Phơng pháp tổng quát để giải loại toán này là thực hiện liên tiếp các phéptính ngợc với các phép tính đã cho: Ví dụ: Trong sách giáo khoa bồi dỡng học sinh giỏi toán 5 có bài: “ Tìmmột
Trang 1Sở giáo dục và đào tạo Quảng NinhPhòng giáo dục và đào tạo thị x Uông Bíã Uông Bí
Ngời thực hiện: Hồ Thị Khánh Linh
Đơn vị công tác: Trờng Tiểu học Yên Thanh
Thị xã Uông Bí – Tỉnh QuảngNinh
Năm học 2008 – 2009
Trang 2Để đạt đợc điều đó, ngời giáo viên Tiểu học phải hiểu đợc tâm lí lứa tuổihọc sinh Khi tìm hiểu về đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học, ta thấy ở lứatuổi này trình độ nhận thức của các em có phát triển nhng cha đầy đủ còn dựavào trực quan cụ thể Song đối với học sinh cuối cấp các em đã có khả năng
mở rộng nếu nh giáo viên có phơng pháp hớng dẫn cụ thể, phù hợp Chính vì
đặc điểm tâm lí đó mà tôi thấy việc dùng các hình ảnh trực quan để hớng dẫnhọc sinh tiêu học giải toán là phơng pháp có nhiều u thế
Trong chơng trình sách giáo khoa toán 5 không có phần lí thuyết dành riêngcho bài toán giải bằng cách “ Đi ngợc từ cuối lên” mà chỉ đa ra một số bàitoán có tính chất bồi dỡng để nâng cao nhận thức cho học sinh Trong sáchgiáo khao toán 5 có xây dựng những bài toán có nọi dung đó theo chiều hớngtăng dần độ phức tạp nhằm hình thành kĩ năng giải loại toán này cho học sinh
Từ những bài toán cụ thể đó, giáo viên hình thành cho học sinh khái niệm
về loại toán này và rút ra phơng pháp giải
Một dạng bài toán phổ biến ở tiểu học là các bài mà các yếu tố cơ bản củabài toán đợc diễn giải dới dạng biểu thức toán học trong đó ẩn số thờng đợc kíhiệu bằng một dấu hay một chữ đợc “ nguỵ trang” bởi một dãy phép tính trong
đó chỉ có phép tính đầu có ẩn số tham gia, các phép tính tiếp theo của bài toán
đợc thực hiện trên cơ sở các phép tính đã biết Muốn tìm ẩn số cha thể sử dụngcác phép tính phù hợp với sự phát triển t duy của học sinh tiểu học Thủ thuậtthích hợp ở đây là tớc bỏ dần từ phép tính cuối cùng, những cái nguỵ trang nó
và suy luận theo trình tự ngợc lên ẩn số
Phơng pháp tổng quát để giải loại toán này là thực hiện liên tiếp các phéptính ngợc với các phép tính đã cho:
Ví dụ: Trong sách giáo khoa bồi dỡng học sinh giỏi toán 5 có bài: “ Tìmmột số biết rằng lấy số đó gấp lên hai lần cộng với 10 đợc bao nhiêu chia cho
4 thì có kết quả bằng 20”
Với bài toán này, ta có thể giải bằng hai cách: Cách thứ nhất là dùng
ph-ơng pháp số học đi ngợc từ dới lên; cách thứ hai dung X thay cho ẩn số vàdiễn đạt bài bằng ngôn ngữ, kí hiệu toán học, ta có: {( X x 2 ) + 10 } :
4 = 20
Và lần lợt tìm thành phần của mỗi phép tính
- Đầu tiên là tìm số bị chia: ( X x 2 ) + 10 = 20 x 4
- Sau đó là tìm số hạng cha biết: X x 2 = 80 - 10
X x 2 = 70
- Và cuối cùng là tìm thừa số cha biết: X = 70 : 2
X = 35
Song thông thờng khi gặp bài toán nh thế này học sinh thờng giải theo
ph-ơng án một Học sinh thờng tính ngợc từ cuối lên nh sau:
Nếu số đó chỉ gấp đôi lên hai lần rồi cộng với 10 mà không chia cho 4 thì
sẽ là:
20 x 4 = 80
Nếu số đó gấp đôi lên mà không cộng với 10 thì sẽ là: 80 - 10 = 70 Nếu số đó mà không gấp đôi lên thì sẽ là: 70 : 2 = 35 ( số cần tìm)
Trang 3Đây là bài toán có một nội dung đơn giản cha đòi hỏi phải có sự đầu t suynghĩ nhiều nhng bên cạch đó có những bài phức tạp hơn, đòi hỏi phải có thủthuật giải.
