1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam

89 834 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 553,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KẾT LUẬN CHƯƠNG I Từ ngàn năm nay, Việt Nam là nước nông nghiệp do vậy sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong xây dựng công trình thủy lợi là yêu cầu rất cấp thiết để phát triển ngành nôn

Trang 1

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Phạm Hùng, người trực tiếp hướng dẫn trong quá trình hình thành, xây dựng

đề tài, về những chỉ bảo mang tính xác thực cũng như những sửa chữa mang tính khoa học của thày trong quá trình hoàn thiện luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị tại Vụ tổng hợp – Bộ

kế hoạch đầu tư vì đã tạo điều kiện giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình, đầy đủ trong quá trình thu thập tư liệu cũng như những ý kiến sửa chữa phù hợp với yêu cầu thực tế nhằm phục vụ cho đề tài này

Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy cô là giảng viên ngành quản lý xây dựng – Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội vì những dạy bảo của các thầy, cô trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện các kiến thức chuyên môn của tôi tại lớp 20 QLXD 22

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2014

Học viên

Nguyễn Văn Ngọc

Trang 2

Tên tôi là: Nguyễn Văn Ngọc, Sinh ngày: 17/04/1986

Là học viên cao học lớp 20 QLXD 22, chuyên ngành Quản lý xây dựng – Trường đại học Thủy lợi Hà Nội

Xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự

hướng dẫn của thầy giáo PGS TS Phạm Hùng

2 Luận văn này không trùng lặp với bất kỳ luận văn nào khác đã

được công bố ở Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong luận văn là hoàn toàn chính xác,

trung thực và khách quan

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2014

Người viết cam kết

Nguyễn Văn Ngọc

Trang 3

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 3

1.1 NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Các loại hình ODA 6

1.1.3 Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển và trong xây dựng công trình Thủy lợi của Việt Nam 7

1.1.4 Vài nét về quản lý và sử dụng ODA trên thế giới 12

1.2 QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI Ở VIỆT NAM 17

1.2.1 Xác định dự án và đánh giá ban đầu: 19

1.2.2 Chuẩn bị dự án và thiết kế: 19

1.2.3 Thực hiện đầu tư và theo dõi dự án 20

1.2.4 Hoàn thành và đánh giá dự án 20

1.2.3 Những khó khăn và tồn tại cần giải quyết: 21

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG ODA TRONG XÂY DỰNG THỦY LỢI CỦA NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA 23

2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIẾP NHẬN, ĐIỀU PHỐI VÀ SỬ DỤNG ODA TRONG XÂY DỰNG THỦY LỢI 23

2.1.1 Tình hình thu hút và sử dụng ODA trong thời gian vừa qua 23

2.1.2 Tình hình thu hút và phân bổ vốn ODA trong ngành thủy lợi 27

2.1.3 Kế hoạch hoá nguồn vốn ODA 28

2.1.4 Khuôn khổ pháp lý 31

2.1.5 Cơ chế tài chính của ODA 35

Trang 4

2.2.1 Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung 46

2.2.2 Đối với ngành Thủy lợi 47

2.3 NHỮNG KINH NGHIỆM THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN ODA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở KHU VỰC NAM Á VÀ ĐÔNG NAM Á 52

2.3.1 Đặc điểm của các hệ thống theo dõi và đánh giá 52

2.3.2 Ưu và nhược điểm của hệ thống theo dõi và đánh giá 54

2.3.3 Những bài học kinh nghiệm 56

2.3.4 KINH NGHIỆM THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA CHÂU Á 56 CHƯƠNG III MÔI TRƯỜNG THU HÚT VỐN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI Ở VIỆT NAM 61

3.1 Nhận định về môi trường và chính sách thu hút nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA trong thủy lợi 61

3.1.1 Môi trường thu hút ODA 61

3.1.2 Chính sách thu hút vốn ODA trong thủy lợi 62

3.2 Những tác động và bài học kinh nghiệm 64

3.2.1 Những tác động tích cực 64

3.2.2 Một số mặt hạn chế 65

3.2.3 Bài học kinh nghiệm 67

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG QUẢN LÝ ODA TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử phát triển của các nước trên thế giới đã chứng minh rất rõ: Vốn đầu tư và hiệu quả vốn đầu là một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự phát triển nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng của mỗi quốc gia Vốn đầu tư bao gồm : vốn trong nước, vốn thu hút từ nước ngoài chủ yếu dưới hình thức vốn ODA, đầu tư trực tiếp, các khoản tín dụng nhập khẩu

Đất nước ta khả năng tích lũy vốn từ trong nước còn hạn chế cho nên nguồn vốn từ nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội

Ngoài tính chất ưu đãi của vốn ODA, một trong những đặc điểm khác nhau giữa ba loại nguồn vốn trên là ODA chỉ là sự chuyển nhượng vốn mang tính trợ giúp từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Đặc điểm này cho thấy nguồn vốn ODA là một nhân tố rất quan trọng tạo nên cơ hội phát triển cho các nước nghèo và kém phát triển

Tuy nhiên ODA về thực chất cũng là khoản nợ nước ngoài mà các nước nhận tài trợ phải trả Vì thế việc quản lý và sử dụng ODA sao cho có hiệu quả phù hợp với các mục tiêu và định hướng phát triển đất nước là một yêu cầu khách quan

Chính vì lý do đó mà học viên chọn đề tài: “Các giải pháp nhằm tăng

cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu về quản lý dự án và quản lý dự án xây dựng, sẽ áp

dụng vào phân tích tình hình đầu tư xây dựng vốn ODA công trình Thủy lợi ở

Trang 7

Việt nam để làm rõ một số tồn tại và có một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện lý luận và nâng cao chất lượng quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy lợi ở Việt Nam để làm luận văn tốt nghiệp

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện một số vấn đề trong quản lý dự

án ODA trong xây dựng công trình Thủy lợi ở Việt Nam bao gồm các giải pháp nhằm tăng cường thể chế quản lý dự án và các đề xuất mới nhằm ứng dụng một số công cụ quản lý dự án hữu hiệu mà việc sử dụng nó ở Việt Nam còn rất hạn chế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các dự án ODA trong xây dựng

- Phạm vi nghiên cứu: công trình Thủy lợi ở Việt Nam

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

-Để thực hiện những nội dung nghiên cứu đã được đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thống kê; phương pháp phân tích so sánh; Phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm từ thực tiễn

Trang 8

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) TRONG XÂY

DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1 NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)

Trên thế giới, ODA đã được thực hiện từ nhiều thập kỷ gần đây, bắt đầu từ kế hoạch MacSall của Mỹ cung cấp viện trợ cho Tây Âu sau chiến tranh thế giới thứ 2 Tiếp đó là hội nghị Colombo năm 1955 hình thành những

ý tưởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển Sau khi thành lập, Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) năm 1961 và Uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC), các nhà tài trợ đã lập lại thành một cộng đồng nhằm phối hợp

Trang 9

với các hoạt động chung về hỗ trợ phát triển Trong thời kỳ chiến tranh lạnh

và đối đầu Đông - Tây, thế giới tồn tại ba nguốn ODA chủ yếu:

- Liên Xô và Đông Âu

- Các nước thuộc tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển

- Các tổ chức quốc tế và phi Chính phủ

Về thực chất, ODA là sự chuyên giao một phần GNP( tổng sản lượng quốc gia) từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kêu gọi các nước phát triển dành 1% GDP( tổng sản phẩm nội địa) để cung cấp ODA cho các nước đang phát triển và chậm phát triển

Quốc tế hoá đời sống kinh tế là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phân công lao động giữa các nước Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hợp tác giúp đỡ các nước chậm phát triển để mở rộng thị trường tiêu thu sản phẩm và thị trường đầu tư Đi liền với sự quan tâm lợi ích kinh tế đó, các nước phát triển nhất là đối với các nước lớn còn sử dụng ODA như một công cụ chính trị để xác định vị trí và ảnh hưởng tại các nước

và khu vực tiếp cận ODA Mặt khác, một số vấn đề quốc tế đang nổi lên như AIDS/ HIV, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, đòi hỏi sự nỗ lực của cả cộng đồng, quốc tế không phân biệt giàu nghèo

