1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu

102 957 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 3,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước phải "bảo đảm việc khai thác nước không vượt quá ngưỡng giới hạn khai thá

Trang 1

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia biển với diện tích vùng biển gấp ba lần diện tích đất liền, có bờ biển dài trên 3.200 km, có các vùng biển và thềm lục địa khoảng một triệu km2 Ở biển Đông, Việt Nam có khoảng 4.000 đảo, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở hai khu vực vịnh Bắc bộ và Nam bộ Những đảo, quần đảo ven biển có dân cư sinh sống như: Cô Tô, Cái Bầu (Quảng Ninh), Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Hòn Lớn, Hòn Tre (Khánh Hòa),

Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du (Kiên Giang), quần đảo Hoàng Sa (TP Đà Nẵng), quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) … cùng nhiều đảo nhỏ, nhiều bãi cát ngầm, bãi đá, bãi san hô

Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta Ý nghĩa kinh tế lớn nhất của đảo không chỉ là giá trị vật chất của bản thân chúng mà còn là vị trí chiến lược, là cầu nối vươn ra biển cả, là điểm tựa khai thác các nguồn lợi biển, là những điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc Nhờ có hệ thống đảo ven bờ được vận dụng làm các điểm cơ sở của hệ thống đường cơ sở thẳng nên đã tạo ra vùng nội

thủy rộng lớn, do đó vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cũng được mở rộng ra hướng biển

Theo Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước phải "bảo đảm việc khai thác nước không vượt quá ngưỡng giới hạn khai thác đối với các sông, không vượt quá trữ lượng có thể khai thác đối với các tầng chứa nước; đồng thời "bảo đảm gắn kết quy hoạch phát triển bền vững tài nguyên nước với các quy

hoạch bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do

Trang 2

nước gây ra và các quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội và quy hoạch quốc phòng - an ninh"

Việt Nam được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên nước khá phong phú Trong đó, tài nguyên nước ngầm ở hầu hết các vùng đều có trữ lượng và

chất lượng khá tốt, được xem là nguồn dự trữ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân đặc biệt trên các đảo ngoài biển khơi

Tuy nhiên trong giai đoạn vài thập niên gần đây cùng với sự phát triển kinh

tế, quá trình đô thị hoá, sự khai thác không có quy hoạch… dẫn đến một số vùng nguồn nước ngầm bị suy thoái Theo Trung tâm Quan trắc và Dự báo Tài nguyên nước vừa công bố kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2011 trên báo Khoa học số ra ngày 18-05-2012 khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, Đồng

bằng Nam Bộ nguồn nước ngầm đã bị suy giảm cả về trữ lượng và chất lượng

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với sự khai thác nước ngầm thiếu khoa học sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên nước ngầm khu vực đồng bằng nói chung và khu vực biển đảo nói riêng có thể dẫn đến suy thoái, cạn kiệt và đặc biệt là khả năng xâm nhập mặn nguồn nước dưới đất là rất lớn …

Để kết quả nghiên cứu phục vụ thiết thực cho xã hội, trong nghiên cứu này tôi chọn đảo Phú Quý làm khu vực nghiên cứu Với đặc điểm đảo Phú Quý hiện nay đang được xác định là một trong những đảo trọng điểm của nước ta về phát triển các lĩnh vực như kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng Đảo Phú Quý đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và du lịch Đảo

nằm trên tuyến đường biển nối đất liền và quần đảo Trường Sa nên có vị trí đặc biệt quan trọng trong nhiệm vụ phòng thủ quốc gia Ngoài ra, do đặc điểm

tự nhiên trên đảo gồm diện tích đảo bé, độ dốc lớn, cách xa đất liền, không

tồn tại hoặc tồn tại dòng chảy mặt trong thời gian ngắn Do đó, nước ngầm có

ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của nhân dân trên đảo

Trang 3

Hiện tại các công trình khai thác nước ngầm phần lớn được bố trí ven biển chỉ cách mép nước khoảng 100m đến 300m Mực nước hạ thấp của các

giếng đến 2m so với mực nước biển (ở khu vực các giếng khai thác của các doanh nghiệp chế biến hải sản) mới khai thác từ những năm 2003 trở lại đây

Hiện nay các giếng của khu vực này đã có dấu hiệu nhiễm mặn đặc biệt về mùa khô các giếng đào khai thác ở chiều sâu khoảng 5m đến 7m ở khu vực sát biển (ở khu vực Ủy Ban Nhân dân huyện) có dấu hiệu nhiễm mặn

Vì vậy nghiên cứu ” Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu” là rất cần thiết, bảo đảm việc khai thác và sử dụng tài

nguyên nước hợp lý trên đảo, góp phần phát triển bền vững kinh tế, xã hội, môi trường của huyện đảo Phú Quý Vấn đề xâm nhập mặn đang được rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý cũng như người dân trên vùng biển đảo này rất quan tâm

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: xâm nhập mặn nguồn nước ngầm

Phạm vi nghiên cứu: khu vực đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

* Cách tiếp cận:

- Tiếp cận tổng hợp

- Tiếp cận hệ kinh tế – sinh thái – môi trường

- Tiếp cận tích hợp thông tin (ảnh viễn thám, bản đồ và hệ thống GIS)

- Tiếp cận kế thừa, phát triển các kết quả nghiên cứu và tiếp thu công nghệ

Trang 4

* P hương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp kế thừa;

- Phương pháp chuyên gia;

- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu;

- Phương pháp phân tích, xử lý, đánh giá số liệu;

- Phương pháp sử dụng mô hình toán

Trang 5

CHƯƠNG 1

1.1 Đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý

1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Huyện đảo Phú Quý gồm có 6 đảo nổi (Phú Quý, Hòn Tranh, Hòn Trùng ở phía Nam, Hòn Đỏ, Hòn Đen, Hòn Giữa ở phía Bắc) Trong số đó, đảo Phú Quý là lớn nhất, có diện tích 16km2

, chiếm đến 97% diện tích nổi của toàn huyện đảo và bằng khoảng 0,2% diện tích toàn tỉnh

Đảo Phú Quý nằm trên biển Đông cách thành phố Phan Thiết khoảng 120km về phía Đông Nam, Đảo Phú Quý có dạng hình chữ nhật lệch, chiều dài Bắc - Nam khoảng 7 km, chiều rộng Đông - Tây khoảng 4,5 km , có toạ

độ địa lý giới hạn:

Từ 10º28’58” đến 10º33’35” Vĩ độ Bắc;

Từ 108º55’13” đến 108º58’12” Kinh độ Đông

Phú Quý có tiềm năng trở thành một điểm dịch vụ chế biến và tiêu thụ

hải sản của một mảng ngư trường kéo dài từ Trường Sa đến Côn Đảo; tạo cho các tàu đánh bắt xa bờ hoạt động dài ngày hơn và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn Ngoài ra với vị trí nằm trên đường hải vận quốc tế, Phú Quý còn có điều kiện phát triển các dịch vụ sửa chữa tàu thuyền, cung cấp các dịch vụ hải cảng quốc tế và các dịch vụ thăm dò và khai thác dầu khí

