1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH

169 430 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước những yêu cầu phát triển mới của tỉnh, để phát huy vai trò của hoạtđộng thương mại trong việc hình thành và mở rộng thị trường cả trong nước vàxuất khẩu cho các ngành sản phẩm có l

Trang 1

MỞ ĐẦU - 5

Phần thứ nhất: ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH - 8

I CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TRỰC TIẾP ĐẾN PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI - 8

1 Vị trí địa lý - 8

2 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên - 8

3 Các yếu tố về con người và nguồn nhân lực -10

4 Sản xuất hàng hoá và du lịch tỉnh Tây Ninh -16

4.1 Sản xuất công nghiệp -16

4.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản - 16

4.3 Du lịch - 16

II ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH - 17

1 Những lợi thế phát triển thương mại của Tây Ninh -17

2 Những hạn chế phát triển thương mại của Tây Ninh -18

Phần thứ hai: ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUI HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH THỜI KỲ 2001-2006 - 20

I CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TÂY NINH THỜI KỲ 2001 -2006 - 20

II HOẠT ĐỘNG NỘI THƯƠNG - 22

1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ (TMBLHH,DV) - 22

2 Các hệ thống phân phối hàng hoá ra, vào tỉnh Tây Ninh - 24

III HOẠT ĐỘNG XUẤT - NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ -27

1 Xuất khẩu - 27

2 Nhập khẩu - 29

3 Thương mại biên giới giữa Tây Ninh và Campuchia - 30

IV THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH - 32

1 Thương mại Nhà nước -33

2 Thương mại ngoài quốc doanh - 33

V THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ, KINH DOANH CỦA NGÀNH THƯƠNG MẠI - 34

VI THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG CỦA NGÀNH THƯƠNG MẠI - 35

1 Lao động thương mại Nhà nước - 35

2 Lao động thương mại ngoài quốc doanh - 35

VII CƠ CẤU NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH - 36

1 Mạng lưới chợ -36

2 Chợ biên giới, cửa khẩu và chợ trong khu kinh tế cửa khẩu - 38

Trang 2

4 Hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu -39

5 Hệ thống kho hàng -40

VIII THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI CỦA TÂY NINH -41

1 Tổ chức bộ máy quản lý -41

2 Công tác quản lý nhà nước về thương mại -41

3 Công tác xúc tiến thương mại -42

4 Công tác chống buôn lậu, kiểm soát (Ban chỉ đạo 127 TN): -42

IX ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC HIỆN QUI HOẠCH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TÂY NINH THỜI KỲ 2001-2006 -43

1 Những thành tựu -43

2 Những hạn chế -46

3 Những tồn tại trong triển khai thực hiện Qui hoạch -47

4 Nguyên nhân -48

Phần thứ ba: DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH THỜI KỲ ĐẾN NĂM 2020 -51

I TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ BÊN TRONG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH -51

1 Qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến 2020 -51

2 Qui hoạch xây dựng vùng thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2020 và tầm nhìn đến 2050 -53

3 Cạnh tranh và hợp tác kinh tế của Tây Ninh với các địa phương khác trong cả nước và cả vùng -54

II TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ BÊN NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TÂY NINH -56

1 Bối cảnh quốc tế -56

2 Tác động của xu thế phát triển ngành thương mại cả nước, của vùng đối với phát triển ngành thương mại của tỉnh -59

III DỰ BÁO CÁC CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020 -67

1 Dự báo thu nhập và quỹ mua dân cư -67

1.1 Dự báo về dân số, hộ gia đình -67

1.2 Dự báo thu nhập và quỹ mua dân cư -67

2 Dự báo nhu cầu tiêu dùng một số mặt hàng chủ yếu -68

3 Dự báo tổng mức và cơ cấu lưu chuyển hàng hoá -69

3.1 Dự báo tổng mức và cơ cấu bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội -69

3.2 Dự báo lưu chuyển hàng hoá bán buôn -70

4 Dự báo kim ngạch và mặt hàng xuất nhập khẩu -70

4.1 Dự báo kim ngạch và mặt hàng xuất khẩu -70

Trang 3

5 Dự báo chỉ tiêu GDP thương mại - 72

Phần thứ tư: QUI HOẠCH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH ĐẾN NĂM 2020 - 74

I QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠN G MẠI TỈNH TÂY NINH THỜI KỲ ĐẾN NĂM 2020 - 74

1 Quan điểm phát triển -74

2 Những mục tiêu phát triển thương mại chủ yếu -77

2.1 Mục tiêu - 77

2.2 Các phương án phát triển -78

3 Các định hướng phát triển n gành thương mại Tây Ninh - 80

3.1 Định hướng phát triển cấu trúc các hệ thống thị trường hàng hoá của tỉnh Tây Ninh - 80

3.2 Định hướng phát triển các hệ thống phân phối hàng hoá lớn, hiện đại và truyền thống - 83

3.3 Định hướng phát triển doanh nghiệp thương mại của các thành phần kinh tế -84

3.4 Định hướng phát triển dịch vụ phụ trợ liên quan đến phân phối hàng hoá -86

3.5 Định hướng phân bố cơ cấu bán buôn và bán lẻ của ngành thương mại trên địa bàn tỉn h 87

3.6 Định hướng phát triển kinh doanh xuất - nhập khẩu Tây Ninh - 93

3.7 Định hướng phát triển các thành phần kinh tế tham gia h oạt động thương mại trên địa bàn Tây Ninh - 96

II QUI HOẠCH NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH ĐẾN NĂM 2020 -97

1 Qui hoạch phát triển thương mại theo không gian thị trường - 97

2 Qui hoạch phát triển thương mại theo các thành phần kinh tế - 105

3 Qui hoạch các loại hình thương mại chủ yếu trên địa bàn tỉnh - 106

3.1 Qui hoạch phát triển mạng lưới chợ - 107

3.2 Qui hoạch phát triển trung tâm thương mại - 113

3.3 Qui hoạch phát triển mạng lưới siêu thị - 115

3.4 Qui hoạch phát triển các khu thương mại – dịch vụ tập trung - 116

3.5 Qui hoạch phát triển hệ thống kho tàng gắn với các bến bãi bên sông Vàm Cỏ Đông - 120

III TỔNG HỢP VỐN ĐẦU TƯ, NHU CẦU SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VÀ LỰA CHỌN ĐẦU TƯ - 122

1 Tổng hợp vốn đầu tư các công trình thương mại - 122

2 Tổng hợp nhu cầu sử dụng đất phát triển thương mại - 123

3 Lựa chọn thứ tự ưu tiên đầu tư - 123

Phần thứ năm: GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUI HOẠCH - 124

I GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUI HOẠCH - 125

1 Chính sách và cơ chế khuyến khích phát triển thương mại của Tây Ninh - 125

1.1 Chính sách và cơ chế khuyến khích phát triển xuất khẩu - 125

1.2 Chính sách và biện pháp khuyến khích phát triển các loại hình tổ chức thương mại truyền thống và hiện đại - 127

Trang 4

2 Giải pháp thu hút vốn phát triển thương mại - 134

2.1 Giải pháp thu hút vốn trong nước - 134 2.2 Giải pháp thu hút vốn nước ngoài - 139 2.3 Chính sách của tỉnh nhằm hỗ trợ và thu hút vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại - 140

3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực thương mại - 142

3.1 Khuyến khích thu hút các nhà quản trị kinh doanh trong và ngoài nước vào ngành

thương

mại -3.2 Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong ngành thương mại Tây Ninh Error! Bookmark not defined.

4 Đổi mới phương thức và tăng cường năng lực quản lý nhà nước đối với thương mại trên địa bàn tỉnh - 144

5 Đẩy mạnh quá trình liên kết giữa thị trường Tây Ninh với các thị trường trong và ngoài nước - 145

5.1 Giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả liên kết giữa thị trường Tây Ninh với thị trường các địa phương khác trong nước - 145 5.2 Giải pháp thúc đẩy liên kết giữa thị trường Tây Nin h với các thị trường ngoài nước có

tính chiến lược - 148

6 Giải pháp bảo vệ môi trường đối với hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh 149

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUI HOẠCH - 150 KẾT LUẬN - 155

PHỤ LỤC KÈM THEO :

PHỤ LỤC 1: THỰC TRẠNG VÀ QUI HOẠCH MẠNG LƯỚI CHỢ

PHỤ LỤC 2: THỰC TRẠNG VÀ QUI HOẠCH MẠNG LƯỚI SIÊU THỊ TỈNH TÂY NINH

PHỤ LỤC 3: THỰC TRẠNG VÀ QUI HOẠCH MẠNG LƯỚI TRUNG TÂM THƯƠ NG MẠI TỈNH TÂY NINH

PHỤ LỤC 4: THỰC TRẠNG VÀ QUI HOẠCH MẠNG LƯỚI KHU T M-DV TẬP TRUNG

PHỤ LỤC 5: QUI HOẠCH HỆ THỐNG KHO TÀNG, BẾN BÃI VEN SÔNG

Trang 5

Mặt khác, có rất nhiều yếu tố mới đang và sẽ tác động đến sự phát triển củathương mại cả nước và của tỉnh Tr ước hết, tiến trình hội nhập kinh tế với khu vực

và thế giới của đất nước đặt ra những cơ hội cũng như thách thức cho sự phát triểncủa ngành thương mại, đòi hỏi định hướng phát triển thương mại một mặt phải tậptrung được mọi nỗ lực cho việc khai thác lợi ích thương mại từ những cơ hội này,mặt khác giảm thiểu được các chi phí để vượt qua thách thức

Nhiều văn bản pháp lý của trung ương, của tỉnh về công tác quy hoạch vàphát triển thương mại, Qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020cũng đòi hỏi cần phải nâng cao hơn nữa vai trò của ngành thương mại đối với sựphát triển sản xuất, tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Những tác động từ bên ngoài cũngnhư sự mở rộng về không gian và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnhtrong giai đoạn tới đặt ra những yêu cầu phát triển mới về số lượng, chất lượng củahoạt động thương mại cũng như về cơ cấu, qui mô, phương thức kinh doanh, trình

độ tổ chức và phân bố hài hòa, trật tự của các loại hình tổ chức thương mại, của các

hệ thống phân phối hàng hoá, của các không gian thị trường và kết cấu hạ tầng củangành thương mại

Trước những yêu cầu phát triển mới của tỉnh, để phát huy vai trò của hoạtđộng thương mại trong việc hình thành và mở rộng thị trường cả trong nước vàxuất khẩu cho các ngành sản phẩm có lợi thế, để định hướng sản xuất thích ứngnhanh với những thay đổi của nhu cầu thị trường, để phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùngcủa tỉnh, đặc biệt là hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại của tỉnh phát triển các hệthống phân phối hàng hoá văn minh, hiện đại đủ sức cạnh tranh quốc tế khi thờihạn mở cửa thị trường dịch vụ phân phối đã đến, đòi hỏi phải điều chỉnh, bổ sungQui hoạch phát triển ngành thương mại của tỉnh với tầm nhìn đến năm 2020, trên

cơ sở phát huy các lợi thế phát triển, thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc

tế và phù hợp với các mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trongthời kỳ này

Mục tiêu của quy hoạch

Từ phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế theo xu thế hội nhập tác động đếnngành thương mại; phân tích đánh giá các nguồn lực; phân tích thực trạng pháttriển ngành thương mại những năm qua để xác định các quan điểm, mục tiêu phát

Trang 6

triển, các bước đi thích hợp, các dự án quan trọng của ngành thương mại trongnhững năm tới một cách khoa học, tiên tiến và mang tính khả thi cao.