Các nước đang phát triển đang thiếu vốn nghiêm trọng dễ phát triển kinh tế xã hội Vốn ODA là một trong các nguồn vốn ngoài nước có ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên, ODA không thể thay thế được vốn trong nước

mà chỉ là chất xúc tác tạo điều kiện khai thác sử dụng các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước ODA có hai mặt: Nếu sử dụng một cách phù hợp sẽ hỗ trợ thật sự cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội, nếu không đó sẽ là một khoản nợ nước ngoài khó trả trong nhiều thế hệ Hiệu quả sử dụng ODA phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà một trong số đó là công tác quản lý và điều phối nguồn vốn này Nghị định 20/ CP khẳng định ODA cho Việt Nam là một

Trang 10

trong những nguồn quan trọng của ngân sách Nhà nước được sử dụng cho những mục tiêu ưu tiên của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Tính chất ngân sách của ODA thể hiện ở chỗ nó được thông qua Chính phủ và toàn dân được thụ hưởng lợi ích do các khoản ODA mang lại

Việc cung ODA được thực hiện thông qua các kênh sau đây:

Các tổ chức quốc tế cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam

Hình 1.2 sơ đồ các tổ chức quốc tế cung cấp ODA trực tiếp cho

Việt Nam

Chính phủ nước

ngoài

Chính phủ Việt Nam

NGOshoặc các tổ chức quốc tế

Các tổ chức quốc

Trang 11

- Các tổ chức phi chính phủ cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam

Hình 1.3 sơ đồ các tổ chức phi chính phủ cung cấp ODA trực tiếp cho

Việt Nam

1.1 2 Các loại hình ODA

1.1.2.1 Xét theo mục đích ODA gồm các hình thức chủ yếu sau:

- Hỗ trợ cán cân thanh toán:

Thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ nhưng đôi khi

là hiện vật hoặc hỗ trợ nhập khẩu) Ngoại tệ và hàng hoá chuyển trong nước qua hình thức này được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách

- Hỗ trợ chương trình (còn gọi là viện trợ phi dự án) là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định để thực hiện nhiều nội dung khác nhau của một chương trình

-Hỗ trợ dự án:

Là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm hỗ trợ

cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật Trên thực tế có trường hợp một dự án kết hợp cả hai loại hình hỗ trợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật

1.1.2.2 Xét theo hình thức tiếp nhận vốn, ODA được phân ra Viện trợ không hoàn lại và viện trợ cho vay ưu đãi:

+ Đối với loại hình Viện trợ không hoàn lại thường là hỗ trợ kỹ thuật, chủ yếu là chuyển giao công nghệ, kiến thức, kinh nghiệm thông qua các hoạt động của chuyên gia quốc tế Đôi khi viện trợ này là hoạt động nhân đạo như

NGOs (các tổ chức

phi chính phủ) Chính quyền địa phương ởViệt Nam

Trang 12

lương thực, thuốc men hoặc các loại hàng hoá khác nên chúng rất khó huy động vào các mục đích đầu tư phát triển Thêm vào đó các khoản viện trợ không hoàn lại thương kèm theo một số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá

mà nếu nước chủ nhà có vốn chủ động sử dụng thì chưa chắc đã phải chấp nhận những điều kiện như vậy hoặc không sử dụng với đơn giá thanh toán cao gấp 2-3 lần Do đó khi sử dụng các nguồn vốn ODA cho không, cần hết sức thận trọng

+Đối với các khoản vay ưu đãi ODA có thể sử dụng cho mục tiêu đầu

tư phát triển Tính chất ưu đãi của khoản vay này thể hiện ở khía cạnh sau:

 Lãi suất thấp : chẳng hạn các khoản vay ODA được tính bằng hàng hoá trị giá 45,5 tỷ yên nhật cho Việt Nam vay năm 1992 có lãi suất 1% khoản vay ngân hàng thế giới cho dự án cải tạo quốc lộ 1A không lãi chỉ có 0,75%

 Thời gian vay dài: nhật bản cho ta vay trong thời gian 30 năm WB cho vay trong thời gian 40 năm

 Thời gian ấn hạn từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên khá dài thường khoảng 5-10 năm trở lên

Thông thường các nước tiếp nhận ODA để đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống, tạo môi trường hạ tầng cơ sở để tiếp tục thu hút vốn đầu tư

1.1 3 Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển và trong xây dựng công trình Thủy lợi của Việt Nam

1.1 3.1 Đối với các nước đang phát triển

Đối với tất cả các quốc gia tiến hành công nghiệp hoá đất nước thì vốn

là một yếu tố một điều kiện tiền đề không thể thiếu Nhất là trong điều kiện hiện nay, với những thành tựu mới của khoa học và công nghệ cho phép các

Trang 13

nước tiến hành công nghiệp hoá có thể rút ngắn lịch sử phát triển kinh tế khắc phục tình trạng tụt hậu và vận dụng được tối đa của lợi thế đi sau

Nhưng để làm được những điều đó thì nhu cầu về nguồn vốn là vô cùng lớn trong khi đó ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá thì tất cả các nước đều dựa vào nguồn vốn bên ngoài mà chủ yếu là ODA và FDI

Trong đó ODA là nguồn vốn của các Chính phủ, các quốc gia phát triển , các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi Chính phủ hoạt động với mục tiêu trợ giúp cho chiến lược phát triển của các nước đang và chậm phát triển Do vậy nguồn vốn này có những ưu đãi nhất định, do những ưu đãi này mà các nước đang và chậm phát triển trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá đất nước thường coi ODA như là một giải pháp cứu cánh để vừa khắc phục

tình trạng thiếu vốn đầu tư trong nước vừa tạo cơ sở vật chất ban đầu nhằm tạo dựng một môi trường đầu tư thuận lợi để kêu gọi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư trong nước phát triển Như vậy, có thể nói nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển, điều đó thể hiện

rõ nét ở khía cạnh sau:

Thứ nhất: ODA có vai trò bổ sung cho nguồn vốn trong nước Đối với các nước đang phát triển các khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện ODA là nguồn tài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung vốn cho quá trình phát triển

Chẳng hạn trong thời kỳ đầu của các nước NICs và ASEAN Viện trợ nước ngoài có một tầm quan trọng đáng kể

Đài loan: trong thời kỳ đầu thực hiện công nghiệp hoá đã dùng viện trợ

và nguồn vốn nước ngoài để thoả mãn gần 50% tổng khối lượng vốn đầu tư trong nước Sau khi nguồn tiết kiệm trong nước tăng lên, Đài loan mới giảm

sự lệ thuộc vào viện trợ

Trang 14

Hàn Quốc: có mối quan hệ đặc biệt với Mỹ nên có được nguồn viện trợ rất lớn chiếm 81,2% tổng viện trợ của nước này trong những năm 70-72 nhờ

đó mà giảm được sự căng thẳng về nhu cầu đầu tư và có điều kiện thuận lợi

để thực hiện các mục tiêu kinh tế

Còn ở hầu hết các nước Đông Nam Á sau khi giành được độc lập, đất nước ở trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, để phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi phải có nhiều vốn và khả năng thu hồi vốn chậm Giải quyết vấn đề này các nước đang phát triển nói chung và các nước Đông nam Á nói riêng đã sử dụng nguồn vốn ODA