Chẳng hạn: Một bài toán khác cũng sử dụng phép giải “Đi ngợc từ cuốilên”: Tổng hai số là 444 Lấy số lớn chia cho số nhỏ thì đợc thơng là 4 và số
d là 24 Tìm hai số đo?
Với chúng ta, khi đọc đầu bài ta có thể xác định ngay đâu là số lớn, đâu là
số nhỏ bằng phơng pháp đại số đặt ẩn X với phơng trình một ẩn nh sau:
hệ thống các câu hỏi cụ thể, chính xác, chi tiết
Với loại toán này, đọc lên ta phải xác định đợc ngay là giải bài toán nàyphải đi từ dữ kiện cuối cùng ngợc từ cuối lên Với những bài toán này nếu nhhọc sinh không đọc và phân tích kĩ đề bài sẽ khó có thể tìm ra đợc bài toánthuộc loại gì và bớc giải ra sao Vì vậy muốn giải đợc loại toán này cần đọc kĩ
đầu bài
Trên thực tế cho thấy là khi giải bất cứ một loại toán gì thì cần phải phântích kĩ đầu bài và xác định rõ bài toán thuộc loại nào thì việc giải bài toán mớikhông gặp phải khó khăn nữa Đối với bài toán giải bằng cách “ đi ngợc từcuối lên” khi đã phân tích đợc yêu cầu của đề bài thì việc vận dụng phơngpháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt bài toán sẽ gợi ra cho học sinh mộtcách giải ngắn gọn, dễ hiểu Mặc dù vậy để vận dụng tốt phơng pháp này vàogiải bài toán thì yêu cầu đặt ra là học sinh phải biết dùng các đoạn thẳng tơngứng để biểu diễn dữ kiện của bài toán Nh vậy đỏi hỏi học sinh phải có khảnăng t duy, phân tích, tổng hợp rất cao mà không phải học sinh nào cũngcó.Thực tế cho thấy nhiều em có khả năng tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng nh -
ng lại có lời giải sai Nguyên nhân là do các em cha hiểu về sơ đồ hoặc cóhiểu nhng cha sâu sắc Điều đó chứng tỏ rằng phơng pháp dùng sơ đồ đoạnthẳng để giải bài toán “ Đi ngợc từ cuối lên” đã có từ lâu nhng việc vận dụngphơng pháp đó để hớng dẫn học sinh giải luôn là vấn đề mới mẻ do khả năngtruyền đạt của mỗi giáo viên Chính vì lí do đó đòi hỏi ngời giáo viên khi hớngdẫn các em cách giải phải thật ngắn gọn, dễ hiểu, khoa học, biết diễn đạt bàitoán dới dạng ngôn ngữ toán học
2) Cơ sở thực tiễn :
Trong thực tế giảng dạy, nhiều giáo viên không ngừng phân đấu vơn lên
đạt hiệu quả cao trong giờ dạy, tạo niềm tin nơi phụ huynh học sinh nhngnhiều khi còn lúng túng trong việc hớng dẫn học sinh giải dạng toán này
Về phía học sinh: Trong quá trình học tập, nhiều em có khả năng t duy
v-ợt lên hơn, song nếu giáo viên hớng dẫn và truyền đạt, phơng pháp giải khôngphù hợp với các em dẫn đến các em ít hứng thú trong học tập
Nh vậy vấn đề cần đặt ra ở đây là giáo viên phải biết áp dụng phơng pháphớng dẫn cách giải tỉ mỉ, ngắn gọn, khoa học và thật dễ hiểu để học sinh nắm
đợc bản chất của việc dùng sơ đồ đoạn thẳng khi giải toán
444
Trang 4Chính vì có sự mâu thuẫn giữa trình độ vốn có của học sinh với chơngtrình mà sách giáo khoa đặt ra cũng nh mâu thuẫn giữa phơng pháp giải toánvới khả năng vận dụng phơng pháp đó để giải mà tôi đã lựa chọn đề tài này đểnghiên cứu.
