1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO CHUYÊN MÔN HÈ BẬC TIỂU HỌC 2013-TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐẢO,HẢI ĐẢO VIỆT NAM

11 570 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 73,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UBND THÀNH PHỐ BẠC LIÊUPHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO CHUYÊN MÔN HÈ BẬC TIỂU HỌC 2013 TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC

Trang 1

UBND THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO CHUYÊN MÔN HÈ BẬC TIỂU HỌC 2013

TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI

TRƯỜNG BIỂN, HẢI ĐẢO VIỆT NAM

Người thực hiện: Lê Tuấn Kiệt

Đơn vị: Trường Tiểu học Thuận Hòa 4

Ngày báo cáo : 03/08/2013

A MỤC TIÊU:

- Nắm được các quan niệm, khái quát về biển, đảo và quần đảo Việt Nam; Quần đảo Hoàng Sa, Hoàng Sa ngoài khơi biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam

- Biết được nguồn tài nguyên và tiềm năng từ biển, đảo Việt Nam

- Biết được thực trạng môi trường, biển đảo và những thành tựu chủ yếu

về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo Việt Nam

- Trình bày được những nét khái quát về tài nguyên và môi trường biển

& hải đảo Việt Nam

- Phương pháp và hình thức dạy học tích hợp giáo dục tài nguyên môi trường biển đảo (TNMT BĐ) của môn học

- Cách khai thác nội dung và soạn bài để dạy tích hợp giáo dục TNMT BĐ

- Liệt kê được các hình thức tổ chức các hoạt động GDNGLL có nội dung giáo dục tài nguyên và môi trường biển, đảo Việt Nam và bước đầu biết cách sử dụng một cách có hiệu quả

- Tổ chức được các HĐGDNGLL có nội dung giáo dục tài nguyên và môi trường biển, đảo Việt Nam phù hợp với đặc điểm của địa phương

B NỘI DUNG:

Trang 2

I Một số kiến thức về tài nguyên, môi trường biển, hải đảo và giáo dục tài nguyên, môi trường biển, hải đảo.

1 Khái quát về biển, đảo Việt Nam.

1 1- Khái quát về biển Việt Nam.

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình Dương, có diện tích khoảng 3.400.000km2, được bao bọc bởi 9 quốc gia ven biển là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Indonexia, Brunay, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, tính trung bình cứ 100 km2 đất liền thì

có 1 km bờ biển, là nước có tỷ lệ chiều dài bờ biển so với đất liền vào loại cao nhất thế giới (trên thế giới trung bình cứ 600 km2 diện tích đất liền thì có 1 km

bờ biển)

Việt Nam có 28/63 tỉnh thành tiếp giáp với vùng biển chủ quyền rộng hơn 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền là điều kiện quan trọng giao lưu với kinh tế thế giới

- Vịnh Bắc bộ: nằm ở phía Tây của Biển Đông, diện tích khoảng 160.000

km2, chu vi khoảng 1.950 km, trong đó phía bờ Việt Nam là 740 km, chiều dài vịnh là 496 km, nơi rộng nhất là 314 km, được bao bọc bởi bờ biển miền bắc Việt Nam ở phía tây, bờ biển miền nam Trung Hoa ở phía bắc Trong vịnh có khoảng hơn 2.300 hòn đảo lớn nhỏ, tập trung chủ yếu ở phía ven biển Việt Nam Đặc biệt là đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nằm khoảng giữa vịnh với diện tích 2,5 km2 cách bờ biển Việt Nam khoảng 110 km

- Vịnh Thái Lan nằm sâu vào phía bờ Tây Nam của Biển Đông, có bờ biển chung dài 2.300 km nằm ở bốn quốc gia gồm Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malayxia Vịnh có chiều dài lớn nhất là 628 km và là một vịnh nông, nơi sâu nhất là 80 m, trung bình là 60 m, không có nhiều đảo như vịnh Bắc Bộ, bên phía vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng 165 đảo với 613 km2, nhưng có nhiều đảo lớn như đảo Phú Quốc rộng hơn 568 km2, là đảo lớn nhất ven bờ Việt Nam

1.2- Khái quát về hệ thống đảo Việt Nam

Trang 3

Hệ thống đảo Việt Nam gồm có hệ thống các đảo ven bờ và 2 quần đảo xa

bờ là Trường Sa và Hoàng Sa

a- Hệ thống đảo ven bờ:

Các đảo trong hệ thống đảo ven bờ của nước ta phân bổ suốt từ biên giới cực bắc của vùng biển tổ quốc tại tỉnh Quảng Ninh cho đến sát biên giới phía tây tỉnh Kiên Giang Chúng có vị trí từ giáp bờ đến xa bờ như đảo Bạch Long Vĩ (cách Hải Phòng 135 km), Hòn Hải (cách Phan Thiết 155 km), Thổ Chu (cách cửa Ông Đốc 146 km)

Việt Nam có 2.773 đảo ven bờ với diện tích là 1.721 km2 (bao gồm các nhóm đảo cực nhỏ, rất nhỏ, nhỏ, trung bình, lớn) Việt Nam có 3 đảo lớn (diện tích > 100 km2) cùng với 21 đảo trung bình (trong đó có 14 đảo trong khoảng 10 – 20 km2 và 7 đảo > 20 km2) và 60 đảo nhỏ (trong đó 51 đảo trong khoảng 1 – 5

km2 và 9 đảo> 5 km2) Mặc dù số đảo ven bờ là nhiêu nhưng cũng chỉ có 84 đảo

có diện tích lớn hơn 1 km2, là những đảo đủ lớn để có thể sử dụng thuận lợi trong quốc phòng và phát triển kinh tế biển

Trong số 2773 đảo ven bờ có 1503 đảo đã có tên, chiếm 54,2% Những đảo chưa có tên chủ yếu là các đảo cực nhỏ và rất nhỏ

Các đảo ven bờ phân bố rất khác nhau tại các vùng biển Nếu như ven bờ Bắc Bộ là nơi tập trung nhiều đảo nhất, tới 83,7% tổng số đảo tương ứng là 48,9% tổng diện tích đảo, thì ven bờ Bắc Trung Bộ lại có ít đảo nhất, chỉ tới 2%

số đảo và chiếm 0,8% diện tích đảo trong khi đó ven bờ Nam Trung Bộ và Nam

Bộ có giá trị tương đương nhau về mặt số lượng đảo ( khoảng 7%) nhưng về mặt diện tích thì các đảo ven biển Nam Bộ lại khá tương đương với Bắc Bộ, chiếm 40,3% tổng diện tích đảo, còn các đảo ven bờ Nam Trung Bộ chỉ chiếm 10% tổng diện tích các đảo

Về diện tích đảo thì Quảng Ninh và Kiên Giang tương đương nhau (lần lượt chiếm 38,9% và 38,5% tổng diện tích đảo) trong khi về số lượng đảo thì Quảng Ninh gấp 13 lần Kiên Giang ( 2078 trên 159) Đứng sau 2 tỉnh đó là Hải Phòng ( ,8% tổng số đảo và 10% tổng diện tích đảo) và Khánh Hòa (3,8% tổng

Trang 4

số đảo và 6,1% tổng diện tích đảo) Bốn tỉnh và thành phố trên chiếm 93,5% tổng diện tích đảo ven bờ, tại đó có 67 đảo có diện tích > 1 km2

b Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hai quần đảo ngoài khơi Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam là Hoàng Sa và Trường Sa

- Quần đảo Hoàng Sa gồm 30 đảo và bãi đá cạn nằm trong một vùng rộng khoảng 15.000 km2 ( vĩ độ 15o 45’N – 17o15’N và kinh độ 110oE – 113oE) cách

Đà Nẵng khoảng 170 hải lý (315 km) về phía Đông, cách Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) 120 hải lý (222 km), cách Hải Nam Trung Quốc ở điểm gần nhất khoảng

140 hải lý (259 km)

Quần đảo Hoàng Sa có 2 nhóm đảo:

+ Nhóm phía đông Việt Nam gọi là An Vĩnh gồm khoảng 12 đảo nhỏ và một số đảo san hô trong đó có 2 đảo lớn là đảo Phú Lâm và Linh Côn mới có diện tích lớn 1,6 km2, người phương tây gọi là Amphitrite để kỉ niệm của một con tàu người Pháp lần đầu tiên sang Biển Đông bị bão đánh dạt vào vùng này