Địa hình của đảo Phú Quý bao gồm núi đồi ở khu vực phía Bắc và đất

bằng ở khu vực phía Nam, độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam Ở phía Bắc

có núi Cấm cao 106m, núi Cao Cát cao 86m; ở phía Nam có đồi Ông Đụn cao 46-48m Trung tâm đảo có những dãy đồi cao 20-30m bị ngăn cách bởi những dãy đất bằng cao 10-20m Vùng rìa đảo là những dãy thềm cao 5m, ở đây có

nổi lên những đụn cát cao 7-8m và nơi thấp nhất là bãi Triều Dương với độ cao 2m

Trang 6

Hình 1.1: V ị trí đảo Phú Quý

Trang 7

Địa hình đảo không bị phân cắt mạnh, không có sông suối, biển không cắt vào phần đất nổi của đảo Đặc điểm này đã hạn chế được sự xâm nhập

mặn đến nguồn nước ngọt trên đảo

Hình 1.2: Sơ đồ địa hình đảo Phú Quý

Trang 8

1.1.2 Thực vật rừng

Trước đây, trên đảo rừng cây rậm rạp, có nhiều gỗ quý Nhưng hiện nay, do không được quản lý và bảo vệ nên số rừng này đã bị khai thác hết Phần lớn cây trên đảo hiện nay là cây chắn gió trồng trên đất cát ven biển (phi lao), cây công nghiệp lâu năm (dừa), cây lương thực (ngô, khoai lang, sắn) và rau đậu trồng trên đất nâu đỏ

1.1.3 Đặc điểm khí hậu, hải văn

a) Khái quát chung

Đảo Phú Quý nằm ở phía Nam biển Đông, thuộc vùng khí hậu hải dương nhiệt đới gió mùa á xích đạo Gió trên đảo hoạt động theo mùa: gió mùa Tây Nam thổi từ tháng V đến tháng IX còn gió mùa Đông Bắc hoạt động từ tháng XI đến tháng III năm sau Các tháng IV và X là thời gian gió mùa chuyển hướng Theo số liệu quan trắc khí tượng – hải văn tại trạm Phú Quý từ năm 1990 đến 2005 cho thấy:

- Nhiệt độ trung bình nhiều năm là 27,40C, biên độ nhiệt ngày đêm là 4,10

C

- Tổng số giờ nắng cao, trung bình nhiều năm là 2.703 giờ

- Độ ẩm không khí trung bình nhiều năm là 84,4%

- Lượng bốc hơi trung bình tháng thay đổi khá lớn từ 84,1mm (tháng X) đến 131,4mm (tháng I) Tổng lượng bốc hơi năm trung bình nhiều năm là 1.291mm

- Lượng mưa trung bình tháng thay đổi theo mùa, từ 4.0mm (tháng II) đến 242,9mm (tháng X) Tổng lượng mưa năm trung bình nhiều năm là 1.314mm

- Tốc độ gió lớn gấp 2-3 lần trong đất liền; trung bình nhiều năm là 5,7m/s, tốc độ gió lớn nhất đạt 34m/s

- Độ cao sóng biển trung bình khoảng 2,0-2,5m; cao nhất khoảng 10m

- Chế độ thuỷ triều chuyển tiếp từ chế độ nhật triều không đều ở phía

Bắc sang chế độ bán nhật triều không đều ở phía Nam; mực nước triều trung bình nhiều năm là 216cm, lớn nhất là 326cm và thấp nhất là 29cm

Trang 9

- Số trận bão hàng năm ảnh hưởng trực tiếp đến đảo ít nhưng ảnh hưởng khá lớn đến việc đánh bắt hải sản của người dân trên đảo

- Nhiệt độ nước biển ven bờ khoảng 25-290

C; trung bình nhiều năm là 27,50

C

Độ mặn nước biển trung bình từ 31,8-33,8‰; độ mặn trung bình nhiều năm ở ven bờ đảo Phú Quý là 32,3‰

Trang 10

Bảng 1.1: Tổng hợp các yếu tố khí tượng chính tại trạm Phú Quốc

Trang 11

Hình 1.3: Biểu đồ thể hiện giá trị trung bình tháng một số yếu tố khí tượng

tại Phú Quý

b) Chế độ mưa

Chế độ mưa phân theo hai mùa khá rõ rệt Mùa mưa gần như trùng với

thời kỳ gió mùa Tây Nam và thường kéo dài 7 tháng (từ tháng V đến tháng

XI, lượng mưa trung bình đều trên 100mm) Tuy nhiên có năm mùa mưa bắt đầu sớm (từ tháng IV) hoặc kết thúc muộn (tháng XII) Mùa khô kéo dài 5 tháng, bắt đầu từ tháng XII năm trước và kết thúc vào tháng IV năm sau

Theo số liệu mưa tại trạm đo Phú Quý trong vòng 16 năm từ 1990-2005, lượng nước trong mùa mưa chiếm khoảng 86,6% lượng mưa năm, còn lại là lượng mưa trong mùa khô từ tháng XII-IV Mùa hè thường có mưa rào, mưa dông Lượng mưa tuyệt đối cao nhất các tháng là 538,5mm (tháng X/1998), còn vào mùa khô có nhiều tháng không có mưa

Tổng lượng mưa bình quân nhiều năm trên toàn huyện đảo khoảng 1.314mm/năm, thấp hơn so với lượng mưa trung bình nhiều năm toàn tỉnh (1.513mm/năm), song vẫn cao hơn một số khu vực trong tỉnh như: Phan Thiết (1.157mm), Ma Lâm (1.161mm), Mũi Né (893mm), Bàu Trắng (755mm),

Trang 12

Sông Luỹ (1.091mm), Sông Mao (1.027mm), Liên Hương (720mm) Một số khu vực trong tỉnh có lượng mưa rất lớn trên 2.000mm như Đông Giang (2.080mm), Suối Kết (2.026mm), Tà Pao, La Ngâu, Võ Xu trên 2.200mm, Mê

Pu lên đến 2.651mm

Mưa biến đổi về lượng theo mùa rất lớn và có sự phân bố không đều theo thời gian Năm 2003 có tổng lượng mưa năm lớn nhất (1.857mm) nhưng đến năm 2004 tổng lượng mưa năm lại giảm xuống thấp nhất trong vòng 15 năm trở lại đây (810mm)

Tháng II có lượng mưa trung bình tháng thấp nhất, khoảng 4,0mm (chiếm 0,17% tổng lượng mưa năm); tháng X có lượng mưa trung bình tháng lớn nhất khoảng 242,9mm (chiếm 18,5% tổng lượng mưa năm)

Bảng 1.2: Tổng lượng mưa tại đảo Phú Quý

Trang 13

- Độ ẩm trung bình của các năm trong giai đoạn 1990-2005 chênh lệch không lớn Độ ẩm trung bình năm cao nhất là năm 2000 đạt đến 89%, độ ẩm trung bình năm thấp nhất là năm 1992 và 1993 đạt 81%

- Độ ẩm trung bình tuyệt đối các tháng chênh lệch nhau khá lớn khoảng 17% Độ ẩm trung bình tuyệt đối tháng thấp nhất là tháng IV/1995 đạt 76% và

độ ẩm trung bình tuyệt đối tháng cao nhất là tháng IX và tháng X/1990 đạt 93%

Bảng 1.3: Độ ẩm không khí trung bình đảo Phú Quý

Trang 14

d) B ốc hơi

- Lượng bốc hơi trung bình năm (đo bằng pie-che) cũng ít biến đổi Lượng bốc hơi trung bình năm khá lớn, trong giai đoạn 1995-2005 trung bình khoảng 1.291mm/năm nhưng nhỏ hơn so với lượng bốc hơi trung bình năm toàn tỉnh (1.334mm) và một số khu vực khác như Phan Thiết, Hàm Tân (khu

vực Phan Thiết là 1.368mm, Hàm Tân là 1.342mm)