Ở Việt Nam ODA đóng vai trò rất quan trọng trong chương trình đầu tư công cộng, làm nền tảng cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội gần đây của Việt Nam Đầu tư phát triển kinh tế xã hội đã phát triển mạnh ở Việt Nam trong thập kỷ qua nhờ công cuộc đổi mới với mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5% / năm Đầu tư của Chính phủ và nguồn vốn nước ngoài đống vai trò hết sức quan trọng Tổng cam kết các nguồn vốn ODA đạt mức tương đương khoảng 15 tỉ USD Do vẫn là một nước trong những nước nghèo nhất thế giới hoạt động quản lý kinh tế - xã hội ở Việt Nam cho thấy đất nước ta tiếp cận rất tốt nguồn ODA ưu đãi dưới hình thức viện trợ không hoàn lại và tín dụng có lãi suất thấp Sự khan hiếm nguồn FDI hiện nay do cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á đã cũng gây ra suy giảm trong tiến trình tiến hành cải cách kinh tế ở Việt Nam, đã tạo thêm căng thẳng cho các nguồn lực đầu tư công cộng hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng trong khi vẫn đảm bảo thúc đẩy các dịch vụ xã hội Do đó ODA ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ các chi tiêu phát triển của chính phủ Kể từ khi cộng đồng tài trợ quốc

tế nối lại sự giúp đỡ của mình cho Việt Nam, mức giải ngân ODA hàng năm

đã tăng một cách vững chắc từ mức 272 triệu USD vào năm 1994 ( khoảng

Trang 15

26% chi tiêu xây dựng cơ bản của chính phủ) lên khoảng 1.120 triệu USD vào năm 1998 (xấp xỉ 80%)

Trên thực tế do tính chất ưu đãi của vốn ODA mà các quốc gia sử dụng

nó thường e ngại về gánh nặng nợ nần nhưng thực tế thì đó là nỗi lo sợ của với các nước quản lý và sử dụng nguồn vốn này không hiệu quả Gánh nặng

nợ nần sẽ được giảm rất nhiều nếu biết quản lý để đem lại hiệu quả sử dụng ODA cao

Thứ hai: ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận viện trợ tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ là công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Đông thời bằng nguồn vốn ODA các nhà tài trợ còn ưu tiên đầu tư

cho phát triển nguồn nhân lực vì việc phát triển của một quốc gia có quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực

Thứ ba: ODA giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế Đối với các nước đang phát triển khó khăn kinh tế là điều kiện khôn tránh khỏi Trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày một gia tăng là tình trạng phổ biến Để giải quyết vấn đề này các quốc gia cần phải cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp vơí ngân hàng thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ cấu Chính sách này dự đinh chuyển chính sách kinh tế Nhà nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển kinh tế khu vực tư nhân Nhưng muốn thực hiện được việc điều chỉnh này cần phải có một lượng vốn cho vay mà các chính phủ lại phải dựa vào nguồn vốn ODA

Thứ tư: Hỗ trợ phát triển chính thức tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở

Trang 16

các nước đang và chậm phát triển Như chúng ta đã biết để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực xây dựng thì chính tại các quốc gia đó phải đảm bảo cho họ có một môi trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng, hệ thống chính sách, pháp luật ) đảm bảo đầu tư

có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao muốn vậy đầu tư của Nhà nước phải được tập trung vào việc nâng cấp, cải thiện và xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng

Nguồn vốn Nhà nước thực hiện đầu tư này là phải dựa vào ODA bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp thì ngân sách của Nhà nước Môi trường đầu tư một khi được cải thiện sẽ tăng sức hút đồng vốn nước ngoài Mặt khác việc sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận

1.1 3.2 Đối với ngành Thủy lợi của Việt Nam

Các chương trình và dự án ODA trong Thủy lợi đã góp phần cải thiện và phát triển sản xuất nông nghiệp, thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, như: xây dựng các hồ chứa để nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu(hệ thống tưới Phan Ri- Phan thiết, Thủy lợi Phước Hòa), thau chua rửa mặn cho đất canh tác, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn( Dự án WB6), phát triển lưới điện nông thôn(Thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi ), điều tiết dòng chảy sông ngòi( gói nắn dòng chảy sông Hồng đoạn qua Hà Nội thuộc dự án WB6) … Các dự án hỗ trợ phát triển hạ tầng nông thôn đã góp phần cải thiện đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục , góp phần quan trọng vào công tác xoá đói giảm nghèo tại các vùng nông thôn

Trang 17

1.1.4 Vài n ét về quản lý và sử dụng ODA trên thế giới

1.1 4.1 Các nhà tài trợ ODA chủ yếu trên thế giới

Nói chung không có tiêu thức chung để phân lọai các nhà tài trợ ODA tuy nhiên chúng ta có thể phân chia thành hai nhóm chính sau: nhóm các nước

và các nhà tổ chức quốc tế

a Các nhóm nước

- Các nước thành viên của Uỷ ban hỗ trợ phát triển DAC thuộc tổ chức OECD: tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển được thành lập từ năm 1961 có tiền thân là tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu OEEC

OECD có mục tiêu chủ yếu là:

+ Thúc đẩy phát triển kinh tế với nhịp độ cao và bền vững, nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, duy trì nền tài chính ổn định và nhờ vậy đóng góp vào sự phát triển kinh tế thế giới

+ Góp phần mở rộng quá trình phát triển kinh tế ở các nước thành viên cũng như không phải thành viên

+ Góp phần mở rộng thương mại quốc tế đa biên trên cơ sở không kỳ thị và phù hợp với tập quán quốc tế

- Nhật Bản: Đây là một quốc gia hàng năm cung cấp một lương vốn ODA rất lớn đặc biệt trong xây dựng và là một trong những quốc gia đứng đầu trong danh sách những nhà tài trợ cho Việt Nam

b Các tổ chức quốc tế

- Ngân hàng phát triển Châu Á: ADB

Được thành lập năm 1966 do 31 chính phủ thành viên nhằm xúc tiến quá trình giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Trong hơn 33 năm qua các thành viên đã tăng lên rất nhiều

Trang 18

ADB chú trọng đến nhu cầu của các nước nhỏ và các nước kém phát triển và

ưu tiên đặc biệt đến chương trình và dự án khu vực, tiểu vùng và quốc gia

- Các tổ chức tài chính quốc tế khác: WB, IMF, UNDP

* Đối với Việt Nam theo số liệu 91- 2000 Các nhà tài trợ chính đó là Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Ngân hàng thế giới(WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã thiết lập các hoạt động của mình ở Việt Nam trong 6-8 năm qua và đã nổi lên như 3 nhà tài trợ lớn nhất về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA ở Việt Nam Xu hướng gần đây nếu nghiên cứu

kỹ danh mục các chương trình sự án ODA của tổ chức này về mặt định lượng, chiều hướng chung là tương đối khả quan với các mức tăng về giai rngân và mức giảm về lượng tích tụ của các cam kết chưa được giải ngân

Khi xem xét tổng mức của ba tổ chức này có thể quan sát thấy rằng các cam kết hàng năm đạt mức cao nhất năm 1997 và từ thời điểm đó đến nay có chiều hướng suy giảm Mức giải ngân, tuy nhiên đã tăng một cách vững chắc

từ năm 1995 trở đi Trong năm 1999 mức giải ngân tăng gấp 12 lần so với năm 1997, mặc dù vậy tốc độ tăng nay (theo tỷ lệ %) đã giảm dần từ năm

1996 Không thấy có khuynh hướng chung rõ nét nào đối với tỷ lệ giải ngân của ba tổ chức này Phần cam kết chưa giải ngân liên tục tăng trong các năm

1994 Vì thế bức tranh chung là mức giải ngân đang được cải thiện và nếu chiều hướng hiện nay vẫn như vậy thì giai đoạn đầu của hoạt động ODA của

ba tổ chức này, đặc trưng bởi số lượng dự án tăng và thực hiện dự án chậm, sẽ được hoàn thiện trong một số giai đoạn ổn định hơn Nếu tách từng tổ chức một để xem xét thì bức tranh có khác đi đôi chút

Nhật Bản; tổng các khoản vay ODA luỹ kế dành cho Việt Nam hiện nay vào khoảng 4,4 tỷ USD, chiếm 25 dự án phát triển và 4 khoản tín dụng hàng hoá (khoảng 3,8 tỷ USD nếu không kể đến khoản tín dụng hàng hoá) Khoảng 24% tổng số các cam kết đã được giải ngân Những dự án cơ sở hạ