+ Nhóm phía tây các đảo xếp thành hình cong như trăng lưỡi liềm nên Việt Nam đặt tên là nhóm đảo Lưỡi Liềm, còn phương Tây dịch ra là Croissant Trong đó có các đảo Hoàng Sa (diện tích 1 km2), Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Chim Yến, Tri Tôn, … Riêng đảo Hoàng Sa có trạm khí tượng của Việt Nam hoạt động từ năm 1938 đến 1947, được tổ chức khí tượng quốc tế đặt số hiệu 48-860 (số 48 chỉ khu vực Việt Nam)

- Cách quần đảo Hoàng Sa về phía đông nam 300 hải lý ( 555 km) là quần đảo Trường Sa với tên quốc tế Spratly do người Anh đặt năm 1867 khi tàu của

họ đến Trường Sa

Quần đảo Trường Sa gồm 100 đảo, bãi đá và rạn san hô, … phân bố trên một diện tích rộng khoảng 180.000 km2 Đảo có tên Trường Sa gần đất liền nhất, cách Cam Ranh 250 hải lý (462 km) Quần đảo Trường Sa được chia làm 10 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bãi Vũng Mây, Bãi Hải Sâm, Bãi Lim, Song Tử Tây là đạo cao nhất (cao 4 đến

6 mét lúc thủy triều xuống); Ba Đình là đảo rộng nhất (0,6km2) trong quần đảo

Trang 5

Tổng diện tích các đảo ở đây khoảng 10 km2 gần bằng diện tích các đảo Hoàng

Sa, nhưng vùng biển phân bố của Trường Sa lớn gấp 10 lần Hoàng Sa Việt Nam hiện đang có mặt bảo vệ 21 đảo của quần đảo Trường Sa Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường xã thuộc chủ quyền Nhà nước Việt Nam từ nhiều thế kỉ nay, nhân dân Việt Nam luôn ý thức rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

là một phần của lãnh thổ Việt Nam, kiên quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

2.1- Tài nguyên biển:

Tài nguyên biển là một bộ phận của tài nguyên thiên nhiên, hình thành và phân bố trong khối nước biển, trên bề mặt đáy biển, trong lòng đất dưới đáy biển

Trong phạm vi nhiệm vụ này, tài nguyên biển được đề cập 2 loại chính

là : tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật

- Tài nguyên sinh vật gồm: đa dạng sinh học biển, nguồn lợi sinh vật biển

và tiềm năng nuôi trồng hải sản Việt Nam

+ Đa dạng sinh học biển: Hệ sinh thái rạn san hô; hệ sinh thái thảm cỏ; hệ sinh thái rừng ngập mặn

+ Nguồn lợi sinh vật biển: Nguồn lợi cá biển; nguồn lợi tôm biển

+ Tiềm năng nuôi trồng hải sản Việt Nam

- Tài nguyên phi sinh vật gồm: dầu khí, các khoáng sản khác, năng lượng biển, tiềm năng phát triển du lịch, tiềm năng phát triển cảng – hàng hải, …

+ Dầu mỏ và khí đốt tự nhiên

+ Tiềm năng du lịch biển Việt Nam

+ Tiềm năng phát triển hàng hải Viêt Nam

2.2- Tài nguyên đảo Việt Nam

- Tài nguyên vị thế vô cùng to lớn và quan trọng của hệ thống đảo ven bờ

- Tài nguyên sinh vật – nguồn vốn quý của đảo, với nhiều vườn quốc gia

và khu bảo tồn

- Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng

Trang 6

+ Cảnh quan kỳ thú

+ Nhiều bãi tắm đẹp

+ Hệ sinh thái đảo biển phong phú là một tài nguyên du lịch quý giá

+ Hoạt động sản xuất trên đảo

+ Hệ thống đảo ven bờ còn có nhiều di tích lịch sử - văn hóa, khảo cổ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc

2.3 Khái niệm tài nguyên, môi trường biển, đảo, nguyên nhân ô nhiễm môi trường biển, đảo; các giải pháp.

a Khái niệm môi trường biển

Môi trường biển bao gồm tất cả mọi thứ mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của con người và các sinh vật sống trong biển, bao gồm ánh sáng, không khí trên biển, nước biển, đất tại đáy biển và các cơ thể sống trong biển

b Khái niệm tài nguyên biển

Những nguồn lợi biển mang lại cho cuộc sống con người Tài nguyên biển rất đa dạng, được chia ra thành các loại: nguồn lợi hóa chất và khoáng chất chứa trong khối nước và đáy biển, nguồn lợi nhiên liệu hóa thạch, chủ yếu là dầu và khí tự nhiên, nguồn năng lượng sạch khai thác từ gió, nhiệt độ nước biển, các dòng hải lưu và thủy triều; sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người

c Các loại tài nguyên biển

- Tài nguyên sinh học biển

- Tài nguyên khoáng vật và hóa học biển

- Tài nguyên năng lượng biển

- Tài nguyên nhân tạo biển

d Khái niệm ô nhiễm biển

Hiện tượng làm biến đổi, xáo trộn các thành phần hoá học của nước biển gây ra do các hoạt động trên biển như vận tải (dầu lan vào nước biển), khai thác dầu lửa hoặc do chất thải từ đất liền (các chất thải độc hại ) ảnh hưởng tới đời

Trang 7

sống của các loài sinh vật dưới biển và tác động xấu đến sự tăng trưởng, phát triển của chúng

e- Các nguyên nhân làm suy thoái tài nguyên, môi trường biển, hải đảo.

- Những nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, hải đảo có nguồn gốc tự nhiên:

+ Bão biển, sóng thần : có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường biển, vùng ven biển và hải đảo, gây sụt lỡ bờ biển, phá hủy các công trình xây dựng, tàu thuyền, uy hiếp đời sống con người

- Nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển có nguồn gốc do con người gây ra;

+ Các chất thải từ trên bờ đổ thẳng ra biển

+ Các chất thải từ tàu thuyền, từ các công trình xây dựng trên biển

+ Sự ô nhiễm không khí

+ Triệt phá rừng ngập mặn ven biển

+ Sự khai thác quá mức các nguồn lợi thủy sản

2.4- Các giải pháp bảo vệ tài nguyên môi trường biển, hải đảo

- Vận động tuyên truyền, nâng cao ý thức về vai trò của tài nguyên, môi trường biển đối với đời sống con người

- Bảo vệ môi trường biển, bờ biển, bãi biển

+ Hạn chế việc xả các chất thải trực tiếp ra biển và xuống biển Các phương tiện vận tải, các công trình xây dựng, thăm dò và khai thác dầu khí trên biển phải xử lí chất thải và hạn chế việc xả thải trực tiếp xuống biển

+ Tăng cường và thường xuyên tiến hành việc dọn dẹp vệ sinh, làm sạch môi trường không để ô nhiễm tới biển

+ Củng cố hệ thống đê kè để chống sạt lở bờ biển

+ Trồng cây chắn sóng; xử lý các chất thải rắn, nước thải, giữ vệ sinh, làm cho cảnh quan môi trường luôn sạch đẹp

+ Nhanh chóng khắc phục các sự cố môi trường, khôi phục các hoạt động bình thường ở các bờ biển, bãi biển

- Bảo vệ đa dạng sinh vật biển

Trang 8

+ Giảm sản lượng khai thác thủy sản ven bờ và gần bờ, tăng cường khai thác các nguồn lợi thủy sản xa bờ

+ Cấm khai thác quá mức và khai thác có tính hủy diệt đối với một số loại sinh vật biển

+ Bảo vệ môi trường sống của các loại sinh vật, khắc phục kịp thời các sự

cố môi trường uy hiếp đến sinh vật biển

2.5 Chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề chủ quyền biển, hải đảo

- Phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 và ban hành các văn bản pháp lí về phạm vi và chế độ pháp lí về vùng biển và thềm lục địa

- Tích cực hợp tác và đấu tranh để thực hiện các cam kết quốc tế về biển Đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền biển, hải đảo gắn với phát triển kinh tế biển

- Mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi khoa học kĩ thuật, hiện đại hóa trang

bị cho quốc phòng- an ninh

II Giáo dục tài nguyên, môi trường biển, hải đảo trong trường tiểu học

1- Mục đích giáo dục TNMT BĐ, Giáo dục TNMT BĐ cho học sinh tiểu học nhằm:

- Về kiến thức

+ Giúp học sinh có hiểu biết ban đầu về vị trí, vai trò, về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và lợi ích của TNMT BĐ với cuộc sống của con người

