TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI NGUYỄN TRỌNG NHẤT NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC XÁC ĐỊNH HỆ SỐ TIÊU THIẾT KẾ CHO KHU VỰC THÀNH PHỐ HÀ NỘI NẰM TRONG LƯU VỰC TỪ PHÍA ĐÔNG SÔNG NHUỆ VÀ PHÍA BẮC QUỐC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN TRỌNG NHẤT
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC XÁC ĐỊNH
HỆ SỐ TIÊU THIẾT KẾ CHO KHU VỰC THÀNH PHỐ HÀ NỘI NẰM TRONG LƯU VỰC TỪ PHÍA ĐÔNG SÔNG NHUỆ
VÀ PHÍA BẮC QUỐC LỘ 70A ĐẾN SÔNG HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN TRỌNG NHẤT
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC XÁC ĐỊNH
HỆ SỐ TIÊU THIẾT KẾ CHO KHU VỰC THÀNH PHỐ HÀ NỘI NẰM TRONG LƯU VỰC TỪ PHÍA ĐÔNG SÔNG NHUỆ
VÀ PHÍA BẮC QUỐC LỘ 70A ĐẾN SÔNG HỒNG
Chuyên ngành: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
Mã số: 60 - 62 - 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: GVCC, PGS.TS Lê Quang Vinh
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 3
MỞ ĐẦU 4
1 Cơ sở đề xuất đề tài nghiên cứu 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ứng dụng 5
4 Nội dung và kết quả nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Địa điểm nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí địa lý 7
1.1.2 Đặc điểm địa hình 7
1.1.3 Đặc điểm cấu tạo địa chất 7
1.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 8
1.1.5 Đặc điểm khí tượng, khí hậu 9
1.1.6 Đặc điển sông ngòi 14
1.2 Tổng quan về dân sinh, kinh tế, xã hội 19
1.2.1 Vấn đề dân số 19
1.2.2 Các vấn đề an sinh xã hội 19
1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế 20
1.2.4 Các vấn đề xã hội cần quan tâm 20
1.3 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất và định hướng phát triển không gian 21
1.3.1 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất 21
1.3.2 Định hướng phát triển không gian của khu vực nghiên cứu 23
1.4 Hiện trạng tiêu nước 27
1.4.1 Hiện trạng tiêu nước của khu vực nghiên cứu 27
1.4.2 Hướng tiêu nước hiện trạng của khu vực nghiên cứu 29
1.5 Các vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu đề xuất giải pháp tiêu nước cho khu vực nghiên cứu 29
1.6 Nhận xét và kết luận chương 1 30
Trang 4CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ TIÊU VÀ GIẢI
PHÁP TIÊU CHO KHU VỰC NGHIÊN CỨU 31
2.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số tiêu 31
2.1.1 Quá trình biến động về hệ số tiêu và biện pháp tiêu nước áp dụng cho khu vực nghiên cứu 31
2.1.2 Các yếu tố gây biến đổi hệ số tiêu thiết kế và làm thay đổi biện pháp tiêu nước 33
2.2 Đề xuất giải pháp tiêu nước áp dụng cho khu vực nghiên cứu 35
2.2.1 Cơ sở khoa học đề xuất giải pháp tiêu nước 35
2.2.2 Đề xuất giải pháp tiêu nước áp dụng cho khu vực nghiên cứu 36
2.3 Nhận xét và kết luận chương 2 38
CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN HỆ SỐ TIÊU THIẾT KẾ VÀ KIẾN NGHỊ HỆ SỐ TIÊU THIẾT KẾ CHO KHU VỰC NGHIÊN CỨU 40
3.1 Nghiên cứu phương pháp tính toán hệ số tiêu của các dự án trước đây 40
3.1.1 Dự án thoát nước thành phố Hà Nội 40
3.1.2 Dự án Bổ sung Quy hoạch thủy lợi hệ thống thủy nông sông Nhuệ năm 1997 41
3.1.3 Dự án Rà soát bổ sung Quy hoạch thủy lợi hệ thống sông Nhuệ năm 2007 42
3.2 Phương pháp tính toán hệ số tiêu cho khu vực nghiên cứu 42
3.2.1 Cơ sở đề xuất phương pháp tính toán hệ số tiêu 42
3.2.2 Các đối tượng tiêu nước và tỷ lệ diện tích của đối tượng tiêu nước có mặt trong khu vực nghiên cứu 45
3.2.3 Phương pháp tính toán 52
3.3 Kết quả tính toán hệ số tiêu thiết kế cho khu vực nghiên cứu 55
3.3.1 Kết quả tính toán hệ số tiêu thiết kế cho lưu vực sông Tô Lịch 55
3.3.2 Kết quả tính toán hệ số tiêu thiết kế cho lưu vực sông Nhuệ 57
3.4 Kiến nghị hệ số tiêu thiết kế cho khu vực nghiên cứu 58
3.4.1 Lưu vực sông Tô Lịch 58
3.4.2 Lưu vực sông Nhuệ 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Nhiệt độ không khí trung bình (Trạm Láng) 9
Bảng 1.2 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm (Trạm Láng) 10
Bảng 1.3 Lượng mưa các tháng trong năm (Trạm Láng) 11
Bảng 1.4 Lượng bốc hơi trung bình tháng 12
Bảng 1.5 Số giờ nắng các tháng trong năm (Trạm Láng) 13
Bảng 1.6 Mực nước trung bình sông Hồng các tháng trong năm tại Hà Nội 17
Bảng 1.7 Mực nước báo động trong mùa lũ trên sông Hồng tại Hà Nội 18
Bảng 1.8 Diện tích các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã có và sẽ xây dựng trong khu vực nghiên cứu 23
Bảng 1.9 Một số chỉ tiêu thiết kế chính của các hồ điều hòa trong lưu vực sông Tô Lịch được đầu tư xây dựng trong giai đoạn 1 28
Bảng 3.1 Diện tích mặt nước các hồ bảo tồn được đo bằng phần mềm 47
Bảng 3.2 Diện tích mặt nước các hồ được nạo vét, cải tạo 47
theo dự án thoát nước thành phố Hà Nội 47
Bảng 3.3 Thông số các sông nội thị theo dự án thoát nước thành phố Hà Nội 48
Bảng 3.4 Diện tích mặt bằng trồng cây xanh trong công viên 49
Bảng 3.5 Tổng hợp diện tích và tỷ lệ diện tích các đối tượng tiêu nước có mặt trên tiểu vùng Yên Sở 50
Bảng 3.6 Các hồ điều hòa dự kiến sẽ bố trí trên tiểu vùng sông Nhuệ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ 50
Bảng 3.8 Diện tích mặt nước các hồ thông thường hiện có được đo bằng phần mềm 51
Bảng 3.8 Diện tích mặt bằng trồng cây xanh trong công viên 52
Bảng 3.9 Tổng hợp diện tích và tỷ lệ diện tích các đối tượng tiêu nước có mặt trên tiểu vùng sông Nhuệ năm 2020 52
Bảng 3.10 Hệ số dòng chảy C của một số loại đối tượng tiêu nước chính có mặt trong khu vực nghiên cứu 53
Bảng 3.11 Mô hình mưa 24 giờ lớn nhất trạm Láng và trạm Hà Đông nằm trong trận mưa 3 ngày lớn nhất tương ứng với tần suất 10% 55
Bảng 3.12 Kết quả tính toán hệ số tiêu của toàn lưu vực sông Tô Lịch tương ứng với các thời đoạn tiêu nước căng thẳng nhất 56
Bảng 3.13 Kết quả tính toán hệ số tiêu của toàn lưu vực sông Nhuệ tương ứng với các thời đoạn tiêu nước căng thẳng nhất 58
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Cơ sở đề xuất đề tài nghiên cứu
Khu vực Hà Nội nằm trong phần lưu vực từ phía đông sông Nhuệ và phía bắc
Quốc lộ 70A đến sông Hồng có diện tích tự nhiên 13.540 ha được giới hạn bởi đê sông
Hồng ở phía đông và phía bắc, đê sông Nhuệ ở phía tây, quốc lộ 70A (đường Văn
