩm định một số vấn
đề mà tư liệu lưu trữ không nói rõ hoặc có những mâu thuẫn, tôi
đã tiến hành các đợt thực địa tại huyện Phú Bình Qua đó cũngphần nào thấy được những thay đổi trong đời sống của nhân dân.Ngoài ra các tư liệu truyền miệng do các cụ già cao tuổi kể lạirất phong phú và đa dạng giúp tôi có thêm những tư liệu cầnthiết để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình Đồng thời đề tàicòn được kế thừa những kinh nghiệm quý báu từ những côngtrình nghiên cứu trước đó
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Từ nguồn tư liệu trên, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử
và logic là chủ yếu
Đề tài cũng sử dụng phương pháp thống kê, đối chiếu, sosánh nhằm rút ra sự tương đồng hay khác biệt về sở hữu và sử
Trang 14dụng ruộng đất của địa bàn qua các thời điểm cũng như giữa địabàn với nơi khác
Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp điền dã và phươngpháp hệ thống
Do các nguồn tư liệu báo cáo, số liệu thống kê còn nhiều chỗcần làm rõ Vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát thực địa tại một sốnơi để sưu tầm tư liệu mà các báo cáo, số liệu thống kê khôngphản ánh đầy đủ
5 Đóng góp của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về sở hữu và sử dụngruộng đất ở huyện Phú Bình giai đoạn 1997-2008 Trên cơ sởcác nguồn tư liệu, đề tài góp phần làm rõ những biến đổi về tìnhhình ruộng đất ở huyện Phú Bình từ năm 1997-2008 trên cácphương diện hình thức sở hữu, phương thức khai thác và sửdụng
Trên cơ sở đánh giá thực trạng ruộng đất ở huyện Phú Bình,
đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngquyền sở hữu ruộng đất cho nông dân huyện Phú Bình Qua đó,mong muốn đóng góp thêm cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch
Trang 15định đề ra được những chính sách phù hợp thúc đẩy nông nghiệpcủa huyện Phú Bình phát triển.
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo,bản đồ, nội dung của đề tài được chia làm ba chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Phú Bình
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Chương 2: Chuyển biến sở hữu ruộng đất ở huyện Phú Bìnhdưới tác động của khoán 10
2.1 Sở hữu ruộng đất ở Phú Bình trước khoán 10
2.2 Chuyển biến sở hữu ruộng đất ở Phú Bình dưới tácđộng của khoán 10
Chương 3 : Sở hữu và sử dụng ruộng đất ở huyện PhúBình, tỉnh Thái Nguyên (1997 – 2008)
3.1 Các hình thức sở hữu
3.2 Hiện trạng sử dụng ruộng đất
Trang 163.3 Phương thức khai thác
3 4 Một vài giải pháp nhằm nâng cao quyền sở hữu vàhiệu quả sử dụng ruộng đất cho nông dân ở huyện Phú Bìnhtrong giai đoạn hiện nay
Trang 17Bản đồ huyện Phú Bình
Trang 18Chương 1.