II/ Mục đích nghiên cứu:
Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích là giúp học sinh biết cách áp dụngphơng pháp dùng sơ đoạn thẳng để tìm ra cách giải bài toán : Đi ngợc từ cuốilên”
Nhằm nâng cao chất lơng, hiệu quả của phơng pháp dùng sơ đồ đoạn thẳngtránh tình trạng áp dụng phơng pháp một cách máy móc, nhiều khi áp dụngphơng mà không hiểu rõ đợc bản chất của vấn đề
III/ Phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu cách tóm tắt và cách giải bài toán bằng cách “ Đi ngợc từ cuối lên”
ở khối 5 trờng Tiểu học Yên Thanh – Thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh
IV/ Đối tợng nghiên cứu:
Nghiên cứu lí luận về phơng trình bậc nhất một ẩn số để tìm cách hớngdẫn học sinh lớp 5 giải bài toán bằng cách “ Đi ngợc từ cuối lên”
Học sinh khối 5 trờng Tiểu học Yên Thanh - thị xã Uông Bí- Quảng Ninh V/ Phơng pháp nghiên cứu:
1) Ph ơng Pháp nghiên cứu lí luận:
Để xây dựng đợc một đề tài thì việc nghiên cứu lí luận là không thể thiếu
do vậy khi xây dựng đề tài này tôi đã nghiên cứu các tài liệu tham khảo sau:
- Tìm tòi lời giải các bài toán số học sinh nh thế nào?
* Em có thích tìm hiểu những bài toán nh trên không?
Hoặc bằng cách trò chuyện, tổ chức trò chơi toán học, giáo viên có thể nắmbắt đợc sở thích học toán của học sinh
- Điều tra gián tiếp: Thông qua phụ huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm cáclớp khối 5 để biết thêm đợc ý thức, kết quả học tập của các em
Với phơng pháp này, giáo viên có thể nắm bắt đợc khá chính xác về đối ợng Từ đó giáo viên có những phơng pháp phù hợp để dạy giải toán cho họcsinh
t-4) Ph ơng pháp khảo nghiệm
Để so sánh đối chiếu khả năng nhận thức của học sinh thông qua phơngpháp truyền đạt của giáo viên giữa phơng pháp cũ và phơng pháp mới, tôi đãtiến hành dạy cho 2 đối tợng ( thử nghiệm và đối chứng) và kiểm tra chất lợngthông qua một bài kiểm tra để so sánh kết quả một cách cụ thể
Trang 5Nội dung nghiên cứu
I/ Cơ sở lí luận:
1) Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học:
Vào khoảng 6 – 12 tuổi ( lứa tuổi tiểu học ) là giai đoạn phát triển mới của tduy ở lứa tuổi này, tri giác của các em còn mang tính trực quan cụ thể Trigiác của các em về không gian, thời gian còn hạn chế do đó trẻ hay lẫn với các
đối tợng có hình dạng na ná giống nhau, khó nhận biết các dạng hình có vị trígiống nhau
Đối với trẻ nhỏ khả năng chú ý còn ít, hay bị phân tán, thể hiện là khi làmtoán nếu chú ý vào dữ kiện này thì quên dữ kiện kia Khi gặp bài toán có từ lạthì khó tập trung tìm hiểu bản chất ( nội dung) và quan hệ các yếu tố trong bàitoán Tuy nhiên đối với học sinh lớp 5 ở lứa tuổi 10 – 11 đã có sự pháp triểnhơn hẳn so với học sinh ở đầu cấp, tuy vậy nhận thức vẫn mang tính trực quan
Do đó, việc vận dụng phơng pháp sơ đồ đoạn thẳng để gợi ra cách giải bàitoán bằng cách “ Đi ngợc từ cuối lên” là rất phù hợp với đặc điểm tâm lí lứatuổi của các em
2) Cơ sở khoa học của loại toán này:
Khi nghiên cứu cách giải loại toán bằng cách “Đi ngợc từ cuối lên” thì tôithấy loại toán này có nhiều cách giải khác nhau, với những bài toán có chứaphân số tôi có thể giải bằng 4 cách: Phơng pháp đại số, phơng pháp số học(thông qua sơ đồ đoạn thẳng) Phơng pháp phân số và phơng pháp gráp nhngphần nhiều là giải theo hai phơng pháp ( đại số và số học) và đây cũng là haiphơng pháp nằm trong phạm vi đề tài mà tôi đã lựa chọn
* Cách giải thứ nhất: Là dùng phơng pháp số học để tính ngợc từ cuối.Nghĩa là dùng các phép toán cộng, trừ, nhân, chia kết hợp với dữ liệu cuốicùng để từ đó tìm ngợc trở về đầu để tìm yêu cầu mà đầu bài nêu ra( dựa vàohình vẽ)
* Cách giải thứ hai: Là dùng phơng pháp đại số nghĩa là giả thiết cần tìm là
X và dựa vào dữ kiện bài toán cho để lập lên một phơng trình trên cơ sở xâydựng liên tiếp những điều đã biết bằng cách thực hiện liên tiếp các phép toánngợc với phép toán đã cho Nh vậy loại toán giải bằng cách “ đi ngợc từ cuốilên” chính là đợc xây dựng trên cơ sở của phơng trình bậc nhất một ẩn số Đểthấy đợc cơ sở khoa học về loại toán giải bằng cách “ Đi ngợc từ cuối lên” tôi
đã nghiên cứu cách giải của phơng trình bậc nhất một ẩn số trong chơng IIIbài 4 ( sách giáo khoa đại số 8)
Thực chất của loại toán này bằng cách “đi ngợc từ cuối lên” là dạng đặcbiệt của phơng trình bậc nhất một ẩn số Để tìm ra đáp án của bài toán thì đóchính là quá trình đặt ẩn và giải phơng trình bậc nhất đó Để tìm hiểu cáchgiải về dạng toán này ở tiểu học, tôi đã tham khảo sách “ Phơng pháp giảngdạy toán” và các phơng pháp giải toán ở tiểu học” Bài 3 – Phơng pháp giảitoán ngợc từ cuối lên Nội dung phơng pháp này đợc trình bày nh sau:
Một số bài toán mà ta có thể tìm số cha biết bằng cách thực hiện liên tiếpcác phép tính ngợc lại với phép tính đã cho trong bài toán Khi giải bài toántheo phơng pháp này thì kết quả của một phép tính đã trở thành một phần đãbiết trong phép tính liền sau đó, cứ tiếp tục nh thế cho đến khi tìm đợc số phảitìm Ta nói bài toán đợc giải theo phơng pháp tính ngợc từ cuối lên
Ví dụ: Tìm một số biết rằng số đó lần lợt cộng với 1 rồi nhân với 2 đợcbao nhiêu đem chia cho 3 rồi trừ đi 4 thì đợc kết quả là 5
Phân tích theo sơ đồ đoạn thẳng ta có nh sau:
Trang 6Với cách này đợc đa vào tiểu học dới dạng bài toán “ Đi ngợc từ cuối lên”
và ẩn số đợc minh hoạ bằng các đoạn thẳng để các em dễ dàng tri giác mà từ
đó suy ra cách giải số học
Nh vậy bài toán “đi ngợc từ cuối lên” đợc xây dựng trên cơ sở đại số là
ph-ơng trình bậc nhất một ẩn mà nó thể hiện ẩn số ở tiểu học là đoạn thẳng
3/ Một số vấn đề lý luận có liên quan.
Các bớc giải toán của Pôlia vận dụng vào tiểu học Nh ta đã biết, khi
đứng trớc một bài toán ta cần phải có quá trình tìm hiểu các vấn đề và có mộtbớc giải nhất định
Để tìm hiểu các bớc giải một bài toán số học hay một bài toán có lời văn
ta phải thông qua các bớc giải nào?
Tôi đã tham khảo cuốn “ Phơng pháp giảng dạy toán” , phần phơng phápchung khi giải các bài toán hợp 4 bớc
Giải toán của Pôlia vận dụng vào tiểu học:
* Bớc 2: Tìm tòi lời giải
+ Bài toán hỏi gì?
+ Bài toán cho biết gì?