Điển đi Hà Đông) ở phía nam
Theo Dự án tiêu nước cho Thủ đô Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 430/TTg ngày 07/8/1995, trong tổng số 13.540 ha của thành
phố Hà Nội (cũ) được chia thành hai tiểu vùng chính sau đây:
- Tiểu vùng phía đông sông Tô Lịch có diện tích lưu vực 7.750 ha phải bơm ra
sông Hồng bằng trạm bơm Yên Sở (gọi là tiểu vùng Yên Sở) Trạm bơm Yên Sở có lưu
lượng bơm thiết kế 90 m3/s (tương đương với hệ số tiêu 11,6 l/s/ha)
- Tiểu vùng phía tây sông Tô Lịch có 5.790 ha được tiêu vào sông Nhuệ bằng các trạm bơm phân tán có tổng lưu lượng 35 m3/s (tương đương với hệ số tiêu 6,04 l/s/ha)
Theo dự án rà soát quy hoạch tiêu nước cho hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt năm 2007, hệ số tiêu thiết kế
áp dụng cho lưu vực Sông Nhuệ nằm phía bắc quốc lộ 70A và huyện Thanh Trì lấy theo hệ số tiêu thiết kế áp dụng cho Hà Nội khi xây dựng trạm bơm tiêu Yên Sở: q = 11,6 l/s/ha, hệ số tiêu kiểm tra qkt= 15,0 l/s/ha
Ngày 01/7/2009, Thủ tướng Chính phủ ký duyệt Quyết định số 937/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tiêu nước hệ thống sông Nhuệ nhằm xác định giải pháp công trình tiêu nước, chống ngập úng khu vực nội thành thành phố Hà Nội thuộc hệ thống sông Nhuệ, với diện tích 29.153ha Theo Quyết định trên, hệ số tiêu thiết kế áp dụng cho khu vực nội thành Hà Nội ở phía đông sông Tô Lịch là 17,9 l/s/ha và ở phía tây sông Tô Lịch là 19,70 l/s/ha
Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn giá trị tuyệt đối về hệ số tiêu thiết kế áp dụng cho khu vực này có sự biến động rất lớn Thay đổi về hệ số tiêu dẫn đến thay đổi về biện pháp tiêu và kinh phí đầu tư xây dựng công trình tiêu Vậy vì sao lại có sự biến
Trang 7động lớn như vậy và dựa trên cơ sở khoa học nào để xác định hệ số tiêu thiết kế nói
trên? Câu hỏi này chính là căn cứ, là cơ sở để đề xuất đề tài Luận văn cao học: Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định hệ số tiêu thiết kế cho khu vực thành phố Hà Nội nằm trong lưu vực từ phía đông sông Nhuệ và phía bắc Quốc lộ 70A đến sông Hồng Vì
vậy, việc nghiên cứu giải quyết những vấn đề đã đặt ra của đề tài này là rất cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các cơ sở khoa học và phương pháp tính toán hệ số tiêu thiết kế áp dụng cho khu vực nội thành Hà Nội nằm trong phần diện tích lưu vực từ phía đông của
đê sông Nhuệ và phía bắc Quốc lộ 70A đến sông Hồng Căn cứ vào kết quả tính toán, Luận văn sẽ đưa ra một số nhận xét về sự phù hợp của hệ số tiêu thiết kế đã được Chính phủ phê duyệt và kiến nghị lựa chọn hệ số tiêu khi tính toán thiết kế xây dựng các công trình tiêu cục bộ đưa nước từ các tiểu lưu vực vào mạng lưới tiêu chung của thành phố để đưa ra các sông ngoài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ứng dụng
Đối tượng nghiên cứu là hệ số tiêu và biện pháp tiêu nước mặt Phạm vi nghiên cứu ứng dụng là cơ sở khoa học và thực tiễn của phương pháp tính toán hệ số tiêu đã
đề xuất áp dụng cho khu vực thành phố Hà Nội nằm trong phần diện tích lưu vực từ phía đông của đê sông Nhuệ và phía bắc Quốc lộ 70 A đến sông Hồng
4 Nội dung và kết quả nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng cơ cấu sử dụng đất và mức độ biến động về cơ cấu sử dụng đất trên lưu vực nghiên cứu đến năm 2020;
- Phân tích các yếu tố gây biến đổi hệ số tiêu thiết kế và làm thay đổi biện pháp tiêu nước;
- Tính toán hệ số tiêu thiết kế cho khu vực nghiên cứu;
- Các khuyến nghị về việc sử dụng kết quả tính toán trong Luận văn vào thực tiễn của thủ đô Hà Nội
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp kế thừa
Nghiên cứu tiếp thu và sử dụng có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các tác giả
đã nghiên cứu liên quan đến đề tài
b Phương pháp điều tra thu thập và đánh giá
Điều tra thu thập tài liệu, khảo sát, nghiên cứu thực tế, phân tích đánh giá và tổng hợp tài liệu để rút ra các cơ sở khoa học và khả năng ứng dụng vào thực tiễn
6 Địa điểm nghiên cứu
Các quận, huyện của thành phố Hà Nội nằm trong lưu vực từ phía đông đê sông Nhuệ và phía bắc Quốc lộ 70A đến sông Hồng
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi từ phía đông của đê sông Nhuệ và phía bắc Quốc lộ 70A đến sông Hồng, thuộc địa phận Thành phố Hà Nội, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước:
- Phía bắc và phía đông giáp đê sông Hồng;
- Phía tây giáp đê sông Nhuệ;
- Phía nam giáp Quốc lộ 70A
Khu vực nghiên cứu thuộc đơn vị hành chính của các quận, huyện sau:
- Toàn bộ phần diện tích của các quận: Đống Đa, Thanh Xuân và Cầu Giấy;
- Toàn bộ phần diện tích nằm trong đê sông Hồng của các quận: Hoàn Kiếm,
Ba Đình, Tây Hồ, Hoàng Mai và Hai Bà Trưng;
- Một phần của các quận, huyện: Hà Đông, Thanh Trì, Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm và quận Nam Từ Liêm)
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Nhờ phù sa châu thổ sông Hồng bồi đắp, nên diện tích tự nhiên của khu vực nghiên cứu là đồng bằng với độ cao trung bình khoảng từ 5m đến 8m so với mực nước biển Địa hình khu vực nghiên cứu thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam Tuy nhiên, khu vực nghiên cứu là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước, nơi có mật độ công trình xây dựng lớn, có tấc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất nhanh, vì vậy địa hình khu vực nghiên cứu bị chia cắt mạnh
1.1.3 Đặc điểm cấu tạo địa chất
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng được thành tạo do quá trình bồi
tụ và lắng đọng trầm tích trong điều kiện biển nông cùng với các dòng chảy của sông
ra biển Do quá trình chuyển động kiến tạo đã trải qua với các kỷ Permier, Trias, Đệ
Trang 10Tam, Đệ Tứ cùng với tác động mạnh của các điều kiện tự nhiên (nhiệt độ, nóng, ẩm, mưa v.v ) làm cho đất đá bị phong hoá mạnh tạo nên nền địa chất nham thạch, đất đai
không đồng nhất Với các lớp bồi tích, trầm tích, phù sa khá dầy thể hiện một bồn địa mới được hình thành Trải qua thời kỳ biển lấn lần 1, lần 2 và thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng võng chuyển sang một thời kỳ bình ổn và lấp đầy tạo ra một vùng đồng bằng rộng lớn và ngập nước Nhìn chung cấu trúc địa chất vùng nghiên cứu