- Về mặt thời gian lượng bốc hơi phân bố không đều, thường về mùa khô lượng bốc hơi cao hơn mùa mưa Mùa khô lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa

là thời kỳ hụt nước, về mùa mưa lượng mưa cao hơn lượng bốc hơi là thời kỳ

dư nước Theo số liệu tại trạm đo Phú Quý, thời kỳ hụt nước kéo dài từ tháng XII đến tháng IV

- Tổng lượng bốc hơi hàng năm dao động từ 1.091mm (1996) đến 1.419mm (1995), lượng bốc hơi tháng thấp nhất 81mm (tháng X) cao nhất 131mm (tháng I) Lượng bốc hơi tuyệt đối tháng thấp nhất là 58mm (tháng X/2002) và lượng bốc hơi tuyệt đối tháng cao nhất là 165mm (tháng II/1995)

Bảng 1.4: Lượng bốc hơi tại đảo Phú Quý

Trang 15

Hình 1.4 : Lượng bốc hơi trung bình các tháng giai đoạn 1990-2005

e) Thủy triều

Nằm ở khu vực Nam Biển Đông, Phú Quý chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều chuyển tiếp từ chế độ nhật triều không đều ở phía Bắc sang chế độ bán nhật triều không đều ở phía Nam Qua số liệu quan trắc từ năm 1980 - 2000 cho thấy mực nước triều trung bình nhiều năm là 216cm, cao nhất là 326cm, thấp nhất là 29cm, biên độ triều lớn nhất là: 297cm

f) Độ mặn nước biển

Độ mặn nước biển trung bình nhiều năm vùng ngoài khơi Phú Quý dao động từ 31,8 - 33,8‰, ven bờ là 32,3‰

Nhận xét ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến nguồn nước ngọt:

Từ các đặc điểm địa lý tự nhiên nêu trên cho thấy:

- Đảo Phú Quý có mùa khô kéo dài 5 tháng, lượng mưa mùa khô không

lớn (1.137mm); diện tích đảo nhỏ (khoảng 16 km2); đất đá có tính thấm nước tốt; lượng bốc hơi tương đối lớn Do đó, trên đảo không hình thành dòng chảy mặt thường xuyên

- Nguồn nước mưa rơi xuống đảo, phần lớn thấm xuống đất cung cấp cho nước dưới đất, một phần tạo thành dòng chảy mặt tạm thời đổ ra biển và

131.4

115.2 112.2

109.1 105.6 102.8 112.1 109.5 102.4

81.4 93.3 116.2

Trang 16

một phần còn lại bốc hơi trở lại khí quyển Do đó, nguồn nước khai thác chính là nước dưới đất vào mùa khô còn mùa mưa thì kết hợp khai thác nước mưa và nước dưới đất

- Mùa khô, nước dưới đất là nguồn cung cấp chủ yếu cho các mục đích sinh hoạt, sản xuất và nhu cầu sử dụng khá lớn Do đó, có nguy cơ ô nhiễm xâm nhập mặn đến nguồn nước dưới đất do các hoạt động khai thác

1.1.4 Đặc điểm địa chất

Trong khu vực đảo Phú Quý có 4 phân vị địa tầng địa chất có tuổi Đệ tứ phân bố ở độ sâu từ 0 đến 100m đã được nghiên cứu theo thứ tự từ già đến trẻ bao gồm:

thống địa chất như sau: phụ

thống Pleistocen trung - thượng,

phun trào bazan Pleistocen

bQII-III , 4.65 , 28%

mQIII, 2.03 , 12%

bQIV, 2.25 , 14%

mQ1-2IV , 3.04 , 18%

vQ1-2IV, 3.56 , 21%

mQ3IV, 0.95 , 6%

vQ3IV, 0.12 , 1%

Hình 1.5: Cơ cấu diện lộ các tầng/phụ

tầng địa chất

Trang 17

(βQ12-3) có diện lộ 4,65km2 chiếm 28%; phụ thống Pleistocen thượng, trầm tích biển (mQ13) diện lộ 2,03 km2

chiếm 12% diện tích; phụ thống Holocen- phun trào bazan (βQ2) có diện lộ 2,25km2 chiếm 14%; phụ thống Holocen hạ

- trung trong trầm tích biển (mQ2

1-2) có diện lộ 3,04km2 chiếm 18%; phụ tầng Holocen hạ - trung trong trầm tích gió(vQ21-2) có diện lộ 3,56 km2 chiếm 21%; phụ thống Holocen thượng trong trầm tích biển(mQ2

3

) có diện lộ 0,95km2 chiếm 6%; phụ thống Holocen thượng trong trầm tích gió (vQ2

3

) có diện lộ 0,12km2 chiếm 1% diện tích toàn huyện

1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu

1.2.1 Dân số và lao động

Theo số liệu niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận năm 2008, dân số huyện Phú Quý là 25.171 người, chiếm 2,1% dân số toàn tỉnh và chiếm 3,5% dân số nông thôn toàn tỉnh Trong

đó dân số nam là 12.707 người

Hình 1.6: Cơ cấu dân số huyện Phú Quý

so với toàn tỉnh

1.2.2 Y tế

Toàn huyện đảo Phú Quý có 4 cơ sở khám chữa bệnh cho nhân dân với

65 giường bệnh (tăng 44,4% so năm 2001), trong đó có 1 trung tâm y tế huyện với 50 giường bệnh (tăng 66,7% so năm 2001) và 3 trạm y tế xã với 15 giường bệnh

Trang 18

- Phổ thông trung học: trên đảo chỉ có một trường PTTH, tổng cộng có

36 giáo viên giảng dạy cho 780 học sinh

1.2.4 Văn hóa - xã hội

Toàn đảo đã được phủ sóng phát thanh - truyền hình TW Phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng cũng đã phát triển, tuy nhiên cơ sở vật chất còn yếu kém, chưa có rạp chiếu bóng, trung tâm sinh hoạt văn hoá Nhìn chung nhu

cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân còn chưa được đáp ứng

Quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc ngày càng được các tầng lớp nhân dân tham gia Năng lực quản lý điều hành của các cấp chính quyền có bước chuyển biến tiến bộ; phương thức, lề lối làm việc, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức ngày càng được nâng lên

1.2.5 Hiện trạng kết cấu hạ tầng

* H ệ thống cấp nước

Hiện tại, ở đảo có 8 trạm cấp nước tập trung (khai thác nước dưới đất) do nhân dân tự đầu tư và nhà máy nước Ngũ Phụng - Long Hải do nhà nước quản lý

Theo số liệu kiểm kê sơ bộ hiện trạng khai thác, sử dụng nước trên đảo năm

2008, tổng số công trình khai thác nước dưới đất hiện có ở đảo khoảng 2064 công trình (trong đó, có 95 công trình dùng giếng khoan khai thác nước ngầm)