Khái quát về huyện Phú Bình
1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Phú Bình là huyện nằm ở phía Đông Nam tỉnh Thái Nguyên.Thời Lý vùng đất huyện Phú Bình ngày nay có tên là huyện TưNông thuộc châu Thái Nguyên; thời Minh thuộc phủ TháiNguyên; thời Lê thuộc Thái Nguyên Thừa Tuyên; Ninh SócThừa Tuyên Đầu thế kỷ XX toàn quyền Đông Dương đổi tênhuyện Tư Nông thành phủ Phú Bình
Trước cách mạng tháng Tám 1945, phủ Phú Bình là mộthuyện trong 7 phủ, huyện, châu của tỉnh Thái Nguyên gồm 9tổng, 46 xã, 7 thôn và 1 phường
Ngày 25/3/1948, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra sắc lệnh số 148/SL, quy định bãi bỏ các chức danh từ phủ,châu, quận; cấp trên xã gọi là cấp huyện Từ đó phủ Phú Bìnhđược gọi là huyện Phú Bình
Trang 19Hơn 5 thế kỷ tồn tại và phát triển, cương vực huyện Phú Bìnhngày nay căn bản như đất Tư Nông xưa, không có biến đổi lớn,ngoại trừ việc ngày 19/10/1962, Thủ tướng chính phủ nước ViệtNam dân chủ cộng hoà ra quyết định số 114/CP chuyển một sốxóm của hai xã Thượng Đình và Lương Sơn về thành phố TháiNguyên Ngày 8/4/1985, chủ tịch hội đồng bộ trưởng (nay là thủtướng chính phủ) ra quyết định số 109/HDBT tách xã LươngSơn sáp nhập về thành phố Thái Nguyên Hiện nay huyện PhúBình có 21 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 20 xã (Đồng Liên,Bàn Đạt, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Tân Hòa, Tân Đức,Dương Thành, Thành Ninh, Lương Phú, Kha Sơn, Hà Châu,Nga Mi, Úc Kỳ, Nhã Lộng, Điền Thụy, Thượng Đình, Đào Xá,Bảo Lý, Xuân Phương) và một thị trấn (Hương Sơn) bao gồm
311 xóm và 4 tổ dân phố
Phú Bình là huyện nằm ở vùng Đông Nam của tỉnh TháiNguyên, nơi tiếp giáp giữa vùng trung du Bắc Bộ và vùng miềnnúi phía Bắc, huyện lị đặt tại thị trấn Hương Sơn cách thành phốThái Nguyên 28 km theo quốc lộ số 37 và cách thủ đô Hà Nội
50 km
Địa giới của huyện được xác định:
Trang 20Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đồng Hỷ.
Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phốThái Nguyên
Phía Đông giáp huyện Yên Thế (Bắc Giang)
Phía Nam giáp huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang)
Huyện có tọa độ địa lý 21o23’ đến 21o35’ vĩ bắc và 105o51’đến 106o02’ kinh đông
Với vị trí địa lý như vậy, huyện Phú Bình gần với trung tâmtỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, thủ đô Hà Nội và gần các khucông nghiệp lớn như khu công nghiệp Sông Công (TháiNguyên), các khu công nghiệp của Hà Nội nên có điều kiện giaolưu hàng hóa dễ dàng và có khả năng phát triển kinh tế củahuyện theo hướng công nghiệp hóa và đô thị hóa
Với hai dải đất nằm dọc Sông Cầu nhiều làng ven sông trênbiển dưới thuyền, Phú Bình được coi là một trong những nơi cóthắng cảnh đẹp từ ngàn xưa của xứ Thái Nguyên, là cái nôi củanền văn hóa lâu đời trên đất Việt: Đình Xuân La, chùa Úc Kỳ…được xây dựng từ thời Lý - Trần với kiến trúc nghệ thuật độc
Trang 21đáo đã tạo nên vẻ đẹp thanh bình cho vùng quê lấy gieo trồnglúa nước làm cơ sở sinh tồn và phát triển.
