1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”

152 1,6K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

L ỜI CẢM ƠN Qua thời gian học tập tại Khoa Môi trường - Trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội, em đã thực hiện luận văn với đề tài “Nghiên c ứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế n

Trang 1

L ỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập tại Khoa Môi trường - Trường Đại học Thủy Lợi Hà

Nội, em đã thực hiện luận văn với đề tài “Nghiên c ứu đánh giá hiện trạng quản

lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

Để có được thành quả như ngày hôm nay, em xin trân trọng cảm ơn sự giúp

đỡ, quan tâm của các giảng viên tại Khoa Môi trường trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Khoa

Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn chính TS Nguyễn Thị Minh Hằng – Giảng viên Khoa Môi trường – Trường Đại

học Thủy Lợi Hà Nội là người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành luận văn

Em xin gửi lời cám ơn tới lãnh đạo và đồng nghiệp tại Trung tâm Kiểm nghiệm - Sở Y tế Hải Dương, các cộng tác viên đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, cung cấp tài liệu, thu thập thông tin góp phần giúp em hoàn thiện luận văn

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ

em trong suốt quá trình học tập

Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu không dài, trình độ và kinh nghiệm còn

hạn chế, vì vậy không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các thầy cô và các bạn nhận xét, góp ý, giúp đỡ để em từng bước hoàn thiện kiến thức chuyên ngành và tiếp cận

với công việc thực tế một cách tốt nhất

Em xin trân trọng cảm ơn./

Hà N ội, ngày tháng năm 2014

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng

dẫn của TS Nguyễn Thị Minh Hằng với đề tài nghiên cứu trong luận văn “Nghiên

Đây là đề tài nghiên cứu mới, không trùng lặp với các đề tài luận văn nào trước đây, do đó không có sự sao chép của bất kì luận văn nào Nội dung của luận văn được thể hiện theo đúng quy định, các nguồn tài liệu, tư liệu nghiên cứu và sử

dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn

Nếu xảy ra vấn đề gì với nôi dung luận văn này, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy định./

Hà N ội, ngày tháng năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 3

TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ NGUY HẠI VÀ 3

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH HẢI DƯƠNG 3

1.1 CHẤT THẢI VÀ CHẤT THẢI Y TẾ 3

1.1.1 Khái niệm về chất thải và chất thải y tế 3

1.1.2 Phân loại chất thải y tế 3

1.1.3 Phân loại chất thải y tế nguy hại 5

1.1.4 Thành phần chất thải y tế: 7

1.1.5 Lượng chất thải phát sinh tại các cơ sở y tế 7

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG 9

1.2.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế nguy hại đến môi trường 9

1.2.2 Ảnh hưởng của CTRYTNH hại đến cộng đồng 10

1.3 TỔNG QUAN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI TẠI VIỆT NAM 12

1.3.1 Tổng quan chung 12

1.3.2 Thực trạng cơ sở vật chất và nguồn nhân lực của hệ thống bệnh viện 13

1.3.3 Thực trạng công tác khám, chữa bệnh nội, ngoại trú 15

1.3.4 Tổng quan công tác quản lý, xử lý chất thải y tế 16

1.4 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH HẢI DƯƠNG 24

1.4.1 Điều kiện tự nhiên 24

1.4.2 Kinh tế - Xã hội 26

1.4.3 Kết cấu hạ tầng 26

1.4.4 Văn hóa 28

1.5 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH Y TẾ HẢI DƯƠNG 28

1.5.1 Về nhân lực y tế 29

1.5.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế 30

Trang 4

CHƯƠNG 2 32

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ NGUY HẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 32

2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QLCTYT TẠI CÁC BỆNH VIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG 32

2.1.1 Tình hình thực hiện quy định về hành chính 42

2.1.2 Nhân lực QLCTYT các bệnh viện 44

2.1.3 Về công tác đào tạo, tập huấn về QLCTYT 46

2.1.4 Lượng CTRYT phát sinh theo bệnh viện (kg/ngày) 47

2.1.5 Lượng CTRYT phát sinh theo khoa/phòng của bệnh viện (kg/ngày) 51

2.1.6 Dụng cụ chứa/đựng, vận chuyển chất thải y tế 51

2.1.7 Nhà lưu giữ chất thải y tế: 53

2.1.9 Quan trắc môi trường 56

2.1.10 Đầu tư kinh phí cho QLCTYT 58

2.1.11 Thông tin chung về NVYT tại 22 bệnh viện nghiên cứu 58

2.1.12 Thông tin chung về Vệ sinh viên tại 22 bệnh viện nghiên cứu 59

2.1.13 Kiến thức của NVYT về QLCTYT 61

2.1.14 Kiến thức của VSV về QLCTYT 61

2.1.15 Việc thực hiện quy chế QLCTYT của NVYT 61

2.1.16 Việc thực hiện quy chế QLCTYT của VSV 63

2.1.17 Mối liên quan giữa việc tập huấn với kiến thức về phân loại CTRYT của NVYT 64

2.1.18 Mối liên quan giữa việc tập huấn với kiến thức về phân loại CTRYT của VSV 65

2.1.19 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về phân loại CTRYT của NVYT 65

2.1.20 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về phân loại CTRYT của VSV 66 2.1.21 Kiến thức của NVYT về tác hại của CTRYTNH đối với sức khỏe con người 67

Trang 5

2.1.22 Kiến thức của VSV về tác hại của CTRYTNH đối với sức khỏe con người 67

2.2 DỰ BÁO KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI Y TẾ NGUY HẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG ĐẾN NĂM 2025 68

2.3 NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ 71

2.3.1 Thông tin chung về các bệnh viện nghiên cứu 71

2.3.2 Kiến thức và thực hành về QLCTYT của NVYT 72

2.3.3 Kiến thức và thực hành về QLCTYT của VSV 76

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG 78

2.4.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý CTRYTNH 78

2.4.2 Những tồn tại cần giải quyết 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80

CHƯƠNG 3 81

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 81

3.1 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ VẬN CHUYỂN 81

3.1.1 Quản lý nội vi 81

3.1.2 Thu gom tại các khoa phòng 81

3.1.3 Lưu chứa 84

3.2 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 86

3.2.1 Xây dựng mô hình quản lý CTRYT một cách hiệu quả tại các bệnh viện 86

3.2.2 Đề xuất mô hình quản lý phù hợp cho khối y tế dự phòng 87

3.3 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC, TRUYỀN THÔNG 89

3.3.1 Giáo dục cộng đồng 89

3.3.2 Nâng cao năng lực tổ chức 91

3.4 CÁC GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ XỬ LÝ Ô NHIỄMCHẤT THẢI RẮN 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

PHỤ LỤC 103

Trang 6

DANH M ỤC BẢNG

Bảng 1.1: Phân loại chất thải y tế nguy hại 5

Bảng 1.2: Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện 8

Bảng 1.3: Khối lượng chất thải rắn phát sinh ở các khoa (kg/ngày/người) 8

Bảng 1.4 Tổng số bệnh viện và giường bệnh (năm 2011) 12

Bảng 1.5 Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ chất thải rắn y tế tại một số thành phố năm 2011 17

Bảng 1.6 Sự biến động về khối lượng CTYT nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế khác nhau 19