có dạng sau:
Trầm tích Pleixtoxen: nằm dưới đáy địa tầng là cát thạch anh hạt nhỏ đến hạt trung thuộc bồi tích cổ alQIII, có bề dầy từ 20 đến 30 m hoặc lớn hơn, nằm khá sâu dưới mặt đất từ 20 đến trên 30 m
Trầm tích tholoxen: nằm trên tầng trầm tích Pleixtoxen, dạng phổ biến là bùn sét kiểu đầm lầy ven biển (bmQIV) Trên tầng bùn sét là trầm tích sét biển (mQIV), trên nữa là tầng á sét có chứa vỏ sò, chất hữu cơ thực vật Trên cùng là tầng bồi tích sông (alQIV)
Đánh giá một cách tổng quát thì nền địa chất của hầu hết các khu vực trong vùng nghiên cứu đều rất yếu, khi khảo sát thiết kế và thi công các công trình xây dựng cần có biện pháp xử lý chống lún, chống cát đùn và cát chảy
Ngoài ra, ở một số khu vực, do tập quán sản xuất, canh tác không khoa học (lạm dụng phân bón hóa học, sử dụng nước thài ô nhiễm từ các con sông để tưới, đất bị phong hóa, rửa trôi do bỏ hoang của các khu đô thi quy hoạch treo) dẫn đến một bộ phận đất
phù sa cổ đã thoái hóa, bạc màu, nghèo dinh dưỡng, không kết cấu, thành phần cơ giới nhẹ, cho năng suất cây trồng thấp
Trang 111.1.5 Đặc điểm khí tượng, khí hậu
Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Trung ương, khí hậu khu vực nghiên cứu tiêu biểu cho khí hậu vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới
ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa
a Nhiệt độ
Nhiệt độ trong khu vực nghiên cứu tương đối cao Nhiệt độ trung bình năm trên
24 oC Tổng nhiệt độ toàn năm trên 8.900oC Hàng năm có 3 tháng (từ tháng 12 đến
nhiệt độ trung bình trên 16oC Nhiệt độ tối thấp nhất tại Hà Nội đo được trong tháng 01/1995 là 2.7oC Trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt độ trung bình khoảng 27 oC đến 30oC Nhiệt độ cao nhất lên tới 42.8oC xuất hiện vào tháng 5/1926
Bảng 1.1 Nhiệt độ không khí trung bình (Trạm Láng) Đơn vị tính: Độ C
Năm
Tháng
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Trung bình (10 năm)
Trang 12b Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm trên toàn vùng nghiên cứu dao
động trong khoảng từ 74 đến 82% Sự biến đổi về độ ẩm giữa các tháng không nhiều
Mùa xuân là thời kỳ ẩm ướt nhất, độ ẩm trung bình tháng đạt khoảng 82% hoặc cao
hơn Các tháng cuối mùa thu và đầu mùa đông là thời kỳ khô hanh nhất, độ ẩm trung
bình tháng có thể xuống dưới 70% Độ ẩm ngày cao nhất có thể đạt trên 90% và thậm
Khu vực nghiên cứu có lượng mưa tương đối lớn, tổng lượng mưa trung bình
năm khoảng 1.700 mm với số ngày mưa khoảng 130 ÷ 140 ngày mỗi năm Mùa mưa
kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tổng lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm
khoảng 75 đến 80% tổng lượng mưa năm
Trang 13Bảng 1.3 Lượng mưa các tháng trong năm (Trạm Láng)
Đơn vị tính: mm
Năm
Tháng 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Trung bình (10 năm)
Lượng mưa năm lớn nhất tại Hà Nội đo được 2.536 mm (1994) Lượng mưa lớn
nhất năm ứng với các thời đoạn thường rơi vào các tháng 7, 8 Lượng mưa trung bình
1 ngày lớn nhất toàn khu vực nghiên cứu đạt từ 120 mm đến 160 mm, 3 ngày lớn nhất
đạt từ 180 mm đến 230 mm, 5 ngày lớn nhất đạt từ 210 mm đến 260 mm và 7 ngày lớn
nhất đạt từ 230 mm đến 280 mm Các trận mưa thời đoạn ngắn thường nằm trong các
trận mưa thời đoạn dài hơn
d Bốc hơi
Theo số liệu thống kê lượng bốc hơi bình quân năm ở toàn vùng đạt khoảng gần
1.000mm Các tháng 5, 6, 7 có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm Lượng bốc hơi bình
quân tháng 7 đạt trên 100 mm Các tháng mùa xuân (từ tháng 2 đến tháng 4) có lượng
bốc hơi nhỏ nhất là những tháng có nhiều mưa phùn và độ ẩm tương đối cao
Trang 14Bảng 1.4 Lượng bốc hơi trung bình tháng
Đơn vị tính: mm
Tháng Trạm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Hà Nội 71,4 59,7 56,9 65,2 98,6 97,8 100,6 84,1 84,4 95,6 89,8 85,0 989,1
Nguồn: Trung tâm Khoa học và triển khai kỹ thuật thủy lợi
e Gió, dông, bão
Hướng gió thịnh hành trong mùa hè là gió nam và đông nam còn mùa đông thường có gió bắc và đông bắc Tốc độ gió trung bình khoảng 2-3 m/s Hàng năm có trên 80 ngày dông Tháng 7 và tháng 9 là những tháng có nhiều bão nhất Các cơn bão
đổ bộ vào vùng này thường gây ra mưa lớn trong vài ba ngày, ảnh hưởng lớn cho sản xuất và đời sống của nhân dân Tốc độ gió lớn nhất trong cơn bão có thể đạt 40 m/s
f Nắng
Số giờ nắng hàng năm vào khoảng trên 1.300 giờ Các tháng mùa hè từ tháng 5 đến tháng 8 có nhiều nắng nhất, có tháng số giờ nắng đạt trên 200 giờ Tháng 1, 2, 3 là những tháng u ám, rất ít nắng, số giờ nắng trung bình chỉ đạt trên dưới 50 giờ, có tháng chỉ đạt 3 đến 4 giờ nắng
Trang 15Bảng 1.5 Số giờ nắng các tháng trong năm (Trạm Láng)
Đơn vị tính: Giờ
Năm
Tháng 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Trung bình (10 năm)
Trung bình mỗi năm có khoảng từ 10 ngày đến 20 ngày có sương mù Hiện
tượng này xảy ra chủ yếu vào các tháng đầu mùa đông, nhiều nhất là vào tháng 11 và
tháng 12
h Các hiện tượng thời tiết bất thường
Trong một vài năm gần đây khí hậu vùng nghiên cứu cũng ghi nhận những biến
đổi bất thường Cụ thể:
- Trận mưa gây ngập úng lịch sử xảy ra gần như trên toàn vùng đồng bằng Bắc
bộ với tâm mưa là khu vực Hà Nội vào cuối tháng 10 đầu tháng 11/2008 Tổng lượng
mưa đo được trong 3 ngày từ 31/10 đến 02/11 tại Trạm Láng là 563,3 mm, Hà Đông là
812,0 mm, Thanh Trì là 500,0 mm đã làm cho giao thông nội thành Hà Nội và nhiều
địa phương khác bị tê liệt vì ngập chìm trong nước nhiều ngày liền Tính đến ngày
Trang 1603/11/2008, Hà Nội có khoảng trên 56500 ha rau màu và cây vụ đông; 2400 ha lúa mùa muộn chưa kịp thu hoạch; 2700 ha hoa và cây cảnh; 2200 ha cây ăn quả và 9700
ha nuôi thủy sản bị ngập và mất trắng
- Ngày 22/4/2005 và ngày 20/11/2006, khu vực nội thành Hà Nội xuất hiện mưa
đá diện rộng, thời gian mưa kéo dài từ 20 phút đến 25 phút, kích thước đường kính viên đá từ 1 cm đến 2 cm
1.1.6 Đặc điển sông ngòi
1.1.6.1 Các sông trong khu vực nghiên cứu