Trang 19

tầng lớn đáng chú ý là trong các ngành giao thông và điện lực chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục dự án và những dự án này thường thực hiện chậm trong giai đoạn đầu Tuy nhiên tình hình thực hiện đã được cải thiện vững chắc một phần do các cơ quan chủ quản đã quen hơn với công tác dự án Trong năm

1999 cả cam kết hàng năm và giải ngân đều đạt mức cao nhất từ trước đến nay Tỷ lệ giải ngân đã được cải thiện năm 1995, tiến độ thực hiện ngắn hơn

so với tiêu chuẩn của JBIC, tuy nhiên phần lớn các dự án đều chậm từ 1-2 năm so với kế hoạch đặt ra ban đầu Các nguyên nhân đã được xác định trong

đó quá trình phê duyệt nội bộ của phía Việt Nam đối với các quyết định, thay đổi hoặc điều chỉnh của dự án thường kéo dài, đặc biệt những quyết định về đấu thầu và chỉ định tư vấn Mặt khác sự chậm trễ trong việc thanh toán theo tiến độ đã được phần nào giảm bớt

Ngân hàng thế giới WB; hiện có 21 dự án đang hoạt động và dự án đã kết thúc thể hiện tổng mức các cam kết 2,25 tỷ USD trong đó khoảng 35% đã được giải ngân Mức giải ngân từ tài khoá 1994 là rất hài lòng nhưng tốc độ

đã giảm và mức thực hiện giờ đây thấp hơn mức trong khu vực Hiện nay mới chỉ đạt khoảng 70% tổng mức giải ngân dự kiến trong danh mục các dự án đang hoạt động Tổng mức cam kết đã giảm từ năm 1997 và tỷ lệ giải ngân cho thấy chiều hướng giảm bắt đầu từ năm 1996 Có mức tăng về khối lượng cam kết chưa được giải ngân mặc dù tốc độ tăng đã giảm dần Ngoài các vấn

đề liên quan đến việc thực hiện dự án được mô tả dưới đây, một số nguyên nhân xuất phát từ việc sửa đổi trong các quy định thực hiện của chính phủ đã làm chậm quá trình thực hiện, ngoài ra còn do sự chuyển đổi về cơ cấu trong danh mục dự án hiện nay Số lượng những dự án có quy mô lớn, giải ngân nhanh trong khi những dự án mới có xu hướng hoạt động phức tạp, phân tán, phải trải qua giai đoạn khởi động lâu hơn so với dự kiến

Trang 20

Ngân hàng phát triển Châu Á; (ADB) có 25 dự án đang thực hiện ở Việt Nam trong đó có 21 dự án đầu tư đã có hiệu lực với tổng nợ ròng là 1,7

tỷ USD đã giải ngân được 30% Trong khi cam kết hàng năm giảm từ mức cao nhất vào năm 1997, một phần chậm trễ trong việc xử lý các khoản vay dự kiến, thì mức giải ngân và trao hợp đồng trong năm 1999 lại đứng ở mức cao nhất kể từ khi ADB cung cấp các khoản vay ở Việt Nam Tỷ lệ giải ngân đang được cải thiện, nhưng vẫn thấp hơn mức trung bình trong khu vực và ADB vẫn lo lắng về tình hình thực hiện này, bản chất của các vấn đề về thực hiện các chương trình dự án dường như đã chuyển biến với sự hoàn chỉnh về danh mục dự án Các chậm trễ trong việc tuyển chọn và đưa tư vấn ào hoạt động, trao hợp đồng và giải ngân đang trở thành vấn đề lo ngại nhất ADB sẽ lấy thực hiện dự án làm yếu tố quết định các khoản vay trong tương lai

1994 1995 1996 1997 1998 1999

JBIC

Cam kết hàng năm 510 619 649 673 648 773 Giải ngân hàng năm 0 37 38 109 292 4526 Phần cam kết chưa giải ngân 510 1091 1703 2267 2623 2940

Tỉ lệ giải ngân (%) 0,1 3,2 2,3 5,2 11,8 13,9

WB

Cam kết hàng năm 228 314 508 389 392 318 Giải ngân hàng năm 65 17 129 181 220 189 Phần cam kết chưa giải ngân 228 164 460 840 1047 1219

Tỉ lệ giải ngân (%) 28 11 28 22 21 15

ADB

Cam kết hàng năm 61 233 217 360 284 220

Trang 21

Giải ngân hàng năm 3 48 29 149 128 191 Phần cam kết chưa giải ngân 320 545 732 1024 1180 1253

Tỉ lệ giải ngân (%) 1,1 8,4 4,8 15,8 14,8 16,0 Tổng

Cam kết hàng năm 779 1166 1374 1422 1324 1311 Giải ngân hàng năm 68 62 196 358 641 761 Giải ngân hàng năm, % thay

hoạch đầu tư

1.1.4.2 Xu thế ODA trên thế giới

Quá trình phát triển ODA trên thế giới hiện nay có các khuynh hướng chủ yếu sau đây:

Một là: trong cơ cấu tổng thể ODA của thế giới tỷ trọng ODA song phương có xu hướng tăng lên, ODA đa phương có xu thế giảm đi xu thế này hình thành dưới sự tác động của hai nhân tố chủ yếu sau:

- Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới và xu thế hội nhập đã tạo điều kiện cho quan hệ về ODA trực tiếp giữa các quốc gia

- Hiệu quả hoạt động của các tổ chức đa phương tỏ ra kém hiệu quả làm cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp cho các tổ chức này

Hai là: mức độ cạnh tranh thu hút ODA đã tăng lên giữa các nước đang phát triển.Trên thế giới số nước dành được độc lập, bắt đầu xây dựng kinh tế phát triển xã hội tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA Ở Trung Quốc

Trang 22

đang cần một lượng vốn ODA lớn để xây dựng kinh tế, ở Đông Nam Á mặc

dù một số nước như Singapore, Malaixia, Thái Lan, đã giảm dần nguồn tiếp nhận ODA song bên cạnh đó lại các quốc gia khác với nhu cầu ODA lớn hơn như các nước Đông Dương, Myanma

Ba là: triển vọng gia tăng nguồn ODA ít lạc quan Mặc dù Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã khuyến nghị dành 1% GDP của các nước phát triển để cung cấp ODA cho các nước đang phát triển song khả năng này rất ít thành hiện thực (theo các số liệu mới nhất thì tỉ lệ này hiện nay chỉ đạt mức trung bình vào khoảng 0,7%) Thực tế cho thấy các nước có khối lượng ODA lớn nhất như Mỹ, Nhật Bản thì tỉ lệ này chỉ đạt trên dưới 0,3% trong nhiều năm qua Tuy có một số nước như Thụy Điển, Nauy, Phần Lan, Đan Mạch đã có tỷ lệ ODA hơn 1% song khối lương ODA tuyệt đối của các nước này không lớn Thêm vào đó tình hình phục hồi kinh tế chậm ở các nước phát triển cũng là một trở ngại gia tăng ODA

Ngoài ra các nước phát triển đang phải đối đầu với hàng loạt vấn đề xã hội trong nước và chịu sức ép của dư luận đòi giảm viện trợ cho nước ngoài

để tập chung giải quyết các vấn đề trong nước

1.2 QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI Ở VIỆT NAM

Theo quy định chung về quản lý và sử dụng, một dự án ODA trong xây dựng thủy lợi thường bao gồm các bước sau:

- Xác định dự án

- Chuẩn bị đầu tư

- Thực hiện đầu tư

- Hoàn thành và đánh giá

Trang 23

SƠ ĐỒ QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TRONG XÂY DỰNG

THỦY LỢI Ở VIỆT NAM

1.2.1 Xác định dự án và đánh giá ban đầu

Đưa ra những đề xuất chính thức (dự

án đề xuất)