Những căn cứ để điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển ngành thương mại tỉnh Tây Ninh đến năm 2020

- Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh

- Quy hoạch tổng thể KT – XH tỉnh Tây Ninh đến năm 2020

- Các quy hoạch phát triển các ngành kinh tế - kỹ thuật, các ngành kết cấu hạtầng kinh tế, xã hội của tỉnh Tây Ninh đến năm 2010 và 2020 đã được phê duyệt

- Các Văn bản của Đảng và Nhà nước, Chính phủ về phát triển thương mại của

cả nước, vùng kinh tế Đông Nam Bộ, vùng kinh tế t rọng điểm phía nam

- Các bản chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại của cả nước, của vùng

- Các tài liệu khác có liên quan đến ngành thương mại của tỉnh

Các yêu cầu đối với quy hoạch

- Được xây dựng có căn cứ khoa học, tránh chủ quan duy ý chí; qui hoạch phảithể hiện được tính cân đối và tính hiệu quả trong phát triển;

- Phù hợp với qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH Tỉnh đến năm 2020;

- Phải có tầm nhìn dài hạn phù hợp với đặc điểm phát triển của ngành thươngmại, đồng thời phải có bước đi cụ thể từng giai đoạn;

- Phải được phối hợp liên ngành với các ngành có liên quan, xác định đượcmối tương hỗ, tránh chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành

Các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ngành thương mại tỉnh trong nhữngnăm qua

- Phân tích, dự báo tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước và các yếu tốphát triển khác đối với quá trình phát triển ngành thương mại Tỉnh

- Luận chứng các phương hướng phát triển ngành thương mại đến năm 2020

- Các giải pháp thực hiện

Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: được sử dụng trong phần đánh giá nguồn lực pháttriển và phân tích hiện trạng Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác độngđến phát triển ngành Dựa vào các số liệu thống kê để phân tích, rút ra những quiluật phát triển

- Phương pháp so sánh: được sử dụng trong tất cả các khâu của việc lập quihoạch Yêu cầu chung là phải so sánh, đối sánh trong việc đánh giá vai trò củangành đối với ngành tương tự trên thế giới và các ngành khác trong nền k inh tếtheo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Cụ thể là: (i) Các chỉ tiêu đánh giá cần phải được so

Trang 7

(ii) Phải có so sánh với các nước trên thế giới (đặc biệt với các nước có điều kiệntương tự) về sự phát triển của ngành.

- Phương pháp lựa chọn phương án tốt nhất: Cần sử dụng các phương phápđịnh lượng, kinh tế lượng, phương pháp mô hình toán học, để đưa ra phương án

có tính thuyết phục cao

Nội dung dự án: gồm 5 phần lớn:

Phần thứ nhất: Đánh giá các điều kiện, yếu tố phát triển ngành thương mại tỉnh

Tây Ninh

Phần thứ hai: Đánh giá việc thực hiện qui hoạch phát triển ngành thương mại tỉnh

Tây Ninh thời kỳ 2001-2006

Phần thứ ba: Dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại tỉnh Tây

Ninh thời kỳ đến năm 2020

Phần thứ tư: Qui hoạch phát triển thương mại tỉnh Tây Ninh đến 2020

Phần thứ năm: Giải pháp và tổ chức thực hiện qui hoạch

Trang 8

Phần thứ nhất:

ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG

MẠI TỈNH TÂY NINH

I CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TRỰC TIẾP ĐẾN PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI

1 Vị trí địa lý

Tây Ninh là tỉnh nằm trong vùng Đông Nam Bộ, phía Đông giáp tỉnh BìnhDương và Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An,Phía Tây và Bắc giáp ba tỉnh Svayriêng, Prayveng và Kompong Chàm của Vươngquốc Campuchia Tây Ninh có đường biên giới chung hai nước Việt Nam -Campuchia dài 240 km, với 02 cửa khẩu quốc tế (Mộc Bài, Xa Mát); 12 cặp cửakhẩu phụ đã được chính quyền của hai địa phương giáp biên thoả thuận ký kết,trong đó 04 cửa khẩu Kà Tum, Tống Lê Chân, Chàng Riệc, Phước Tân đã được UBliên hợp về biên giới Việt Nam – Campuchia thống nhất từ năm 2002 trình lênChính Phủ để trở thành các cửa khẩu chính

Với địa thế nằm trong vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phíaNam, nơi có kinh tế phát triển nhất của cả nước, đồng thời nằm giữa thành phố HồChí Minh (trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất nước ta) và thủ đô Phnôm pênh(trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất của Campuchia) là điều kiện thuận lợi đểTây Ninh có thể phát triển kinh tế

Khi hệ thống giao thông xuyên Á (trong đó có phần đi qua địa bàn tỉnh dài 28km), hệ thống các quốc lộ 14 và 14C hoàn thành, Tây Ninh sẽ là giao điểm quantrọng giữa hệ thống đường quốc tế và đường quốc gia ở phía Na m nên có nhiềuđiều kiện thuận lợi giao thương quốc tế và với các tỉnh trong vùng, với vùng TâyNguyên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là những vùng có nhiều tiềm năng pháttriển

Ngoài ra, là tỉnh vùng biên và có đường biên giới dài, Tây Ninh có vai trò rấtquan trọng trong việc giữ gìn an ninh quốc phòng, góp phần ổn định chính trị, trật

tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế không những cho riêng tỉnh Tây Ninh mà cho

cả vùng và cả nước

Vị trí địa lý như trên là lợi thế rất lớn cho sự phát triển ngành thương mại tỉnhTây Ninh

2 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 4.035,4 km2 Địa hình Tây Ninh nghiêngtheo hướng Đông Bắc – Tây Nam:

– Phía Bắc có độ cao trung bình từ 10-15m Đặc biệt, cách thị xã Tây Ninhgần 10km có núi Bà Đen cao 986m là ngọn núi duy nhất nằm trong địa bàn củatỉnh;

Trang 9

Nhìn chung, Tây Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng rất thuận lợi pháttriển nông nghiệp, công nghiệp và cơ sở hạ tầng.

Tây Ninh có tài nguyên đất phong phú với các nhóm khác nhau như đất xámchiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 86,3% diện tích tự nhiên, phân bố đều khắp nhưngtập trung chủ yếu ở phía Bắc của tỉnh; đất phèn có khoảng 25.359 ha, chiếm 6,3%diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ven sông Vàm Cỏ Đông; đất đỏ vàng chiếm

tỷ trọng không lớn, khoảng 1,7% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện TânBiên, Hoà Thành, Thị Xã; đất phù sa do bồi tích của các con sông ở Tây Ninh códiện tích chỉ chiếm 0,44% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Trảng Bàng,Dương Minh Châu, Châu Thành và Gò Dầu Đất phù xa thích hợp trồng các loạilúa nước và rau màu; đất than bùn chôn vùi có diện tích rất ít, chiếm 0,26% diệntích tự nhiên, nằm xen trong các vùng đất phèn, m en theo hạ lưu trũng sông Vàm

Cỏ Đông, ở các huyện Châu Thành, Gò Dầu và Bến Cầu Hiện nay, có một số nơikhai thác than bùn để sử dụng, phần còn lại có thể trồng lúa và các loại hoa màukhác

Khí hậu ở Tây Ninh tương đối ôn hoà, được chia ra làm hai mùa r õ rệt, mùamưa và mùa nắng Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa nắng bắt đầu

từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Cùng với chế độ bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và

ổn định thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng, đặc biệt là các loại cây côngnghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi gia súc, gia cầm Mặt khác, TâyNinh ít chịu ảnh hưởng của bão và những yếu tố bất lợi khác

Bên cạnh những thuận lợi, một số hạn chế chủ yếu của khí hậu ở đây là sựbiến động và phân hoá rõ rệt của các yếu tố theo mùa Sự tương phản giữa mùanắng và mùa mưa, về chế độ mưa, chế độ gió và chế độ ẩm ít nhiều gây cản trở chophát triển sản xuất và đời sống

Nguồn nước mặt ở Tây Ninh phụ thuộc chủ yếu vào chế độ hoạt động của haicon sông lớn chảy qua là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông Cùng với hai consông chính, Tây Ninh có nhiều suối, kênh rạch, tạo ra một mạng lưới thuỷ văn phân

bố tương đối đồng đều trên địa bàn Tuy nhiên, mật độ sông rạch ở Tây Ninh tươngđối thưa, chỉ đạt 0,314 km/km2

Khoáng sản

Khoáng sản ở Tây Ninh không nhiều Ngoại trừ đá vôi có trữ lượng tương đốilớn, khoáng sản ở Tây Ninh chủ yếu thuộc nhóm phi kim như: than bùn, kaolin, cátxây dựng, đá xây dựng, cuội sỏi thạch anh, sét gạch ngói và laterit Tuy nhiên, phầnlớn các mỏ đều có trữ lượng nhỏ

Ngoài ra, Tây Ninh còn có nguồn nước khoáng thiên nhiên ở huyện ChâuThành (xã Ninh Điền) và huyện Trảng Bàng

Tài nguyên rừng

Rừng tự nhiên Tây Ninh thuộc hệ sinh thái rừng dày, bán ẩm, sự đa dạng sinhhọc đặc trưng cho vùng rừng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng

Trang 10

bằng sông Cửu Long Động vật dưới tán rừng ở Tây Ninh có khá nhiều loài quýhiếm như: chồn dơi, cu ly, khỉ, voọc, sóc, nhiều loại chim quý hiếm

Diện tích đất lâm nghiệp có tăng lên nhưng không nhiều, năm 2000 có khoảng52.828 ha và đến năm 2005 tăng lên 69.785 ha chỉ chiếm khoảng 17,3% diện tíchđất tự nhiên

Tài nguyên du lịch

Tây Ninh cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100 km, cách thủ đôPhnôm-pênh, nơi có nhiều cảnh quan du lịch nổi tiếng của nước bạn Campuchia,khoảng 200 km, có đường Xuyên Á thông thương giữa hai nước thuận tiện Đây làđiều kiện để Tây Ninh có thể hình thành các tuyến du lịch trong nước và quốc tế vàphát triển thương mại hai chiều

Tây Ninh có cảnh quan thiên nhiên thuận lợi cho phát triển du lịch sin h tháinhư khu rừng nguyên sinh phía Bắc, khu vực sinh thái lòng hồ Dầu Tiếng, khu vựcsinh thái dọc sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn Quần thể Di tích lịch sử cách mạngmiền Nam như Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Chính phủ cách mạng miềnNam Việt Nam, Căn cứ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ban Anninh Miền Tây Ninh cũng có các di tích văn hoá của các tôn giáo có kiến trúc đặcthù như Toà thánh Cao Đài Tây Ninh đã được xếp hạng di tích văn hoá quốc gia;Khu du lịch núi Bà Đen hàng năm thu hút hơn 1,5 triệu khách đến tham quan (vàonhững ngày lễ đầu năm, Núi Bà Đen thu hút hơn 1,1 triệu lượt khách) Ngành dulịch Tây Ninh đang xây dựng hạ tầng cơ sở cho du lịch như : Khu du lịch Núi BàĐen, Khu du lịch Ma Thiên Lãnh, Hồ Dầu Tiếng Tây Ninh nhằm tăng cường côngtác quảng bá xúc tiến, kêu gọi đầu tư vào các khu du lịch trọng điểm

Các làng nghề cũng có giá trị rất lớn trong hoạt động du lịch Hiện nay TâyNinh có 23 làng nghề, giải quyết việc làm cho hơn chục ngàn lao động địa phương,trong đó có một số làng nghề, sản phẩm có truyền thống phát triển lâu đời quanhiều thế hệ như: làng rèn nông cụ cầm tay; bánh tráng phơi sương; nghề làmgiường, ghế mây, tre, trúc (huyện Trảng Bàng); se nhang, chằm nón, đúc gang,nhôm, nghề mộc gia dụng (huyện Hòa Thành) Sản phẩm được tiêu thụ ở các tỉnhmiền Tây và xuất khẩu Những tiềm năng trên đây là một thế mạnh của Tây Ninhcần được khai thác, kết hợp đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp du lịch tổnghợp

3 Các yếu tố về con người và nguồn nhân lực

Dân số Tây Ninh năm 2007 có khoảng 1.053,278 nghìn người, tăng bình quân1,2% trong giai đoạn 2001-2007, thấp hơn tốc độ tăng trung bình của cả nước(1,55%)

- Mật độ dân số 261 người/km2, dân số thành thị là 180.693 người, tỷ lệ đô thịhoá 17,2% Đó là những yếu tố tạo nên nhu cầu sử dụng dịch vụ để phát triểnngành thương mại Tuy nhiên, phân bố dân cư giữa đô thị và nông thôn hoặc giữacác huyện có chênh lệch khá lớn Về mật độ dân số, trong khi ở thị xã Tây Ninh -một khu trung tâm thương mại của tỉnh, có mật độ 904, 31 người/km2, hay ở huyện

Trang 11

và Tân Châu chỉ có 97,8 người/k m2 Về qui mô thì huyện có số dân đông nhất làhuyện Trảng Bàng chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh, huyện có số dân ít nhất là huyệnBến Cầu chỉ chiếm khoảng 6% Điều đó gây khó khăn cho việc phân bố cơ cấu củangành thương mại.