Trang 19

* C ảng Triều Dương

Là cảng tổng hợp phục vụ cho nhu cầu vận tải và hậu cần nghề cá, là cửa ngõ chính nối huyện đảo với đất liền và thế giới bên ngoài Cảng Triều Dương có những ưu thế như vị trí kín gió và mớm nước khá sâu có thể tiếp

nhận các loại tầu vận tải có trọng tải đến 10.000 tấn

* H ệ thống giao thông

- Giao thông đường biển của huyện đảo hiện nay mới chỉ có tuyến Phú Quý – Phan Thiết đang hoạt động, do Công ty vận tải biển và tư nhân khai thác

- Giao thông đường bộ: mạng lưới giao thông đường bộ trên đảo chủ yếu

là các tuyến nối trung tâm huyện với các xã, đường liên xã đã được cải tạo và nâng cấp khác tốt

- Giao thông hàng không: Hiện tại khu vực núi Cấm có 1 sân bay dã chiến (đường băng dài 200m, rộng 80m) nhưng chủ yếu phục vụ mục đích quân sự

* H ệ thống điện lưới

Trên huyện đảo hiện có trạm phát điện với 6 máy phát diezel, công suất 500KVA/máy, tổng công suất 3MW, thực hiện phát điện liên tục cung cấp đủ cho nhu cầu sinh hoạt 16 giờ/ngày, điện cho sản xuất còn lại rất khó khăn Ngoài ra còn có 2 tổ máy phát điện diezel của bưu điện (2x20KVA và 2x5KVA) và 2 tổ máy phát điện diezel của quân đội (2x20KVA)

1.2.6 Kinh tế

a) Thủy sản

Thuỷ sản (bao gồm cả đánh bắt) là ngành kinh tế chính của huyện đảo, tạo ra phần lớn giá trị sản xuất và giải quyết việc làm cho người dân trên huyện đảo Giá trị sản xuất của ngành liên tục tăng trong thời kỳ 2001-2005, đạt 210 tỷ đồng năm 2005 (giá hiện hành), chiếm 67% tổng giá trị sản xuất

của toàn huyện đảo

Trang 20

b) Nông ngh iệp

Nông, lâm nghiệp giữ một vai trò nhất định trong đời sống kinh tế, chiếm 8,7% GDP của huyện, là nguồn thu nhập chính của 4.100 nhân khẩu và 1.937 lao động, chiếm 18% dân số và 17% lao động của huyện

c) Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp của huyện đảo chủ yếu là trồng rừng để tạo không gian xanh và tăng độ che phủ Công tác trồng rừng trong những năm qua được quan tâm, thực hiện có kết quả tốt Tuy nhiên, nhiều người dân huyện đảo còn chưa nhận thức được vai trò quan trọng của cây xanh có tác dụng vừa chắn gió, vừa lưu giữ nguồn nước ngầm và tạo cảnh quan môi trường đảm bảo sự phát triển bền vững trên đảo và trong khu vực quanh huyện đảo Phú Quý

e) Thương mại, dịch vụ, du lịch

Hoạt động thương mại, dịch vụ trên huyện đảo chủ yếu phục vụ cho hoạt động kinh tế biển như cung cấp xăng dầu, vật tư ngư lưới cụ, phụ tùng phục

vụ đánh bắt hải sản, cung cấp lương thực thực phẩm

Hoạt động du lịch mặc dù có tiềm năng lớn song hiện tại hầu như chưa

có gì do cơ sở hạ tầng yếu kém, tầu vận tải hành khách thiếu, việc đi lại khó khăn, mất nhiều thời gian (trung bình mất 4-5 giờ cho một chuyến hành trình

từ Phan Thiết đến Phú Quý) và còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết

Trang 21

Dịch vụ bưu chính viễn thông trong những năm gần đây phát triển tương đối nhanh Trên huyện đảo có trên 2.000 thuê bao điện thoại, bình quân 8,5 máy/100 dân Dịch vụ điện thoại di động bắt đầu hoạt động kể từ tháng 5/2005 Các dịch vụ fax, internet, chuyển bưu phẩm phát triển, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên đảo

1.3 Định hướng xây dựng phát triển kinh tế xã hội

1.3.1 Quan điểm phát triển kinh tế

- Tập trung, phát triển kinh tế - xã hội nhanh vững chắc theo hướng hiện đại và bền vững, trên cơ sở xây dựng, phát triển tiềm lực kinh tế và không ngừng cải thiện, nâng cao mức sống nhân dân huyện đảo Ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội: hệ thống giao thông giữa đảo và đất liền, thông tin liên lạc, năng lượng, điện nước, các cơ sở vật

chất ngành y tế, giáo dục, văn hoá xã hội … nâng cao mức sống của nhân dân

giảm sự cách biệt và mối quan hệ không liên tục giữa đảo và đất liền, đồng thời thu hút nguồn lực bên trong ngoài đưa vào đầu tư phát triển huyện đảo

- Xây dựng Phú Quý thành một trung tâm khai thác chế biến và dịch vụ nghề cá quan trọng của tỉnh và khu vực, đồng thời là một điểm tựa hậu cần

của trường sa gắn với bảo vệ chủ quyền trong chiến lược phát triển biển của nước ta

- Đảm bảo an ninh xã hội, gắn liền với bảo vệ nguồn lợi biển, bảo đảm môi trường sinh thái cho sự phát triển bền vững Phát triển kinh tế xã hội gắn

với bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ

1.3.2 Mục tiêu phát triển kinh tế

Các mục tiêu cụ thể chủ yếu của khu kinh tế đảo Phú Quý gồm:

- Phấn đấu mức GDP bình quân đầu người vào năm 2010 khoảng 1.100 USD trở lên và vào năm 2020 khoảng 4.200- 4.700 USD

1.000 Thời kỳ 2011 - 2020 mức tăng trưởng GDP từ 12% - 13%/năm

Trang 22

- Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến và dịch vụ du lịch

- Đẩy mạnh chương trình xuất khẩu, trong đó tập trung cho nhóm hàng

chủ lực là hải sản

- Ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như cảng, giao thông, điện nước, trường học với mọi nguồn lực đầu tư phát triển

- Phát triển xã hội, phấn đấu nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của

dân cư, đi cùng với việc bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững

1.3.3 Định hướng các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của vùng đảo Phú Quý

- Định hướng phát triển chung của đảo Phú Quý là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội – khoa học kỹ thuật của huyện Phú Quý Là khu

vực tập trung dân cư duy nhất của huyện đảo Phú Quý

- Là trung tâm giao dịch buôn bán và dịch vụ khai thác – chế biến hải sản của tỉnh và khu vực Đông Nam bộ

- Là khu hậu cư quan trọng về an ninh quốc phòng vùng biển – hải đảo

của tỉnh Bình Thuận và cả nước

- Căn cứ vào yêu cầu thực hiện phát triển kinh tế đảo Phú Quý đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt, đề ra một số phương án tăng trưởng kinh tế của huyện đảo Phú Quý

Trang 23

Bảng 1.5: Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu theo phương án chọn

Ch ỉ tiêu Đơn vị 2000 2005 2010 2015 2020 Dân s ố trung bình Người 21.499 23.683 25.365 27.111 28.800

GDP (giá 1994) Tr,đ 59.540 104.231 193.744 353.815 637.575 GDP(giá TT) Tr,đ 84.932 195.512 503.435 1.242.568 2.961.862 GDP/người(giá TT) 1000đ 3.951 8.255 19.848 45.833 102.842