Từ ngày căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn – Võ Nhai ra đời,vùng quê này đã đi vào lịch sử như những “địa chỉ đỏ” - nơinuôi dưỡng, đùm bọc, chở che cho nhiều cán bộ cấp cao củaĐảng trong những năm cách mạng còn trong bóng tối đầy giannan thách thức Qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dântộc, nhiều tên đất, tên làng đã trở thành di tích cách mạng, đượcnhà nước công nhận như : chùa Mai Sơn, đình Kha Sơn…Huyện Phú Bình cùng với 8 thị trấn : Kha Sơn, Lương Phú, HàChâu, Tân Đức, Thanh Ninh, Dương Thành, Hương Sơn đượctặng danh hiệu “ anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân “ thời kỳkháng chiến chống Pháp
Huyện Phú Bình có diện tích tự nhiên là 249,36 km2 đượcchia thành ba vùng
Vùng phía Bắc và Đông Bắc nằm bên tả ngạn sông Máng làvùng bán sơn địa (vùng 1) có diện tích tự nhiên là 13833,84 ha;vùng trung tâm huyện (vùng II) bao gồm 8 xã và thị trấn huyện
lị, có diện tích tự nhiên 5583,88 ha; vùng phía Tây và Tây Nam(vùng III) gồm 6 xã có diện tích tự nhiên 4518,39 ha
Trang 22Phú Bình là huyện có đặc điểm đa dạng về địa hình, có cảmiền núi, trung du và đồng bằng Nhìn chung, địa hình huyệntương đối bằng phẳng, vùng đồi núi chủ yếu là đồi bát úp thoải
và thấp Đây là điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp(đặc biệt là cây lương thực) và cho các hoạt động quân sự trongthời chiến cũng như trong thời bình
Tổng quỹ đất của huyện có 24936,11 ha trong đó diện tích đấtdùng cho nông nghiệp là lớn nhất :13845,93 ha chiếm tỷ trọng55,52% diện tích tự nhiên
Trang 23Đất feralit nâu vàng phát triển trên mẫu đất phù sa cổ, đất nàyphân bố chủ yếu ở các xã dọc triền suối, triền sông có địa hìnhthoải Đất có độ phì cao, khả năng giữ ẩm và dinh dưỡng tốt.Đất phù sa sông Cầu được bồi tụ hàng năm, có khả năng giữnước, giữ ẩm tốt, được xếp vào loại canh tác tốt nhất tronghuyện, có diện tích 1538,6 ha chiếm tỷ lệ 6,3% diện tích đất tựnhiên.
Đất lúa trên sản phẩm dốc tụ: phân bố rải rác ở các sườn dốc,các thung lũng lòng chảo đã được khai phá để trồng lúa nước códiện tích 5785,61 ha chiếm tỷ lệ 23,7% diện tích đất tự nhiên.Đất bạc màu có tỷ lệ cát thô cao, mực độ thấm nước theochiều sâu mạnh, đất xấu, năng suất cây trồng thấp, có diện tích1618,5 ha chiếm 6,6% diện tích đất tự nhiên
Ngoài những loại đất chủ yếu như đất feralit nâu vàng, đấtphù sa, đất lúa, Phú Bình còn có một số loại đất khác như: đấtthung lũng chua, đất lầy thụt Tuy nhiên các loại đất này chiếm
tỉ lệ không đáng kể Với tiềm năng đất nói trên nếu được cải tạo
sẽ là nguồn tư liệu màu mỡ cho sản xuất nông nghiệp
Trang 24Phú Bình nằm ở Bắc chí tuyến trong vành đai Bắc bán cầunên khí hậu của huyện mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới giómùa So với các huyện khác trong tỉnh, huyện Phú Bình có độ
ẩm cao, trung bình từ 81,9% đến 82% Do địa hình tương đốibằng phẳng nên huyện Phú Bình có tần suất lặng gió thấp,khoảng từ 15% đến 20% tốc độ gió cũng lớn hơn các huyệnmiền núi, hướng gió thay đổi rõ rệt theo hệ thống hoàn lưu, mùa
hè thường có gió Đông Nam mát mẻ, mùa đông có gió ĐôngBắc thời tiết lạnh