Di dân cơ học trong những năm vừa qua không gia tăng nhiều, chủ yếu là tăng

tự nhiên Tuy nhiên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hằng năm của Tây Ninh giảm dầntrong những năm gần đây (tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2001 là 1,6%; 20051,28%; 2007: 1,13%) Bên cạnh yếu tố tích cực của việc gia tăng dân số là bổ sungthêm lực lượng lao động vào ngành thương mại, tăng thêm cầu sử dụng dịch vụ củangành thương mại, thì sức ép về việc bố trí địa điểm, diện tích kinh doanh ở cáccông trình thương mại cũng tăng lên

- Cơ cấu dân số: Tây Ninh là tỉnh nông nghiệp, dân số phân bố chủ yếu ở vùngnông thôn, tỷ lệ dân số đô thị khá thấp, chỉ chiếm 17,2% tổng số dân toàn tỉnh, tốc

độ tăng giai đoạn 2001 - 2007 là 5,3%/năm trong khi dân số nông thôn chiếm tới82,8% tổng số dân toàn tỉnh và tốc độ tăng là 0,48%/năm trong cùng kỳ Tỷ lệ dânthành thị thấp hơn nhiều so với tỷ lệ bình quân của vùng HCM (>50%) và cả nước(27,4% năm 2007) điều đó chứng tỏ mức độ đô thị hoá ở Tây Ninh còn rất thấp

Bảng 1: Dân số Tây Ninh giai đoạn 2001-2007

Nguồn: Niên giám thống kê Tây Ninh 2007.

Nhìn chung, qua qui mô và tỉ trọng dân số nông thôn của Tây Ninh đã phảnánh phần nào tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế của Tây Ninh hiện nay vẫnchủ yếu là kinh tế nông nghiệp và nông thôn

Lao động

Số người trong độ tuổi lao động của Tây Ninh năm 2007 là 833.123 người,chiếm 79% tổng dân số, tăng 4,1% so với năm 2005, tăng nhanh hơn so với nhịp độtăng dân số

Trong đó lao động hoạt động kinh tế thường xuyên chiếm 73,6% số lao độngtrong độ tuổi Cơ cấu lao động đang có sự dịch chuyển sang khu vực công nghiệp

và dịch vụ Số liệu có được đế n năm 2005 lao động nông nghiệp chiếm 53%, laođộng công nghiệp và xây dựng chiếm 18%, lao động khu vực dịch vụ chiếm 29%.Thời gian qua xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động là đúng hướng và tích cực

Trang 12

Lực lượng lao động không hoạt động kinh tế thường xuyên gồm những ngườiđang đi học, nội trợ, không có khả năng làm việc có khoảng 219,6 ngàn người(năm 2007) Trong đó, số người đang đi học chiếm khoảng 20,7%, đây là nguồnlao động tiềm năng của Tây Ninh trong tương lai Số người nội trợ chiếm tới 36,0%lực lượng lao động không hoạt động kinh tế và số người không có khả năng laođộng chiếm 39,8%, số liệu này ở các tỉnh khác trong vùng ở dưới 30%.

Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệpgiảm đi đáng kể Mặc dù vậy, trong tương lai, hàng năm lực lượng này sẽ tăng khi

số người bước vào tuổi lao động lớn hơn số người ra khỏi tuổi lao động (do cơ cấudân số trẻ) Hơn nữa, hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng vàoviệc nâng cao hiệu quả lao động thì số lao động v à thời gian nông nhàn sẽ ngày mộttăng Việc làm cho lao động dư thừa sẽ trở thành vấn đề lớn nếu không có sự pháttriển kinh tế – xã hội hợp lý Phát triển sản xuất tạo thêm việc làm cho cả lao độnggia tăng, dôi dư và lao động nông nhàn đang là vấn đề đặ t ra đối với tỉnh trong thờigian tới

Nếu tính riêng số lao động bình quân trong khu vực nhà nước thì số lao động

có xu hướng giảm dần, năm 2007 giảm xuống so với năm 2005 (giảm 5,6%) Về cơcấu lao động, theo số liệu thống kê về số lao động bình quân trong khu vực nhànước trong các lĩnh vực kinh tế của năm 2007 so với 2005 thì lao động ngànhthương nghiệp có tỷ lệ tăng nhanh nhất (4,3%), các ngành khác như công nghiệpsản xuất và phân phối điện, nông lâm nghiệp tăng không đáng kể, trong khi laođộng trong các ngành khác giảm rất mạnh như ngành ngành xây dựng (giảm mạnhnhất với tỷ lệ 31%), tiếp đến là ngành công nghiệp chế biến và khách sạn, nhà hàng(28%), công nghiệp khai thác mỏ (26%)

Như vậy, có thể thấy rằng, thực trạng cơ cấu lao động trong chừng mực nào đó

đã phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế trong tỉnh Tuy nhiên, sựchuyển biến đó chưa thực sự mạnh mẽ Hơn nữa, sự gia tăng của lực lượng laođộng trong tỉnh đang và sẽ tạo nên áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm phinông nghiệp

Bảng 2: Lao động bình quân trong khu vực nhà nước và cơ cấu lao động

theo ngành nghề trên địa bàn Tây Ninh

Trang 13

Yếu tố đó vừa thuận lợi cho việc thu hút lao động vào ngành thương mại, vừatạo điều kiện thuận lợi để thực hiện chuyên nghiệp hoá và hiện đại hoá của ngànhthương mại Tuy nhiên, tỷ trọng lao động chưa qua đào tạo, không có chuyên môn

kỹ thuật còn cao, đặc biệt là ở khu vực nông thôn Hiện tượng t hiếu chuyên gia đầuđàn, các nhà quản lý cấp cao… đang là những yếu tố gây trở ngại cho phát triểncủa ngành thương mại

Chất lượng lao động

Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động ở Tây Ninh nhìn chung thấp hơn

so với các tỉnh trong vùng Lao động qua đào tạo nghề năm 2005 đạt 23,12% tổng

số lao động đang hoạt động kinh tế thường xuyên, trong đó lao động có trình độ đạihọc, cao đẳng chiếm 2,56%, trung học chuyên nghiệp chiếm 3,34%, công nhân kỹthuật có bằng và không có bằng chiếm 17,22%

Nhìn chung, chất lượng lao động và áp lực việc làm ngày càng gia tăng trongnhững năm tới là hạn chế và thách thức đáng kể đối với sự phát triển kinh tế - xãhội toàn tỉnh

Giáo dục, đào tạo và y tế

Công tác giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khỏe Số học sinh đến trường ngàymột tăng, chất lượng giáo dục ngày được nâng cao Đến năm 2005, toàn tỉnh có74/95 xã, phường và thị trấn được công nhận đạt chuẩn quốc gia phổ cập trung học

cơ sở, chiếm 77,89%; 69 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, chiếm72,6% tổng số xã, phường, thị trấn

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đã giảm từ 32% năm 2000 xuốngcòn 23,7% năm 2005

Mức sống, nhu cầu tiêu dùng

Mức sống dân cư mặc dù chưa cao nhưng ngày càng được cải thiện: thu nhậpbình quân đầu người từ 2,4 triệu đồng (năm 1995) lên 4,1 triệu đồng (năm 2000),

và đạt 9,6 triệu đồng năm 2005 Tỷ lệ hộ gia đình xếp loại nghèo (chuẩn cũ) ngàycàng giảm từ 8,05% năm 2000 xuống còn 2,2% năm 2005

Nhìn chung, chất lượng mức sống dân cư ngày càng được cải thiện, đó vừa làmục tiêu vừa là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quy hoạch kinh tế – xã hộicủa tỉnh đến năm 2020

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người giai đoạn 2001 -2007 của TâyNinh là 16,3%, cao hơn so với của cả nước là 6,2% Nếu nhìn vào mức GDP bìnhquân đầu người thì năm 2007 GDP bình quân đầu người của Tây Ninh là 14,2 triệuđồng, chỉ cao hơn chút ít so với GDP bình quân đầu người của cả nước là 13,4 triệuđồng (giá thực tế) Điều này trên phương diện thị trường phản ảnh quy mô còn hạnchế và nhu cầu có khả năng thanh toán trên thị trường Tây Ninh chưa cao hơn hẳn

so với mặt bằng chung của cả nước Đồng thời chưa phát huy sức kích thích mạnh

mẽ các nguồn cung ứng trên thị trường Tây Ninh và từ các nơi khác chuyển về

Trang 14

Quĩ mua dân cư

Căn cứ vào mức thu nhập bì nh quân đầu người như hiện nay của Tây Ninh và

số nhân khẩu bình quân toàn tỉnh có thể thấy xu hướng tăng trưởng thu nhập củacác nhóm dân cư trong giai đoạn từ 2001 đến 2007 Tuy nhiên, để có thể so sánhvới xu hướng tăng trưởng chung về thu nhập của cả n ước và của vùng Đông Nam

Bộ thì có thể dựa vào kết quả số liệu điều tra mức sống trên địa bàn cả nước củaTổng cục thống kê năm 2002 (đây là năm Tổng cục Thống kê tiến hành cuộc điềutra mức sống các hộ gia đình cả nước trên diện rộng) thì mức thu nhập bìn h quânđầu người một tháng của Tây Ninh là 329,91 ngàn đồng (chỉ bằng 53,2% của vùngĐông Nam Bộ và 92,7% của cả nước), đến năm 2005, thu nhập bình quân đầungười một tháng tăng lên 800 ngàn đồng Tuy nhiên, nếu so sánh thu nhập bìnhquân đầu người của Tây Ninh với thu nhập bình quân đầu người của vùng ĐôngNam Bộ và cả nước năm 2006 và 2007 thì có thể nhận thấy thu nhập bình quân đầungười của Tây Ninh đã bắt kịp tăng trưởng của cả nước, nhưng chưa bắt kịp với tốc

độ của vùng Đông Nam Bộ

Bên cạnh đó, mặc dù tốc độ tăng GDP bình quân và thu nhập bình quân đầungười của Tây Ninh là khá nhanh trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2007,nhưng về mức thu nhập vẫn chỉ ở mức tương đương với của cả nước Do đó tỷ lệthu nhập có thể tiết kiệm được của dân cư Tây Nin h vẫn chiếm khá thấp dẫn đến tỷ

lệ dành cho tiêu dùng chiếm khá lớn trong tổng thu nhập Bên cạnh đó, về cơ cấudân cư của Tây Ninh, năm 2000 tỷ lệ dân cư nông thôn chiếm tới 86,5%, dân sốthành thị chỉ chiếm 13,5%, đến năm 2007, các tỷ lệ này lần lượt là 83% và 17%,điều này cho thấy quá trình đô thị hoá ở Tây Ninh diễn biến rất chậm (tỷ lệ dân sốthành thị của cả nước là 27,4% năm 2007) Mặt khác, thu nhập bình quân đầungười từ các hoạt động nông, lâm nghiệp, thuỷ sản ở địa bàn này tuy đã thấp hơnmột chút so với cả nước (tỷ lệ này năm 2004 của Tây Ninh là 25,7%, của cả nước

là 27,2%), nhưng nếu so với cả vùng Đông Nam Bộ thì chỉ tiêu này của Tây Ninhcòn cao hơn rất nhiều (của cả vùng là 11,6%) Điều đó đồng nghĩa với tỷ lệ thunhập chung của dân cư Tây Ninh bằng hiện vật phục vụ trực tiếp cho tiêu dùng khácao Vì vậy, tỷ lệ thu nhập bằng tiền chi cho mua sắm hàng hoá của dân cư sẽ thấphơn so với tỷ lệ thu nhập chung dành để tiêu dùng cho đời sống