Dự án đề xuất được giám đốc quản lý chương trình quốc gia xem xét đánh giá tiếp

Phê duyệt dự

án

Xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi

Tuyển chọn kí kết với nhà rhầu thực hiện

án

Theo dõi dự

án vè tài chính hiện vật trong quá trình thực hiện

dự án được lựa chọn

Rút ra bài học kinh nghiệm

Trang 24

1.2.1 Xác định dự án và đánh giá ban đầu:

Dự án đề xuất có thể được xác định theo nhiều cách Việc xác định này

có thể thực hiện qua đánh giá ngành hoặc các đoàn chương trình, thông qua cách tiếp cận chính thức đối với Đại sứ quán của nước tài trợ tại nước nhận viện trợ, theo đề nghị của Chính phủ nước tiếp nhận viện trợ hoặc thông qua các cách tiếp cận chính thức với các tổ chức khác

Khi nhận được yêu cầu chính thức đề án sẽ được Văn phòng của nước viện trợ đánh giá và xen xét xem của dự án đề xuất có nắm trong chiến lược quốc gia nêu trong báo cáo quốc gia hay không Nếu đề án phù hợp và đáp ứng các yêu cầu thông tin tối thiểu đề án sẽ được trình lên giám đốc quản lý chương trình quốc gia để đánh giá tiếp

Nếu thấy rằng đề án này có thể phát triển được giám đốc chương trình quản lý quốc gia sẽ đệ trình Chính phủ phê chuẩn việc sử dụng tiền ngân sách cho dự án Nếu được phê chuẩn sẽ chính thức hoá việc đưa dự án vào danh mục chương trình quốc gia và cho phép tiến hành thiết kế chi tiết

1.2.2 Chuẩn bị dự án và thiết kế:

Hầu hết các đề án đòi hỏi nhiều công sức mới biến thành một dự án được thiết kế đầy đủ và có tính khả thi Giai đoạn hoàn thiện đề án được gọi là giai đoạn chuẩn bị Giai đoạn chuẩn bị này bao gồm một số hoặc tất cả các bước sau đây và kết thúc bằng việc Bộ trưởng hoặc Đại diện của Bộ Tài chính phê duyệt cho phép thực hiện:

- Nghiên cứu tiền khả thi

- Nghiên cứu khả thi

- Dự thảo văn kiện thiết kế dự án

Văn kiện thiết kế dự án bao gồm kế hoạch chi tiết về chi phí, nguồn lực

và kế hoạch thực hiện Tuy nhiên, phê chuẩn tài chính mới có thể thay cho

Trang 25

phê chuẩn đưa ra trước đây khi dự án lúc đó còn trong giai đoạn chuẩn bị và thiết kế

1.2 3 Thực hiện đầu tư và theo dõi dự án

Bước đầu tiên của giai đoạn này là thảo luận để đi đến ký kết bản ghi nhớ (MOU) thể hiện sự nhất trí giữa hai Chính phủ MOU bao gồm các điều khoản tiêu chuẩn, các phụ lục tham chiếu, trong đó mô tả dự án và định số trách nhiệm của hai Chính phủ Dự án sẽ chính thức được triển khai sau khi MOU được ký kết và các nhà thầu đủ tiêu chuẩn được tuyển chọn Nhiệm vụ đầu tiên của nhà thầu chính thực hiện là chuẩn bị văn kiện thực hiện dự án (PID) Quá trình này cho phép nhà thầu xác định những điều chỉnh cần thiết cho dự án từ kinh nghiệm ban đầu khi triển khai dự án Dự án sẽ được theo dõi trong quá trình thực hiện Qua công tác theo dõi các nhà tài trợ song phương biết được tình hình thực hiện dự án có tốt không, nhà thầu thực hiện

so với hợp đồng ra sao, liệu có đạt được các mục tiêu đặt ra?

1.2 4 Hoàn thành và đánh giá dự án

Giai đoạn này bao gồm: Việc chuẩn bị báo cáo hoàn thành dự án (PCR) đối với tất cả các dự án và tiến hành đánh giá sau dự án đối với một số dự án được lựa chọn Nhà thầu thực hiện cần chuẩn bị PCR trước khi kết thúc dự án PCR mô tả thiết kế dự án từ khi xây dựng dự án giai đoạn chuẩn bị đến khi bổ sung trong giai đoạn thực hiện Sự chấp thuận báo cáo này của nhà tài trợ song phương đánh dấu thời điểm kết thúc dự án

Sau khi dự án kết thúc có thể phải tiến hành đánh giá sau dự án, mô tả lịch sử của dự án, những thành công của dự án, những thiếu sót và xác định những bài học đúc kết trong khâu thiết kế và thực hiện dự án phân tích độc lập của nhà tài trợ song phương cùng các văn kiện dự án khác có thể rút ra những bài học và đưa vào cơ sở dữ liệu về bài học kinh nghiệm của nhà tài

Trang 26

trợ, tạo cơ sở để phản hồi thông tin vào hoạch định chính sách và chuẩn bị các

dự án trong tương lai

Trên đây là tóm tắt sơ lược chu kỳ quản lý một dự án ODA trong xây dựng công trình thủy lợi

1.2.5 Những khó khăn và tồn tại cần giải quyết:

1.2.5.1 Việc giải ngân chậm trễ nhiều nguồn vốn ODA đã khiến các

dự án

sử dụng nguồn vốn vay phải điều chỉnh tăng vốn để đạt được mục tiêu ban đầu hoặc phải cơ cấu lại, thu hẹp quy mô dự án để đảm bảo phù hợp với nguồn vốn được phân bổ bên cạnh đó thời gian quản lý dự án kéo dài làm tăng chi phí quản lý dự án, tư vấn…

1.2.5.2 Các ban quản lý dự án OAD nhiều và lãng phí: Hai nhà tài trợ

là WB và ADB chiếm tới 500 đơn vị trên tổng số 1000 đơn vị quản lý trong nước ta Tuy con số lớn như vậy nhưng năng lực quản lý còn yếu kém

1.2.5.3 Các ban quản lý vẫn ở thế thụ động: Bài học trước đây khi giao

quyền làm chủ đầu tư cho ban quản lý dự án đã nảy sinh nhiều tiêu cực, nhưng với những quy định sủa đổi sau này các ban quản lý dự án chỉ là cơ quan giúp việc cho chủ đầu tư thì thực tiễn bắt đầu phát sinh những vấn đà mới Do các ban quản lý thiếu quyền lực và bị động nên quá trình triển khai

dự án lại gặp nhiều khó khăn

1.2.5.4 Cơ chế chính sách về XDCB, về quản lý, sử dụng ODA, về bảo vệ

môi trường, về đền bù TĐC – GPMB luôn có sự thay đổi đã gây tác động không nhỏ đến quản lý thực hiện các dự án;

1.2.5.5 Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, giá cả Vật tư, nhiên

liệu leo thang nên ảnh hưởng đến công tác thi công xây lắp và tiến độ thực hiện của tất cả các gói thầu/dự án

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Từ ngàn năm nay, Việt Nam là nước nông nghiệp do vậy sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong xây dựng công trình thủy lợi là yêu cầu rất cấp thiết để phát triển ngành nông nghiệp của nước ta

Trong hơn 20 năm qua các chương trình và dự án ODA trong thủy lợi đã góp phần cải thiện và phát triển sản xuất nông nghiệp, thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam

Chương I, học viên đã trình bày tổng quan về quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA trong xây dựng công trình thủy lợi ở nước ta để thấy vấn đề nghiên cứu

về quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình thủy lợi là rất cần thiết

Trang 28

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG ODA TRONG XÂY DỰNG

THỦY LỢI CỦA NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIẾP NHẬN, ĐIỀU PHỐI VÀ SỬ DỤNG ODA TRONG XÂY DỰNG THỦY LỢI

2.1.1 Tình hình thu hút và sử dụng ODA trong thời gian vừa qua

Mặc dù nền kinh tế khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, một số nhà tài trợ phải thắt chặt chi tiêu ngân sách để đối phó với cơn suy thoái kinh tế kể cả giảm viện trợ cho nước ngoài Song về

cơ bản các nước và các tổ chức quốc tế vẫn duy trì và tiếp tục thực hiện các cam kết ODA cho Việt Nam Tuy vậy có một vài trường hợp, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ nguồn vốn ODA đã cam kết bằng bản tệ đã

bị giảm nhiều do bị mất giá mạnh so với đô la Mỹ, gây khó khăn cho việc triển khai một số dự án