Nguồn nước của huyện tương đối phong phú do sông Cầu vàsông Đào cung cấp Bên cạnh đó, hệ thống thủy nông Hồ NúiCốc và 119 hồ trữ nước cung cấp nước tưới cho hơn 1000 ha đấtcanh tác thuộc các xã Tây Nam, Tây Bắc của huyện Ngoài sôngCầu và sông Đào, trên địa bàn huyện Phú Bình còn có hơn 40 hồchứa nước lớn, nhỏ và hàng ngàn ao đầm cùng với một số suốinhỏ ở các xã Tây Bắc huyện Do vậy gặp những năm thời tiếtthất thường, diện tích đất gieo trồng bị khô hạn của huyện PhúBình cũng ít hơn những huyện khác trong tỉnh Huyện Phú Bình
có trữ lượng nước ngầm khá lớn và ở độ sâu vừa phải (trungbình dưới mặt đất 4 m là thấy mạch nước ngầm)
Trang 25Với cấu trúc địa hình gồm vùng đồi núi và núi thấp cộngthêm khí hậu nhiệt đới gió mùa mưa nhiều độ ẩm cao nên thảmthực vật ở đây rất phong phú, đa dạng, tạo nhiều thuận lợi đểphát triển ngành sản xuất lâm nghiệp Hiện nay trên địa bànhuyện có 6332,68 ha ruộng chiếm 25,40% diện tích đất tự nhiên.Trong đó chủ yếu là rừng trồng Các xã có nhiều rừng là: TânKhánh, Nga My, Triều Dương, Tân Đức…
Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện Phú Bình tương đốidày đặc Quốc lộ 37 từ thành phố Thái Nguyên chạy qua suốtchiều dài của huyện đến thị xã Bắc Giang Quốc lộ 38 từ ĐiềmThụy qua Hà Châu, Kha Sơn đi Nhã Nam (tỉnh Bắc Giang).Ngoài 2 tuyến quốc lộ nói trên, Phú Bình còn có 120 km đườngliên thôn đảm bảo cho xe ô tô đi lại thuận tiện đến các thôn xãtrong xóm
Như vậy, điều kiện địa lý tự nhiên của huyện Phú Bình rấtthuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp Nó đã góp phần đưahuyện Phú Bình trở thành vựa thóc và cũng là nguồn cung cấpthực phẩm (trâu, bò, lợn, rau quả…) rất quan trọng cho thànhphố Thái Nguyên và các khu công nghiệp phía Nam của tỉnhThái Nguyên
Trang 261.2 Điều kiện kinh, tế xã hội.
1.2.1 Về kinh tế
Nhân dân Phú Bình sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nôngnghiệp Diện tích đất nông nghiệp là 13845,93 ha trong đó có10085,14 ha đất trồng cây hàng năm; 9296,55 ha đất vườn tạp,1060,43 ha đất trồng cây lâu năm Với tiềm năng đất đai nhưvậy, nhân dân Phú Bình cần cù lao động, giàu kinh nghiệm sảnxuất, Phú Bình có điều kiện để phát triển nông nghiệp Ngoài raPhú Bình còn có 400,8 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản Trongnông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi vẫn giữ vai trò chủ đạo.Dưới thời Pháp thuộc, diện tích đất trồng trọt bị bỏ hoang cònnhiều, chỉ tính riêng thời Pháp thuộc đã lên tới 4000 ha Dướithời chiến, các loại cây công nghiệp và cây ăn quả được đưa vàotrồng thử song không thu được kết quả
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thốngnhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong nhữngnăm thực hiện đường lối đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóacủa Đảng gần đây, sản xuất nông lâm nghiệp của huyện đượcgiữ vững và phát triển trên tất cả các mặt
Trang 27Năm 2005, trong toàn huyện diện tích đất nông nghiệp là13622,79 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 6229,93 ha; sản lượnglương thực có hạt đạt 66376 tấn; sản lượng lương thực có hạtbình quân trên người đạt 466 kg Năng suất các cây công nghiệpngắn ngày, dài ngày tương đối ổn định