Bảng 2.1 Tình hình thực hiện quy định về hành chính 42

Bảng 2.2 Nhân lực QLCTYTcác bệnh viện 44

Bảng 2.3 Lượng CTRYT phát sinh theo bệnh viện (kg/ngày) 47

Bảng 2.4 Dụng cụ chứa/đựng, vận chuyển chất thải y tế 51

Bảng 2.5 Quan trắc môi trường 57

Bảng 2.6 Thông tin chung về Vệ sinh viên tại 22 bệnh viện nghiên cứu 59

Bảng 2.7 Việc thực hiện quy chế QLCTYT của NVYT 61

Bảng 2.8 Việc thực hiện quy chế QLCTYT của VSV 63

Bảng 2.9 Mối liên quan giữa việc được tập huấn với kiến thức về phân loại CTRYT của NVYT 64

Bảng 2.10 Mối liên quan giữa việc được tập huấn với kiến thức về phân loại CTRYT của VSV 65

Bảng 2.11 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về phân loại CTRYT của NVYT 66

Bảng 2.12 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về phân loại CTRYT của VSV 66

Bảng 2.13 Kiến thức của NVYT về tác hại của CTRYTNH đối với sức khỏe con người 67 Bảng 2.14 Kiến thức của VSV về tác hại của CTRYTNH đối với sức khỏe con người 67

Bảng 2.15 Sự biến động về khối lượng CTRYTNH phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau 68

Bảng 2.16 Dự báo khối lượng CTRYTNH trên địa bàn Tỉnh Hải Dương đến năm 2025 70

Trang 7

DANH M ỤC HÌNH

Hình 1.1 Thành phần chất thải rắn y tế 7

Hình 1.2 Tỷ lệ % khối lượng phát sinh chất thải y tế nguy hại theo các vùng kinh tế năm 2011 19

Hình 1.3 Tình hình xử lý chất thải y tế của hệ thống cơ sở y tế các cấp 23

Hình 1.4 Áp dụng vi sóng kết hợp hơi bão hòa để xử lý CTRYTNH 24

Hình 1.5 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương 25

Hình 2.1 Giao diện bảng nhập liệu trong Epidata 40

Hình 2.2 Đánh giá số liệu bằng SPSS Data Editor 41

Hình 2.3 Nơi lưu giữ chất thải tại BVĐK huyện Tứ Kỳ 54

Hình 2.4 Lò đốt rác tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh 56

Hình 2.5: Phân bố thâm niên công tác của NVYT tại 22 BV 59

Hình 2.6: Phân bố công việc chính của VSV tại 22 Bệnh viện 60

Hình 2.7 Dự báo gia tăng khối lượng CTRYTNH đến năm 2025 tại Hải Dương 70

Hình 3.1: Thùng chứa rác tại các khoa phòng 83

Hình 3.2: Thùng đựng vật sắc nhọn trong bệnh viện 84

Hình 3.3: Sơ họa mô hình đề xuất nhà lưu giữ rác của bệnh viện 85

Hình 3.4: Mô hình đề xuất quản lý chất thải bệnh viện 86

Hình 3.5: Mô hình đề xuất quản lý chất thải tại các trạm y tế xã, phường 88

Hình 3.6: Sơ đồ của hệ thống xử lý rác bằng vi sóng 94

Hình 3.7 Hệ thống xử lý vi sóng SANITEC 95

Trang 8

DANH M ỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CTNH Chất thải nguy hại

CTRYT Chất thải rắn y tế

CTRYTNH Chất thải rắn y tế nguy hại

ĐTM Đánh giá tác động môi trường

Trang 9

M Ở ĐẦU

Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày một tăng cao Để đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc

sức khỏe nhân dân, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng

và ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động các cơ sở y tế, đặc

biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn chất thải y tế, trong đó có

cả chất thải y tế nguy hại Đây là vấn đề hết sức cấp bách tại các bệnh viện trên cả nước nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng

Bên cạnh những mặt đã đạt được, công tác quản lý chất thải của các cơ sở y

tế vẫn còn nhiều tồn tại Nhiều bệnh viện chưa phân loại đúng chất thải, phương

tiện phân loại thu gom chất thải rắn không đạt tiêu chuẩn, nhận thức của nhân viên trong việc thu gom, phân loại chất thải ngay từ ban đầu còn nhiều hạn chế Đặc

biệt công tác xử lý chất thải rắn tại các đơn vị y tế còn quá nhiều bất cập do nhiều nguyên nhân như: Không có phương tiện vận chuyển chuyên dụng, hoặc có nhưng không chuyên dụng, cũ, không có khu vực xử lý đạt tiêu chuẩn, không có kinh phí xây dựng, vận hành hệ thống… điều này dẫn đến nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng ngày điều trị, tăng tỷ lệ biến chứng, tỷ lệ tử vong, tăng chi phí điều trị, làm giảm uy tín của bệnh viện và gây ảnh hưởng tới sức khỏe cho cộng đồng, nhất là những người tiếp xúc trực tiếp với chất thải Đồng thời nó cũng gây ô nhiễm đối với môi

trường (đất, nước và không khí), sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián

tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái

Nhận thức được những thách thức trong công tác QLCTYT nguy hại tại các

cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương và sự phát triển, đảm bảo đời sống sức khoẻ cho cộng đồng xã hội, do đó đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất

th ải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hi ệu quả quản lý" nhằm đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế

nguy hại và đề xuất giải pháp quản lý đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tỉnh

Hải Dương

Trang 10

2 M ỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:

Đánh giá được hiện trạng công tác quản lý chất thải rẳn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Đề xuất được giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất

thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chất thải rắn y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có

đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014

Phạm vi không gian vùng nghiên cứu: 22/22 bệnh viện tuyến tỉnh, huyện của

tỉnh Hải Dương

- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu: thu thập số liệu có liên quan đến

đề tài, các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu, các công trình xử lý CTRYTNH đã được vận hành

- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: nhằm thu thập số liệu về tình

hình thu gom, xử lý CTRNH y tế; những bất cập, tồn tại

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong đánh

giá hiệu quả và đề xuất các giải pháp quản lý, xử lý chất thải y tế

- Phương pháp tính toán dự báo: từ số liệu thực tế phát sinh những năm

trước, cộng với các qui hoạch phát triển hệ thống y tế trong thời gian tới để dự báo

khối lượng CTRYTNH trên địa bàn tỉnh Hải Dương đến năm 2025

- Tập hợp, xử lý số liệu bằng phần mềm EpiData và SPSS 16.0

Trang 11

CHƯƠNG 1

Ch ất thải: Là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [12]

Ch ất thải y tế: Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ

các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [8]

Ch ất thải nguy hại: Là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ

nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác [12]

Ch ất thải y tế nguy hại: Là chất thải có chứa một trong các thành phần như:

máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn; dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong

chất thải y tế Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người [8]

Như vậy không phải toàn bộ chất thải y tế đều là chất thải nguy hại, do đó

cần có những giải pháp phù hợp để xử lý chất thải y tế có hiệu quả nhất

Theo Quyết định số 43/2007/ QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế, căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:

a Chất thải lây nhiễm:

- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,

Trang 12

lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; nhau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm [8]

b Chất thải hóa học nguy hại:

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế

- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu

- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân

bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

c Chất thải phóng xạ

Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ

các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất

d Bình chứa áp suất:

Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt [8]

e Chất thải thông thường:

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học

Trang 13

nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại [3]

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

Dựa vào đặc tính, nhóm dòng thải, CTRYTNH được phân loại:

t ại [2]