Vùng nghiên cứu có rất nhiều sông nhỏ, các con sông này đều có đặc điểm chung là nước sông bị ô nhiễm rất nặng nề, nước sông có mầu đen, bốc mùi hôi thối, nguyên nhân chính là do nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất phần lớn chưa qua
xử lý đổ trực tiếp xuống các sông này Nhiều đoạn lòng sông bị thu hẹp, bồi lấp và bị cống hóa
a Sông Tô Lịch
Sông Tô Lịch có dòng chính chảy qua các quận huyện: Thanh Xuân, Hoàng
Mai và Thanh Trì, bắt đầu từ phường Nghĩa Đô thuộc quận Cầu Giấy (phía nam đường Hoàng Quốc Việt), chảy cùng hướng với đường Bưởi, đường Láng và đường
Kim Giang về phía nam, tây nam rồi ngoặt sang phía đông nam và đổ ra sông Nhuệ ở đối diện làng Hữu Từ thuộc xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì
Sông Tô Lịch nguyên là phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ sông Hồng vào sông Nhuệ Trong quá trình tập trung dân cư và phát triển đô thị, đoạn sông Tô Lịch từ
sông Hồng đến Hồ Tây và từ Hồ Tây đến phường Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy) đã bị
lấp
b Sông Kim Ngưu
Sông Kim Ngưu là một phân lưu của sông Tô Lịch, lấy nước sông Tô Lịch ở ô Cầu Giấy, chảy theo hướng Tây-Đông tới Đội Cấn và lại lấy nước từ sông Tô Lịch khi
tới Thụy Chương (Thụy Khê), chảy theo hướng Bắc-Nam (đoạn này còn gọi là sông Ngọc Hà), chảy qua Ngọc Khánh, Giảng Võ, Hào Nam, ô Chợ Dừa, Xã Đàn, Kim
Liên, ô Cầu Dền, ô Đông Mác, Yên Sở, rồi hợp lưu trở lại ở Văn Điển
Trang 17c Sông Lừ
Sông Lừ là một dòng sông nhỏ chảy trong địa bàn quận Đống Đa, là một phân lưu của sông Kim Ngưu tách khỏi sông Kim Ngưu ở Phương Liệt và chảy về phía nam huyện Thanh Trì và hợp lưu với sông Tô Lịch Tuy nhiên, do sông Kim Ngưu có nhiều đoạn bị lấp, nên đoạn sông Kim Ngưu còn sót từ Nam Đồng tới Phương Liệt ngày nay cũng được coi là sông Lừ Mặt khác, khi thực hiện dự án cải tạo hệ thống thoát nước ở
Hà Nội vào cuối thập niên 1990 đầu thập niên 2000, người ta đã nắn dòng cho phần lớn lượng nước sông Lừ đổ vào sông Sét rồi vào hồ điều hòa Yên Sở Sông Lừ ngày nay dài khoảng 10 km, lòng sông rộng từ 10 đến 20 m, chảy qua địa bàn các phường
Nam Đồng, Trung Tự, Kim Liên, Khương Thượng, Phương Mai, Phương Liên (quận Đống Đa) Đến Phương Liên, sông Lừ chia làm hai nhánh, một nhánh rẽ sang phía
đông tới Giáp Bát và nhập lưu với sông Sét, một nhánh chảy tiếp về phía nam qua Định Công và nhập lưu với sông Tô Lịch tại phía Bắc khu đô thị Linh Đàm gần cầu Dậu, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai Nhánh nhập lưu với Tô Lịch càng gần đến chỗ nhập lưu thì dòng chảy càng bị thu hẹp lại
d Sông Sét
Sông Sét cổ là một phân lưu của sông Kim Ngưu, tách khỏi sông Kim Ngưu ở Phương Liệt Tại chỗ sông Sét tách ra, sông Kim Ngưu đổi hướng chảy lên phía bắc tới khu vực hồ Bảy Mẫu và đầm Kim Liên, còn sông Sét chảy về phía nam Tuy nhiên,
do bồi, lấp, sông Kim Ngưu tại Phương Liệt bị đứt quãng khiến cho đoạn sông Kim Ngưu ngược lên phía bắc bị tách riêng ra Sông Sét ngày nay bao gồm cả đoạn sông Kim Ngưu đó, chảy trong địa phận các quận Hai Bà Trưng và Hoàng Mai, thành phố
Hà Nội Sông Sét dài hơn 3,6 km, bắt nguồn từ hồ Bảy Mẫu trong Công viên Thống
Nhất (quận Hai Bà Trưng), chảy theo hướng Bắc-Nam và đổ vào hồ Yên Sở (quận Hoàng Mai) Khi đi qua Giáp Bát, nó nhận nước từ một phân lưu của sông Lừ từ
Phương Liên chảy sang Sông Sét suốt nhiều năm bị bùn bồi lắng và bị các công trình xây dựng lấn bờ, nên bề rộng và độ sâu của sông đã giảm đáng kể Nhiều nơi, sông chỉ rộng chừng 5 m Độ sâu trung bình của sông chỉ hơn 1 m Từ đầu năm 2003, sông Sét được nạo vét và cống hóa với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản trong dự án thoát nước, cải thiện môi trường Hà Nội giai đoạn 1 (1997-2005) Hiện nay đoạn phía bắc của sông chảy qua khu vực các trường Đại học Bách khoa, Đại học Xây dựng và Đại
Trang 18học Kinh tế Quốc dân đến phố Đại La đã được cống hóa (kè bờ và làm nắp bê tông trên mặt sông thành đường Trần Đại Nghĩa) Đoạn từ phố Đại La đến hồ Yên Sở được
kè bờ, nạo vét, làm đường và trồng cây hai bên bờ
Lưu vực phía tây của sông Tô Lịch (diện tích 5.790 ha) có 04 con sông nhỏ là
chi lưu của sông Nhuệ nằm trong đoạn từ cống Liên Mạc đến cống Hà Đông đó là các sông Cổ Nhuế, Mỹ Đình, Mễ Trì, Ba Xã Các sông này tiêu tự chảy vào sông Nhuệ khi mực nước sông Nhuệ tại Thanh Liệt thấp hơn cao trình +3,5 m, ngược lại khi mực nước sông Nhuệ tại Thanh Liệt cao hơn cao trình +3,5 m, các cống đầu các con sông
này (tại vị trí nhập lưu với sông Nhuệ) sẽ đóng lại và lượng nước cần tiêu của lưu vực
được tiêu ra sông Nhuệ bằng các trạm bơm phân tán Chiều dài của các sông này như sau:
- Sông Cổ Nhuế có chiều dài 19.200 m;
- Sông Mỹ Đình có chiều dài 13.400 m;
- Sông Mễ Trì có chiều dài 13.500 m;
- Sông Ba Xã có chiều dài 8.700 m
1.1.6.2 Các sông bao quanh khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu có hai dòng sông bao quanh là sông Hồng và sông Nhuệ, đây là hai sông lớn bao quanh gần như trọn vẹn khu vực nghiên cứu, có nhiệm vụ tiêu nước cho khu vực nghiên cứu
a Sông Hồng
Sông Hồng có diện tích lưu vực 155.000 km2 (phần trong nước 72.800 km 2 )
Dòng chính sông Hồng bắt nguồn từ dãy núi Nguỵ Sơn cao trên 2.000 m thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Hệ thống sông Hồng được hợp thành bởi 3 sông chính là sông
Lô, sông Thao, sông Đà và 5 phân lưu là sông Đuống, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Nam Định và sông Ninh Cơ Sông Hồng dài 1.126 km trong đó có 556 km chảy trên lãnh thổ Việt Nam, đoạn chảy dọc theo biên phía bắc và phía đông khu vực nghiên cứu
có chiều dài 29 km Sông Hồng là nguồn chính cung cấp nước tưới, cũng là một trong những nơi nhận nước tiêu chính của vùng
Trang 19Bảng 1.6 Mực nước trung bình sông Hồng các tháng trong năm tại Hà Nội
Mùa lũ kéo dài 5 tháng bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào khoảng tháng 10,
tháng 11 Lượng nước trong các tháng mùa lũ chiếm 70% đến 80% tổng lượng nước
hàng năm trong đó tháng 8 chiếm tỷ trọng nhiều nhất (19% đến 23%) Thời gian lũ
tương đối dài, trung bình từ 6 đến 7 ngày, dài nhất có thể lên đến hơn 20 ngày Biên độ
lũ đạt từ 7 đến trên 10 m Các vùng thượng lưu và trung lưu sông Hồng có chế độ