Về chăn nuôi, dưới thời Pháp thuộc ngành này phụ thuộchoàn toàn vào trồng trọt kết hợp với trồng trọt trở thành một cơcấu không thể tách rời Sau ngày đất nước độc lập, ngành chănnuôi đã được chú trọng Chăn nuôi gia súc, gia cầm của huyệntiếp tục được giữ vững và phát triển trong thời gian gần đây.Đàn trâu bò tăng từ 22549 con (2001) lên 26994 con (2005).Đàn lợn cũng tăng từ 88008 con (2001) lên 107737 con (2005)
So với thời Pháp thuộc thì đây là cả một sự cố gắng lớn
Sản xuất nông nghiệp tuy còn khó khăn, phụ thuộc vào thiênnhiên nhưng từ xưa đến nay Phú Bình vẫn được coi là vựa lúa,kho người, kho của ở Thái Nguyên Do vị trí địa lý, giao thôngthuận tiện cho việc giao lưu hàng hoá, đặc biệt thuận tiện trongcung cấp lương thực, thực phẩm cho thị trường Thái Nguyên,Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội nên buôn bán ở Phú Bình có một
vị trí đáng kể Huyện Phú Bình có một số chợ lớn nằm sát
Trang 28đường giao thông, đó chính là những cầu giao lưu hàng hoá đốivới các vùng xung quanh như chợ Đồn, chợ Cầu, chợ Tân Đức,chợ Hanh Thị trấn Hương Sơn ngày càng mở rộng, dân cư hội
tụ về đây buôn bán ngày một sầm uất
Nét nổi bật trong nông thôn Phú Bình trong 15 năm trở lạiđây, cơ cấu kinh tế gia đình phát triển khá đa dạng, vững chắc:trồng cây, nuôi cá, nuôi gia súc gia cầm và làm thủ công nghiệpgia đình
Trong những năm gần đây, cơ cấu sản xuất của huyện PhúBình đã chuyển đổi nhanh chóng theo hướng phát triển kinh tếhàng hóa gắn với thị trường, giữ vững diện tích trồng lúa, đẩymạnh thâm canh, thực hiện chương trình cao sản, kinh tế vườnphát triển nhanh từ 1362 ha năm 2001 lên 1882 ha năm 2005.Tiềm năng về kinh tế nhất là tiềm năng về đất đai và sức laođộng là đặc điểm đáng chú ý nhất của Phú Bình Những năm 90trở về trước, cơ cấu kinh tế của huyện chủ yếu là nông nghiệp(chiếm 91%) đến năm 2004 nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng70,54%, công nghiệp - xây dựng chiếm 11,38%, dịch vụ chiếm18,07% Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong năm (2001-
Trang 292005) toàn huyện đạt 6,8%; đời sống nhân dân được cải thiện,góp phần ổn định chính trị và an ninh xã hội trong vùng.
1.3.2 Về xã hội
Dân cư huyện Phú Bình do nhiều bộ phận hợp thành Bêncạnh một bộ phận lớn là dân bản địa định cư từ lâu đời là một bộphận dân cư do bọn điền chủ người Pháp và người Việt mộ vàolàm thuê cho chúng ở các đồn điền Một bộ phận khác là đồngbào ở các tỉnh vùng địch tạm chiếm lên tân cư kháng chiến, rồi ởlại định cư lâu dài và một bộ phận là đồng bào các địa phươngkhác tự do di cư đến địa bàn huyện sinh cơ, lập nghiệp
Chỉ tính trong hơn 70 năm qua ( từ 1932 đến 2005 ) dân sốtoàn huyện đã không ngừng tăng từ 19120 người lên 141936người Trên địa bàn huyện có 14 dân tộc anh em cùng chungsống Chúng ta có thể thấy được con số đó qua bảng thống kêsau:
Biểu 1.1: Thành phần các dân tộc huyện Phú Bình (tính đến 1/4/1999)
Trang 31(cao thứ hai trong 9 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh – chỉ sauthành phố Thái Nguyên có mật độ dân số là 330,44 người/km2).