Cơ cấu kinh tế

Chia ra theo 3 khu v ực 100 100 100 100 100

( Nguồn: QH phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Quý thời kỳ 2006 – 2020)

Nhận xét về ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, xã hội đến nguồn nước ngọt vùng huyện đảo Phú Quý

Với thực trạng và định hướng phát triển kinh tế đảo Phú Quý với mục tiêu là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa - xã hội – khoa học kỹ thuật của huyện Phú Quý

Đảo Phú Quý với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân dự kiến qua các giai đoạn từ năm 2006-2010 là 13,2%, giai đoạn từ năm 2011-2015 là 12,8%, giai đoạn từ năm 2016-2020 là 12,5% Nền kinh tế chuyển dịch theo hướng

Trang 24

tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Sự tăng trưởng kinh tế cùng với chất lượng cuộc sống được nâng cao có ảnh hưởng tốt đến ý thức bảo vệ chất lượng các nguồn nước trong vùng

Tuy nhiên, sự phát triển mạnh của nền kinh tế kéo theo các nhu cầu phát triển khác lại trở thành áp lực lớn đối với nguồn nước do nhu cầu nước cung cấp phục vụ sản xuất và sinh hoạt ngày càng tăng Nguồn nước khan hiếm đã khiến cho quá trình quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng gặp nhiều khó khăn Thêm nữa, cùng với lượng nước sử dụng trong sinh hoạt cũng như trong các ngành kinh tế tăng thì lượng nước thải phát sinh cũng tăng Với xu hướng phát triển như hiện nay, nếu vấn đề quản lý (cả về số lượng và chất lượng) đối

với các nguồn thải không có hiệu quả thì những khó khăn về tài nguyên nước

mà vùng đang phải đối mặt sẽ càng trở nên trầm trọng hơn trong thời gian tới

1.4 Các nguồn nước trên đảo Phú Quý

1.4.1 Nguồn nước mưa

Đảo Phú Quý nằm trong vùng khí hậu Nam Biển Đông, chịu ảnh hưởng

của gió mùa Tây Nam, gió mùa Đông Bắc; một năm chia làm 2 mùa:

- Mùa mưa kéo dài 7 tháng (từ tháng V đến tháng XI) Tuy nhiên có năm mưa sớm hoặc kết thúc muộn (bắt đầu vào tháng IV) hoặc kết thúc muộn (kết thúc vào tháng XII)

- Mùa khô kéo dài 5 tháng, bắt đầu từ tháng XII, kết thúc vào tháng IV năm sau

Theo số liệu đo mưa trung bình nhiều năm (thời kỳ 1990-2005) tại trạm Phú Quý cho thấy Lượng mưa trung bình nhiều năm: 1.314mm;Lượng mưa mùa mưa trung bình nhiều năm: 1.137mm, chiếm 87% lượng mưa cả năm;Lượng mưa mùa khô trung bình nhiều năm là 177mm, chiếm 13% lượng mưa cả năm;

Trang 25

Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất (giai đoạn 1990-2005) biến đổi từ 14,8mm (tháng II) đến 538,5mm (tháng X)

Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất (giai đoạn 1990-2005) biến đổi từ 0mm (tháng I, II, III, IV) đến 73,9mm (tháng IX)

Theo số liệu tổng hợp lượng mưa tháng trung bình nhiều năm (giai đoạn 1990-2005) cho thấy lượng mưa tăng dần từ đầu năm và đạt cực trị thứ nhất vào tháng VI; sau đó lượng mưa giảm dần vào các tháng VII, VIII rồi tăng lên vào tháng IX và đạt cực trị thứ hai vào tháng X; cuối cùng lượng mưa giảm

dần cho đến cuối năm

Mïa m­a,

1137, 87%

Mïa kh«,

177, 13%

Hình 1.7: Cơ cấu phân bố mưa theo mùa

Trang 26

100.0 200.0 300.0 400.0 500.0 600.0

Hình 1.8: Bi ểu đồ đặc trưng lượng mưa tháng trên đảo (giai đoạn 1990-2005)

Theo các số liệu thu thập được từ trước cho đến nay cho thấy lượng mưa ngày lớn nhất biến đổi từ 10,1mm (ngày 20/I/1984) đến 139,6mm (ngày 6/XI/1982)

Bảng 1.6: Lượng mưa ngày lớn nhất theo các tháng tại trạm quan trắc

Năm xuất hiện 1984 1985 1982 1985 1985 1985 1983 1983 1985 1983 1982 1985 1982

Theo tổng hợp số liệu quan trắc mưa cho thấy, tổng số ngày mưa hàng năm là khoảng 126 ngày; 7 tháng mùa mưa (từ tháng V đến tháng XI) có 109 ngày mưa

Số ngày mưa trung bình tháng mùa mưa biến đổi từ 12,2 ngày (tháng V) đến 19 ngày (tháng X) Vào mùa mưa, trung bình một tháng có 15,7 ngày mưa

Trang 27

Bảng 1.7: Tổng hợp số ngày mưa trung bình tháng

STT I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

- Khu vực này hầu như không có dân cư

Từ những đặc điểm trên cho thấy phân phối nguồn nước mặt ở khu vực phía Bắc đảo khó có thể đảm bảo trong việc cung cấp nước cho mục đích sản

xuất và sinh hoạt

Trang 28

Hình 1.9: Sơ đồ dòng chảy mặt không thường xuyên trên đảo

1.4.3 Nguồn nước dưới đất

Việc nghiên cứu, đánh giá đặc điểm địa chất thuỷ văn khu vực đảo Phú Quý dựa trên các đặc điểm tích tụ và vận động của nước dưới đất, dựa theo

những nguyên tắc phân chia và xác lập phân vị địa tầng địa chất thuỷ văn Trong khu vực nghiên cứu có thể xác lập thành các tầng chứa nước theo thứ

tự từ trên xuống dưới như sau:

- Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh);

- Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen thượng (qp2);

Trang 29

- Tầng chứa nước khe nứt trong Bazan nứt nẻ, có tuổi Pleistocen thượng (βQ1

trung-2-3

);

- Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trung (qp1)

a) Phân b ố

Xét riêng ở đảo Phú Quý, diện lộ

của các tầng như sau: tầng chứa

Hình 1.10: Cơ cấu diện lộ các tầng/phụ

tầng địa chất trong vùng nước lỗ hổng trong Holocen (qh) có

diện lộ phân bố 8,0km2, chiếm 50%

diện tích; tầng chứa nước lỗ hổng

trong trầm tích Pleistocen thượng

có diện lộ khoảng 2,2km2

, chiếm 13%; tầng chứa nước khe nứt

Bazan trong đất đá có tuổi

qp2, 2.0, 13%

qh, 8.0, 50%

bQ, 6.0, 37%

Pleistocen trung - thượng và Holocen không phân chia có diện lộ khoảng 6,0km2, chiếm 37% diện tích đảo

b) M ức độ chứa nước của các tầng chứa nước

Các tầng chứa nước lỗ hổng và khe nứt có mức độ chứa nước từ nghèo đến trung bình