nước lũ cực kỳ ác liệt, tốc độ dòng chảy rất lớn, đạt từ 3 đến 5 m/s Cường suất mực
nước khi lũ lên rất lớn, từ 3 đến 7 m/ngày Chênh lệch giữa mực nước lớn nhất và nhỏ
nhất đạt gần 10 m Nước lũ ở vùng hạ lưu còn ác liệt hơn vì sau khi các sông Đà, sông
Lô hội lưu với sông Hồng ở Việt Trì thì nước lũ của toàn bộ hệ thống sông Hồng thuộc
phần trung du và miền núi đều đổ dồn về đồng bằng nơi có địa hình trũng thấp, lòng
sông bị thu hẹp do các tuyến đê bao bọc Lưu lượng trung bình các tháng mùa lũ đạt
tới 8.000 đến 10.000 m3/s
Trang 20Bảng 1.7 Mực nước báo động trong mùa lũ trên sông Hồng tại Hà Nội
Mực nước (m)
Vị trí Báo động 1 Báo động 2 Báo động 3 Phân lũ
Nguồn: Trung tâm Khoa học và triển khai kỹ thuật thủy lợi
Mùa kiệt kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Dòng chảy của sông trong thời đoạn này ngoài nước mưa trên lưu vực, chủ yếu do nước ngầm cung cấp Mực nước sông trong các tháng 3 và 4 thường xuống đến mức thấp nhất Số liệu quan trắc tại Hà Nội trong 30 năm cho thấy mực nước thấp nhất xảy ra vào tháng 3/1956, đạt mức 1,56 m Lưu lượng đo được vào ngày 9/5/1960 chỉ có 350 m3/s
Nước trên sông Nhuệ đang bị ô nhiễm cực kỳ nghiêm trọng Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu do nước thải của các nhà máy, các cơ sở sản xuất và dân cư trong nội thành chưa qua xử lý đổ trực tiếp vào sông Nhuệ qua cống Thanh Liệt Ngoài ra còn
do các khu công nghiệp, các làng nghề nằm dọc hai bờ sông Nhuệ cũng gây nên ô nhiễm cho sông Nhuệ Những năm qua khi mực nước sông Hồng xuống thấp không chỉ gây ra thiếu nguồn nước tưới mà còn không đủ lượng nước pha loãng làm cho nước trong sông bị ô nhiễm càng trầm trọng hơn
Trang 211.2 Tổng quan về dân sinh, kinh tế, xã hội
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình; tác động xấu tới giao thông đô thị, môi trường, an ninh trật tự cũng như chất lượng cuộc sống của người dân trong khu vực nghiên cứu
1.2.2 Các vấn đề an sinh xã hội
Trong những năm vừa qua Thành phố Hà Nội đã tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các dịch vụ đô thị trong khu vực nghiên cứu, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
Công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị có bước tiến bộ đáng kể, kết cấu hạ tầng đô thị được đẩy mạnh phát triển, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, các công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, góp phần giải quyết kịp thời các vấn đề dân sinh bức xúc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, làm cho Thủ đô chuyển mình mạnh mẽ, từng bước hình thành một Thủ đô xanh, văn hiến, văn minh, hiện đại Nhiều dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới, các công trình hạ tầng xã hội được triển khai mạnh mẽ
Xây dựng nhiều công trình phúc lợi xã hội cũng là kết quả nổi bật trong công tác bảo đảm an sinh của Thủ đô trong năm năm qua Thành phố đã triển khai 16 dự án
nhà ở xã hội với 16.300 căn hộ (khoảng 2,3 triệu m2), là đơn vị dẫn đầu cả nước về
lĩnh vực này Mới đây, thành phố chuyển đổi bốn dự án nhà ở thương mại thành dự án nhà ở xã hội với 1.500 căn hộ Việc cải tạo chung cư cũ, xuống cấp trong khu vực nội thành cũng được thành phố chú trọng triển khai Bên cạnh việc tập trung triển khai các
dự án nhà ở, trong hai năm gần đây, thành phố chỉ đạo quyết liệt tìm quỹ đất và xây dựng ngay các trường mầm non công lập còn thiếu ở các quận Đống Đa, Ba Đình, Hai
Bà Trưng
Trang 221.2.3 Tình hình phát triển kinh tế
Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế thành phố Hà Nội nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của vùng nghiên cứu thời kỳ từ năm
1991 đến năm 1995 đạt 12,52 %, thời kỳ từ năm 1996 đến năm 2000 đạt 10,38 %, thời
kỳ từ năm 2001 đến năm 2008 đạt 11,3 %, thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2013 đạt 8,91
% (gấp 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước)
Năm 2008, tổng GDP của thành phố Hà Nội nói chung đạt 178,5 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 10,77 tỷ USD Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 đạt
1700 USD/người So sánh với các khu vực trong cả nước, thủ đô Hà Nội có tổng GDP bằng 61,5 % so với Thành phố HCM, bằng 50% vùng đồng bằng sông Hồng và bằng 12,1 % cả nước Về xây dựng và quản lý đô thị, tốc độ xây dựng phát triển đô thị ở mức nhanh nhất so với cả nước
Tính riêng trong năm 2013, Hà Nội đã đóng góp 10,1 % GDP, 7,5 % kim ngạch xuất khẩu; 17,2 % ngân sách và 21,64 % tổng vốn đầu tư xã hội của cả nước
Đáng chú ý, trong bối cảnh khó khăn chung, Hà Nội đã phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách năm 2013, đạt 161.179 tỷ đồng, bằng 100,3 % dự toán, tăng hơn 10 % so với năm 2012
Nguồn: Tổng Cục Thống kê (http://www.gso.gov.vn)
1.2.4 Các vấn đề xã hội cần quan tâm
Với lợi thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước, khu vực nghiên cứu nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung đã phát huy được nhiều giải pháp sáng tạo để huy động vốn đầu tư cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay, thành phố Hà Nội đã thực sự trở thành đầu tàu và là động lực phát triển kinh tế -
xã hội của khu vực phía Bắc, ngày càng giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của cả nước Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong vùng nghiên cứu đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn nội tại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân Trong các mâu thuẫn đang tồn tại, nổi lên hai mâu thuẫn lớn sau đây:
Trang 23a Tình trạng ngập lụt
Năng lực tiêu nước của các công trình tiêu nước đã có không đáp ứng được yêu cầu tiêu nước của các tiểu vùng và toàn bộ khu vực nghiên cứu Hậu quả của mâu thuẫn đó là tình trạng ngập úng xuất hiện thường xuyên trong mùa mưa Thông thường chỉ cần một trận mưa có cường độ và tổng lượng không lớn, khoảng trên 50 mm/ngày cũng gây úng ngập cho nhiều khu vực của nội thành Hà Nội Điển hình trận mưa lớn diễn ra trong hai ngày, từ ngày 8/8 đến rạng sáng ngày 9/8/2013 với tổng lượng mưa 2 ngày từ 100 mm đến trên 200 mm, cá biệt có nơi trên 200 mm như khu vực Hồ Tây