Theo báo cáo của Bộ kế hoạch và đầu tư, trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2012 Việt Nam tiếp tục đàm phán và ký kết thêm các điều ước quốc

tế về ODA đạt tổng trị giá trị trên 58,4 tỷ USDtổng vốn ODA cam kết, trong

đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6 tỷ USD và chiếm khoảng 88,4%, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,76 tỷ USD và chiếm khoảng 11,6%

Hiện có khoảng 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cung cấp nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh

tế, xã hội của Việt Nam

Trang 29

Hình 2.1 Tổng vốn ODA cam kết, ký kết giả ngân thời kỳ 1993-2012(Đơn

vị:tỷ USD)- Trích từ tạp chí tài chính ngày 15/10/2013

Trong hai thập kỷ qua, tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD, chiếm trên 66,92% tổng vốn ODA ký kết

Trang 30

Theo số liệu thống kê, tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA tăng dần từ 80% trong thời kỳ 1993-2000 lên 93% thời kỳ 2006-2010 và gần đây

đã ở mức 95,7% trong hai năm 2011-2012

Cộng đồng tài trợ quốc tế cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường chất lượng đầu vào của các chương trình, dự án ODA, đó là công tác chuẩn bị thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cần được tổ chức chặt chẽ và chất lượng cao hơn trên cơ sở phát triển quan hệ đối tác Đồng thời các nhà tài trợ bày tỏ mong muốn có sự phối hợp và điều phối ODA tốt hơn nữa giữa các

cơ quan Chính Phủ, giữa Chính Phủ và các nhà tài trợ cũng như giữa các nhà tài trợ

Mỹ, 1.11

EC, 1.1

Anh, 1.03

Pháp, 3.91 Đan Mạch, 1.1

Đức, 1.72

Hàn Quốc, 2.33

Nhật Bản, 19.81 NGOs, 1.99

UN, 1.95

WB, 20.1 ADB, 14.23

Hình 2.3 Cam kết vốn ODA của các nhà tài trợ thời kỳ 1993-2012(Đơn

vị: tỷ USD)- Trích từ tạp chí tài chính ngày 15/10/2013

Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012 với khoảng 19,81 tỷ USD Pháp đứng thứ hai với 3,91 tỷ USD Hàn Quốc đứng thứ ba với 2,33 tỷ USD

Trang 31

WB đứng đầu trong nhóm 6 ngân hàng phát triển với khoảng 20,1 tỷ USD Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đứng thứ hai với 14,23 tỷ USD vốn ODA cam kết

Những số liệu ở phần trên cho thấy nguồn viện trợ nước ngoài khá phong phú và đa dạng song công tác quản lý và sử dụng còn rất nhiều hạn chế

- Mặc dù trong các năm qua Đảng và Nhà nước đã rất chú trọng quan tâm đến vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ, đã ban hành nhiều quyết định liên quan đến lĩnh vực này song cũng có lúc quy chế ra không kịp thời Việc vận hành cơ chế quản lý và sử dụng các nguồn viện trợ còn nhiều điểm chồng chéo, chậm, thủ tục rườm rà

- Chính sách quản lý các nguồn viện trợ không thống nhất Lẽ ra Bộ

KH & ĐT là cơ quan đầu mối cho cơ quan đầu mối trong đàm phán thu hút,

Bộ tài chính phải là đầu mối trong cơ chế tài chính, trực tiếp ký vay, trả tiếp nhận viện trợ, thế nhưng hiện nay Bộ KH & ĐT gần như thực hiện luôn cả hai chức năng này.Từng hiệp định cụ thể thì do rất nhiều bộ, ngành ký Bộ tài chính không theo dõi chung được các nguồn vay và viện trợ cũng như nội dung sử dụng của từng nguồn Hơn nữa ngay trong bộ, giữa các ban quản lý

và các khu tài chính ngành không có sự phối hợp và quản lý tốt hơn các nguồn tài chính quốc gia

- Nhìn vào từng dự án nhiều dự án có hiệu quả đã đem lại những lợi ích kinh tế, xã hội nhất định, kể cả chất xám cho đất nước ta Tuy nhiên nhìn một cách toàn diện thì chúng ta chưa có chiến lược lâu dài trong việc sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại Nguồn viện trợ bị phân tán dàn trải quá nhiều chưa tập trung vào một số lĩnh vực có lợi thế tương đối và có khả năng tác động thúc đẩy sự phát triển các ngành khác của nền kinh tế Trong năm 1996

Trang 32

ta tiếp nhận 143 triệu USD của gần 300 chương trình, dự án viện trợ Nguồn viện trợ dàn trải làm cho nguồn trong nước cũng dàn trải theo

- Tư tưởng coi viện trợ là của trời cho vẫn còn nặng, các bộ, các ngành, địa phương chưa nhận thức được rằng mọi nguồn viện trợ dù là không hoàn lại, là một nguồn thu ngân sách Nhà nước và phải được quản lý và sử dụng như các nguồn thu khác cấp ra từ ngân sách Nhà nước Vì vậy việc quản lý và

sử dụng ODA thường không đảm bảo đúng chế độ tài chính thậm chí hết sức lãng phí và phát sinh tiêu cực

- Cho đến nay bộ máy quản lý viện trợ ở các bộ, ngành, địa phương chưa có sự thống nhất từ khâu xác định dự án, xây dựng tổng hợp trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt ký kết, tiếp nhận và sử dụng đến thanh tra, kiểm tra, báo cáo ở hầu hết các bộ, vụ tài vụ kế toán không nắm được nguồn viện trợ đã tiếp nhận và sử dụng ở bộ mình, các sở tài chính không nắm được nguồn viện trợ đã được sử dụng ở địa phương mình, chưa nói đến thực hiện công tác quản lý tài chính Việc không tập chung thống nhất quản lý nguồn tài chính viện trợ cộng đến trình độ, năng lực và số lượng cán bộ quản lý các nguồn viện trợ còn yếu là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho công tác quản lý và sử dụng viện trợ kém hiệu quả, có nơi lãng phí, tiêu cực

2.1.2 Tình hình thu hút và phân bổ vốn ODA trong ngành thủy lợi

Ban Quản lý Trung ương các dự án Thủy lợi (CPO) thuộc Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn được thành lập năm 1994 với nhiệm vụ làm chủ dự

án, trực tiếp quản lý các dự án thủy lợi đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư nước ngoài - Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

Đến ngày 08-01-2012 Ban CPO đã thực hiện hoàn thành 6 dự án (tổng vốn vay 611,8 triệu USD), đang thực hiện 7 dự án (tổng vốn vay 878 triệu USD)

Trang 33

Thu hút ODA về Thủy lợi có sự chênh lệnh khá lớn giữa các vùng Phần lớn số lượng dự án và vốn đầu tư tập trung vào ĐBSH sau đó là ĐBSCL MNPB, Tây nguyên và ĐNB là những vùng thiếu nước nhưng có rất ít dự án Các dự án ODA nhóm A về công trình thủy lợi được thu hút và phân bổ cho hai vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước là ĐBSH và ĐBSCL Song giữa hai vùng có sự chênh lệnh khá lớn về số lượng dự án và

số lượng vốn đầu tư Cụ thể vùng ĐBSH có các dự án về khôi phục hệ thống thủy lợi(ADB, 1995-2001) và thủy lợi lưu vực ĐBSH (ADB, 2002-2007 và pháp 2002-2008) với tổng số vốn ODA là 160 triệu USD trong khi đó vùng ĐBSCL chỉ có một dự án phát triển thủy lợi ĐBSCL ( WB.1999-2004) với số vốn 101,8 triệu USD Vùng ĐBSH sản xuất nông nghiệp gắn với hệ thống đê điều lớn và phức tạp do đó việc củng cố đê điều, kênh mương là cần thiết, song đối với vùng ĐBSCL vấn đề mặn hóa, phèn hóa cần đầu tư cho thủy lợi