Ngưỡng CTNH [2]

1

13 01 01

Chất thải lây nhiễm (bao gồm

có các thành phần nguy hại

Độc (Đ) Độc cho hệ sinh thái (ĐS)

Rắn/lỏng *

Trang 14

t ại [2]

Ngưỡng CTNH [2]

3

13 01 03

Dược

phẩm gây độc tế bào (cytotoxic

và cytostatic)

dụng có chứa thuỷ ngân và các kim loại nặng (nhiệt kế, huyết áp

kế…)

Độc (Đ) Độc cho hệ sinh thái (ĐS)

Rắn **

Ghi chú:

- *: Có khả năng là CTNH: Cần áp dụng ngưỡng CTNH (hay ngưỡng nguy

hại của chất thải) theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07:2009/BTNMT để phân định có phải là CTNH Nếu không áp dụng ngưỡng CTNH thì phải phân định luôn là CTNH

Trang 15

- **: Là CTNH trong mọi trường hợp: Không cần áp dụng ngưỡng CTNH

mà xác định luôn là CTNH

Qua bảng phân loại chất thải y tế nguy hại cho thấy: 5/6 danh mục chất thải y

tế nguy hại luôn là chất thải nguy hại trong mọi trường hợp mà không cần phân tích

áp dụng ngưỡng chất thải nguy hại

CTRYT mang những đặc điểm đặc thù riêng Đa số là các chất thải sinh học độc hại Các loại chất thải này nếu không được phân loại với các loại chất thải sinh hoạt khác sẽ gây ra những nguy hại đáng kể Do đó cần có những biện pháp thu gom, xử lý riêng cho chúng

Thành phần chủ yếu của CTRYT là các chất hữ cơ có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí thải độc hại

Rác hữu cơ 54%

Kim loại, vỏ hộp 1%

Đất đá và các loại vật

rắn khác 22%

, Thủy tinh, ống tiêm

chai lọ thuốc, bơm kim

1.1.5 Lượng chất thải phát sinh tại các cơ sở y tế

Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế, lượng chất thải phát sinh tại các bệnh

viện như sau:

Trang 16

B ảng 1.2: Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện

như tỷ lệ chất thải nguy hại

Tại các bệnh viện đa khoa thì tổng lượng phát thải tại các khoa có tính đặc thù riêng

Trang 17

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG

a Ảnh hưởng đối với môi trường nước

Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh

viện Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh và kim loại nặng, trong đó phần

lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang Đối với

một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải môi trường mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn nước cấp Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng, ví

dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD, vi khuẩn gây bệnh

b Ảnh hưởng đối với môi trường đất

Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt của lò đốt chất thải, gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và

cuối cùng là tác động xấu tới sức khỏe cộng đồng

c Ảnh hưởng đối với môi trường không khí

Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ, lượng rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen Việc đốt chất thải y tế đựng trong túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit, thường là HCl and SO2 Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl, Br, I ) ở nhiệt độ thấp, thường tạo ra axit Như Hydrochloride (HCl) Điều đó dẫn đến nguy

cơ tạo thành dioxin, một loại hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp Các kim loại nặng, như thủy ngân, có thể phát thải theo khí lò đốt

Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới môi trường sinh thái và

sức khoẻ con người trong dài hạn

Trang 18

1.2.2 Ảnh hưởng của CTRYTNH hại đến cộng đồng

Công chúng và cộng đồng xung quanh bệnh viện rất nhạy cảm với những chất

thải y tế (đặc biệt là đối với các cơ sở y tế tư nhân, nằm sát khu dân cư, không có hệ

thống xử lý chất thải) CTR nếu không được xử lý và tiêu hủy đúng cách có thể gây ra các tác động tiêu cực tới môi trường và sức khỏe con người như ở trên đã mô tả

a Nguy cơ đối với sức khỏe

Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn Những nhóm có nguy cơ bao gồm:

- Nhân viên y tế: bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên

- Bệnh nhân

- Người nhà và khách thăm nuôi bệnh nhân

- Công nhân làm việc trong khối hỗ trợ như thu gom, vận chuyển rác, giặt là;

- Công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (như bãi rác hoặc lò đốt), bao gồm cả những người nhặt rác

Vận hành và bảo dưỡng kém lò đốt có thể dẫn đến xả ra khí thải chứa nhiều

chất ô nhiễm như các kim loại nặng (chì, thủy ngân, cat-min), bụi, axid HCl, SO2,

CO, NOx và cả dioxin/furan Hai khảo sát do Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường thực hiện năm 2003 và 2008 thấy rằng nồng độ dioxin trong khí thải lò đốt rác y tế cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép, và hầu hết các lò đốt đang thải ra khói đen gây ô nhiễm không khí trong quá trình vận hành Tiêu hủy an toàn tro lò đốt cũng là một vấn đề bởi vì các chất gây ô nhiễm trong tro có thể gây ra ô nhiễm đất và nguồn nước

b Nguy cơ của chất thải lây nhiễm

Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niêm mạc; qua đường hô hấp;

Trang 19

qua đường tiêu hóa Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóa

chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng QLCTYT không an toàn Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẫn Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế

Một khảo sát của Viện Y học lao động và môi trường năm 2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thương tích do vật sắc nhọn trong vòng 6 tháng qua, và 70% trong số họ bị thương tích do vật sắc nhọn trong sự nghiệp Tổn thương do vật sắc nhọn có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như HIV, HBV, và HCV Khoảng 80%

nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp là do thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm Việc tái chế hoặc xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và

vật sắc nhọn có thể có tác động lâu dài tới sức khỏe cộng đồng

c Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm

Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ

chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối lượng thấp Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da niêm

mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa Tổn thương da, mắt và niêm mạc đường hô hấp có

thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn, gây phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dễ bay hơi khác) Tổn thương thường gặp nhất là bỏng Các hóa chất khử khuẩn được sử dụng phổ biến trong bệnh viện thường có tính ăn mòn Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị rò thoát,

đổ tràn Việc rơi vãi chất thải lây nhiễm, đặc biệt là chất thải lây nhiễm có nguy cơ cao có thể lan truyền bệnh trong bệnh viện, như có thể gây ra đợt bùng phát nhiễm trùng bệnh viện trong nhân viên và bệnh nhân, hoặc gây ô nhiễm đất và nước

d Nguy cơ của chất thải gây độc tế bào

Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào Chúng có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt,

buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua

Trang 20

hít thở hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào

e Nguy cơ của chất thải phóng xạ

Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột

biến gen trong dài hạn

NAM

1.3.1 Tổng quan chung

Hệ thống bệnh viện Việt Nam được sắp xếp trên cơ sở phân bố rộng khắp, thuận tiện cho khả năng tiếp cận rộng rãi của các bộ phận dân số khác nhau trong toàn xã hội Hệ thống bệnh viện hiện nay phần lớn là các bệnh viện do Nhà nước

quản lý Tính đến cuối năm 2011, cả nước có 1.162 bệnh viện, chưa kể các bệnh

viện quân đội do Bộ Quốc phòng quản lý [6]

Trang 21

Các bệnh viện công lập của ngành y tế chiếm chủ yếu, khoảng 87% tổng số

bệnh viện, được chia thành 3 tuyến gồm tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện Tuyến trung ương dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Y tế, tuyến tỉnh và tuyến huyện do Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý Số lượng bệnh viện