290 mm, đã gây úng ngập trên diện rộng, từ trung tâm Hồ Hoàn Kiếm ra đến các vùng ven, vùng ngoại thành đều bị nhấn chìm trong nước, giao thông rối loạn Nhiều tuyến đường của thành phố Hà Nội bị ngập sâu từ 0,4m đến 0,6m như đường Phan Bội Châu,
Lý Thường Kiệt, Liễu Giai, Đội Cấn, Trần Bình, Phan Văn Trường, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Khuyến, Ngọc Lâm, Phạm Hùng, Thái Hà, Thái Thịnh, Quan Nhân,
Vũ Trọng Phụng v.v
b Ô nhiễm môi trường nước trên các sông trong khu vực nghiên cứu
Hệ thống thoát nước thải, nước mưa còn yếu kém so với quy mô đô thị, chất lượng nước thải đều không đạt quy định tiêu chuẩn của Việt Nam Các kênh, mương, sông thoát nước như các sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét, Lừ đều bị ô nhiễm trầm trọng
do hàng ngày phải tiếp nhận khối lượng lớn nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp chưa qua xử lý Các hồ trong nội thành cũng đều đã bị ô nhiễm chủ yếu do nước thải sinh hoạt không qua xử lý đổ trực tiếp vào hồ
1.3 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất và định hướng phát triển không gian
1.3.1 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất
Theo Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, khu vực nghiên cứu được xác định là trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa, lịch sử, ngoại giao, thương mại, tài chính, y tế, đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Diện tích đất trong khu vực nghiên cứu hầu hết là đất khu đô thị; khu dân cư; trường học; bệnh viên; trụ sở, văn phòng làm việc; đất khu công nghiệp và một phần diện tích đất nông nghiệp rất nhỏ nằm rải rác trên địa bàn một số quận, huyện
Trang 24Theo số liệu của Cục Thống kê Thành phố Hà Nội (năm 2012) thì diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong khu vực nghiên cứu chủ yếu phân bố ở các quận, huyện (quận Nam Từ Liêm, quận Bắc Từ Liêm, quận Hà Đông, huyện Thanh Trì và quận Hoàng Mai) Tuy nhiên, qua quá trình điều tra thực địa có thể kết luận được rằng diện tích đất
nông nghiệp của các đơn vị hành chính trên hầu hết nằm ngoài khu vực nghiên cứu, chỉ có một phần diện tích đất nông nghiệp nằm dọc theo bờ tả sông Nhuệ được quy
hoạch phát triển vành đai xanh sông Nhuệ (theo Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung
Hiện trạng hồ, ao trong khu vực nghiên cứu
Theo Quyết định số 845/QĐ-UBND ngày 12/02/2010 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội về việc phê duyệt đề án cải tạo môi trường các hồ nội thành Hà Nội, hiện nay trên địa bàn 10 quận nội đô Hà Nội có khoảng 111 hồ, ao lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 1.165 ha Trong đó:
+ 46 hồ đã được cải tạo kè đá (15/46 hồ được cải tạo đồng bộ: nạo vét, kè mái
hồ, xây dựng đường dạo, hệ thống thoát nước, trồng cây xanh và lắp đặt chiếu sáng) + 65 hồ chưa được cải tạo (21/65 hồ đã có dự án đầu tư)
+ Tiếp tục cải tạo nốt các hồ còn lại trong nội thành Hà Nội, giải pháp: Nạo vét lòng hồ đến cao trình thiết kế; xây dựng kè, đường dạo, chiếu sáng, cảnh quan xung quanh hồ; lắp đặt cống thu gom nước thải; lắp đặt trạm bơm điều tiết mực nước, cửa điều tiết và hệ thống cứu hỏa
Đối với các hồ xây mới sẽ xây dựng đồng bộ và hoàn thiện
Hiện trạng sử dụng đất phát triển công nghiệp trong khu vực nghiên cứu
Theo website (trang thông tin điện tử) Khu công nghiệp Việt Nam của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, website của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, tính đến năm 2013 trong khu vực nghiên cứu đã xây dựng 12 khu công nghiệp và cụm công nghiệp với tổng diện tích mặt bằng là 666 ha Dự kiến đến năm 2020 trong khu vực nghiên cứu sẽ xây dựng thêm 03 khu công nghiệp và cụm công nghiệp mới, mở rộng diện tích một số khu công nghiệp đã có, đưa diện tích mặt bằng các khu công nghiệp lên 978 ha
Trang 25Bảng 1.8 Diện tích các khu công nghệp, cụm công nghiệp đã có
và sẽ xây dựng trong khu vực nghiên cứu
Diện tích (ha)
1 Tiểu thủ công nghiệp Hai Bà Trưng 9 9
2 Minh Khai - Vĩnh Tuy - Mai Động (Hoàng Mai) 81 81
3 Giáp Bát - Trương Định (Hoàng Mai) 32 32
2 Tổ hợp công nghệ cao sinh học (Từ Liêm) - 200
7 Cụm công nghiệp vừa và nhỏ Từ Liêm 67 67
8 Cụm công nghiệp làng nghề Xuân Phương (Từ Liêm) 8 8
9 Tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhỏ Cầu Giấy 9 9
1.3.2 Định hướng phát triển không gian của khu vực nghiên cứu
Theo Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến
năm 2050, khu vực nghiên cứu được gọi là khu vực nội đô (được giới hạn từ khu vực
hữu ngạn sông Hồng đến vành đai xanh sông Nhuệ) và được phân vùng kiểm soát
thành 2 khu vực sau:
a Khu vực nội đô lịch sử (từ hữu ngạn sông Hồng đến đường vành đai 2)
Cải tạo, xây dựng, tổ chức sắp xếp lại các chức năng sử dụng đất, để gìn giữ
phát huy các giá trị đô thị lịch sử, phát triển, bổ sung hoàn thiện hệ thống hạ tầng xã
hội, hạ tầng kỹ thuật:
Trang 26Xây dựng hoàn chỉnh khu vực Ba Đình nơi đặt các trụ sở Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo sự tập trung, xứng với tầm vóc Thủ đô của đất nước trên 100 triệu dân giữa thế kỷ 21 Quy hoạch và xây dựng tập trung cơ quan hành chính thành phố Hà Nội nơi đặt trụ sở Thành ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Mặt trận tổ quốc Thành phố tại khu vực xung quanh Hồ Hoàn Kiếm, gắn với các cơ quan sở ngành của Hà Nội Kiểm soát dân số, giảm dân số từ 1,2 triệu dân hiện nay xuống còn 0,8 triệu dân vào năm 2030 và cải thiện hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật Phân vùng để kiểm soát phát triển theo đặc trưng từng khu vực, tuyến phố, ô phố có lộ trình xây dựng cải tạo từng giai đoạn Kiểm soát phát triển đối với các khu vực đặc thù như: phố
cổ, Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm, Thành Cổ v.v ;
Xác lập hệ thống mặt nước gắn với không gian công viên cây xanh, cảnh quan
tự nhiên, kết hợp tiêu thoát nước cho nội đô Ưu tiên khai thác quỹ đất dọc sông Hồng, sông Nhuệ, sông Tô Lịch, v.v và ven các hồ như: Hồ Tây, Trúc Bạch, Thành Công, Giảng Võ, Văn Chương v.v để hình thành hệ thống cây xanh mặt nước, công viên, vườn hoa và các không gian mở