Nếu lấy phần chi tiêu bình quân đầu người theo mục đíc h chi và nguồn hìnhthành thì có thể loại trừ phần tự túc từ kinh tế hộ gia đình (đối với vùng Đông Nam

Bộ, phần tự túc chiếm khoảng 2,8% trong tổng chi tiêu), phần còn lại có được từviệc mua và đổi các loại hàng hoá cho nhu cầu ăn uống và các mục đích kh ác thì cóthể tính được quĩ mua của Tây Ninh năm 2002 là 70,5%, năm 2005 là 71,2% vànăm 2007 là 73,6% tổng thu nhập một tháng của dân cư trên địa bàn tỉnh

Trang 15

Bảng 3: Thu nhập và quĩ mua dân cư Tây Ninh

Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002 và 2004 - Tổng Cục Thống kê; Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh và cả nước năm 2007

Trình độ tiêu dùng

Với mức thu nhập bình quân đầu người như hiện nay của Tây Ninh thì rõ ràngnhu cầu có khả năng thanh toán bằng tiền mặt cho các hoạt động tiêu dùng là khônglớn so với mặt bằng chung của vùng Đông Nam Bộ và của cả nước Nếu lấy số liệunăm 2004 về điều tra mức sống dân cư và hộ gia đình của Tổng cục Thống kê để cóđược số liệu một cách đầy đủ và so sánh về mức chi tiêu hàng tháng của Tây Ninh

so với cả vùng Đông Nam Bộ thì thấy được phần chi tiêu cho đời sống của TâyNinh thấp hơn nhiều so với cả vùng, chỉ bằng 54%, nhưng nếu so sánh về cơ cấuchi tiêu thì phần chi cho các hoạt động thường xuyên (ăn, uống) của dân cư TâyNinh chiếm tới 53,34% tổng chi tiêu hàng tháng, trong khi chỉ tiêu này của vùngchỉ chiếm 49,01% Trong phần chi tiêu bình quân đầu người thường xuyên của TâyNinh thì có một phần chi tiêu có được từ các hoạt động đổi hàng của dân cư địaphương và có 2,8% là có được từ hoạt động tự cấp tự túc Phần chi tiêu khôngthường xuyên (ngoài ăn, uống) chỉ chiếm 42,45%, thấp hơn của cả vùng Đông Nam

Bộ (47,35%) Hơn nữa, mặc dù cơ cấu thu nhập của dân cư Tây Ninh đã được cảithiện và vượt qua mặt bằng chung của cả nước theo hướng giảm dần tỷ trọng thunhập từ nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng thu nhập từ tiền công, tiền lương và cáchoạt động phi nông nghiệp khác nhưng vẫn chưa vượt qua mặt bằng chung củavùng: tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động nông, lâm nghiệp, thuỷsản của Tây Ninh là 25,69%, thu nhập từ tiền công, tiền lương là 38,49%, các hoạtđộng phi nông nghiệp 24,11%, trong khi các chỉ tiêu đó của cả vùng lần lượt là45,41%; 11,58% và 25,56% (các chỉ tiêu đó của cả nước lần lượt là 32,68%;28,49% và 22,64%) Bên cạnh đó, những chỉ tiêu trên cùng với thực tế quá trình đôthị hoá diễn ra chậm chạp cho thấy tốc độ tăng trưởng của nhu cầu có khả năngthanh toán trong những năm qua ở địa bàn tỉnh Tây Ninh còn ở mức rất hạn chế.Thực tế này phản ánh tiêu dùng của cư dân trên địa bàn chưa đạt được trình độ bìnhquân của vùng Điều này cũng sẽ là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến qui mô vàtrình độ phân phối của ngành thương mại cũng như khả năng cung ứng hàng hoátrên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Trang 16

4 Sản xuất hàng hoá và du lịch tỉnh Tây Ninh

4.1 Sản xuất công nghiệp

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2007 đạt 3.962,9 tỷ đồng, chiếm91% tổng giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp và xây dựng, đạt tốc độ tăngtrưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2007 xấp xỉ 22,5%/năm

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 đạt 9.774,876 tỷ đồng, trong đó giá trịsản xuất của ngành công nghiệp chế biến chiếm 9,3% và đạt tốc độ tăng bình quân22,5%/năm giai đoạn 2001 – 2007, cao hơn tốc độ tăng bình quân của cả nước(9,7%/năm)

Các ngành công nghiệp chính ở Tây Ninh hiện nay gồm: thực phẩm và đồuống, sản phẩm từ cao su, may mặc, các sản phẩm từ kim loại, VLXD sản xuấtđiện, sản xuất tiểu thủ công nghiệp (giường, tủ, bàn ghế)

Tiềm năng và sự phát triển các ngành công nghiệp của Tây Ninh phản ánh nhucầu về sử dụng dịch vụ của ngành thương mại và các n guồn cung ứng hàng hoá chongành thương mại

4.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

Ngành nông lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục có bước chuyển dịch trong cơ cấusản xuất nhờ vậy đã duy trì được đà phát triển trên một số ngành và lĩnh vực, songcòn nhiều hạn chế và chưa phát huy tốt tiềm năng

Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2007 đạt 10.144 tỷđồng, tăng 48,8% so với năm 2005, tăng bình quân gần 10,3%/năm giai đoạn 2001– 2007, vượt chỉ tiêu Nghị quyết VII đề ra Trong đó:

 Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân khoảng 9,2%/năm (trồng trọttăng 8,3%/năm, chăn nuôi tăng 15,3%/năm)

 Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân xấp xỉ 6,4%/năm

 Giá trị sản xuất thuỷ sản tăng bình quân khoảng 13,0%/năm

Sự phát triển về qui mô của ngành nông, lâm thuỷ sản vừa phản ánh nhu cầucầu sử dụng dịch vụ của ngành thương mại, vừa tạo nên lợi thế về nguồn cung ứnghàng hoá cho thương mại

4.3 Du lịch

Doanh thu du lịch năm 2005 đạt 901,373 tỷ đồng, đóng góp khoảng 22,1%trong tổng giá trị sản xuất ngành dịch vụ và chỉ chiếm 6% tổng giá trị sản xuất củanền kinh tế Năm 2006, tổng doanh thu ước đạt 1.143,496 tỉ đồng, so cùng kỳ tăng26,86 % Năm 2007, doanh thu đạt 1.496,450 tỷ đồng, so cùng kỳ tăng 30,9%.Nhìn chung, Tây Ninh còn nhiều tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch, đầu tưcho phát triển du lịch còn hạn chế, chưa thu hút được những dự án lớn tạo ra nhữngsản phẩm du lịch mới hấp dẫn để du lịch có thể phát triển nhanh hơn và ổn định

Trang 17

II ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ TRONG

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH

1 Những lợi thế phát triển thương mại của Tây Ninh

1.1 Vị trí địa lý mang lại lợi thế phát triển thương mại quốc tế của Tây Ninh Mạng lưới cửa khẩu, chợ biên giới và tuyến đường xuyên Á sẽ giúp Tây Ninh khai thác được các lợi ích thương mại theo cả 3 phương diện:

- Trực tiếp cung ứng hàng cho thị trường Campuchia và các nước xa hơn

- Cung ứng các dịch vụ cho hoạt động thương mại biên giới

- Thu hút các nguồn hàng từ bên ngoài để cung ứng cho thị trường trong nước

1.2 Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn vừa qua là những cơ sở kinh tế quan trọng trong phát triển thị trường của tỉnh với qui mô ngày càng lớn hơn của cả cung và cầu hàng hoá, qua đó tạo ra môi trường thuận lợi để các hoạt động thương mại phát triển nhanh hơn với qui

mô và phạm vị lớn hơn

Về phương diện phát triển của cầu: cầu trên thị trường đã phát triển không chỉtrong lĩnh vực tiêu dùng của dân cư, khách du lịch, mà còn cả trong lĩnh vực sảnxuất Trong lĩnh vực tiêu dùng của dân cư, qui mô và cơ cấu của cầu đã được nânglên và mở rộng cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế nhanh và sự cải thiện cácđiều kiện tiêu dùng của dân cư trên địa bàn tỉnh Hơn nữa, mật độ dân số một sốkhu vực của Tây Ninh khá cao cũng là yếu tố tạo nên môi trường thuận lợi để kíchthích và kích động quá trình hình thành và phát triển nhu cầu mua sắm và tiêu dùngcủa dân cư tại các khu vực đó Sự phát triển của ngành du lịch tỉnh từ những lợi thếsẵn có cũng tạo nên lượng cầu khá lớn cho thương mại Trong lĩnh vực tiêu dùngcho sản xuất, qui mô và cơ cấu của cầu cũng được tăng cường và mở rộng cùng với

sự phát triển về qui mô sản xuất và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấusản phẩm sản xuất trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn vừa qua Chẳng hạn, sự pháttriển của ngành chế biến nông sản thực phẩm làm tăng khối lượng cầu về nguyênliệu chế biến và các nguyên liệu kèm theo

Về phương diện phát triển của cung: trong giai đoạn vừa qua, cùng với sự pháttriển của cầu, yếu tố cung trên thị trườn g Tây Ninh đã được phát triển tương ứng.Sản lượng các sản phẩm sản xuất tăng nhanh, nhất là các sản phẩm nông nghiệp,các sản phẩm may, da giày, thủ công mỹ nghệ đã tạo ra được quĩ hàng hoákhông chỉ đủ cung ứng cho nhu cầu của địa phương, mà còn có thể cung ứng rangoài địa bàn với qui mô và phạm vi rộng lớn hơn, cả trong nước và ngoài nước.Đồng thời, cùng với sự phát triển nhanh của cầu (trong tiêu dùng của dân cư vàtrong sản xuất) đã kích thích hình thành các luồng cung ứng từ các địa phươngtrong nước và từ nước ngoài đến thị trường Tây Ninh, như vật tư cho sản xuất nôngnghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất các sản phẩm cơ khí, hoá chất, hàngcông nghiệp tiêu dùng,

1.3 Trên cơ sở những thành tựu và xu thế phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn vừa qua, đặc biệt là tình hình phát

Trang 18

triển về cơ sở hạ tầng của Tây Ninh đã và đang ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn trong không gian thị trường cả nước Chính điều đó trở thành yếu tố thuận lợi hơn cho quá trình phát triển thị trường và các hoạt động thương mại

- Vị trí của Tây Ninh cùng với thực tế phát triển của các tuyến giao thông gắnvới Tây Ninh có thể cho phép Tây Ninh tiết kiệm được đáng kể chi phí lưu thônghàng hoá giữa Tây Ninh với các tỉnh khác

- Các hoạt động giao lưu kinh tế và xã hội ở nước ta hiện đang có xu hướngngày càng gia tăng hơn trong những năm vừa qua Trong xu thế đó, Tây Ninh với

vị trí của mình sẽ nằm trong vùng có cường độ, mật độ giao lưu lớn và với phạm vigiao lưu rộng lớn Điều này sẽ tạo điều kiện để Tây Ninh có thể nắm bắt và tổ chứcđược nhiều các cơ hội kinh doanh hơn

1.4 Nguồn nhân lực và chất lượng giáo dục của nguồn nhân lực tỉnh Tây Ninh đang và sẽ là lợi thế chủ yếu đối với sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung

và các hoạt động thương mại nói riêng của Tây Ninh

Dân số trong độ tuổi lao động của Tây Ninh đang có xu hướng tăng nhanh, tạonên lực lượng lao động tương đối dồi dào và có trình độ giáo dục khá tốt Điều đókhông chỉ cho phép Tây Ninh phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều laođộng như ngành dệt may, chế biến các sản phẩm nông nghiệp, mà còn mở ra khảnăng phát triển các ngành công nghiệp có giá trị tăng thêm lớn, qua đó sẽ tạo ra cácsản phẩm có sức cạnh tranh tốt hơn trên thị trường Hơn nữa, nếu các ngành sảnxuất phát triển và giải quyết được việc làm tốt cho lực lượng lao động này, thì khốilượng thu nhập của dân cư trên địa bàn sẽ tăng lên mạnh mẽ và khối lượng cầu cókhả năng thanh toán, cũng như cầu được thực hiện trên thị trường cao hơn

Tuy nhiên, lợi thế này của Tây Ninh cũng mới chỉ ở dạng tiềm năng Để lợithế này có thể trở thành hiện thực, Tây Ninh cần tiếp tục coi trọng sự nghiệp giáodục và quan trọng hơn là có định hướng và các chính sách thích hợp trong việc đàotạo kỹ năng, kiến thức cho người lao động và nuôi dưỡng, thu hút nhân tài vào cácngành sản xuất có hàm lượng chất xám cao, có giá trị tăng thêm lớn nhằm nâng caochất lượng phát triển chung của tỉnh

2 Những hạn chế phát triển thương mại của Tây Ninh

2.1 Sự hạn chế của các nguồn lực phát triển, nhất là khi trình độ phát triển

về khoa học, công nghệ, kỹ năng quản lý thấp là trở ngại chính, kìm hãm sự phát triển của thị trường và các hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Sự phong phú của nguồn tài nguyên thiên nhiên hay chi phí thấp của các yếu

tố đầu vào cũng như trình độ hiện đại của khoa học, công nghệ, kỹ năng trong sảnxuất và quản lí là những yếu tố tạo nên sức cạnh tranh cho sản phẩm Tại Tây Ninh,các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên của Tây Ninh không vượ t trội so với các tỉnhkhác và tình trạng công nghệ, kỹ thuật và trình độ quản lí vẫn còn lạc hậu, nonkém Điều này làm hạn chế rất lớn đến khả năng mở rộng thị trường hàng hoá của

Trang 19

cạnh tranh với hàng hoá của các tỉnh khác trong nước mà còn phải cạnh tranh vớihàng hoá của nước ngoài, trước mắt là với các nước trong khối ASEAN.