Số cơ sở khám chữa bệnh và số giường bệnh tăng tương đối đều qua các năm, từ 883 cơ sở khám chữa bệnh năm 2004 tăng lên 1.162 bệnh viện năm 2011 và

từ 122.648 giường bệnh năm 2004 (không kể giường tuyến xã, phường) tăng lên 185.342 giường bệnh năm 2011 Trong đó, số tăng của khối bệnh viện tư nhân chiếm tới 50% tổng số tăng thêm của bệnh viện nói chung

Sau khi ban hành Pháp lệnh Hành nghề Y, Dược tư nhân, từ năm 1997 hệ

thống bệnh viện tư nhân bắt đầu được hình thành Để khuyến khích đầu tư, phát triển bệnh viện tư tham gia công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, Nhà nước

đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển bệnh viện tư Sự phát triển của bệnh

viện tư trong 15 năm qua từ khoảng 40 bệnh viện năm 2004, tăng lên 82 bệnh viện năm 2008 và đến nay 132 bệnh viện ra đời (tính đến năm 2011), chiếm 11% tổng số

bệnh viện, tương ứng với 3,7% tổng số giường bệnh trên toàn quốc Tuy nhiên,

bệnh viện tư nhân ở nước ta hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ và chỉ tập trung ở những thành

phố lớn và một số chuyên khoa có khả năng mang lại lợi nhuận cao hơn [6]

Theo số liệu báo cáo kiểm tra bệnh viện của Cục quản lý Khám chữa bệnh và

Vụ Y Dược học cổ truyền – Bộ Y tế năm 2010 có 1075/1094 bệnh viện xếp hạng cụ

thể như sau:

Trang 22

- Tuyến Trung ương: bệnh viện hạng đặc biệt chiếm 8,2%, hạng 1 chiếm 83,3%, hạng 2 chiếm 8,2%

- Tuyến tỉnh/thành phố bệnh viện hạng 1 chiếm 11,8%, bệnh viện hạng 2 chiếm 41,4%, bệnh viện hạng 3 chiếm 44,2%, hạng và chưa xếp hạng chiếm 2,4%;

- Tuyến huyện, quận: Bệnh viện hạng 2 có 4,8%, hạng 3 có 88,4%, hạng 4 và chưa xếp hạng có 6,8%;

- Bệnh viện ngành hạng 1 có 13,8%, hạng 2 có 19,4%, hạng 3 có 52,7%,

hạng 4 và chưa xếp hạng có 13,8%;

- Bệnh viện Trường đại học: Hạng 2 có 16,6%, Hạng 4 và chưa xếp hạng có 83,4%;

- Bệnh viện tư nhân: 100% xếp hạng 4 và chưa xếp hạng

Cơ sở hạ tầng bệnh viện, theo tiêu chuẩn của Việt Nam đề ra diện tích sử

dụng bình quân trên một giường bệnh là 50-70 m2 đối với bệnh viện nội đô và

50-100 m2đối với bệnh viện ngoại thành Tuy nhiên, trên thực tế tại các thành phố lớn

và bệnh viện trung ương diện tích sàn bình quân chỉ đạt dưới 40 m2 thậm chí có

bệnh viện chưa đạt mức 20 m2 như bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh (12m2/giường bệnh), bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình (10m2/giường bệnh) Cơ

sở bệnh viện cũng xuống cấp nghiêm trọng, ngay tại thành phố Hà nội trên 60%

Trang 23

tế có trình độ cao chủ yếu tập trung ở tuyến trung ương cụ thể: số nhân viên có trình

độ tiến sĩ y khoa ở tuyến trung ương chiếm 70,1%; tiến sĩ dược chiếm 96,3%; thạc

sĩ y khoa chiếm 40,1%, thạc sĩ dược chiếm 62,7%, trình độ điều dưỡng- kỹ thuật viên- hộ sinh đại học chiếm 25,4%

Về số lượng nhân viên y tế ở các bệnh viện đạt tỷ lệ thấp so với quy định chung về định mức biên chế Tại các bệnh viện lớn, cũng chỉ đạt khoảng 60-70% như bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh với 1300 giường bệnh cần 296 bác sĩ, nhưng chỉ có 178 bác sĩ đạt 60%; bệnh viện Nhi đồng 1 số bác sĩ chỉ đạt 67%

so với nhu cầu

Số lượt khám bệnh ngoại trú bình quân (năm 2011) là 1,5 lượt/ đầu người/ năm Khám tại bệnh viện tuyến huyện chiếm tỷ lệ cao nhất 45,6% tiếp đến là tuyến

tỉnh 36,4%, thấp nhất là bệnh viện tư nhân, đạt 5,1% tổng số lượt khám bệnh ngoại trú Tuy nhiên, tình trạng quá tải khu vực khám bệnh tại hầu hết bệnh viện trung ương là rất trầm trọng, số lượt khám bệnh trên một bác sĩ thậm trí trên 80 người

bệnh trên ngày Bệnh viện đã phải tăng thời gian khám bệnh 2-4 giờ mỗi ngày mới

đủ giải quyết hết lượng người bệnh

Số lượt điều trị nội trú, theo số liệu năm 2011 bình quân 10-13 người trong năm có 1 lượt người điều trị nội trú Bệnh viện tuyến tỉnh tiếp nhận và điều trị 45,2% tổng số lượt điều trị nội trú, tiếp theo là tuyến huyện chiến 36,8%; bệnh viện

tư nhân đóng góp cho 4,2% tổng số lượt điều trị nội trú

Nhu cầu điều trị nội trú, hiện có xu hướng gia tăng Trong khoảng thời gian 2008-2011, mỗi năm tăng khoảng 4,3-9,8% và có xu hướng tiếp tục gia tăng trong

những năm tới

Ngày điều trị trung bình có sự giảm nhẹ khi so sánh kết quả của năm 2010 và năm 2009 Ngày điều trị trung bình giữa bệnh viện các tuyến có sự khác biệt tương đối, 10,3 ngày ở tuyến trung ương so với 7,4 ngày ở bệnh viện tuyến tỉnh và 5,7 ngày ở tuyến huyện Điều này khẳng định rằng bệnh viện ở tuyến càng cao thì tiếp

Trang 24

nhận và điều trị người bệnh có mức độ bệnh trầm trọng lớn hơn và cần thời gian

điều trị dài hơn

Tuy nhiên, khoảng 60-80% tỷ lệ người bệnh đến khám bệnh tại bệnh viện tuyến trên chỉ cần khám bệnh tại bệnh viện tuyến dưới Số lượt người bệnh phẫu thuật chiếm 1/3 tổng số lượt người bệnh điều trị nội trú, nhưng chiếm tới 40% loại

phẫu thuật không thuộc loại đặc biệt và loại I, mà có thể thực hiện được ở tuyến dưới

Xã hội phát triển, dân số ngày càng tăng, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân không ngừng nâng cao Để đáp ứng yêu cầu các cơ sở y tế được thành lập nhiều hơn, các kỹ thuật mới đa số sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế,… là

những nguyên nhân làm gia tăng lượng CTRYTNH ở hầu hết các địa phương Nhìn chung việc quản lý CTYT đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa phương