Bổ sung, cân đối lại các chức năng đô thị nằm trong khu vực nội đô trên cơ sở
di chuyển, chuyển đổi chức năng các khu vực hiện đang là công nghiệp kho tàng, công
sở bộ ngành, y tế tuyến trên, trường đại học trong nội thành Các quỹ đất trên sau khi
di dời sẽ ưu tiên xây dựng hệ thống hạ tầng xã hội, công trình công cộng, văn hóa (cây xanh, vườn hoa v.v ) đang thiếu và mất cân đối, hạ tầng kỹ thuật (bãi đỗ xe) cho nội
đô Phát triển các chức năng: viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo chất lượng cao chuyên sâu theo hướng là trung tâm dịch vụ, điều hành Phần còn lại, tùy từng khu vực, vị trí
là điểm nhấn sẽ được nghiên cứu phát triển theo hướng tạo nên hình ảnh đô thị mới, hiện đại cho nội đô nhằm phát triển du lịch, dịch vụ chất lượng cao phù hợp với thiết
Trang 27dựng, tạo không gian xanh và môi trường sống tốt v.v , tùy từng khu vực hình thành các chung cư mới, tạo hình ảnh đô thị hiện đại
Cải tạo chỉnh trang nâng cao chất lượng sống trong các khu dân cư hiện hữu
(nhà ở tự phát, nhà ở làng xóm đô thị hóa, nhà ở dân tự xây, nhà ở chung cư cũ v.v ),
tăng cường các trung tâm công cộng mới, kiểm soát bảo tồn di sản gắn với bảo tồn cảnh quan tự nhiên Xây dựng các công trình tạo hình ảnh Thủ đô như nhà hát Thăng Long - tổ hợp văn hóa Thăng long; tổ hợp tài chính ngân hàng, khu tây Hồ Tây; các trung tâm thương mại hiện đại kết hợp các quảng trường cửa ngõ đô thị, quảng trường trung tâm, các không gian giao lưu cộng đồng v.v Xác lập các không gian đặc trưng
về kiến trúc, cảnh quan, lễ hội văn hóa, lịch sử, dịch vụ, thương mại du lịch v.v Hình thành các công trình biểu tượng, điểm nhấn không gian kiến trúc đô thị của Thủ đô
gắn với các không gian sinh hoạt cộng đồng (Các giải pháp này sẽ được cụ thể hóa trong quy định quản lý hoặc trong các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết tiếp theo)
Xây dựng hoàn chỉnh các tuyến vành đai, một số tuyến đường trên cao và nút giao thông giảm ách tắc nội thành đồng thời với chỉnh trang các tuyến phố chính Xây
dựng các không gian đường phố (tập trung chủ yếu vào các tuyến đường hướng tâm, vành đai và các đường lõi (đường 2,5; 3,5…))
b Khu vực nội đô mở rộng (từ đường vành đai 2 đến vành đai xanh sông Nhuệ)
Là khu vực xây dựng hiện hữu và phát triển mới chủ yếu “giảm áp lực” quá tải của đô thị nội đô lịch sử; xây dựng phát triển mới các trung tâm đô thị và các khu đô thị
Khu vực hành chính tập trung phải đảm bảo gắn kết với trung tâm chính trị hành chính Ba Đình, dự kiến tại khu vực tây Hồ Tây và khu vực kề cận Trung tâm hội nghị Quốc gia tại khu vực Mễ Trì - Mỹ Đình Khu vực này được phát triển với mật độ cao tiết kiệm đất, có không gian cao tầng tạo hình ảnh đô thị hiện đại cho khu vực nội
đô dọc theo tuyến đường vành đai 3 và các trục hướng tâm Khuyến khích điều chỉnh các khu đô thị đang và sẽ xây dựng theo hướng đô thị mới tập trung, hiện đại, cao tầng với các dịch vụ đô thị hoàn chỉnh, đồng bộ
Trang 28Hình thành trung tâm tây Hồ Tây mang tầm cỡ quốc tế và khu vực với chức năng chủ đạo là văn hóa, thương mại, dịch vụ, tài chính, ngân hàng du lịch, giải trí, công viên v.v với quy mô lớn, có kiến trúc đặc trưng gắn với không gian tự nhiên và không gian văn hóa truyền thống
Xây dựng các trung tâm công cộng đô thị, khu đô thị mới theo các tuyến đường chính và đường hướng tâm Hoàn thiện trung tâm thể thao tại Mỹ Đình - Mễ Trì
- Hình thành hệ thống các trung tâm dịch vụ chất lượng cao và tăng cường không gian mở, cây xanh và mặt nước
- Hình thành các khu nhà ở với nhiều loại hình: cao cấp, trung cấp, nhà ở cho người thu nhập thấp nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu nhà ở của dân
- Khai thác quỹ đất dọc sông Nhuệ, sông Tô Lịch để hình thành hệ thống công
viên cây xanh mặt nước liên tục gắn với hệ thống hồ điều hòa hai bên sông (hồ Linh Đàm, hồ Yên Sở, hồ Định Công) kết hợp hệ sinh thái, cây xanh, thảm thực vật, hệ
thống thoát nước và tạo thành chuỗi các công viên cây xanh hoàn chỉnh kết nối với hệ thống cây xanh sinh thái sông Hồng Tạo lập không gian xanh gắn với hệ thống mương thoát nước kết nối sông Nhuệ - Hồ Tây; sông Nhuệ - sông Tô Lịch
- Từng bước di chuyển các cơ sở công nghiệp ra ngoài, quỹ đất này ưu tiên phát triển hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật phục vụ người dân trong khu vực, phần còn lại phát triển thương mại, dịch vụ, văn phòng cao cấp hoặc các cơ sở sản xuất công nghệ
cao (không ô nhiễm môi trường)
Nâng cấp hệ thống giao thông, cải thiện điều kiện giao thông bằng các giải pháp: xây dựng hệ thống đường tầng ở một số đoạn trên tuyến vành đai 2, vành đai 3, tuyến quốc lộ 6 và quốc lộ 1 đoạn từ vành đai 2 đến vành đai 4 Xây dựng hệ thống Metro đi ngầm từ đường vành đai 2 trở vào Xây dựng bổ sung hệ thống bãi đỗ xe ngầm ở các vườn hoa và dưới công trình cao tầng Hình thành các trục không gian đi
bộ kết nối các khu trung tâm
Trang 291.4 Hiện trạng tiêu nước
1.4.1 Hiện trạng tiêu nước của khu vực nghiên cứu
Theo Dự án tiêu nước cho thành phố Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 430/TTg ngày 07/8/1995 thì biện pháp tiêu nước cho 13.540
ha của khu vực nghiên cứu như sau:
a Toàn bộ lượng nước cần tiêu của Hà Nội được tiêu tự chảy vào sông Nhuệ
qua cống Thanh Liệt khi mưa nhỏ dưới 100 mm và mực nước sông Nhuệ (tại Thanh Liệt) thấp hơn cao trình +3,5 m Tổng lưu lượng nước tiêu tự chảy vào sông Nhuệ qua
các cửa xả lên tới 80 m3/s (trong đó Tô Lịch 45 m 3 /s, Cổ Nhuế 12 m 3 /s, Mỹ Đình 8
m3/s, đảm bảo duy trì mực nước thượng lưu sông Tô Lịch (tại Bưởi) không quá cao
trình +4,5 m và mức nước bể hút trạm bơm dao động từ cao trình +3,5 m đến cao trình +4,5 m;
- Toàn bộ lượng nước cần tiêu của vùng phía tây sông Tô Lịch (có diện tích 5.790 ha) được tiêu vào sông Nhuệ bằng các trạm bơm phân tán có tổng lưu lượng 35
m3/s
c Để đảm bảo hiệu quả dự án tiêu nước cho Hà Nội, mực nước sông Nhuệ tại
Hà Đông phải được giữ ở mức dưới cao trình +5,8 m
Sau nhiều năm đầu tư xây dựng đến tháng 9/2010 dự án tiêu thoát nước cho khu