2.2 Những tồn tại, khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn vừa qua là những hạn chế đáng kể cho phát triển thị trường và các hoạt động thương mại trên địa bàn

Bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế đã đạt được, Tây Ninh cònđang đứng trước rất nhiều khó khăn, trở ngại trong quá trình phát triển kinh tế - xãhội, như:

- Tây Ninh là thị trường nghèo, điểm xuất phát của nền kinh tế địa phương cònthấp so với các tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ và so với mức bình quân chung của

cả nước

- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh sẽ gặp không ít khó khăn, bởi

vì Tây Ninh không có nhiều nguồn tài nguyên cho phép chuyển dịch nhanh chóng

cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế, trong khi đó, yếu tố có ý nghĩa quan trọng đốivới việc chuyển dịch cơ cấu là vốn, công nghệ cũng hạn chế và chậm phát triểntrong giai đoạn vừa qua

- Chỉ tiêu huy động ngân sách từ GDP, khả năng tích luỹ đầu tư từ GDP củatỉnh trong nhiều năm qua luôn ở tình trạng thấp so với các tỉnh trong vùng và cảnước

2.3 Với xuất phát điểm và các lợi thế kém hơn so với nhiều tỉnh trong vùng

và nhất là sức chi phối của thị trường trung tâm như Tp.HCM đối với các tỉnh trong vùng, sự phát triển thị trường và các hoạt động thương mại của Tây Ninh

sẽ có nguy cơ tụt hậu nếu Tây Ninh không chủ động tham gia và thúc đẩy các hoạt động thị trường, thương mại trên địa bàn tỉnh, chủ động gắn với sự phát triển của các thị trường khác

Sự hấp dẫn của thị trường trung tâm có thể sẽ làm ảnh hưởng đến các nguồnlực phát triển vốn đang là hạn chế của Tây Ninh, như vốn, lao động được đào tạo

và có trình độ thành thạo kỹ năng cao; sức mạn h kinh tế của các nhà sản xuất kinhdoanh và phân phối sản phẩm ở thị trường trung tâm có thể sẽ làm nản lòng cácdoanh nghiệp của tỉnh trong việc mở rộng sản xuất, kinh doanh ngay trên địa bàncủa mình Mặt khác, các lợi ích thương mại từ việc khai thác c ác lợi thế của tỉnhcũng dễ dàng chảy vào túi của các doanh nghiệp ở các thị trường trung tâm màkhông góp phần vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh

Trang 20

Phần thứ hai:

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUI HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH

THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH THỜI KỲ 2001-2006

I CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TÂY NINH THỜI

KỲ 2001-2006

Trong giai đoạn 2001-2007, hoạt động thương mại Tây Ninh đã đóng góp vaitrò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh Điều đó được thể hiện rất

rõ nét qua giá trị tăng thêm đóng góp vào tăng trưởng của GDP

Trong cơ cấu của ngành thương mại, nhà hàng và khách sạn, nếu không tínhgiá trị tăng thêm của ngành kinh doanh khách sạn, nhà hàng thì ngành thương mại

đã có mức tăng trưởng khá cao trong giai đoạn vừa qua, giá trị tăng thêm c ủa ngànhnăm 2006 là 1.864,416 tỷ đồng và năm 2007 là 2.482,459 tỷ đồng (giá hiện hành).Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2007 là 27,9%/năm, cao nhất trongtất cả các ngành (ngành thuỷ sản tăng 10,8%/năm; công nghiệp chế biến tăng22,8%/năm; xây dựng tăng 22,8%/năm; nông, lâm nghiệp tăng 10,2%/năm) và caohơn rất nhiều so với nhịp độ tăng chung của cả nước là 9,1%/năm So với Quihoạch, tốc độ tăng thực tế hàng năm cao hơn rất nhiều so với mục tiêu đặt ra tạiphương án chọn cho giai đoạn 2001-2005 là 12,5%/năm

Trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn thì giá trị tăng thêm của ngànhthương mại chiếm 48,6% giá trị tăng thêm của lĩnh vực dịch vụ và 16,6% GDPtoàn tỉnh (năm 2007) – cao hơn so với mức bình quân chung của cả nước (các tỷ lệ

đó của cả nước lần lượt là 35,8% và 13,7%) So với Qui hoạch, dự báo GDPthương mại năm 2005 tại phương án chọn là 753 tỷ đồng, bằng 13,4% GDP chung

và 40,9% GDP dịch vụ, trong khi thực tế các chỉ tiêu đạt được năm 2005 lần lượt là1.023 tỷ đồng, bằng 14% GDP chung và 42,8% GDP dịch vụ Như vậy, tính đếnnăm 2005 thì các chỉ tiêu GDP thương mại đã đạt được đều cao hơn so với Quihoạch

Bảng 4: Giá trị tăng thêm của ngành thương mại Tây Ninh

giai đoạn 2001-2007

Mục tiêu của

GDP thương mại năm 2005 (tỷ

Tốc độ tăng bình quân hàng năm

giai đoạn 2001-2005 của GDP

GDP thương mại năm 2007 (tỷ

Tốc độ tăng bình quân hàng năm

Trang 21

Với tỷ trọng như vậy, ngành thương mại đã đóng góp rất lớn vào sự tăngtrưởng của khu vực dịch vụ cũng như đóng góp vào tăng trưởng GDP của Tây Ninhtrong những năm gần đây Năm 2007 khu vực dịch vụ đóng góp 8,4% điểm tăngtrưởng và ngành thương mại đóng góp 5,4% điểm tăng trưởng trong 17,6% điểmtăng trưởng của GDP, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dầnkhu vực nông lâm thuỷ sản, tăng dần khu vực công nghiệp và dịch vụ của tỉnh.

Bảng 5: So sánh giá trị tăng thêm của ngành thương mại

với các ngành kinh tế khác của Tây Ninh

Trang 22

Bên cạnh đó, hoạt động của ngành thương mại đã góp phần tích cực vào pháttriển sản xuất, phân công lao động xã hội, thúc đẩy các ngành đổi mới công nghệ,nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho sản xuất từng bước gắn với nhu cầu thịtrường và bước đầu cũng đã phát huy được lợi thế của các địa phương trong tỉnh,giữa thị trường của tỉnh với các thị trường các tỉnh lân cận, thị trường cả nước vàthị trường ngoài nước, tạo ra giá trị tăng thêm cho nền kinh tế và góp phần cải thiệnđời sống nhân dân trong tỉnh.

II HOẠT ĐỘNG NỘI THƯƠNG

1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ (TMBLHH,DV)

Theo số liệu thống kê của tỉnh, trong giai đoạn 2001 - 2007, TMBLHH,DVtrên địa bàn đã đạt mức tăng trưởng đáng kể TMBLHH,DV năm 2005 tăng gấp 1,8lần so với năm 2000, năm 2007 đạt 14.458.693 triệu đồng, tăng 1,7 lần so với năm

2005 TMBLHH,DV của Tây Ninh giai đoạn 2001-2007 có tốc độ tăng bình quânđạt 20,9%/năm, chậm hơn so với nhịp độ tăng của cả nước (22,1%/năm)

Như vậy, nếu so với mức tăng của TMBLHH,DV trong giai đoạn 2001-2007của cả nước (22,1%/năm) và khu vực Đông Nam Bộ (21,3%/năm) thì nhịp độ tăngbình quân hàng năm của tỉnh Tây Ninh đề u thấp hơn so với của cả nước là1,2%/năm và thấp hơn của cả vùng là 0,4%/năm

So với mục tiêu Qui hoạch trong giai đoạn 2001-2005, TMBLHH,DV thực tếthấp hơn rất nhiều, chỉ đạt 8.550 tỷ đồng vào năm 2005 và nhịp độ tăng bình quân

là 13%/năm

- Về mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ bình quân đầu người của tỉnh Tây Ninhnăm 2007 là 13.727 ngàn đồng, chiếm 95,3% tổng sản phẩm bình quân đầu ngườitrên địa bàn Riêng giai đoạn 2001-2007 có tốc độ tăng trưởng bình quân là19,4%/năm, cao hơn chỉ tiêu này của Vùng Đông Nam Bộ (18,1%/năm) và thấphơn của cả nước (20,3%/năm) Tuy nhiên, nếu xét về giá trị tuyệt đối thìTMBL/người năm 2007 của Tây Ninh chỉ bằng 75,7% của cả vùng Đông Nam Bộ

và gấp 1,6 lần so với của cả nước Nếu so với mục tiêu Qui hoạch đặt ra cho năm

2005 là 10,5 triệu đồng/người thì số liệu thực tế chỉ đạt 8,2 triệu đồng/người

Bảng 6: Tình hình thực hiện chỉ tiêu TMBLHH,DV

giai đoạn 2001-2005

Mục tiêu của

Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ năm

Tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn

TMBLHH&DVXH bình quân đầu người

Trang 23

Tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn

TMBLHH&DVXH bình quân đầu người

Nguồn: Niên giám thống kê Tây Ninh năm 2007 và 2001 và tính toán của Ban chủ nhiệm dự án

Qua đó cho thấy cường độ lưu chuyển hàng hóa xã hội của tỉnh Tây Ninh pháttriển chậm hơn và thấp hơn của vùng và của cả nước, do đó chưa thúc đẩy tiêudùng của dân cư phát triển, vẫn còn tính tự cấp, tự túc và sức mua của dân cư trênđịa bàn tỉnh chưa được cải thiện rõ rệt

- Cơ cấu bán lẻ hàng hóa xã hội và doanh thu dịch vụ của tỉnh (phân theothành phần kinh tế): Cơ cấu bán lẻ hàng hóa xã hội và doanh thu dịch vụ của kinh

tế Nhà nước có chiều hướng tăng từ 6,2%/năm 2000 lên 7,7% năm 2005, sau đógiảm xuống 6,99% năm 2006 và 6,31% năm 2007, thành phần kinh tế nhà nướctăng lên về mức tuyệt đối nhưng lại giảm tương đối về tỷ trọng trong tổng mức bán

lẻ hàng hoá xã hội và doanh thu dịch vụ của tỉnh Trong những năm gần đây cácDNNN đã từng bước chuyển đổi hình thức sở hữ u và phương thức kinh doanh, tuychỉ còn chiếm 6,98% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ nhưng nắm trên 70% tỷtrọng bán buôn và chi phối được thị trường bán lẻ một số mặt hàng quan trọng,thực hiện vai trò cân đối cung - cầu các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, thuốcchữa bệnh cho người, dụng cụ y tế…, đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước

Cơ cấu của thành phần ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng rất cao trong tổngmức bán lẻ hàng hóa xã hội và doanh thu dịch vụ: năm 2000 chiếm 93,8%, năm

2005 giảm xuống còn 92,26% và đến năm 2006 tăng lên 93,01%, năm 2007 là93,69%, tăng lên rất nhiều so với giai đoạn 1996-2000 Nhìn chung, vai trò củathành phần ngoài quốc doanh ngày càng được khẳng định, nhất là thị trường bán lẻ

và kinh doanh dịch vụ Kể từ khi thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiềuthành phần, kinh tế ngoài quốc doanh của tỉnh đã có bước phát triển hơn, đặc biệtđối với hoạt động thương mại nội địa Sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh vào bán lẻ hàng hóa xã hội vừa là một yếu t ố tích cực trong việc đápứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư nhưng cũng là yếu tố làm hạn chế quá trình tổchức hoạt động thương mại, tổ chức thị trường trên địa bàn theo hướng hỗ trợ chosản xuất quy mô lớn phát triển nhanh hơn

So sánh cơ cấu kinh tế nhà nước năm 2007 trong tổng mức bán lẻ hàng hoá xãhội và doanh thu dịch vụ của Tây Ninh (6,99%) với cơ cấu kinh tế nhà nước của cảnước (10,2%) thì kinh tế nhà nước Tây Ninh thấp hơn cả nước tới 3,21%, trong khi

cơ cấu kinh tế ngoài quốc doanh của Tây Ninh (9 3,69%) lại cao hơn của cả nước(85,9%) là 7,79%

Trang 24

Bảng 7: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tỉnh Tây Ninh

so với cả nước (phân theo thành phần kinh tế)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh và cả nước năm 2007

2 Các hệ thống phân phối hàng hoá ra, vào tỉnh Tây Ninh

* Các luồng hàng hoá vào:

Để cân đối cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của dân cư tr ên địa bàn tỉnh, cácluồng hàng hoá vào Tây Ninh khá đa dạng, bao gồm các mặt hàng công nghiệp tiêudùng; hàng vật tư nông nghiệp; các hàng hoá nguyên liệu đầu vào cho sản xuấtcông nghiệp

- Đối với nhóm hàng công nghiệp tiêu dùng: được cung ứng cho thị trường

Tây Ninh có nhiều nguồn gốc khác nhau, từ sản xuất trong nước và từ nhập khẩu.Trong đó, đáng chú ý là các nguồn hàng sản xuất trong nước được cung ứng từTP.HCM và các tỉnh phía Nam; các nguồn hàng nhập khẩu trực tiếp hay qua cáctrung gian nhập khẩu vào Tây Ninh chủ yếu có nguồn gốc từ các nước ASEAN,Campuchia, Hoa Kỳ Lực lượng kinh doanh tham gia vào các luồng hàng này chủyếu là tư nhân hay các cơ sở đại lý bán hàng của nhà sản xuất

- Đối với hàng vật tư như phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu, sắt thép xây

dựng Đây là nhóm hàng chủ yếu do các doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục cungứng, bán buôn và kết hợp với các doanh nghiệp tư nhân, đại lý bán lẻ trên địa bàntỉnh

- Đối với hàng hoá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp của tỉnh,

hiện tại chủ yếu phục vụ cho ngành khai khoáng, sản xuất thực phẩm và đồ uống,đường các loại, thuốc lá, dệt may, da giày, thức ăn gia súc, bột mì, điện thươngphẩm, gạch nung Luồng hàng này bao gồm nguyên phụ liệu may, sắt thép, các

Trang 25

chất phụ gia sản xuất vật liệu xây dựng Trong đó nguyên phụ liệu may, sắt thép từnguồn nhập khẩu trực tiếp hay các cơ sở sản xuất trong nước.

Nhìn chung, các luồng hàng hoá vào Tây Ninh do các doanh nghiệp khôngphải của Tây Ninh thực hiện thì chủ yếu là trung chuyển qua địa bàn tỉnh, còn đốivới hàng hoá do các doanh nghiệp của Tây Ninh thực hiện thì không mang tínhtrung chuyển, tái phát luồng ra khỏi địa bàn mà chủ yếu phục vụ trực tiếp cho nhucầu sản xuất và tiêu dùng của dân cư trong tỉnh và tổ chức cung ứng trên địa bà nqua hệ thống chợ hay các đại lý, các doanh nghiệp tư nhân trong tỉnh

- Các sản phẩm nông nghiệp do Tây Ninh sản xuất và có khả năng phát

luồng bao gồm: rau, hoa quả các loại, lạc, thuốc lá, cao su, điều, hồ tiêu, mía, tinhbột mì, lợn thịt

Nhìn chung, đa số các hàng nông sản của Tây Ninh ra khỏi địa bàn do tínhchất nhỏ lẻ và phân tán của sản xuất nên thường do tư nhân thu gom và trực tiếpđưa đến các thị trường tiêu thụ h oặc làm trung gian cho các cơ sở, doanh nghiệpchế biến trong nước

* Các kênh phân phối hàng hoá trên địa bàn tỉnh Tây Ninh:

Các kênh lưu thông hàng hóa trên thị trường Tây Ninh được định hình và củng

cố với sự tham gia của các loại hình thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đãtạo ra hướng liên kết hoặc thâm nhập lẫn nhau giữa thương mại và sản xuất thíchứng với đặc điểm thương phẩm và quy trình công nghệ kinh doanh của từng hànghóa, như các mặt hàng mía, xăng dầu, phân bón, xi măng, sắt thép, sữa

Hàng hoá trên thị trường Tây Ninh vận động theo các kênh chủ yếu như hàngnông sản thực phẩm từ sản xuất trong tỉnh (chủ yếu ở nông thôn) đến tiêu dùngtrong nước và xuất khẩu; vật tư và hàng công nghiệp từ sản xuất tại tỉnh, trongnước và nhập khẩu đến tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu

- Các kênh phân phối hàng hoá truyền thống:

Các kênh lưu thông hàng nông sản, thực phẩm: Đặc thù của ngành nông sản

thực phẩm là sản xuất phân tán trên địa bàn rộng, chủ thể sản xuất chủ yếu là các

hộ nông dân với quy mô nhỏ, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, sản xuất

tự sản tự tiêu và dành một phần bán ra thị trường, hàng hóa phần lớn là bán thô,đơn vị thu mua tự bảo quản, bao gói, vận chuyển

Đặc thù trên đây chi phối việc tổ chức các kênh lưu thông hàng nông sản thựcphẩm Cần phải có mạng lưới thu mua rộng khắp, đông đảo, đa dạng và phải có cơ

Trang 26

sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc dự trữ, bảo quản chế biến với nhiều quy môkhác nhau Do đó các kênh lưu thông hàng nông sản của Tây Ninh tập trung ở 2nhóm:

+ Nhóm kênh lưu thông hàng nông sản không hoặc ít qua chế biến côngnghiệp Kênh này hàng hoá đi từ người sản xuất (hộ gia đình nông dân) đến tiêudùng tại tỉnh qua các chợ, các cửa hàng, quầy hàng của thương nhân và đến thịtrường ngoài nước qua các doanh nghiệp xuất khẩu (chủ yếu là các DN trong tỉnh)hoặc từ người sản xuất qua khâu trung gian là thương nhân mua gom, dự trữ, bảoquản và sơ chế rồi qua mạng lưới phân phối để đi tiếp đến tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu thông qua các doanh nghiệp xuất khẩu trong và ngoài tỉnh

+ Nhóm kênh lưu thông hàng nông sản phải qua chế biến công nghiệp: kênhnày có sự liên kết giữa hộ gia đình nông dân, với cơ sở chế biến, giữa nhà chế biếnvới nhà buôn hoặc liên kết tay ba (nông dân, nhà sản xuất chế biến, thương nhân)với tư cách là một khâu trung gian vừa thu mua vừa chế biến, dự trữ, bảo quản rồi

từ đó qua mạng lưới phân phối, hàng hoá tiếp tục đi đến người tiêu dùng và xuấtkhẩu Các doanh nghiệp Trung ương, địa phương thu mua nông sản thực phẩm qua

hệ thống đại lý hoặc trực tiếp mua của nông dân thông qua các cơ sở trực thuộchoặc các cơ sở sản xuất khác trước khi đến các địa chỉ tiêu dùng trong tỉnh, cả nướccũng như ra thị trường của nước ngoài

Các kênh lưu thông vật tư, hàng công nghiệp tiêu dùng: Do đặc thù của ngành

hàng này là sản xuất tương đối tập trung, nhưng tiêu dùng lại phân tán trong phạm

vi cả tỉnh, tính chất sản xuất của hàng hoá khá rõ, dễ bảo quản, bao gói, vậnchuyển Người sản xuất và nhà buôn sát gần nhau, nhiều trường hợp đã, đang và sẽliên kết, hợp thành một chủ thể duy nhất

Đặc điểm trên quyết định việc tổ chức các kênh lưu thông vật tư và hàng côngnghiệp tiêu dùng của Tây Ninh chủ yếu ở chính ngay kênh phân phối của bản thânchủ thể kinh doanh (DN sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh thương mại, xuất nhậpkhẩu) Do đó, kênh lưu thông hàng hoá này tại tỉnh chủ yếu đi theo hai kênh sau:+ Hàng hoá đi thẳng từ các doanh nghiệp sản xuất qua mạng lưới phân phốicủa chính doanh nghiệp sản xuất qua hệ thống tổng đại lý hoặc đại lý thuộc cácthành phần kinh tế do doanh nghiệp sản xuất tổ chức để đến tiêu dùng tại tỉnh, cảnước và xuất khẩu Đồng thời doanh nghiệp có thể xuất khẩu trực tiếp sản phẩmcủa mình hoặc qua các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu khác

+ Hàng hoá từ các doanh nghiệp sản xuất và từ nhập khẩu, tập trung vào cácdoanh nghiệp đầu mối phát luồng (Tổng công ty, công ty có phạm vi toàn quốc…)

và qua hệ thống bán buôn, bán lẻ của các tổng công ty, công ty hoặc của các doanhnghiệp trong tỉnh (công ty thương mại - xuất nhập khẩu…) đến với tiêu dùng trongtỉnh hoặc từ doanh nghiệp đầu mối (trung ương hoặc của tỉnh) để xuất khẩu ra thịtrường nước ngoài

Nhìn chung, do trình độ quản lý hệ thống phân phối của nhà sản xuất, củadoanh nghiệp thương mại, của các tổng đại lý nên mức độ liên kết và hiệu quả liên

Trang 27

phí giao dịch lớn và vì vậy hạn chế khả năng lựa chọn, sự thuận lợi, cũng như sửdụng các dịch vụ phân phối của người tiêu dùng Điều đó là những hạn chế cầnkhắc phục trong thời gian tới thông qua việc hình thành hệ thống thị trường hàngvật tư sản xuất và hàng công nghiệp tiêu dùng cũng như cải cách các hệ thống phânphối lạc hậu sang hiện đại.