Về giáo dục, y tế: thời thực dân Pháp ngoài việc đàn áp,khủng bố tàn bạo, chúng còn sử dụng những thủ đoạn thâm độcnhư bần cùng hóa người nông dân, thi hành chính sách ngu dân,chia rẽ lương và giáo Sau cách mạng tháng Tám, sự nghiệp giáodục đào tạo của Phú Bình đã có sự quan tâm phát triển ở nhiềubậc học Công tác y tế , chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều cốgắng và chuyển biến rõ rệt Năm 2005, toàn huyện có 26 cơ sở y
tế với 250 giường bệnh Toàn huyện có 210 cán bộ y tế; 100%các trạm y tế đã có từ 1 đến 2 bác sĩ; 100% các xóm đã có cán
bộ y tế thôn, bản Các cơ sở y tế của huyện được trang bị cácthiết bị khám, chữa bệnh tương đối hiện đại
Trang 32Dưới thời Pháp thuộc, nhân dân huyện Phú Bình sống vôcùng cơ cực “xã Tân Khánh có 129 hộ thì có 100 hộ thiếu ănquanh năm; xã Thanh Ninh có tới 30% số người lao động phải
đi ở quanh năm Chế độ tô tức đã mang lại cảnh đói nghèo chonông dân ở đây, cảnh cầm cố, bán ruộng bán vườn thường xuyênxảy ra”
Trong khi đó thực dân Pháp còn ra sức đầu độc nhân dânbằng thuốc lá rượu cồn, thuốc phiện, mê tín dị đoan, khuyếnkhích các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, cô đầu… Bàn đèn hút thuốcphiện, sòng bạc hầu như làng nào, ấp nào cũng có công khai.Không ít người vì đam mê cờ bạc, nghiện ngập mà gia tài khánhkiệt, gia đình tan nát… Lợi dụng tôn giáo để mê hoặc, đầu độc
và chia rẽ nhân dân cũng là một thủ đoạn thâm độc của bọnthống trị, đáng chú ý là bọn chúng lợi dụng đạo Thiên chúa để
mê hoặc giáo dân, chia rẽ lương và giáo Trên thực tế, tuy sốgiáo dân chỉ chiếm 25% số dân toàn huyện nhưng vì một sốngười lạc hậu, cuồng tín nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng
Có thể nói, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Phú Bìnhtrước cách mạng tháng Tám 1945 đã phản ánh đặc trưng củamột xã hội thuộc địa nửa phong kiến, chứa chất đầy mâu thuẫn,
Trang 33sâu sắc nhất là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn thực dân cướpnước.
Giờ đây, xã hội Phú Bình đã có nhiều đổi mới, người dânđược sống dưới chế độ cộng hòa, mọi người đều bình đẳng.Nhân dân Phú Bình đã tạo ra nhiều công trình văn hóa nghệthuật đặc sắc có giá trị Nhiều di tích lịch sử còn được lưu giữtrên mảnh đất này như: đình Phương Độ, chùa Mai Sơn…
Đời sống tinh thần của nhân dân ngày thêm phong phú vớinhững làn điệu dân ca như hát ví, hát chèo, hát chống quân Bêncạnh đó là kho tàng ca dao tục ngữ đa dạng, đúc kết kinhnghiệm sản xuất, chế diễu thói hư tật xấu trong xã hội
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ngày càngphát triển đã tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, đậm đà bảnsắc cho người dân Phú Bình đặc biệt là thế hệ trẻ
Tiểu kết chương 1:
Như vậy với vị trí địa lý hết sức thuận lợi (tiếp giáp với cáctrung tâm kinh tế lớn như: Hà Nội, Bắc Giang, thành phố TháiNguyên…) với tiềm năng đất và nhân lực dồi dào, Phú Bìnhhoàn toàn có khả năng phát triển một nền kinh tế nông nghiệp đa
Trang 34dạng phục vụ cho thị trường tại chỗ và cho xuất khẩu (chủ yếu
là nông sản) Truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất củaquê hương sẽ là một bệ phóng vững chắc để các dân tộc PhúBình phấn đấu vượt qua nhiều thử thách ra sức xây dựng, pháttriển kinh tế-xã hội, tiềm lực quốc phòng, thực hiện có hiệu quảcác yêu cầu, nhiệm vụ trên con đường đổi mới, công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Trang 35Có thể quy gọn chế độ sở hữu ruộng đất ở nước ta nóichung, huyện Phú Bình nói riêng từ thời phong kiến tập quyềncho đến trước cách mạng tháng 8 – 1945 theo ba hình thức:Ruộng đất của nhà nước phong kiến, ruộng đất công làng xã vàruộng đất tư (Bao gồm sở hữu của địa chủ, phú nông và sở hữunhỏ của nông dân).