+ Mối liên hệ giữa các yếu tố đã cho và yếu tố cần tìm
+ Căn cứ vào đây để chia bài toán hợp thành các bài toán đơn, căn cứ mỗibài toán đơn tơng ứng ta đặt một câu hỏi
* Bớc 3: Thử lại
- Thử lại phép tính
- Thử lại ý nghĩa thực tiễn của bài toán
Trang 7Trên đây là 4 bớc giải của Pôlia vận dụng vào tiểu học khi giải các bài toánhợp Nhng trên thực tế vận dụng không phải lúc nào ta cũng máy móc, dậpkhuôn theo một trình tự nhất định, mà cần phải vận dụng một cách linh hoạtsao cho phù hợp.
4/ Nghiên cứu sách giáo khoa tiểu học.
a- Loại toán: “ Đi ngợc từ cuối lên” trong sách giáo khoa toán 5 không cótiết lí thuyết dành riêng mà chỉ có bài tìm X dạng phức tạp
b- Sách giáo khoa nâng cao toán 5: Gồm có những bài sau: Bài 78 trang47; bài 94 trang 40
c- Sách bồi dỡng học sinh giỏi toán 5, gồm các bài: 121; 122; 123; 124;
125 ( trang 14) – bài 126; 127; 128; 129; 130; 131; 132; 133; 134 trang 15 d- Vở bài tập toán 5
đ- Sách giáo viên toán 5
II/ Thực tế tình hình dạy học ở địa phơng
1) Đặc điểm tình hình địa ph ơng.
Phờng Yên Thanh trẻ là phờng nằm ở trung tâm thị xã song kinh tế chủyếu là nông nghiệp, chính vì vậy đời sống của nhân dân chỉ ở mức trung bình,vẫn còn khu Vành Kiệu, Núi Gạc nhân dân sống bằng nghề thuyền chài đibiển hàng tháng nên ít có điều kiện quan tâm đến việc học tập của các em.Chính vì vậy trong việc dạy học giáo viên gặp nhiều khó khăn
2) Tình hình giảng dạy ở tr ờng Tiểu học Yên Thanh
Qua những tiết dự giờ ở lớp 5 trờng tiểu học Yên Thanh, tôi thấy khi giáoviên sử dụng phơng pháp sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để hớng dẫn học sinh giảiloại toán : “ Đi ngợc từ cuối lên” thì phần lớn các em đã hiểu bài song vẫn cònmột số đối tợng có lực học trung bình và yếu thì vẫn cha nắm đợc bài Điều đóthể hiện trên bài tập của các em Vì vậy trong lớp vẫn còn 1/3 số học sinhkhông là đợc bài tập
Qua việc gần gũi tiếp xúc với học sinh, tôi đã pháp hiện ra nguyên nhân dẫntới việc không hiểu bài của một số học sinh Lí do thứ nhất là hầu hết các emcha hiểu bài là những em có lực học từ trung bình trở xuống Lí do thứ hai làgiáo viên cha chú trọng nhiều vào việc phân tích bài toán và hớng dẫn họcsinh hiểu cách sử dụng sơ đồ đoạn thẳng khi giải toán
Vì vậy việc hớng dẫn của giáo viên chỉ phù hợp với những học sinh có lựchọc từ trung bình trở lên Còn những em có lực học kém hơn một chút thì hầu
nh bị mắc khi giải loại toán này Cái vớng mắc của các em ở đây là các em
ch-a hiểu thấu đáo việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để giải toán nh thế nào? Hoặc
có khi các em lại hiểu một cách máy móc nên khi tóm tắt đề toán thì đúng
nh-ng lời giải lại khônh-ng ăn khớp với việc tóm tắt trên Nguyên nhân dẫn đến saisót trên là do giáo viên cha đa ra hệ thống câu hỏi chi tiết để khai thác nộidung yêu cầu của bài cho học sinh Giáo viên hớng dẫn học sinh giải toánbằng sơ đồ đoạn thẳng nhng cha giải thích kĩ về mối quan hệ giữa các đại lợngtrên sơ đồ dẫn đến học sinh cha hiểu rõ đợc bản chất của sơ đồ đoạn thẳng.Rồi khi đã tóm tắt đợc bài toán bằng sơ đồ thì cha chỉ ra đợc tác dụng của sơ
đồ đoạn thẳng đã gợi ra cho ta điều gì để giải toán
Nh vậy, nhìn chung những u điểm của phơng pháp dùng sơ đồ thẳng để ớng dẫn học sinh giải loại toán “ Đi ngợc từ cuối lên” cha đợc giáo viên khaithác tốt
h-3) Hồ sơ thu thập:
a/ Biên bản dự giờ số 1: Dự giờ lớp 5A2.