- Hệ thống kênh phân phối hàng hóa hiện đại:

Mạng lưới kinh doanh thươ ng mại dịch vụ tiếp tục được mở rộng trên các địabàn, thị xã, thị trấn trong tỉnh thu hút các thành phần kinh tế với nhiều loại hình tổchức khác nhau tham gia Phương thức kinh doanh có đổi mới và đa dạng hơn.Nhiều phương thức mua bán (như đại lý, ủy th ác, hàng đổi hàng, mua bán tại nhà,qua bưu điện hoặc qua catalogue…, nhiều phương thức thanh toán (như trả góp, trảchậm…) đã phổ biến Tại các thị trường tập trung như ở thị xã, thị trấn, thị tứ đang

có xu hướng tiếp cận với thương mại văn minh hiện đại thông qua việc áp dụngcác phương thức kinh doanh tiến bộ như tự phục vụ, bán hàng qua điện thoại…vàđang tiếp tục tổ chức các hình thái thương mại kiểu mới (như siêu thị, trung tâmgiao dịch hàng hóa…) Tuy nhiên, mạng lưới phân phối hàng hoá hiện đại củ a TâyNinh vẫn còn rất sơ khai, chưa xuất hiện nhiều các loại hình thương mại mới nhưcác trung tâm thương mại hiện đại, các chuỗi cửa hàng tiện lợi, siêu thị trên địabàn tỉnh Tây Ninh

III HOẠT ĐỘNG XUẤT - NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ

Tổng giá trị kim ngạch xuất-nhập khẩu năm 2005 đạt 443,797 triệu USD, năm

2006 đạt 673,309 triệu, năm 2007 đạt 791,587 tăng trưởng bình quân 42,1%/nămgiai đoạn 2001 - 2007

có nhiều tiềm năng phù hợp với năng lực kinh tế của địa phương

Nếu tính cả giai đoạn thì tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2001-2005 củaTây Ninh đạt 750,779 triệu USD, tăng bình quân 34,3%/năm, so với NQ7 (vàCTPTXK) tăng 19,28% Trong đó các doanh nghiệp trong nước đạt 359,060 triệuUSD, tăng bình quân 18,81%/năm; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt391,719 triệu USD, tăng bình quân 58,63%/năm Trong cả giai đoạn 2001-2007 thìtổng kim ngạch XK đạt 1.648,129 triệu USD, tăng bình quân 42,2%/năm

Giá trị xuất khẩu của năm 2005 của Tây Ninh đạt 260,9 triệu USD, trong đó

cơ cấu một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như sau:

+ Hàng dệt – may: 57,94 triệu USD, chiếm 22,2%;

Trang 28

+ Mủ cao su thành phẩm: 31,29 triệu USD, chiếm 12%;

+ Săm lốp: 27,65 triệu USD, chiếm 10,6%;

+ Giày dép: 16,84 triệu USD, chiếm 6,5%;

+ Hạt điều nhân: 21,68 triệu USD, chiếm 8,3%;

+ Tinh bột mì: 9,08 triệu USD, chiếm 3,5%;

Năm 2006, kim ngạch XK đạt 404,032 triệu USD, so với NQ8 tăng 28,85%,

so CTPTXK tăng 29,85% Trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàixuất khẩu đạt 257,468 triệu USD so với cùng kỳ tăng 64,76%; các doanh nghiệptrong nước 146,564 triệu USD, đạt mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 –

2006 là 37,5%/năm,

Năm 2006 so với 2005 các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng về lượng và trịgiá: mủ cao su thành phẩm lượng tăng 11,21%, trị giá tăng 54,65%; Tinh bột sắnlượng tăng 123,85%, trị giá tăng 95,88%; giày thể thao lượng tăng 70,39%, trị giátăng 104,15%; sản phẩm nhựa 18,479 triệu USD (tăng 128,38%); Dệt may trị giá101,667 triệu USD (tăng 19,41%) và giảm về trị giá ở mặt hàng: hạt điều nhânlượng tăng 3,93%, trị giá bằng 92,29%

Năm 2007 so với năm 2006, một số mặt hàng có khối lượng xuất khẩu tăngnhanh như hạt điều nhân tăng 24,8%; cà phê tăng 31,5%; lạc nhân tăng gấp 5 lần;hạt tiêu tăng gấp 2,1 lần; giầy thể thao tăng gấp 5,4 lần; sản phẩm từ plastic tănggấp 1,85 lần; hàng dệt may tăng gấ p 1,43 lần; sản phẩm gỗ tăng gấp 2,75 lần Trong khi các sản phẩm khác có khối lượng xuất khẩu tăng vào năm 2006 so với

2005 thì sang đến năm 2007 lại giảm xuống như cao su, tinh bột mì, thực phẩm chếbiến, hàng sơn mài, mỹ nghệ

Nếu so sánh với mục tiêu phát triển xuất khẩu mà Qui hoạch đặt ra là kimngạch xuất khẩu đạt 89 triệu USD vào năm 2005, tăng bình quân 18%/năm thời kỳ2001-2005 thì thực tế xuất khẩu của Tây Ninh cao hơn rất nhiều, đạt kim ngạch260,9 triệu USD năm 2005 và tăng bình quân 34,3%/năm

Nếu so với nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước thì giai đoạn2001-2005 kim ngạch xuất khẩu của Tây Ninh tăng bình quân 34,3%/năm, cao hơnrất nhiều so với chỉ tiêu chung của cả nước (17,5%/năm) Điều này cho thấy hoạtđộng xuất khẩu của Tây Ninh đã tạo động lực cho sự phát triển liên tục và mangtính đột phá trong các năm gần đây

Thị trường xuất khẩu: hàng hoá xuất khẩu của tỉnh có mặt trên 50 quốc gia,phần lớn tiêu thụ tại thị trường Hoa kỳ, Trung quốc, Đài loan, Hàn quốc, EU,Nigeria, ASEAN, Nhật….Trong đó, tỷ trọng xuất khẩu chia theo các thị trường nhưsau: Hoa Kỳ 98,73 triệu USD, tỉ trọng 33,08%; Đài Loan 72,357 triệu USD, tỷtrọng 24,25%; Hàn Quốc 18,156 triệu USD, tỷ trọng 6,08%; EU 18,366 triệu USD,

tỷ trọng 6,15%; Nigeria 10,628 triệu USD, tỷ trọng 3,56%; Trung Quốc 8,177 triệuUSD, tỷ trọng 2,74%; ASEAN 12,982 triệu USD, tỷ trọng 4,35% (trong đó:

Trang 29

Về xúc tiến thương mại, ngày càng được mở rộng và nâng cao chất luợng hoạtđộng Bằng các chương trình xúc tiến thương mại các doanh nghiệp đã thu thậpđược nhiều thông tin mới về thị trường, giới thiệu được sản phẩm, quan hệ vớinhiều khách hàng, một số doanh nghiệp đã nắm lấy cơ hội ký kết được hợp đồngmới và mở rộng thị trường xuất khẩu Chương trình xúc t iến thương mại -du lịchcủa tỉnh giai đoạn năm 2004-2006 được UBND tỉnh phê duyệt có 29 chương trình,với tổng kinh phí là 4.835,7 triệu đồng, do 08 đơn vị tổ chức thực hiện (tuy nhiêntổng kinh phí hỗ trợ từ Quỹ XTTM thực hiện từ năm 2004 đến 2006 mới chỉ đạt793,4 triệu đồng, so với chương trình được duyệt đạt 16%).

Về chính sách khuyến khích xuất khẩu, để phát triển xuất khẩu Nhà nước đãban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách ưu đãi đầu

tư trong nước và đầu tư nước ngoài, chí nh sách ưu đãi đối với ngành công nghiệpchế biến bước đầu đã phát huy tác dụng, nhằm huy động nguồn vốn và kỹ thuật củacác thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh

Về phát triển nguồn nguyên liệu cung ứng cho xuất khẩu, các huyện, thị cónhiều nỗ lực phối hợp với các ngành xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu nông sản,đổi mới trong sản xuất thay đổi giống cây trồng vật nuôi, đã tạo được một số sảnphẩm hàng hóa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Các loại cây trồng tăng nhanh về diện tích

và sản lượng, đến năm 2007 diện tích cây điều đạt 4.035 ha, sản lượng 5.565 tấn,diện tích trồng cao su là 60.671 ha và sản lượng đạt 80.407 tấn, diện tích cây míađạt 33.007 ha, sản lượng đạt 2.048.104 tấn, diện tích cây sắn đạt 44.519 ha, sảnlượng đạt 1.125.887 tấn, cây lạc có diện tích 21.276 ha, sản lượng đạt 70.636 tấn.Đàn lợn có 208,72 nghìn con và đàn bò có 125,72 nghìn con

- Năm 2007: kim ngạch nhập khẩu đạt 298,269 triệu USD, so cùng kỳ tăng10,8% Trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu đạt229,532 triệu USD, tăng 23,3% so với năm 2006; các doanh nghiệp trong nước đạt68,737 triệu USD, giảm 20,8% so với năm 2006

So với Qui hoạch, mục tiêu đặt ra là giữ kim ngạch nhập khẩu tăng 15%/nămthời kỳ 2001-2005, đạt 81,5 triệu USD vào năm 2005 thì thực tế nhập khẩu của TâyNinh đến năm 2005 đã cao hơn nhiều, đạt 182,9 triệu USD và tăng 38,1%/năm thời

kỳ 2001-2005 Thực tế này cho thấy khi xuất khẩu tăng lên thì nhu cầu nhập khẩumáy móc, thiết bị, nguyên liệu sản xuất cũng như các vật phẩm tiêu dùng trên địabàn tỉnh cũng sẽ tăng lên

Trang 30

Cơ cấu nhập khẩu hàng hoá của Tây Ninh trong những năm gần đây đã có sựđiều chỉnh rõ nét theo hướng giảm dần tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng vànguyên, nhiên vật liệu, tăng mạnh tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ,nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất Xu hướng này phù hợp với tình hình pháttriển sản xuất hiện nay của Tây Ninh và xu hướng chung của cả nước về điều hànhnhập khẩu theo đúng chủ trương chung là tiết kiệm ngoại tệ, chủ yếu là nhập khẩumáy móc, thiết bị, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất và hàng tiêu dùng thiết yếunâng cao đời sống của nhân dân.

Chính sách nhập khẩu đã hướ ng vào phục vụ phát triển sản xuất và chế biếntại địa phương Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị, nguyên vậtliệu gia công và nguyên liệu sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất hàng xuấtkhẩu và một số ít hàng hoá tiêu dùng Thị trường nhậ p khẩu của Tây Ninh năm

2004 như sau: Nhập khẩu từ các nước asean chiếm tới 25,9% giá trị nhập khẩu(trong đó chủ yếu từ Campuchia 91,1%), từ Hoa Kỳ 4,9%

Bảng 8: Giá trị xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2001 – 2007

Đơn vị: 1.000 USD

Tăng bình quân 2001-2007 (%/năm)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh năm 2001, 2007

3 Thương mại biên giới giữa Tây Ninh và Campuchia

Tây Ninh có biên giới tiếp giáp với 3 tỉnh Svay Riêng, Preyveng và KompôngChàm thuộc Vương quốc Campuchia; có 20 xã biên giới thuộc 05 huyện (Tân Biên,Tân Châu, Châu Thành, Bến Cầu và Trảng Bàng); đường biên giới dài 240km với

02 cửa khẩu quốc tế (Mộc Bài, Xa Mát), 12 cặp cửa khẩu phụ đã được chính quyềncủa hai địa phương giáp biên thoả thuận ký kết

Kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu Tây Ninh-Campuchia giai đoạn

5 năm (2002 – 2006) như sau: xuất khẩu: 1.271.235 triệu đồng; nhập khẩu:348.378 triệu đồng

Nếu tính riêng 2 năm 2006-2007 thì tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 220,222triệu USD, kim ngạch nhập khẩu 280,158 triệu USD (năm 2007: xuất khẩu146,007 triệu USD, nhập khẩu 204,021 triệu USD)

Cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa Tây Ninh với Campuchia bổ sung cho nhau.Tây Ninh xuất khẩu được nhiều mặt hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng sangCampuchia như: quần áo may sẵn, giày dép, vỏ ruột xe, vật liệu xây dựng, mì ăn

Trang 31

từ Campuchia một số nguyên liệu phục vụ cho sản xuất và chế biến xuất khẩu như:hạt điều thô, gỗ cao su xẻ, tinh bột mì, sắn tươi, thuốc lá lá, mủ cao su đã qua sơchế, lúa gạo, đậu các loại, trái cây …

Tại Khu KTCK Mộc Bài: hiện nay có 31 nhà đầu tư với 44 dự án đăng ký

(gồm có 11 dự án đã đi vào hoạt động; 5 dự án đang triển khai thi công san lấp mặtbằng, xây dựng cơ sở hạ tầng; 7 dự án có chủ trương chấp thuận đầu tư đang lập dự