Phân lo ại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế

Tại các cơ sở tuyến Trung ương CTYT phát sinh phần lớn được thu gom và

vận chuyển đến các khu vực lưu giữ, sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong các cơ sở hoặc ký hợp đồng với các đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép

hoạt động xử lý

Tại các địa phương trong quá trình hoạt động các cơ sở y tế đã bộc lộ những

tồn tại trong công tác quản lý rác thải y tế Sự đầu tư quan tâm đến công tác này còn chưa cao, đặc biệt là công tác phân loại tại nguồn các chất thải y tế nguy hại

Mức độ phân loại, thu gom chất thải trong các cơ sở y tế được thể hiện[1]:

- Tuy các loại chất thải y tế đều được đựng trong các thùng chứa, nhưng đa

phần các thùng, túi chứa đều không đáp ứng yêu cầu Chỉ một số bênh viện đạt được các tiêu chí đề ra, chủ yếu là các bệnh viện lớn ở trung ương

Trang 25

- Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế và có tới Có 63,6% cơ sở y tế sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP

- Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của Đoàn Thanh tra liên

Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào CTYT nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý và ngược lại có cơ sở

xử lý như chất thải thông thường, không đảm bảo môi trường Có 95,6% cơ sở đã

thực hiện phân loại chất thải trong đó có 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật

sắc nhọn

- Chỉ có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế Hầu hết CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên khó khăn trong việc thiết kế

lối đi riêng để vận chuyển chất thải

- Về phương tiện thu gom CTYT do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các cơ sở

y tế gặp nhiều khó khăn Chính vì thế phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ

sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng

cụ vận chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ

hoặc tại các khu vực bên ngoài được trang bị điều hòa và hệ thống thông gió theo quy định

thành phố năm 2011

Lo ại

S ố lượng điều tra

Xe tay

Thùng

có bánh

tr ữ

Có Không

Trang 26

Lo ại

S ố lượng điều tra

Xe tay

Thùng

có bánh

từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý chôn lấp hầu hết không có trang thiết bị đảm

bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn

Phát sinh ch ất thải y tế nguy hại

Chất thải nguy hại là thành phần quan trọng nhất cần quan tâm trong việc

quản lý CTRYT, do nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc cho con người Lượng phát sinh CTRYTNH không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung vào các tỉnh, thành phố lớn nơi có các hoạt động y tế nhiều và chuyên sâu Xét theo

7 vùng kinh tế trong cả nước (trong đó vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc Bộ được

gộp chung vào 1 vùng), vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng chất thải nguy hại lớn

nhất trong cả nước (32%), với tổng lượng thải là 10.502,8 tấn/năm, tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm 21%) Các tỉnh có mức thải chất thải nguy hại (> 500

Trang 27

tấn/ năm) tính trong cả nước theo thứ tự như sau: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, An Giang, Cần Thơ, Nghệ An, Phú Thọ, Hải Phòng, Long An.[1]

năm 2011

Ngu ồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường Quốc gia

2011 – Ch ất thải rắn, Hà Nội

Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại các thành

phố lớn có tỷ lệ phát sinh CTYT nguy hại cao nhất Trong các bệnh viện thuộc Bộ

Y tế, tổng lượng CTYT nguy hại phát sinh 1 ngày là 5,122 kg, chiếm 16,2% tổng lượng chất thải rắn y tế Trong đó, lượng CTYT nguy hại tính trung bình theo

giường bệnh là 0,25 kg/giường bệnh/ngày

Bệnh viện đa khoa TW kg/ giường bệnh/ ngày 0,35 0,42

Bệnh viện chuyên khoa TW kg/ giường bệnh/ ngày 0,23-0,29 0,28-0,35

Bệnh viện đa khoa tỉnh kg/ giường bệnh/ ngày 0,29 0,35

Bệnh viện chuyên khoa tỉnh kg/ giường bệnh/ ngày 0,17 –0,29 0,21-0,35

Bệnh viện huyện, ngành kg/ giường bệnh/ ngày 0,17-0,22 0,21-0,28

Trang 28

Ngu ồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường Quốc gia 2011 – Ch ất thải rắn, Hà Nội

Như vậy có thể thấy các bệnh viện đa khoa có hệ số phát thải CTRYTNH cao nhất, giảm dần từ Trung ương, tỉnh, huyện Các bệnh viện chuyên khoa do đặc thù nên có lượng CTRYTNH ít hơn

Qua các nghiên cứu của WHO về thành phần CTRYT tại các nước đang phát triển có thể thấy lượng CTRYTNH chiếm 22,5% trong đó phần lớn là CTRYT lây nhiễm Do đó, loại bỏ được tính lây nhiễm của chất thải là mục đích lớn nhất của

việc xử lý chất thải

X ử lý chất thải y tế nguy hại

Theo cá báo cáo trước đây khối lượng CTYT nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm khoảng 68% tổng lượng phát sinh CTYT nguy hại trên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và Hà

Nội đã có xí nghiệp xử lý CTYT nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu hủy CTRYTNH cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTRYTNH của các tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và tiêu hủy với các mức độ khác nhau: một số địa phương như Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho

Cụm bệnh viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho Công ty môi trường đô thị tổ chức

vận hành và thu gom xử lý CTRYTNH cho toàn tỉnh, thành phố

Công tác xử lý CTRYTNH tại 7 vùng trong cả nước:

- Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 236 cơ sở khám chữa

bệnh cấp địa phương trong đó 168 cơ sở có trang bị lò đốt CTRYT (chiếm 50%), số

lò đốt còn hoạt động tốt là 79 lò (chiếm 47%) Có 12/14 tỉnh đã bố trí xử lý chất thải

rắn y tế tại khu xử lý chất thải chung của tỉnh; 47% số cơ sở y tế xử lý tại khu xử lý CTR tập trung Đối với bệnh viện tuyến Trung ương tại Đà Nẵng thì 100% CTYT nguy hại được đưa về lò đốt CTR tại khu xử lý Khánh Sơn

Trang 29

- Vùng Tây Nguyên có 32/74 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trang bị

lò đốt CTRYT (43%), trong đó 23 lò còn hoạt động tốt (chiếm 72%) Với 4/5 tỉnh

đã bố trí xử lý CTRYT tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố 38 cơ sở (chiếm 51%) xử lý tại khu xử lý CTR tập trung

- Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Bộ có 209 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương 93 cơ sở có trang bị lò đốt CTRYT (chiếm trên 45%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 42 lò (chiếm trên 45%) Có 9/15 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTRYT

tại khu xử lý chất thải chung của tỉnh và thành phố Chỉ có 31 cơ sở y tế xử lý tại các khu xử lý CTRYT chung, tương đương gần 15% Một số tỉnh đã có khu vực xử

lý CTRYT chung nhưng rất ít cơ sở vận chuyển đến như Cao Bằng, Bắc Kạn,

Phần lớn CTRYT ở các tỉnh như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La,… được xử

lý tại chỗ không đạt yêu cầu

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 110/164 cơ sở khám bệnh cấp địa phương (chiếm 67%), số lò đốt hoạt động tốt là 64 lò (chiếm 58%) Có 10/13 tỉnh