Tầng chứa nước qh mức độ giàu

nước trung bình có diện lộ 4,3km2

Hình 1.11: Cơ cấu diện lộ các tầng/phụ

Tầng chứa nước qp2 mức độ

chứa nước trung bình có diện lộ

2,0km2, chiếm 13%;

qh nghÌo, 3.7, 23%

bQ trung b×nh, 3.8, 24%

bQ nghÌo, 2.2, 14%

qp2 trung b×nh, 2.0, 13%

qh trung b×nh, 4.3, 26%

Trang 30

Tầng chứa nước bazan (βQ) mức độ chứa nước trung bình có diện lộ 3,8km2, chiếm 24%;

Tầng chứa nước bazan mức độ chứa nước kém có diện lộ 2,2km2, chiếm khoảng 14%

c) Đánh giá tổng quan trữ lượng và chất lượng nước vùng huyện đảo Phú Quý

- Theo báo cáo điều tra đánh giá năm 1997 của Đoàn 705 - Liên đoàn địa

chất thủy văn - địa chất công trình Miền Trung, kết quả đánh giá trữ lượng nước đánh giá đạt được ở các cấp như sau:

+ Trữ lượng khai thác tiềm năng, xếp vào cấp C2: 14.918m3/ngày

+ Trữ lượng thực bơm, xếp vào cấp C1: 2.316m3/ngày

- Theo báo cáo điều tra đánh giá năm 2004 của Trung tâm nước sinh hoạt nông thôn tỉnh Bình Thuận, khi xây dựng Nhà máy nước đảo Phú Quý kết quả đánh giá trữ lượng khai thác: 4.500m3

/ngày

Dựa vào đánh giá chất lượng nước dưới đất đối với khu vực đảo được so sánh với:

- Quy chuẩn Quốc gia về nguồn nước (QCVN 09/2008 – BTNMT) của

Bộ Tài nguyên và Môi trường

- Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác được so sánh đánh giá với Quy chuẩn

Việt Nam của Bộ Y tế (QC VN02: 2009/BYT) của Bộ trưởng Bộ Y tế

Tổng hợp kết quả phân tích chất lượng nước dưới đất thu thập, gồm 222 mẫu nước (gồm 3 chỉ tiêu: TDS, pH và Clo) và 231 mẫu kết quả phân tích chất lượng nước đa lượng cho thấy diễn biến về một số chỉ tiêu như sau:

- Chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn QCVN 09/2008 - BTNMT;

- Các chỉ tiêu SO4, NO2, NH4, Na và Al đều nằm trong giới hạn cho phép nước sử dụng theo tiêu chuẩn QCVN 09/2008 - BTNMT

Trang 31

CHƯƠNG 2

2.1 Hiện trạng sử dụng nước của các nghành dùng nước

Nguồn nước khai thác phục vụ cấp nước sinh hoạt và sản xuất trên đảo hầu hết sử dụng từ nước ngầm Hiện tại, tổng lượng nước được khai thác cung cấp cho các ngành sử dụng vào khoảng 3.590 m3/ngày Trong đó: cấp nước cho sinh hoạt khoảng 3.020 m3/ngày, chiếm 84%; cấp nước cho sản xuất CN khoảng 350 m3

/ngày, chiếm 10%; cấp nước cho tưới khoảng 150 m3

/ngày, chiếm 4%; cấp nước cho mục đích sản xuất khác và dịch vụ khác khoảng 70

m3/ngày, chiếm 2%

Hình 2.1 Cơ cấu sử dụng nước của các ngành

2.1.1 Sử dụng nước cho nông nghiệp

Theo kết quả điều tra hiện trạng sử dụng đất năm 2011, trên đảo có khoảng 1.100ha đất trồng cây hàng năm Tuy nhiên, nước tưới cho nông nghiệp chủ yếu nhờ thiên nhiên Trên đảo mới có một số ít hộ gia đình chủ động tìm nguồn nước tưới để trồng các loại cây nông nghiệp có giá trị cao Hiện tại, có 13 giếng (4 giếng đào và 9 giếng khoan) khai thác nước ngầm

phục vụ tưới Tổng lượng khai thác khoảng 166 m3

/ngày Tuy nhiên, các hộ

Trang 32

gia đình trên chủ yếu khai thác vào mùa khô trong khoảng từ tháng I đến tháng IV Ngoài ra, còn một phần nhỏ diện tích cây hàng năm nằm xen kẽ với các khu dân cư, các hộ gia đình cũng khai thác nước dưới đất từ các giếng đào

để tưới, tuy nhiên lượng nước khai thác này không lớn

Bảng 2.1 Thống kê một số hộ khai thác nước dưới đất cho tưới bằng giếng

khoan

(m)

Đường kính giếng (mm)

7 Nguyễn Hữu Phương Phú An Ngũ Phụng 70,0 60

8 Nguyễn Thanh Hải Phú An Ngũ Phụng 70,0 60

9 Tăng Văn Khánh Phú An Ngũ Phụng 70,0 60

2.1.2 Nước sử dụng cho sinh hoạt

Tổng lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt khoảng 3.020 m3

/ngày,

chủ yếu khai thác nguồn nước ngầm chiếm khoảng trên 99%, nguồn nước mưa chiếm gần 1%

Trang 33

Bảng 2.2 Thống kê các điểm cấp nước theo hình thức tập trung

Chiều sâu khai thác (m)

Số lượng giếng khai thác

Công suất khai thác thực tế,

1 Niệm Phật Đường Long

2 Trạm cấp nước tư nhân

3 Trạm cấp nước tư nhân

4 Trạm cấp nước tư nhân

5 Trạm cấp nước tư nhân

6 Trạm cấp nước tư nhân

7 Trạm cấp nước tư nhân

8 Trạm cấp nước Ngũ

9 Trạm cấp nước tư nhân

Trang 34

Hiện tại, trên đảo có 14 trạm cấp nước tập trung phần lớn do nhân dân tự đầu tư, khai thác khoảng 1.595 m3/ngày, cung cấp cho khoảng 7,3 nghìn dân; còn lại là hình thức cấp nước bằng giếng đào và lu bể nước mưa

2.1.3 Nước sử dụng cho sản xuất

Tổng lượng nước khai thác phục vụ sản xuất khoảng 347 m3

/ngày Lượng nước này được khai thác từ các giếng đào và giếng khoan, chủ yếu dùng cho sản xuất nước đá và chế biến thuỷ hải sản

Bảng 2.3: Tổng hợp một số doanh nghiệp chế biến thuỷ hải sản khai thác

nước dưới đất

sâu khai thác (m)

16 Nhà máy nước đá Tân Thắng Xã Tam Thanh 52 1 15

17 NM Nước đá Thanh Bình Xã Tam Thanh 35 1 15

Trang 35

Bảng 2.4: Tổng hợp một số cơ sở chính sản xuất nước đá ở đảo

khai thác

1 Nhà máy nước đá Thanh Bình Thôn 6 Tam Thanh Giếng khoan

2 Nhà máy nước đá thôn Thương

Châu - Ngũ Phụng

Th ương Châu Ngũ Phụng Giếng đào

3 Nhà máy nước đá Hồng Lợi Thôn 6 Tam Thanh Giếng đào

4 Nhà máy nước đá Tân Thắng Thôn 4 Tam Thanh Giếng đào

5 Cơ sở Võ Thài, Thôn 8 - Long

Hình 2.2: Sơ đồ hiện trạng khai thác nước dưới đất (Nguồn: Điều tra tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế khu vực đảo Phú Quý)