+ Một số biện pháp bảo vệ TNMT BĐ cụ thể ở địa phương mình

- Về thái độ, tình cảm:

+ Bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

+ Biết quý trọng, có ý thức bảo vệ TNMT BĐ

+ Có thái độ thân thiện với môi trường sống

- Về kỹ năng hành vi:

Trang 9

+ Tham gia các hoạt động bảo vệ TNMT BĐ, tuyên truyền chủ quyền quốc gia về biển, hải đảo phù hợp

2- Nội dung giáo dục TNMT BĐ ở trường tiểu học

+ Khái niệm về môi trường, tài nguyên biển, đảo, về ô nhiễm môi trường,

về TNMT BĐ

+ Ý thức bảo vệ TNMT BĐ, kỹ năng bảo vệ TNMT BĐ, hình thành, phát triển, hành vi và thói quen bảo vệ TNMT BĐ

3- Tầm quan trọng của việc giáo dục TNMT BĐ trong trường tiểu học

Theo số liệu thống kê đầu năm 2011, cả nước có gần 6.983.709 học sinh tiểu học, khoảng trên 470.757 cán bộ giáo viên ở 15200 trường tiểu học Giáo dục TNMT BĐ cho học sinh tiểu học tức là cho gần 10% dân số hiểu biết các vấn đề về môi trường, tài nguyên, chủ quyền quốc gia về biển, hải đảo và TNMT BĐ Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu học sinh tiểu học thực hiện tốt việc tuyên truyền về TNMT BĐ trong cộng đồng

4 Những nguyên tắc, phương pháp tích hợp nội dung giáo dục TNMT

BĐ trong các môn học ở tiểu học.

1- Những nguyên tắc tích hợp nội dung giáo dục TNMT BĐ trong các môn học ở tiểu học.

a- Khái niệm tích hợp: Tích hợp giáo dục TNMT BĐ vào các môn học là

sự hòa trộn nội dung giáo dục TNMT BĐ vào nội dung bộ môn thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau

b- Các nguyên tắc tích hợp : có 3 nguyên tắc

- Nguyên tắc 1: Tích hợp nhưng không làm thay đổi đặc trưng của môn học

- Nguyên tắc 2: Khai thác nội dung giáo dục TNMT BĐ có chọn lọc, có tính tập trung vào bài nhất định, không tràn lan tùy tiện

- Nguyên tắc 3: Phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức của học sinh và kinh nghiệm thực tế của các em

c- Các mức độ tích hợp nộ dung giáo dục TNMT BĐ:

- Mức độ toàn phần

Trang 10

- Mức độ bộ phận

- Mức độ liên hệ

2- Phương pháp dạy học có thể tích hợp giáo dục TNMT BĐ

- Phương pháp tham quan, điều tra khảo sát thực tế

- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục

- Phương pháp hoạt động thực tiễn kết hợp với kỹ năng sống

- Phương pháp thảo luận

- Phương pháp đóng vai

- Phương pháp trực quan

3- Các hình thức tổ chức dạy học:

Có 2 hình thức tổ chức dạy học: tổ chức dạy học trong lớp và dạy học ngoài lớp

III- Giáo dục tài nguyên, môi trường biển, hải đảo trong một số môn học

1- Giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo trong môn đạo đức

2- Giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo trong Tự nhiên và xã hội 3- Giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo trong môn Khoa học 4- Giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo trong môn Tiếng Việt 5- Giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo trong môn Lịch sử và Địa lý ( phần Địa lí)

C TỔNG KẾT (KẾT LUẬN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM, Ý NGHĨA )

Giáo dục tài nguyên, môi trường biển, đảo là một quá trình hình thành, phát triển sự hiểu biết, kỹ năng, giá trị và quan tâm đến những vấn đề TNMT biển đảo, tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện Giáo dục nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết về môi trường, tài nguyên, chủ quyền quốc gia biển, hải đảo cùng với các vấn đề của nó; những khái niệm cơ bản về môi trường, tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, hải đảo; lòng yêu nước,

tự hào dân tộc, ý thức, thái độ đối với việc giữ gìn, bảo vệ môi trường, tài nguyên, chủ quyền quốc gia đối với biển, hải đảo

Ngày đăng: 23/05/2015, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w