đã bố trí xử lý CTRYT tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Với 74 cơ

sở (45%) số cơ sở xử lý tại khu xử lý CTR tập trung

- Vùng đồng bằng sông Hồng có 244 cơ sở khám chữa bệnh cấp đại phương trong đó cơ sở có trang bị lò đốt CTRYT (chiếm 40%), số lò đốt còn hoạt động tốt

là 63 lò (chiếm 64%) Đối với các cơ sở y tế chưa được trang bị lò đốt hoặc lò đốt không hoạt động, CTRYTNH được xử lý tập trung tại khu xử lý chất thải chung Có 6/8 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý chất thải rắn y tế tại khu xử lý chất thải rắn chung,

số cơ sở y tế cấp địa phương xử lý tại khu xử lý tập trung chiếm 65% Tại 3 tỉnh

Bắc Ninh, Hà Nam và Vĩnh Phúc 100% CTRYT xử lý phân tán tại các bệnh viện

- Vùng Đông Nam Bộ có 34/100 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương có trang bị lò đốt CTRYT (chiếm 34%), trong đó có 7 lò đốt hoạt động tốt (chiếm 20%)

Tại TP Hồ Chí Minh 100% CTRYTNH được đưa về lò đốt CTR của Thành phố

Hiện nay có hai công nghệ phổ biến trong việc xử lý CTRYT là công nghệ đốt và công nghệ không đốt

Trang 30

 Công ngh ệ đốt: Ưu điểm với nhiệt độ cao thì CTRYTNH được xử lý triệt

để, loại trừ được các mầm bệnh trong các chất thải lây nhiễm, giảm tối đa thể tích chôn lấp sau khi xử lý Tuy nhiên đốt ở nhiệt độ không đủ theo quy định có thể phát sinh khí thải gây ô nhiễm không khí đặc biệt là phát sinh Furan và Dioxin; Công nghệ lò đốt chủ yếu dùng dầu diezen, đòi hỏi phải có hệ thống xử lý khí thải đạt yêu

cầu Do đó chi phí vận hành thường rất cao, yêu cầu nhiều nhân lực

Nhằm quản lý hệ thống lò đốt đảm bảo yêu cầu về môi trường Bộ Khoa học

và Công nghệ cũng đã ban hành các tiêu chuẩn có liên quan đến lò đốt như: TCVN

6560 - 2005: "Khí thải lò đốt CTRYT - Giới hạn cho phép và một số tiêu chuẩn khác về các phương pháp xác định các chất ô nhiễm trong khí thải, thay thế cho các tiêu chuẩn ban hành năm 2004" Tuy nhiên, việc kiểm soát khí thải lò đốt và nhiệt

độ buồng đốt còn gặp nhiều khó khăn do có một số chỉ tiêu hiện nay như đo nồng

độ Dioxin, Furan trong nước vẫn chưa phân tích được, phải gửi mẫu ra nước ngoài với chi phí rất cao (khoảng 2 nghìn USD/mẫu xét nghiệm dioxin) Đây cũng chính

là nguồn phát sinh ra dioxin và thủy ngân nhiều nhất trong các hoạt động dân sự hiện nay

 Công ngh ệ không đốt: Ưu điểm là chi phí đầu tư xây dựng và chi phí vận

hành tương đối thấp Rác thải sau xử lý có thể dùng vào các mục đích tái chế Đặc

biệt công nghệ không đốt không làm phát sinh các khí độc như Furan, Dioxin Nhược điểm không làm giảm đáng kể thể tích chất thải nhưng có thể được giải quyết bằng bộ phận nghiền rác rất hiệu quả, có thể giảm tới 80% thể tích chất thải

Theo các chuyên gia đầu ngành thì việc áp dụng các công nghệ thay thế cho công nghệ đốt ở nước ta là rất cần thiết, phù hợp với xu hướng chung của thế giới, đồng thời thực hiện các cam kết giảm phát thải các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân

hủy, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra các chính sách nhằm khuyến cáo các quốc gia quan tâm đến QLCTYT thông qua tài

liệu "Chính sách quản lý an toàn chất thải y tế"

Cụ thể như:

Trang 31

- QLCTYT không an toàn gây tử vong và tàn tật, gây rủi ro cho sức khỏe con người, đặc biệt lo ngại về việc phơi nhiễm với dioxin và furan từ khí thải lò đốt CTRYT;

- Cần có những quyết định đúng đắn trong QLCTYT; Phù hợp với Chiến lược của WHO (Phát triển các ứng dụng tái chế chất thải ở nơi có thể tái chế được;

- Sử dụng các thiết bị y tế không có chứa chất liệu PVC;

- Khuyến khích sử dụng các thiết bị thay thế cho phương pháp thiêu đốt;

- Phát triển và ứng dụng các công nghệ không đốt để xử lý chất thải rắn y tế;

- Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, chính sách, luật pháp và hướng

dẫn QLCTYT;

- Phân bổ nguồn nhân lực, tài chính cho quản lý an toàn chất thải y tế

Ngu ồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường Quốc gia 2011 –

Ch ất thải rắn, Hà Nội

Trang 32

Hình 1.4 Áp d ụng vi sóng kết hợp hơi bão hòa để xử lý CTRYTNH

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

Hải Dương là 1 trong 11 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng

và là 1 trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Hải Dương nằm trong khu tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và liền kề với các thành phố loại 3 như: Bắc Giang, Thái Bình và các khu công nghiệp lớn như Bắc Ninh, Phố Nối - Hưng Yên Đây là vùng kinh tế năng động của các tỉnh phía Bắc

Nằm ở vị trí thuận lợi, Hải Dương có vai trò quan trọng là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng Trong những năm tới, Hải Dương sẽ trở thành trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại và trở thành một trong các đô thị lớn của vùng Đồng bằng sông Hồng và là tỉnh kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Bắc

Địa lý

Hải Dương có tổng diện tích là 1654,8 km2 Hệ thống sông ngòi khá dày đặc, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và giao thông đường thuỷ

Trang 33

Hình 1.5 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương

Tuy nhiên, nhiều sông ngòi cũng tạo nên sự chia cắt thành nhiều vùng sinh thái khác nhau làm cho việc đi lại không thuận lợi, nhất là vào mùa bão lũ, gây ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh và sức khoẻ của người dân trong tỉnh

Khí hậu

Trang 34

Hải Dương mang đặc điểm chung của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng

ẩm, được chia thành 4 mùa rõ rệt

Kinh tế

Giai đoạn 2007 - 2011, tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh tăng bình quân 12,49% năm, vượt mục tiêu đề ra và cao hơn bình quân chung cả nước, trong đó: Đến năm 2011, giá trị của nông, lâm, thuỷ sản là 23%; công nghiệp và xây dựng 45,6%; dịch vụ 31,4%

Dân số

Năm 2011, dân số tỉnh Hải Dương là 1.718.895 người, chiếm 2,05% dân số

cả nước và 9,46% dân số vùng Đồng bằng sông Hồng Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 1042 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2011 là 9,46‰ Tuổi

thọ trung bình trong toàn tỉnh năm 2007 đạt 73 tuổi

Cơ cấu dân số trẻ, tỷ lệ trong độ tuổi lao động chiếm 62,8% Tỷ lệ giới tính khá ổn định, nam luôn chiếm khoảng 50%, nữ chiếm 50% Dân số chủ yếu ở nông thôn chiếm 78,1% (năm 2011)

Chính sách xã h ội và việc làm

Trong những năm gần đây, cùng với phát triển kinh tế, Hải Dương đã quan tâm

và thực hiện tốt các chính sách xã hội, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện, GDP/người tăng từ 3,7 triệu đồng năm 2001 lên 22,7 triệu đồng năm 2011