Trang 36

2.1.4 Nước sử dụng cho các ngành sản xuất dịch vụ khác

Hiện tại, theo kết quả điều tra năm 2012 trên đảo có 7 hộ cá nhân và 1doanh nghiệp tư nhân nuôi trồng thuỷ sản Tổng lượng nước khai thác cho nuôi trồng thuỷ sản là khoảng 98 m3

/ngày và dịch vụ khám chữa bệnh khoảng

4 m3/ngày

Bảng 2.5: Tổng hợp các hộ nuôi trồng thuỷ sản khai thác nước ngầm

sâu khai thác (m)

khoan khai thác

2.2 Chất lượng nước ngầm đảo Phú Quý

2.2.1 Các tầng chứa nước ngầm

Trong khu vực đảo Phú Quý có mặt các tầng chứa nước sau:

- T ầng chứa nước Holocen (Q 2 )

- T ầng chứa nước khe nứt trong Bazan nứt nẻ, Pleistocen trung - thượng (βQ 1 )

- T ầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trung (Q 1 )

Trang 37

a) Tầng chứa nước Holocen (Q 2 )

Theo kết quả khoan quan trắc trong khu vực: Bề dày tầng biến đổi từ 8.3m (PQIII-3TA) đến 14,2m (PQIV-5A), trung bình 10.5m; chiều sâu mực nước

biến đổi từ 1.45m (PQVI-1A) đến 10.3m (PQIV-5A), trung bình thường gặp 5m

Độ giàu tầng chứa nước nhìn chung thuộc loại kém: tỷ lưu lượng biến đổi thường chỉ đạt giá trị nhỏ hơn 0.5l/s.m Khu vực nghèo nước phân bố trên địa hình cao như giếng PQII-2A có tỷ lưu lượng q = 0.0013l/s.m và địa hình càng xuống thấp thì mức độ chứa nước của tầng càng tăng như giếng khoan

PQV-1Acó tỷ lưu lượng đạt 0.5 l/s.m

Độ giàu tầng chứa nước thuộc loại kém, tuy nhiên chất lượng nước tương đối tốt, có diện tích phân bố chiếm khoảng 50% diện tích đảo, có thể

phục vụ tốt cho ăn uống và sinh hoạt của người dân trên đảo

Kết quả tính toán bơm hút nước thí nghiệm: hệ số dẫn nước T của tầng thay đổi từ 0.44 đến 292 m2

/ngày, trung bình 55.8 m2/ngày; hệ số thấm K thay đổi từ 0.04 đến 26 m/ngày, trung bình 5.09m/ngày

Động thái nước biến đổi theo mùa, mùa mưa mực nước gần mặt đất, mùa khô mực nước hạ thấp hơn, tại các giếng đào trong tầng vào mùa khô thường khô cạn

Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước chủ yếu là nước mưa, miền thoát là những khu vực có địa hình thấp ven biển và thấm xuống tầng chứa nước nằm dưới

b) Tầng chứa nước khe nứt trong Bazan nứt nẻ, Pleistocen trung - thượng (βQ1)

Đây là tầng chứa nước nằm dưới tầng chứa nước Holocen (Q2) và phân

bố hầu hết trên đảo, chủ yếu ở khu vực Núi Cấm (gần 1km2

), Cao Cát (0.35km2), chạy dọc theo trung tâm đảo tới phía Nam và Hòn Tranh Ngoài ra còn gặp chúng lộ ra với diện tích nhỏ ở Chùa Thầy, Đài liệt sĩ và các đảo nhỏ lộ

Trang 38

ra trên mực nước biển bao quanh đảo Qua các tài liệu thăm dò và địa tầng các giếng quan trắc cho thấy thành phần thạch học chủ yếu gồm các loại đá sau:

- Bazan đặc xít có màu xám xanh, xám tro, chiều dày thay đổi từ 10÷30m Khả năng chứa nước kém;

- Bazan lỗ hổng màu xám đen, màu nâu đỏ, vỡ vụn dạng dăm kết Khả năng chứa nước tốt, dày từ 10.5÷80m;

- Bazan đặc xít, lỗ hổng cấu tạo dạng phân lớp có màu xám xanh, xám đen Khả năng chứa nước tùy theo dạng cấu tạo của chúng

Nóc tầng chứa nước biến đổi từ 0.3÷9m; đáy tầng chứa nước biến đổi

từ 25÷51.9m Bề dày tầng chứa nước 24.7 (PQI-4B) đến 46.9m (PQI-2B), trung bình 35.08m; chiều sâu mực nước biến đổi từ 1.22m (PQVI-1A) đến 13.2m (PQIV-5A), trung bình thường gặp 5.78m

Mức độ chứa nước không đồng đều từ nghèo đến giàu, phụ thuộc vào

độ cao địa hình và thành phần thạch học của đất đá Tỷ lưu lượng biến đổi từ 0.01(PQVIII-2B) đến 9.3(PQIV-3B) l/s.m, trung bình thường gặp là 1.14 l/s.m Qua các kết quả thăm dò trước đây cho thấy khu vực nghèo nước phân

bố ở khu vực phía Bắc đảo (khu vực núi Cấm, Hòn Tranh, Cao Cát), tỷ lưu lượng biến đổi 0.01 đên 0.03l/s.m; khu vực giàu nước và trung bình phân bố chủ yếu ở khu vực giữa đảo, tỷ lưu lượng thường gặp từ 0.25 đến 4.0 l/s.m

c) Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trung (Q1)

Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen trung Q1 là tầng chứa nước bị phủ hoàn toàn bởi tầng chứa nước Bazan nằm trên Qua các tài liệu thăm dò và cột địa tầng các giếng quan trắc cho thấy thành phần thạch học chủ yếu bao gồm: cát thạch anh màu xám trắng, hạt trung đến thô, san hô gắn kết; cát hạt mịn đến thô màu gụ đỏ

Nóc tầng chứa nước biến đổi từ 30÷58.6m; đáy tầng chứa nước biến đổi từ 91÷92m (chưa hết tầng) Bề dày tầng chứa nước 32.9 (PQI-2C) đến 62m

Trang 39

(PQI-4C), trung bình 49.02m; chiều sâu mực nước biến đổi từ 3.70m (PQII-3C) đến 10.42m (PQI-1C), trung bình thường gặp 5.6m

Mức độ chứa nước trung bình, tỷ lưu lượng thường gặp 0.44 l/s.m Kết quả tính toán bơm hút nước thí nghiệm: hệ số dẫn nước T của tầng thay đổi từ 17.1 đến 656 m2

/ngày, trung bình 252 m2/ngày; hệ số thấm K thay đổi từ 0.51 đến 17.8 m/ngày, trung bình 8.74m/ngày

Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước Pleistocen chủ yếu từ tầng chứa

nuớc Bazan Pleistocen (βQ1) nằm trên

2.2.2 Chất lượng nước ngầm đảo Phú Quý

Phân tích hóa học các mẫu nước, của đảo Phú Quý trong 3 năm: 2009,

2011, 2012 với các giá trị đo tự động, với các chỉ số về độ pH, tổng chất rắn hòa tan TDS, các hợp chất Nitơ (Nitrit, Nitrat, Amoniac), Sulfat, Clorua, Cacbonat, Canxi, Magie, Natri, Tổng Sắt, tổng Colifom Dữ liệu trong 3 năm

nhằm đánh giá chất lượng nước

M ối quan hệ giữa TDS và các ion

Mối quan hệ giữa tổng chất rắn hòa tan (TDS) và các ion chính được mô

tả ở Hình 2.4 đến Hình 2.9 chỉ ra những thành phần chính ảnh hưởng đến

chất lượng nước ngầm ở đảo Phú Quý Số liệu đo tại các giếng trong 3 năm

2009, 2011 và 2012 Từ 6 biểu đồ có thể thấy hầu hết các ion có mối quan hệ chặt chẽ với TDS Đặc biệt Na, Mg, Cl biểu thị mối quan hệ tốt với TDS với