Tiết luyện toán
Trang 8III Bài mới:
1, Giới thiệu bài:
2, Luyện tập:
- Hỏi: Muốn trừ hai hay nhiều số thập
phân tam làm nh thế nào?
* Bài 6:
- Cho HS đọc yêu cầu đề bài
- Giáo viên hớng dẫn học sinh tìm
hiểu yêu cầu
+ Bài toán cho biết gì?
+ Bài toán hỏi gì?
- Cho HS nêu GV ghi tóm tắt lên
- Cho HS tiến hành làm bài
- Cho HS nêu kết quả bài làm
+ Trừ nh trừ số tự nhiên
+ Đặt dấu phẩy ở hiệu thẳng cột vớidấu phẩy ở số trừ và số bị trừ
+ Một ngời bán trứng, lần thứ nhấtbán đợc một nửa số trứng và 0,5 quả.Lần thứ hai bán nửa số trứng còn lại
và 0,5 quả Lần thứ ba bán nửa sốtrứng còn lại và 0,5 quả thì vừa hết.+ Ngời đó bán mỗi lần đợc bao nhiêuquả trứng?
Trang 9- Cuối cùng khi chữa mỗi bài giáo viên không nên hỏi có bao nhiêu em làm
đúng, chỉ cần hỏi “ Em nào có kết quả giống nh cô?” là sẽ nắm đợc số họcsinh hiểu bài và làm đợc bài để có hớng chỉnh cách dạy hoặc giành thời gian
để giảng lại bài cho học sinh
b/ Biên bản dự giờ số2 : Dự giờ lớp 5A3
Ôn tập: Các phép tính với số tự nhiên, phân số, số thậpphân
X = 12,75 - 12,75
X = 0 X =
4
3 8
2, 4, 6, 10, 16, 26, 42, 68, 110
Tổng các số cần tìm là: 2 + 4 + 6 + 10 + 16 + 26 + 42 + 68 + 110 = 284 III Bài mới:
1/ Giới thiệu bài
+ Phép trừ không có tính chất giaohoán
+Hiệu của hai số bằng nhau thì bằng 0.+ Trừ một số bất kì cho 0 thì bằngchính số đó
Trang 10xong một số bài tập trong sách giáo
khoa , giáo viên cho học sinh làm
bài 78 ( trang 47) trong sách giáo
khao nâng cao
- Giáo viên đọc đề bài 1 lần
- Hớng dẫn tìm hiểu đề
+ Bài toán cho biết gì?
+ Bài toán yêu cầu chúng ta tìm gì?
- Hớng dẫn cách giải: Để làm đợc
bài toán này các em cần nêu đợc
phân số chỉ số vải còn lại sau mỗi
7
4
chỗ vải còn lại thì tấm vảichỉ còn 12 m Hỏi: a/ Tấm vải dài baonhiêu?
b/ Mỗi lần bán bao nhiêu mét?
Bài giảia/ Phân số chỉ số vải còn lại sau lần bánthứ nhất:
5
4 5
1
1 ( tấm vải)Phân số chỉ số vải bán lần 2 là:
4
( tấm vải)Phân số chỉ số vải bán cả hai lần:
35
23 35
16 5
1
( tấm vải)Phân số chỉ 12 m vải là:
1 -
35
12 35
23
(tấm vải)Tấm vải dài là: 12 :
35
12
= 35 (m)b/ Số vải bán lần thứ nhất là:
- Với bài toán này cần giúp học sinh chỉ ra cách giải bằng phơng pháp dùng sơ
đồ đoạn thẳng để biểu diễn nội dung đề bài cho học sinh hiểu và hiểu mộtcách chính xác
- Giáo viên đã đặt câu hỏi để kiểm tra kết quả của học sinh nhng cha phù hợp.Giáo viên nên chữa bài và xác định bài đó đúng hay sai, nếu đúng mới đặt câuhỏi đó.Tránh cho học sinh hoang mang, nghi ngờ kết quả của mình
III/ Đề xuất phơng pháp cải tiến