Về hệ thống đường bộ: Hải Dương có 9205,96 km đường bộ, trong đó đường

dành cho ô tô chiếm 23,9%, mật độ đường ô tô của Hải Dương cao nhất so với cả nước (0,47km/km2); 06 tuyến đường quốc lộ kết nối Hải Dương với các cực trong tam giác phát triển của cả nước Toàn tỉnh có 13 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài là 253,9 km Hệ thống này đang trong tình trạng cần được cải tạo nâng cấp

Trang 35

Đường sắt: Hải Dương có 3 tuyến đường sắt đi qua, bao gồm tuyến Hà Nội -

Hải Phòng có 44 km qua tỉnh, tuyến Kép - Bãi Cháy có 10 km qua tỉnh và tuyến Bến Tắm - Cổ Thành dài 16 km Hệ thống nhà ga trên các tuyến đã được nâng cấp cải tạo nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ

Đường thuỷ: Hải Dương có nhiều sông lớn chảy qua, thuận lợi trong việc

giao lưu trong, ngoài tỉnh và hệ thống cảng biển quốc gia Toàn tỉnh có 12 tuyến đường sông do Trung ương quản lý dài 300 km, 6 tuyến đường sông do địa phương quản lý dài 119 km Tuy nhiên, các hệ thống bến bãi, các đập chưa được cải tạo, luồng lạch chưa được nạo vét thường xuyên nên hạn chế khả năng lưu thông

Hệ thống cấp và thoát nước

Hải Dương có nguồn nước mặt khá phong phú với hệ thống sông ngòi dày đặc, hồ, đầm, kênh mương phân bố đều trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm cũng khá dồi dào Lượng nước ngầm tại các giếng khoan đạt từ 30 - 50m3/ngày Chất lượng nước tốt, trữ lượng lớn là tiềm năng cung cấp nước ổn định phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh

Thông tin liên lạc

Hệ thống bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc của Hải Dương đã được áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, các mạng nội bộ hiện có đã được nâng cấp với chất lượng dịch vụ khá tốt Trên toàn tỉnh đã có hệ thống máy tính quản lý công tác phát hành báo chí và bưu phẩm Công nghệ thông tin đã được chú trọng phát triển, được

áp dụng trong lĩnh vực quản lý nhà nước Hải Dương đã có 11 mạng thông tin diện rộng, 900 mạng cục bộ liên kết hơn 10.000 máy tính, 800 điểm truy cập Internet với 1.775 máy tính, tại 100% xã, các doanh nghiệp và nhiều hộ gia đình, phục vụ tích cực cho công tác quản lý, điều hành, khai thác thông tin

Tiềm năng du lịch, văn hoá

Hải Dương có hai huyện miền núi phía Đông Bắc là Chí Linh và Kinh Môn với khá nhiều phong cảnh đẹp, có nhiều tiềm năng khai thác và phát triển du lịch

Trang 36

của tỉnh Hải Dương là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh và khu di tích lịch sử văn hoá như: Khu danh lam thắng cảnh Phượng Hoàng - Kỳ Lân, Khu di tích lịch sử Côn Sơn - Kiếp Bạc, nhiều núi đá vôi với những hang động kỳ thú, những làng quê trù phú mang đậm nét văn hoá đặc sắc của làng quê Bắc bộ, các khu miệt vườn vải thiều nổi tiếng

Phong trào xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở phát triển mạnh mẽ, có 41%

số khu dân cư được công nhận “Làng, khu dân cư văn hoá”; trên 79% số làng khu dân cư xây dựng và thực hiện hương ước Hoạt động văn hoá từng bước được xã hội hoá; các thiết chế văn hoá ở cơ sở được xây dựng tăng đáng kể, xây dựng 831 nhà văn hoá thôn, 650 thư viện xã và trường học Công tác đào tạo cán bộ văn hoá thông tin văn học nghệ thuật đạt nhiều kết quả

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục phát triển, 20,5% số dân luyện tập thường xuyên, là 1 trong 10 tỉnh, thành, ngành có phong trào TDTT phát triển mạnh, thành tích thể thao mũi nhọn được giữ vững Cơ sở vật chất cho hoạt động TDTT được tăng cường, công tác xã hội hoá thể dục, thể thao từng bước được quan tâm đẩy mạnh

Tuy nhiên, còn có sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về giáo dục, hưởng thụ văn hoá; điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế, các hoạt động còn nghèo nàn chưa đáp ứng nhu cầu của người dân

Thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với các ngành trong tỉnh, bước đầu ngành y tế Hải Dương đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Thời gian trước ngành y tế Hải Dương gặp không

ít khó khăn với hơn 400 bác sỹ, đạt trên 3 bác sỹ/vạn dân, trình độ chuyên môn thấp, trang thiết bị chuyên môn thiếu thốn, lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh Các trạm y tế hoạt động kém hiệu quả;

Trang 37

nhiều cơ sở y tế tuyến huyện, tuyến xã dột nát; phương tiện làm việc và trang thiết

bị khám chữa bệnh nghèo nàn, đội ngũ cán bộ y tế vừa thiếu lại yếu, gần nửa số trạm y tế chưa có nữ hộ sinh trung học, chỉ có 18 xã có bác sỹ công tác; đầu tư cho

y tế cơ sở ở mức thấp, không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh Trước thực trạng trên, Ngành Y tế Hải Dương đã nhanh chóng ổn định tổ chức, sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo Nghị định 01 của Chính Phủ Đặc biệt xây dựng mô hình trung tâm y tế thống nhất trên toàn tỉnh Bên cạnh đó, ngành còn tiến hành thực hiện quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại có thời hạn chức danh giám đốc, phó giám đốc các trung tâm y tế huyện, thành phố và các đơn vị trực thuộc

Từ năm 2007 - 2013, ngành y tế Hải Dương đã có sự phát triển nhanh Đến nay đã có một mạng lưới y tế rộng khắp từ tỉnh đến xã phường khá hoàn chỉnh, đảm bảo tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Toàn ngành có 41 đơn vị trực thuộc Sở Y tế, trong đó có 16 đơn vị tuyến tỉnh, 13 đơn vị bệnh viện và 12 trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện, thành phố với tổng số 3.797 giường bệnh;

Đội ngũ cán bộ y tế đã được tăng cường về số lượng và trình độ chuyên môn góp phần tăng cường công tác chăm sóc toàn diện cho nhân dân Mặc dù vậy vẫn còn thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung cả nước

Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo các đơn vị y tế có trình độ trên đại học tăng từ 75% năm 2007 lên 88% năm 2012 Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo khoa/phòng có trình độ từ đại học trở lên tăng từ 87% năm 2007 lên là 92% năm 2012

Trang 38

Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ công tác tăng từ 62.36% năm 2007 lên 73,11% năm 2012; 100% trạm y tế có Nữ hộ sinh hoặc Y sỹ Sản nhi; 100% trạm y tế có cán bộ dược tá kiêm nhiệm; 100% trạm y tế có cán bộ khám chữa bệnh bằng y dược học cổ truyền; 100% cán bộ y tế xã phường có trình độ trung cấp trở lên

1.5.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế

Các bệnh viện tuyến tỉnh:

Tổng số có 9 Bệnh viện tuyến tỉnh, giá trị tài sản còn lại là 50.233,583 triệu đồng Các bệnh viện tuyến tỉnh gồm có:

- Bệnh viện đa khoa tỉnh là bệnh viện loại I quy mô 700 giường

- Bệnh viện y học cổ truyền là bệnh viện hạng II, quy mô 200 giường và đang

sử dụng 3.000 m2 nhà cửa trong đó có 1.000 m2 đã xuống cấp cần đầu tư sửa chữa Hiện nay bệnh viện có dự án xây ở địa điểm mới

- Bệnh viện Lao & Bệnh phổi quy mô 150 giường và bệnh viện mới được xây

dựng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu và vốn đối ứng của tỉnh

- Bệnh viện Tâm thần quy mô 150 giường và đang sử dụng 4.000m2nhà cửa

- Bệnh viện Phong Chí Linh quy mô 200 giường với diện tích nhà đang sử

dụng là 2.000 m2 hiện đang được nâng cấp từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu và vốn đối ứng của tỉnh

- Bệnh viện Điều dưỡng & Phục hồi chức năng quy mô 100 giường với

2.500 m2nhà cửa

- Bệnh viện Phụ sản quy mô 200 giường bệnh được tách ra từ Bệnh viện đa

khoa tỉnh năm 2013

- Bệnh viện Nhi quy mô 150 giường bệnh được tách từ khoa Nhi bệnh viện

Đa khoa tỉnh năm 2012

- Bệnh viện Mắt và Da liễu quy mô 50 giường bệnh được thành lập từ Trung

tâm phòng chống các bệnh xã hội

Trang 39

Các Trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh: Trung tâm y tế dự phòng tỉnh,

Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe, Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm được cải tạo, xây

dựng từ nguồn vốn của tỉnh

Các bệnh viện huyện/thành phố:

13 bệnh viện huyện (tuyến 1) đều là bệnh viện đa khoa hạng II & III

Các bệnh viện huyện/thành phố gồm có:

- Bệnh viện đa khoa thành phố Hải Dương

- Bệnh viện đa khoa Gia Lộc

- Bệnh viện đa khoa Tứ Kỳ

- Bệnh viện đa khoa Ninh Giang

- Bệnh viện đa khoa Bình Giang

- Bệnh viện đa khoa Thanh Hà

- Bệnh viện đa khoa Nam Sách

- Bệnh viện đa khoa Kim Thành

- Bệnh viện đa khoa Kinh Môn

- Bệnh viện đa khoa khu vực Nhị Chiểu

- Bệnh viện đa khoa Chí Linh

- Bệnh viện đa khoa Thanh Miện

- Bệnh viện đa khoa Cẩm Giàng

Trung tâm y tế dự phòng huyện, thành phố: 12 Trung tâm y tế dự phòng

huyện và 165 trạm y tế xã phường trực thuộc

Trang 40

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT

Công tác QLCTYT là tổng hợp của các giải pháp khoa học - kỹ thuật, nó liên quan đến nhiều đối tượng và trên phạm vi rộng Do đó để đánh giá đúng hiện trạng của công tác QLCTYT hiện nay cần tính toán đầy đủ các biến cố liên quan Để có thể đánh giá đúng hiện trạng công tác QLCTYT trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tác giả đã tiến hành khảo sát với cỡ mẫu phải có ý nghĩa về mặt thống kê và đặc biệt phương pháp thu thập số liệu cần khách quan hợp lý Cụ thể, tác giả đã tiến hành như sau:

* C ỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu đánh giá thực trạng quản lý CTRYTNH:

Áp dụng thu thập số liệu của 22 bệnh viện tuyến tỉnh, huyện thuộc tỉnh Hải

Dương Cụ thể, tác giả tiến hành điều tra, quan sát và ghi nhận sổ sách các thông tin

liên quan đến:

 Hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển rác thải rắn nguy hại tại 100% các khoa lâm sàng và cận lâm sàng;

 Tình trạng các bãi rác/ nơi lưu giữ rác thải của bệnh viện;

 Hệ thống xử lý rác thải rắn y tế nguy hại của bệnh viện;

 Thu thập số liệu sẵn có về hoạt động xử lý rác thải y tế tại bệnh viện

* C ỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu đánh giá kiến thức, thực hành của NVYT:

- C ỡ mẫu điều tra kiến thức thực hành quản lý chất thải của nhân viên y tế (nhóm đối tượng số 1):

Ngày đăng: 23/05/2015, 17:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Thành ph ầ n ch ấ t th ả i r ắ n y t ế - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 1.1. Thành ph ầ n ch ấ t th ả i r ắ n y t ế (Trang 15)
Hình 1.2. T ỷ  l ệ  % kh ối lượ ng phát sinh ch ấ t th ả i y t ế  nguy h ạ i theo các vùng kinh t ế năm 2011. - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 1.2. T ỷ l ệ % kh ối lượ ng phát sinh ch ấ t th ả i y t ế nguy h ạ i theo các vùng kinh t ế năm 2011 (Trang 27)
Hình 1.3. Tình hình x ử  lý ch ấ t th ả i y t ế  c ủ a h ệ  th ống cơ sở  y t ế  các c ấ p - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 1.3. Tình hình x ử lý ch ấ t th ả i y t ế c ủ a h ệ th ống cơ sở y t ế các c ấ p (Trang 31)
Hình 1.4. Áp d ụ ng vi sóng k ế t h ợp hơi bão hòa để  x ử  lý CTRYTNH. - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 1.4. Áp d ụ ng vi sóng k ế t h ợp hơi bão hòa để x ử lý CTRYTNH (Trang 32)
Hình 1.5 . Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 1.5 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương (Trang 33)
Hình 2.1. Giao di ệ n b ả ng nh ậ p li ệ u trong Epidata - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 2.1. Giao di ệ n b ả ng nh ậ p li ệ u trong Epidata (Trang 48)
Hình 2.2 . Đánh giá số liệu bằng SPSS Data Editor - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 2.2 Đánh giá số liệu bằng SPSS Data Editor (Trang 49)
Bảng 2.1. Tình hình thực hiện quy định về hành chính - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Bảng 2.1. Tình hình thực hiện quy định về hành chính (Trang 50)
Bảng 2. 3.  Lượng CTRYT phát sinh theo bệnh viện (kg/ngày) - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Bảng 2. 3. Lượng CTRYT phát sinh theo bệnh viện (kg/ngày) (Trang 55)
Bảng 2. 4.  Dụng cụ chứa/đựng, vận chuyển chất thải y tế - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Bảng 2. 4. Dụng cụ chứa/đựng, vận chuyển chất thải y tế (Trang 59)
Hình 2.3.  Nơi lưu giữ chất thải tại BVĐK huyện Tứ Kỳ Kết quả điều tra cho thấy (Phụ lục 4) : - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 2.3. Nơi lưu giữ chất thải tại BVĐK huyện Tứ Kỳ Kết quả điều tra cho thấy (Phụ lục 4) : (Trang 62)
Hình 2.4.  Lò đốt rác tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 2.4. Lò đốt rác tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh (Trang 64)
Bảng 2.5 .  Quan trắc môi trường - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Bảng 2.5 Quan trắc môi trường (Trang 65)
Hình 2.5:  Phân bố thâm niên công tác của NVYT tại 22 BV - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 2.5 Phân bố thâm niên công tác của NVYT tại 22 BV (Trang 67)
Hình 2.6:  Phân bố công việc chính của VSV tại 22 Bệnh viện - “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý”
Hình 2.6 Phân bố công việc chính của VSV tại 22 Bệnh viện (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w