R2 = 0.946 cho Natri, 0.9409 cho Magiê và 0.6645 cho Clorua cho biết các ion này có cùng nguồn gốc từ nước biển Bởi vì Natri, Clorua, Magiê là các thành phần chủ yếu ở trong nước biển, hệ quả là các giếng khu vực gần với biển đã bị nhiễm mặn

Trang 40

Hình 2.3: Tọa độ, vị trí các điểm lấy mẫu nước dưới đất

Ngày đăng: 23/05/2015, 18:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cục thống kê tỉnh Bình Thuận (2004; 2011). Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục thống kê tỉnh Bình Thuận (2004; 2011)
4. Giáo trình Quy hoạch và thiết kế hệ thống Thủy Lợi. Trường Đại học Thủy Lợi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch và thiết kế hệ thống Thủy Lợi
5. KS. Phạm Văn Năm và nnk (1997). Điều tra, đánh giá nguồn nước ngầm vùng đảo Phú Quý – tỉnh Bình Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: KS. Phạm Văn Năm và nnk (1997)
Tác giả: KS. Phạm Văn Năm và nnk
Năm: 1997
7. Trun g tâm nước Sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Bình Thuận (2003). Báo cáo đánh giá trữ lượng khai thác 5 giếng khoan thăm dò, khai thác khu vực Long Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm nước Sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Bình Thuận (2003)
Tác giả: Trun g tâm nước Sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Bình Thuận
Năm: 2003
1. Bùi Học (2005). Đánh giá tính bền vững của việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngầm lãnh thổ Việt Nam. Định hướng chiến lược khai thác sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước ngầm đến năm 2020’’.TT thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 250 trang Khác
2. Đoàn Văn Cánh (2010). Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp thu gom nước mưa đưa vào lòng đất phục vụ chống hạn và bổ sung nhân tạo nước ngầm. Báo các kết quả thực hiện đề tài độc lập mã số ĐTĐL.2007G/44. Trung tâm thông tin KHKT Quốc gia. Hà Nội, 2010. 204 trang Khác
6. Trung tâm nước Sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Bình Thuận (2003). Báo cáo đánh giá trữ lượng khai thác 10 giếng khoan thăm dò, khai thác khu vực Ngũ Phụng Khác
8. Trung tâm nước Sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Bình Thuận (2005). Kết quả thăm dò đánh giá trữ lượng nước ngầm khu vực Ngũ Phụng, Long Hải Khác
9. Trung tâm khí tượng, thuỷ văn tỉnh Bình Thuận (2005). Các liệt số liệu đo đạc một số yếu tố khí tượng và hải văn khu vực đảo Phú Quý Khác
1. Allen RG, Pereira L.S., Raes D., Smith M., 1998, Crop evapotranspiration. Guidelines for computing crop water requirements.In: FAO irrigation and drainage paper, no 56. FAO, Roma, Italy Khác
2. Ha H. N., 1979, Requirement of lowland rice in the North delta and diagnostic equations. PhD thesis, Ha Noi, Viet Nam Khác
3. IPCC, Climate Change 2001, Synthesis Report. A Contribution of Working Group I, II, and III to the Third Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, edited by: Watson, R. T.and the Core Writing Team , Cambridge University Press, Cambridge, United Kingdom and New York, NY, USA Khác
4. IPCC, Climate Change 2007, Synthesis Report. Contribution of Working Groups I, II and III tothe Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, edited by: Core Writing Team, Pachauri, R. K., and Reisinger, A., IPCC, Geneva, Switzerland, 2007a. 3091 Khác
5. Le V.C., 2011, Water resources Assessment for the Day river basin (Vietnam) under development and climate change scenarios. Ph.D Thesis, Milan-Italy Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: V ị trí đả o Phú Quý - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 1.1 V ị trí đả o Phú Quý (Trang 6)
Hình 2.3: T ọa độ , v ị trí các điể m l ấ y m ẫu nước dưới đấ t - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 2.3 T ọa độ , v ị trí các điể m l ấ y m ẫu nước dưới đấ t (Trang 40)
Hình 2.4: Mối quan hệ giữa cation Na - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 2.4 Mối quan hệ giữa cation Na (Trang 41)
Hình 2.10: Sơ đồ quan trắc xâm nhập mặn - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 2.10 Sơ đồ quan trắc xâm nhập mặn (Trang 54)
Hình 3.1: Sơ đồ phạm vi và ô lưới của mô hình - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.1 Sơ đồ phạm vi và ô lưới của mô hình (Trang 68)
Hình 3.6:  Sơ đồ  biên n ồng độ  h ằ ng s ố  (Constant Concentration) - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.6 Sơ đồ biên n ồng độ h ằ ng s ố (Constant Concentration) (Trang 71)
Hình 3.7:  Sơ đồ  phân vùng h ệ  s ố  b ổ  c ậ p t ừ mưa ( Recharge) c ủ a mô hình - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.7 Sơ đồ phân vùng h ệ s ố b ổ c ậ p t ừ mưa ( Recharge) c ủ a mô hình (Trang 72)
Hình 3.8: Sơ đồ phân vùng giá trị lượng bốc hơi của mô hình - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.8 Sơ đồ phân vùng giá trị lượng bốc hơi của mô hình (Trang 73)
Hình 3.9:   Sơ đồ  phân vùng h ệ  s ố  th ấ m l ớ p 1 c ủ a mô hình - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.9 Sơ đồ phân vùng h ệ s ố th ấ m l ớ p 1 c ủ a mô hình (Trang 76)
Hình 3.10: Sơ đồ phân vùng hệ số thấm lớp 2 của mô hình - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.10 Sơ đồ phân vùng hệ số thấm lớp 2 của mô hình (Trang 79)
Hình 3.14: Sơ đồ mực nước ban đầu từ kết quả bài toán chỉnh lý ổn định - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.14 Sơ đồ mực nước ban đầu từ kết quả bài toán chỉnh lý ổn định (Trang 82)
Hình 3.15: Đồ thị so sánh sai số giữa mực nước quan trắc và mực nước tính - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.15 Đồ thị so sánh sai số giữa mực nước quan trắc và mực nước tính (Trang 84)
Hình 3.17:  Đồ  th ị dao độ ng m ực nướ c khôi ph ụ c trên mô hình t ừ năm - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.17 Đồ th ị dao độ ng m ực nướ c khôi ph ụ c trên mô hình t ừ năm (Trang 85)
Hình 3.19: Bản đồ đẳng TDS thời điểm tháng I/2005 và tháng I/2011 - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.19 Bản đồ đẳng TDS thời điểm tháng I/2005 và tháng I/2011 (Trang 88)
Hình 3.21: B ản đồ  so sánh xâm nh ậ p m ặ n th ực đo  – tính toán tháng I/2011 - Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu
Hình 3.21 B ản đồ so sánh xâm nh ậ p m ặ n th ực đo – tính toán tháng I/2011 (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w