Ruộng đất công của nhà nước phong kiến có nhiều loại từnhiều nguồn xung công Mặc dù quy định quyền sở hữu tối caođối với toàn bộ đất đai cả nước là quyền sở hữu thống trị củanhà vua, nhưng các triều đại vẫn cho nhân dân sử dụng đất đai,
Trang 36khai khẩn đất hoang để làm công điền làng xã hay tư điền củadân Mặt khác, quyền sở hữu đất đai của nhà nước phong kiếnluôn lỏng lẻo trước sự tham lam lạm quyền, ra sức chiếm đoạtcủa đội ngũ quân thần, quan lại cường hào… Trong các dạngđất công của nhà nước thì hình thức đồn điền, doanh điền tồn tạitrong thời gian dài với nhiều hình thức khác nhau và nó tiếp tụcphát triển mạnh khi thực dân Pháp đến xâm lược nước ta.
Sớm nhận thấy Phú Bình là huyện có tiềm năng về tàinguyên đất đai, lại có vị trí thuận lợi về mặt giao thông thuỷ bộ
Vì vậy ngay từ năm 1887, khi chưa hoàn thành xong công cuộcbình định tỉnh Thái Nguyên, thực dân Pháp đã cấp giấp phépcho các điền chủ người Pháp chiếm đất để lập đồn điền biến nơiđây thành khu vực khai thác có lợi cho giới doanh nghiệp.Chúng ra sức cướp không ruộng đất của nông dân để lập đồnđiền, đẩy người nông dân vào cảnh tha hương cầu thực Trongquá trình đó nhiều đồn điền của người Pháp đã được thành lậpnhư: đồn điền của thực dân Boisadam (4/1887) với diện tích 227ha; đồn điền của nữ thương gia Derayfus (8/1897) với diện tích
13679 ha … Trong những năm 20 của thế kỉ XX, chiến dịch vậnđộng mua lại đồn điền đã cho phép các điền chủ người Việt xuất
Trang 37hiện nhiều hơn : đồn điền của Nguyễn Kim Lân (8/1920) có diệntích 5845 ha; đồn điền của Giáo Tâm ở Vạn Thắng với 111ha…
Mặc dù các đồn điền xuất hiện ngày càng nhiều với sự mởrộng về quy mô diện tích nhưng lối bóc lột phong kiến vẫn tiếptục được duy trì Hình thức bóc lột chủ yếu và phổ biến nhất làphát canh thu tô và cho vay nặng lãi Thông thường mức tô thu
từ 50% đến 70% sản lượng bất kể tốt xấu, được mùa hay mấtmùa Tình hình đó làm cho ngựời nông dân quanh năm chân lấmtay bùn mà vẫn không đủ ăn
Ruộng đất công làng xã ở nước ta xuất hiện rất sớm, và chođến trước cải cách ruộng đất hầu hết các làng xã vẫn còn tồn tạiloại hình này Tại Phú Bình nhiều xã còn một bộ phần lớn ruộngđất công như La Đình (392 mẫu), Bảo Lý (102 mẫu 6 sào 2thước) Hầu hết số ruộng đất này được sử dụng vào việc thờ thầnhay các hoạt động hành chính, song hầu hết đều bị các chức dịchlũng đoạn Bên cạnh đó còn một bộ phận ruộng đất của các nhàthờ thiên chúa giáo.Ruộng đất đã trở thành công cụ để các nhàthờ đem phát canh thu tô
Ruộng đất tư ở Phú Bình bao gồm sở hữu lớn của địa chủ,
sở hữu của phú nông và sở hữu nhỏ của nông dân Bằng nhiều
Trang 38thủ đoạn khác nhau thậm chí sử dụng cả vũ lực, giai cấp địa chủ
đã chiếm đoạt ruộng đất tư của nông dân, xâm lấn ruộng đấtcông của làng xã gây nên sự bần cùng hoá hàng loạt của nôngdân nghèo Hình thức bóc lột chủ yếu ở đây là phát canh thu tô,kết hợp với thuê mướn nhân công Theo thống kê trong 5 xã củahuyện Phú Bình thì năm 1945 có 30 hộ địa chủ đã mướn 60người ở làm [3;45]