vực nội thành Hà Nội (theo Quyết định số 430/TTg ngày 07/8/1995 của Thủ tướng Chính phủ) về cơ bản đã hoàn thành Ngoài việc xây dựng cụm công trình đầu mối trạm bơm Yên Sở (gồm 2 đơn nguyên, Yên Sở 1 và Yên Sở 2) có tổng năng lực tiêu 90
m3/s, Hà Nội đã hoàn thành cải tạo và xây dựng 3 hồ điều hòa lớn là Yên Sở, Định Công và Linh Đàm có tổng diện tích mặt nước 262 ha, dung tích điều hòa 2,62 triệu
Trang 30m3; 46 hồ đã được cải tạo kè đá (trong đó có 15 hồ được cải tạo đồng bộ: nạo vét, kè
mái hồ, xây dựng đường dạo, hệ thống thoát nước, trồng cây xanh và lắp đặt chiếu
sáng); nạo vét khơi thông dòng chảy và cống hóa trên 31 km kênh mương, xây dựng
trạm xử lý nước thải hồ Bảy Mẫu với công suất 13.300 m3/ngày đêm; xây dựng 28,5
km đường và cơ sở hạ tầng dọc hai bờ sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét; xây dựng 9
cầu, cống qua sông
Bảng 1.9 Một số chỉ tiêu thiết kế chính của các hồ điều hoà trong lưu vực sông Tô Lịch được đầu tư xây dựng trong giai đoạn 1
Hồ điều hoà
TT Chỉ tiêu thiết kế
Yên Sở Linh Đàm Định Công
1 Diện tích mặt nước (ha) 130,0 107,0 25,0
7 Dung tích điều hoà (106m3) 1,30 1,07 0,25
Do tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa rất nhanh chóng của khu vực nghiên
cứu đặc biệt là vùng Hà Nội nằm ở phía tây sông Tô Lịch trong những năm qua khiến
cho các công trình tiêu nước đã có ở vùng này nói riêng và hệ thống sông Nhuệ nói
chung không đáp ứng được Không kể trận mưa trong lịch sử xảy ra vào cuối tháng 10
đầu tháng 11/2008 với tổng lượng mưa 3 ngày đo được tại Láng 563,3 mm, Hà Đông
812,0 mm, Thanh Trì 500,0 mm gây ngập úng phần lớn nội thành Hà Nội và hệ thống
sông Nhuệ trong thời gian dài Trong những năm gần đây chỉ với trận mưa có tổng
lượng trên dưới 100 mm xuất hiện đồng thời trong khu vực nội thành đã gây ngập úng
nghiêm trọng nhiều khu vực, làm tắc nghẽn nhiều đoạn đường dài trong nhiều giờ, làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Trang 311.4.2 Hướng tiêu nước hiện trạng của khu vực nghiên cứu
Theo Dự án tiêu nước cho thành phố Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 430/TTg ngày 07/8/1995 thì hướng tiêu nước cho 13.540 ha của khu vực nghiên cứu như sau:
- Khu vực nội thành Hà Nội nằm ở phía đông sông Tô Lịch có diện tích 7.750
ha, được tiêu ra sông Hồng bằng trạm bơm Yên Sở, hệ số tiêu thiết kế là 11,6 l/s/ha;
- Khu vực còn lại nằm ở phía tây sông Tô Lịch có diện tích 5.790 ha tiêu trực tiếp ra sông Nhuệ bằng các trạm bơm phân tán với hệ số tiêu thiết kế là 6,04 l/s/ha
1.5 Các vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu đề xuất giải pháp tiêu nước cho khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, là đô thị loại đặc biệt; trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, có tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa rất mạnh Hà Nội đang nỗ lực xây dựng để trở trở thành một trong những trung tâm kinh tế - giao dịch - du lịch và thương mại của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Khả năng tiêu thoát nước của sông Nhuệ có hạn do bị giới hạn bởi hai bờ sông Nhuệ và phụ thuộc vào mực nước sông Đáy tại Phủ Lý trong thời gian tiêu Theo kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Thủy lợi, khi xuất hiện trận mưa thiết kế tần suất
10 %, để đảm bảo mực nước thiết kế tiêu trên sông Nhuệ tại Hà Đông không quá +5,8
m và tại Phủ Lý không quá +4,8 m thì tổng lưu lượng tiêu vào sông Nhuệ không vượt quá 248 m3/s
Kết quả nghiên cứu đặc điểm mưa trên lưu vực sông Nhuệ cho thấy mưa gây úng thường xuất hiện đồng thời trên diện rộng nên khi khu vực Hà Nội có yêu cầu tiêu nước thì hầu hết các khu vực khác trên hệ thống sông Nhuệ cũng có yêu cầu tiêu tương
tự Từ giữa những năm 1990 đến nay, hàng năm về mùa mưa khi các trạm bơm ở khu vực Hà Nội phải vận hành tiêu nước vào sông Nhuệ thì hầu hết các trạm bơm khác đã
có nằm dọc hai bờ sông Nhuệ đều đồng loạt vận hành tiêu nước Do năng lực tiêu của các trạm bơm này lớn hơn khả năng chuyển nước của sông Nhuệ ra sông Đáy nên nước tiêu ra bị ứ lại trong sông không tiêu thoát kịp khiến mực nước sông Nhuệ dâng lên rất nhanh, nhiều lần vượt quá mức cho phép gây tràn bờ và đe dọa đến sự an toàn
Trang 32của đê sông Nhuệ Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho đê sông Nhuệ không bị vỡ, mặc dù trong đồng bị ngập úng nặng nhưng rất nhiều trạm bơm không được phép tiếp tục bơm tiêu ra sông Nhuệ
Do vậy, vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu đề xuất giải pháp tiêu nước cho lưu vực nghiên cứu là tìm các vị trí thích hợp để xây dựng công trình tiêu trực tiếp ra sông Hồng, không tiếp tục tiêu vào sông Nhuệ
1.6 Nhận xét và kết luận chương 1
Khu vực nghiên cứu với lợi thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước đã tạo động lực rất lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội trong khu vực và đóng vai trò là đầu tàu của nền kinh tế cả nước Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì tốc độ đô thị hóa và hiện đại hóa ở Hà Nội cũng diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ Tuy nhiên, việc phát triển các khu đô thi chưa gắn liền với việc phát triển đồng bộ về cơ sở
hạ tầng, điển hình là hệ thống tiêu thoát nước của vùng nghiên cứu còn chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu thoát nước khi xảy ra mưa lớn kéo dài
Tình hình ô nhiễm môi trường nước trên các con sông đang trong tình trạng hết sức báo động, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của cư dân trong vùng nghiên cứu Vì vậy, cần phải có biện pháp để duy trì dòng chảy môi trường cho các con sông này trong những ngày không có yêu cầu tiêu thoát nước do mưa bão
Trong một vài năm trở lại đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tình hình thời tiết diễn biến rất phức tạp, thường xuyên xuất hiện những trận mưa có cường độ
và tổng lượng mưa lớn, gây ngập úng kéo dài cho khu vực nội thành Hà Nội Vì vậy, việc xác định các cơ sở khoa học và phương pháp tính toán hệ số tiêu thiết kế áp dụng cho khu vực nội thành Hà Nội nằm trong phần diện tích lưu vực từ phía đông của đê sông Nhuệ và phía bắc Quốc lộ 70A đến sông Hồng là hết sức cần thiết và cấp bách