để mở rộng sản xuất nông sản hang hóa cho vùng đồng bằng giàu tiềm năng nhất cả nước về sản xuất nông nghiệp này cũng không kém phần quan trọng

Vì vậy thu hút các dự án ODA về thủy lợi vào vùng ĐBSCL ở mức độ như hiện nay là chưa hợp lý, cần phải ưu tiên đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới

2.1.3 Kế hoạch hoá nguồn vốn ODA

Kế hoạch hoá ODA là kế hoạch hoá một nguồn vốn ngân sách chủ yếu dùng để đầu tư phát triển quốc gia Theo các quy định hiện hành một dự án ODA được kế hoạch hoá ở cả ba phương diện: nhu cầu vốn, đầu tư xây dựng

và quản lý dự án

2.1.3.1 Kế hoạch hoá nguồn vốn ODA

Xét về khía cạnh nhu cầu vốn công tác kế hoạch hoá vốn ODA cấp quốc gia do Bộ KH và ĐT chỉ đạo và được tiến hành như sau:

Trang 34

- Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã hội, quy họach đầu tư của cả nước các kế hoạch hàng năm và 5 năm của Chính phủ, Bộ KH và ĐT dự thảo một quy hoạch tổng thể về định hướng khai thác và sử dụng ODA để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

- Các ngành, các địa phương xác định nhu cầu vốn trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế xã hội thuộc phạm vi phụ trách và phù hợp với quy hoạch định hướng ODA

- Bộ KH và ĐT phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị danh mục các chương trình và dự án đầu tư bằng vốn ODA phân theo các nhà tài trợ để trình Thủ tướng phê duyệt

- Sau khi được phê duyệt, danh mục này sẽ được Bộ KH và ĐT, Bộ ngoại giao gửi đến các nhà tài trợ để vận động nguồn vốn ODA

2.1.3 2 Kế hoạch hoá Đầu tư Xây dựng

- Kế hoạch chuẩn bị đầu tư bao hàm các công việc lập dự án thẩm định

dự án và ra quyết định đầu tư

Sau khi được bên nước ngoài cam kết tài trợ dự án ODA được ghi vào

kế hoạch chuẩn bị đầu tư

- Kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án bao gồm các hoạt động: kế hoạch khảo sát thiết kế kỹ thuật, lập tổng dự toán, giải phóng mặt bằng, tổ chức đấu thầu

Một dự án chỉ được ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện khi báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đã được thẩm định,

đã đàm phán, ký kết được hiệp định với bên tài trợ và đã được cấp có thẩm quyền ra quyết định đầu tư

- Kế hoạch thực hiện dự án bao gồm các hoạt động xây dựng, mua sắm

và lắp đặt máy móc, thiết bị đoà tạo, chạy thử có tải, bàn giao dự án đưa váo

sử dụng

Trang 35

Điều kiện để được đưa vào kế hoạch thực hiện là dự án phải được thiết

kế và tổng dự toán được duyệt Đối với dự án đầu tư lớn có nhiều công trình hoặc có phân đoạn thi công trình hạng mục nào khởi công trong kế hoạch phải

có thiết kế và dự toán được duyệt

Một dự án không được phép vừa ghi vào kế hoạch chuẩn bị đầu tư vừa ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện

2.1.3.3 Kế hoạch hoá tài chính dự án đầ tư xây dựng

Kế hoạch hoá giải ngân các dự án ODA gắn liền với kế hoạch đầu tư xây dựng của dự án và thường được xác định ngay trong báo cáo tiền khả thi

- Vào tháng 6 hàng năm Bộ kế họach và đầu tư thông tin cho các bộ các địa phương khả năng nguồn vốn ODA thực hiện trong kỳ kế hoạch, những chương trình dự án cần đẩy mạnh chuẩn bị các điều kiện, thủ tục xây dựng mục tiêu ưu tiên đầu tư bằng vốn ODA của kỳ kế hoạch

- Các chủ dự án lập kế hoạch rút vốn và sử dụng vốn ODA theo kế hoạch căn cứ tiến độ thực hiện các dự án, các mục tiêu ưu tiên đã được hướng dẫn các bộ, địa phương tính toán các nguồn vốn đầu tư trong kỳ kế hoạch cho từng dự án, làm rõ khoản vốn nước ngoài, vốn đảm bảo trong nước báo cáo lên Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ tài chính vào tháng 8 hàng năm

- Bộ Kế hoạch và đầu tư đề xuất tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế trong đó có vốn nước ngoài và vốn trong nước bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế (dưới đây là vốn bảo đảm trong nước) cho các

dự án ODA Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 9 hàng năm

- Thủ tướng Chính phủ giao cho các bộ, địa phương chỉ tiêu tổng mức vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước, có chia ra vốn trong nước vốn nước ngoài và phân cho các kế hoạch

+ Vốn cho công tác thiết kế

+ Vốn chuẩn bị đầu tư

Trang 36

- Nghị định 20/ CP đã đã quy định các ngành và lĩnh vực được ưu ttiên đầu tư phát triển bằng vốn ODA, nhưng bước tiếp theo là sắp xếp thứ tự ưu tiên giữa ngành, các tiểu ngành và giữa các vùng chưa được thực hiện Vì vậy các dự án ODA nói chung và nhất là khi đưa vào thực hiện vẫn còn diễn ra một cách tản mạn chưa được tuyển chọn một cách có hệ thống trên cơ sở các quan điểm và tiêu chuẩn cụ thể

Đối với một số nhà tài trợ hiệp định tài trợ chỉ được ký kết sau khi có kết quả đấu thầu, trong khi đó theo quy định trong nước phải có hiệp định tài trợ mới được ghi vào kế hoạch chuẩn bị dự án Trên thực tế có những dự án chưa được ký hiệp định đã cần đến vốn bảo đảm trong nước để giải phóng mặt bằng

- Việc không đồng nhất của năm tài trợ cũng gây khó khăn cho việc kế hoạch hoá tài chính dự án

2.1.4 Khuôn khổ pháp lý

Khuôn khổ pháp lý của quản lý và điều phối ODA ra đời phù hợp với

xu thế chuyển nền kinh tế từ Cơ chế tập chung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước bằng kế hoạch, chính sách và đòn bẩy kinh tế Những tư tưởng chủ đạo chi phối khuôn khổ pháp lý của quản lý và điều phối ODA là

 ODA là nguồn ngân sách quan trọng của Nhà nước

Trang 37

Điều đó đòi hỏi một mặt lợi ích của các khoản ODA thuộc về toàn dân và mặt khác việc phân phối và sử dụng ODA cho có hiệu quả thuộc quyền hạn

và trách nhiệm của Chính phủ theo luật ngân sách và các quy định hiện hành của Chính phủ về quản lý ngân sách

 Các dự án đầu tư phát triển vốn ODA phải chị quản lý Nhà nước

Về đầu tư xây dựng thông qua các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, các quy hoạch và kế hoạch 5 năm, hàng năm cũng như các quy định của Chính phủ về đầu tư và xây dựng

 Đối với các dợ án ODA khả năng thu hồi vốn

Chính phủ áp dụng cơ chế cho vay lại với các điều kiện không ưu đãi hơn điều kiện chính phương của nước ngoài vừa góp phần tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, vừa tạo ra nguồn vốn Chính phủ có thể chủ động tài trợ chéo cho các dự án khác Trên tinh thần đó Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp quy có liên quan đến vai trò và trách nhiệm của các cơ quan Chính phủ khác nhau và về các thủ tục cơ chế liên quan đến ODA

Các nghị định điều chỉnh các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA đó là:

- Nghị định 38/2013/NĐ-CP, ngày 23 tháng 4 năm 2013 về quản lý và

sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ

+ Với tư cách là cơ quan đầu mối Bộ kế hoach và đầu tư phối hợp với các bộ và cơ quan có liên quan soạn thảo quy hoạch định hướng ODA, xác định danh mục dự án ưu tiên sử dụng vốn ODA và kiến nghị chính sách có liên quan để Chính phủ phê duyệt

+ Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì tổ chức các hoạt động vận đọng ODA chuẩn bị nội dung đàm phán và tiến hành đàm phán với các nhà tài trợ

+ Phác thảo các thủ tục tiến hành các dự án ODA thông qua các giai đoạn từ xác định, xây dựng, đàm phán, thẩm định đến thực hiện dự án và kết

Trang 38

thúc đưa dự án vào sử dụng Đặc biệt định số trách nhiệm của cơ quan chủ quản và chủ dự án trong những khâu hình thành va theo dõi một dự án ODA

Để thực hiện hiệp định nói trên, Bộ kế hoạch và đầu tư đã ban hành Thông tư 01/2014/TT-BKHĐT, ngày 09 tháng 01 năm 2014 về việc Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013

về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ

- Viện trợ không hoàn lại là một nguồn thu của ngân sách Nhà nước, phải được hạch toán và quản lý theo Luật ngân sách Nhà nước

- Viện trợ không hoàn lại được sử dụng dưới hình thức ngân sách Nhà nước cấp phát hoặc cho vay lại

- Mọi khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền hoặc hiện vật mà phía Việt Nam được nhận và sử dụng đều phải làm thủ tục xác nhận viện trợ Giấy xác nhận hàng, tiền viện trợ là căn cứ để hoàn tất các thủ tục nhận hàng, nhận tiền và hạch toán và ngân sách các cấp

- Bộ tài chính thống nhất quản lý tài chính Nhà nước đối với mọi nguồn viện trợ không hoàn lại, từ khâu tham gia ý kiến về mặt tài chính trong việc xác định chủ trương sử dụng viện trợ, thẩm định dự án, phân bổ nguồn vốn cho các dự án, đến nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý tài chính, thực hiện việc xác nhận viện trợ và hạch toán vào ngân sách, hướng dẫn và kiểm tra việc chấp hành các chế độ quản lý tài chính, quyết toán của cá dự án, hướng dẫn

và kiểm tra các đơn vị thực hiện việc bàn giao tài sản, vật tư, tiền vốn của các

dự án sau khi kết thúc

+ Bộ phận tài chính, kế toán của các Bộ, ngành có trách nhiệm giúp Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại do Bộ, ngành Trung ương tiếp nhận và thực hiện

Trang 39

+ Sở tài chính vật giá các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quản lý tài chính đối với toàn bộ các chương trình, dự án, các khoản viện trợ không hoàn lại do các khoản viện trợ không hoàn lại do các đơn vị thuộc địa phương tiếp nhận và thực hiện

- Thủ trưởng các bộ, ngành, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các Tỉnh, thành phố, Chủ tịch các Hội, đoàn thể, các tổ chức quần chúng có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra về công tác quản lý tài chính ở các đơn vị thực hiện các chương trình, dự án thuộc phạm vi quản lý của mình

- Chủ nhiệm các chương trình, Giám đốc các dự án, Thủ trưởng các đơn vị trực tiếp sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện đúng các mục tiêu, đối tượng và các cam kết khác

đã ghi trong từng chương trình, dự án, chấp hành nghiêm chỉnh thể chế tài chính, Pháp lệnh kế toán thống kê, Điều lệ tổ chức kế toán và chế độ hạch toán kế toán, chế độ kiểm toán hiện hành của Nhà nước

- Thông tư số 05/2014/TT-BTC, ngày 06/01/2014 của Bộ Tài chính

quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ

- Thông tư số 218/2013/TT-BTC, ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính về quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay ưu đãi nước ngoài của các nhà tài trợ

Ngoài ra còn có các nghị định khác như:

- Nghị định 88/1999/NĐ- CP về quy chế đấu thầu với nội dung:

Điều tiết các hoạt động đấu thầu có liên quan đến việc tuyển chọn tư vấn, mua sắm nguyên liệu và thiết bị xây lắp hoặc tuyển chọn các đối tác để thực hiện một phần hay toàn bộ dự án

Trang 40

-Nghị định 85/ 2009/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành luật đấu thầu

-Nghị định 68/ 2012/NĐ-CP về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP

- Về mặt tổ chức đã xác định được rõ cơ quan đầu mối và cơ quan phối hợp của Chính phủ trong việc điều phối, quản lý và điều phối ODA ở tầm vĩ

- Xác định các ngành và các cơ quan ưu tiên sử dụng vốn ODA

- Hình thành cơ chế phối hợp của các cơ quan liên quan theo chu trình

dự án ODA

- Hình thành cơ chế quản lý tài chính (thủ tục rút vốn, ghi vốn, vốn bảo đảm trong nước, cho vay lãi) đối với các dự án ODA

2.1.5 Cơ chế tài chính của ODA

Chính phủ quan niệm vốn ODA là một nguồn ngân sách quan trọng phục vụ đầu tư phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, các cơ chế tài chính cần thiết

để quản lý ODA bao gồm: Cơ chế quản lý ngân sách, thủ tục rút vốn, cơ chế cho vay lãi, cung cấp vốn bảo đảm trong nước

2.1.5.1 Cơ chế quản lý ngân sách

Là nguồn vốn ngân sách chế độ quản lý tài chính vốn ODA thống nhất với chế độ quản lý ngân sách hiện hành

Ngày đăng: 23/05/2015, 17:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ NN & PTNT- ban quản lý trung ương các dự án Thủy lợi(CPO) 2. Bộ tài chính - Cổng thông tin điện tử Bộ Tài Chính Khác
3. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2009), Nghị định số 12/2009/NĐ -CP ngày 12 tháng 02 năm 2009 : Về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Khác
4. Viện sĩ. TS Nguyễn Văn Đáng - Giáo trình quản lý dự án xây dựng Khác
5. TS. Đinh Tuấn Hải - Trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội - Giáo trình Phân tích các mô hình quản lý Khác
6. Hội đập lớn & phát triển nguồn nước Việt Nam Khác
7. Nguyễn Hồng Minh - Quản lý dự án đầu tư (Tái bản lần 3) Khác
8. PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt - Giáo trình Lập và quản lý dự án đầu tư Khác
9. PGS.TS Nguyễn Xuân Phú - trường ĐH Thủy Lợi - Giáo trình kinh tế xây dựng Khác
10. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật xây dựng số 16/2003/QH11 Khác
11. PGS.TS. Nguyễn Bá Uân - Trường ĐH Thủy Lợi - Giáo trình quản lý dự án đầu tư xây dựng nâng cao Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 sơ đồ cung cấp ODA giữa các nước theo kênh song phương. - Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam
Hình 1.1 sơ đồ cung cấp ODA giữa các nước theo kênh song phương (Trang 10)
Bảng 1.1: số liệu các dự án đầu tư của Nhật Bản, WB, ADB - tình hình giải - Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam
Bảng 1.1 số liệu các dự án đầu tư của Nhật Bản, WB, ADB - tình hình giải (Trang 21)
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TRONG XÂY DỰNG - Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TRONG XÂY DỰNG (Trang 23)
Hình 2.1  Tổng vốn ODA cam kết, ký kết giả ngân thời kỳ 1993-2012(Đơn - Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam
Hình 2.1 Tổng vốn ODA cam kết, ký kết giả ngân thời kỳ 1993-2012(Đơn (Trang 29)
Hình 2.2  Tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA giai đoạn 1993- - Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam
Hình 2.2 Tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA giai đoạn 1993- (Trang 29)
Hình 2.3   Cam kết vốn ODA của các nhà tài trợ thời kỳ  1993-2012(Đơn - Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam
Hình 2.3 Cam kết vốn ODA của các nhà tài trợ thời kỳ 1993-2012(Đơn (Trang 30)
Hình 2.4 : sơ đồ quy trình thực hiện một dự án đấu thầu xây dựng bằng nguồn vốn ODA . - Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý dự án ODA trong xây dựng công trình Thủy Lợi ở Việt Nam
Hình 2.4 sơ đồ quy trình thực hiện một dự án đấu thầu xây dựng bằng nguồn vốn ODA (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w