Mặc dù phú nông là một bộ phận trong giai cấp nông dânViệt Nam nhưng khác với trung nông, bần nông, cố nông họnắm trong tay tương đối nhiều ruộng đất Cách thức làm giàucủa phú nông cũng có nhiều nét tương đồng với giai cấp địa chủ
là vừa thuê mướn nhân công vừa phát canh thu tô và cho vaynặng lãi nhưng thuê mướn nhân công là chính
Là một huyện có nông nghiệp là ngành kinh tế chính chonên tầng lớp nông dân là đông đảo nhất (chiếm hơn 90%) Tuy
là lực lượng lao động chính trong xã hội nhưng họ lại có rất ítruộng đất, thậm chí tầng lớp cố nông còn khồng có một tấc đấtcắm dùi
Bộ phận có một ít ruộng đất thì còn có thể duy trì đời sốngcủa mình ở mức trung bình nhưng gặp năm mất múa đói kém
Trang 39thì đời sống khó khăn Ruộng đất của họ luôn là miếng mồingon cho địa chủ Khi có điều kiện chúng chèn ép, áp bức ngườinông dân phải bán bớt ruộng đất, thậm chí có người phải làmthuê cuốc mướn trên chính mảnh đất của mình Bộ phậnkhông có ruộng đất cày cấy phải đi lĩnh canh ruộng đất của địachủ, phú nông để canh tác, đi làm thuê đi ở cho nhà giàu Nhìnchung họ đều phải chịu sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trịvới tô cao lãi nặng Đó cũng chính là nguyên nhân gây ra nhiềucuộc đấu tranh đẫm máu giữa quần chúng nhân dân với thực dânphong kiến trong lịch sử nước ta nói chung, lịch sử huyện PhúBình nói riêng.
Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra mộttrang lịch sử mới cho lịch sử dân tộc : đất nước độc lập, dân tộc
tự do, người dân đứng lên làm chủ cuộc sống của chính mình.Chính quyền mới tuy còn non trẻ nhưng đã đưa ra nhiều biệnpháp nhằm ổn định tình hình kinh tế, chính trị, nâng cao đờisống của người dân Cùng với quá trình lãnh đạo nhân dân tiếnhành cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã từng bước đemlại ruộng đất cho nhân dân
Trang 40Từ năm 1945, chính phủ đã ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân.Tháng 11/1945, chính phủ ra thông tư giảm tô 25% so với mứcđịa tô trước cách mạng Tháng 2/1949, sắc lệnh “ tạm cấp ruộngđất của Việt gian” và thông tư “giảm lãi suất vay, xoá nợ, hoãn
nợ cho nông dân (10/1950); “điều lệ tạm thời về sử dụng côngđiền, công thổ một cách công bằng và có lợi hơn cho nông dânnghèo” Các chính sách cải cách dân chủ đó đã tạo ra nhữngthay đổi lớn trong quan hệ ruộng đất ở nước ta Trong bối cảnhchung đó sở hữu ruộng đất ở huyện Phú Bình đã bước đầu cónhững chuyển biến tích cực, đem lại quyền lợi cho nông dân.Tuy nhiên, chế độ chiếm hữu và bóc lột phong kiến còn chưa bịthủ tiêu, khẩu hiệu “người cày có ruộng” chưa được giải quyếttriệt để
Trước tình hình đó từ 25 đến 30/1/1953, Trung ương Đảng
họp hội nghị lần thứ 4 và quyết định “Tiêu diệt chế độ sở hữu
ruộng đất của thực dân Pháp và bọn đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến sở hữu ruộng đất của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân” [12;63].