án và 21 dự án còn lại thì đang thực hiện công tác đền bù giải tỏa); diện tích đăng

ký khoảng 1.650,527 ha, vốn đăng ký đạt 5.632,742 tỷ đồng (34 dự án/44 dự án),vốn thực hiện 5 tháng ước đạt 11,661 tỷ đồng, luỹ kế vốn đầu tư thực hiện 735,264

tỷ đồng Trong đó, 10 dự án trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ và nhà ở đã đi vàohoạt động với tổng vốn đầu tư trên 715 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho khoảng1.800 lao động (80% là người của huyện Bến Cầu và các vùng phụ cận)

Hoạt động thương mại trong khu kinh tế bắt đầu từ tháng 12/2005; hiện nay có

05 siêu thị (siêu thị Thế kỷ Vàng, Smilling, Fuso, Daiso và siêu thị Tiết Kiệm), 03

trung tâm thương mại (TTTM Hiệp Thành, TTTM DV Quốc tế Phi Long, TTTMLong Hoa) và 1 chợ trong khu kinh tế cửa khẩu, với số vốn điều lệ trên 200 tỷđồng; có 63 doanh nghiệp đang hoạt động Lượng khách đến khu thương mại côngnghiệp tham quan mua sắm khoảng 6.000- 7.000 người/ngày vào ngày thường, vàkhoảng 10.000 người/ngày thứ 7 (hoặc chủ nhật, ngày lễ) Doanh số bán ra củaKhu Thương mại - Công nghiệp Mộc Bài năm 2006 là 533,458 tỷ đồng, năm 2007

là 932,065 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2008 là 773,087 tỷ đồng, trong đó doanh thubán cho nhân dân Campuchia chiếm tỷ lệ từ 15% - 20% tổng doanh thu

Tại Khu KTCK Xa Mát: khu kinh tế cửa khẩu Xa Mát được thành lập theo

quyết định số 186/2003/QĐ-TTg ngày 11/9/2003 của Thủ tướng Chính Phủ vớiquy mô 31.197 ha, bao gồm 02 xã Tân Lập và Tân Bình của huyện Tân Biên; cócửa khẩu quốc tế là Xa Mát và 03 cửa khẩu phụ: Chàng riệc, Cây Gõ, Tân Phú.Hiện nay, khu kinh tế có 07 dự án đầu tư trong nước, vốn đầu tư 752,97 tỷđồng và 200 triệu USD, diện tích 361,73 ha đã được UBND tỉnh đồng ý chủ trươngđầu tư, các chủ đầu tư đang tiến hành lập quy hoạch chi tiết để trình duyệt Các dự

án đầu tư gồm: Chợ đường biên (quy mô 5,37 ha), dự kiến nguồn vốn đầu tư là46,8 tỷ đồng; Kho ngoại quan qui mô 8,05 ha, dự kiến nguồn vốn đầu tư là 60,67 tỷđồng ; khu dịch vụ- tổng hợp (quy mô 8,41 ha), nguồn vốn đầu tư dự kiến là 63 tỷđồng ; Cửa hàng xăng dầu và trạm xe buýt (quy mô 2,56 ha), nguồn vốn dự kiến5,5 tỷ đồng ; Khu dịch vụ thương mại quốc tế (qui mô 38 ha), nguồn vốn dự kiến

77 tỷ đồng; Khu công nghiệp (quy mô 115,34 ha) và khu thương mại trong nước(qui mô 18 ha), dự kiến nguồn vốn 200 triệu USD; Dự án cấp nước, cấp điện vàkhu B (gồm Khu nhà ở kết hợp thương mại, Khu nhà ở liên kế vườn, biệt thự, Khuvui chơi giải trí, bến xe, chợ, siêu thị trung tâm) (qui mô khoảng 166 ha), nguồnvốn đầu tư dự kiến khoảng 500 tỷ đồng

Nhìn chung, các dự án đầu tư tại khu kinh tế cửa khẩu Xa Mát tiến độ thựchiện chậm, các dự án mới có chủ trương hoặc đang tổ chức triển khai thực hiện docông tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư còn gặp nhiều vướng mắc

Trang 32

IV THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH

Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế nước tahơn một thập kỷ qua, có thể thấy rằng, thương mại là một trong những lĩnh vựcdiễn ra quá trình đổi mới sớm nhất, có sự tham gia mạnh mẽ của nhiều thành phầnkinh tế và với nhiều hình thức, cấp độ, quy mô tổ chức khác nhau Đến nay, cáchoạt động thương mại đã trở nên đa dạ ng, đa chiều hơn, trải rộng hơn và sâu sắchơn trong các hoạt động kinh tế Cùng với quá trình đó, hệ thống tổ chức kinhdoanh thương mại trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng cũngthay đổi mạnh mẽ, cơ chế hành chính trong hệ thống tổ c hức được thay bằng cơ chếlợi ích và cạnh tranh ngay trong một thành phần kinh tế và giữa các thành phầnkinh tế với nhau

Theo số liệu niên giám Thống kê Tây Ninh năm 2007, trên địa bàn tỉnh có40.863 cơ sở kinh doanh thương mại, du lịch và khách sạn, nhà hàng, tăng 10,3%

Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh 2007

Tổng số số cơ sở kinh doanh thương mại năm 2006 là 25.919, trong đó số cơ

sở thuộc thành phần kinh tế Nhà nước do trung ương quản lý là 109 cơ sở, tăngkhông đáng kể so với năm 2005, trong khi các cơ sở kinh doanh do địa phươngquản lý tăng lên rất mạnh, từ 23.165 cơ sở năm 2005 lên 25.805 cơ sở năm 2006,tăng 11,4% và số cơ sở kinh doanh có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng từ 1 lên 3

cơ sở

Năm 2007, số lượng các cơ sở kinh doanh thương mại chiếm tỷ lệ khá lớn,chiếm khoảng 59% tổng số các cơ sở kinh doanh thương mại, du lịch, nhà hàng,khách sạn, tiếp đến là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh kháchsạn, nhà hàng, chiếm 32%, cuối cùng là các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ

du lịch, chỉ chiếm 8,8% Tuy nhiên, trong số các cơ sở qua phân loại ngành nghềkinh doanh trên đây, trong chừng mực nào đó, cho thấy hệ thống các doanh nghiệpnhà nước, ngoại trừ doanh nghiệp kinh doanh lương thực, còn lại phần lớn cácdoanh nghiệp thương mại khác thực hiện chức năng cung ứng hàng hoá trên địa

Trang 33

phần bị xem nhẹ hơn, không có tính chủ động và phó mặc cho các doanh nghiệpsản xuất.

1 Thương mại Nhà nước

Năm 2005, số DNNN tham gia hoạt động thương mại đóng trên địa bàn tỉnh là

257 doanh nghiệp, năm 2006 là 215 doanh nghiệp và năm 2007 là 219 doanhnghiệp Số doanh nghiệp Nhà nước này giảm rất ít, không những thế còn tăng lênvào năm 2007, điều này cho thấy, thành phần kinh tế quốc doanh vẫn còn đóng vaitrò chủ đạo trong các khâu điều tiết thị trường trên địa bàn tỉnh

2 Thương mại ngoài quốc doanh

Theo xu thế phát triển mạnh mẽ của thương mại ngoài quốc doanh trên phạm

vi cả nước trong giai đoạn vừa qua, thương mại ngoài quốc doanh trên địa b àn tỉnhTây Ninh đã hình thành và phát triển khá nhanh với nhiều loại hình và quy mô tổchức khác nhau như doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần; các hộkinh doanh thương mại cá thể: lực lượng này phát triển nhanh chóng và đã gópphần không nhỏ trong việc cung ứng hàng hoá tới tay người tiêu dùng ở các làng,

xã và nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, giữ vai trò quan trọngtrên thị trường nông thôn và một phần bán lẻ trên thị trường thành thị Trên thực tế,các hộ tư thương phát triển có xu hướng tăng, tốc độ phát triển ở thành thị nhanhhơn khu vực nông thôn và kinh doanh tập trung lớn tại các chợ Tuy nhiên, điều đócũng phản ánh thực trạng cơ cấu của ngành thương mại Tây Ninh chủ yếu là quy

mô nhỏ của các hộ kinh doanh thương mại

Nhìn chung, trong những năm vừa qua hệ thống thương mại ngoài quốc doanhtrên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã có bước phát triển đáng kể về phạm vi, không gian vàquy mô hoạt động cũng như sự phong phú, đa dạng về loại hình tổ chức hoạt độngcủa các thành phần kinh tế này Sự tham gia nhanh chóng của thành phần kinh tếngoài quốc doanh vào các hoạt động thương mại trên địa bàn là sự bổ sung, thaythế kịp thời vào các khâu, nấc, công đoạn và lĩnh vực của quá trình thương mại doyêu cầu đổi mới tổ chức quản lý của thành phần thương mại Nhà nước hiện nayđang để lại

Tuy vậy, cần thấy rằng, trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnhTây Ninh nói riêng, hệ thống thương mại Nhà nước cùng với hệ thống thương mạingoài quốc doanh vẫn đang trong quá trình vận động để đi đến sự phân công và liênkết theo chiều ngang để hoạt động một cách hợp lý hơn và hình thành hệ thốngphân phối quy mô lớn, hiện đại, có hiệu quả hơn, giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt đốivới quá trình phát triển ngành Bên cạnh đó, cơ cấu thươ ng mại quy mô nhỏ là các

hộ kinh doanh chiếm số lượng chủ yếu cần được liên kết lại để mở rộng quy môkinh doanh, cần được hỗ trợ để có sức cạnh tranh với các cơ cấu thương mại kháctrong quá trình phát triển của thời kỳ tới

Trang 34

V THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ, KINH DOANH CỦA NGÀNH THƯƠNG MẠI

Theo số liệu đến năm 2005 thì vốn đầu tư phát triển thuộc ngành thương mạitỉnh Tây Ninh là 206.088 triệu đồng, năm 2006 là 232.180 triệu đồng, tăng 13% sovới năm 2005, năm 2007 là 260.782 triệu đồng, tăng 12% so với năm 2006 Tuynhiên, nếu xem xét tỷ trọng vốn đầu tư phát triển thuộc ngành thương mại trongtổng vốn đầu tư toàn xã hội thì chỉ tiêu này của năm 2006 lại giảm đi so với năm

2005, giảm từ 5,9% xuống còn 5,6%, nhưng vẫn cao hơn mức bình quân chung của

cả nước (mức bình quân chung của cả nước năm 2005 và 2006 lần lượt là 5,4% và5,0%), năm 2007 cơ cấu vốn đầu tư ngành thương mại tiếp tục giảm xuống còn4,3% trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Nếu tính vốn đầu tư bình quânđầu người của Tây Ninh năm 2006 và 2 007 là 221,7 nghìn đồng và 247,59 nghìnđồng, thấp hơn so với mức bình quân chung của cả nước (chỉ tiêu này của cả nướcnăm 2006 và 2007 lần lượt là 239,2 nghìn đồng và 265,304 nghìn đồng)

Nếu tính vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại thì cùng với mứctăng trưởng vốn chung của thương mại ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh, vốnbình quân của các doanh nghiệp và hộ cá thể kinh doanh thương mại cũng tăng lên.Nếu chỉ tính vốn của chủ sở hữu thì vốn bình quân của các doanh nghiệp lại khácao so với các tỉnh khác trong cả nước và vốn bình quân hộ cá thể khoảng 15 -30triệu đồng/hộ Nhìn chung, số vốn sản xuất kinh doanh của thương mại ngoài quốcdoanh tập trung chủ yếu ở huyện Hoà Thành và thị xã Tây Ninh

Tóm lại, thực trạng vốn kinh doanh thương mại trên địa bàn tỉnh Tây Ninhhiện nay cho thấy:

Rõ ràng tỷ lệ vốn đầu tư/thu nhập/tháng/lao động nhà nước năm 2007 đã tănglên rất nhiều so với năm 2006 Trên cơ sở đó, việc mở rộng kinh doanh, tăng cườnglưu chuyển hàng hoá bán lẻ, thu mua nông sản phẩm trê n địa bàn tỉnh Tây Ninh sẽbớt khó khăn hơn (từ hạn chế về sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của dân cư) do khảnăng vốn của các thành phần thương mại trên địa bàn

- Trong điều kiện vốn kinh doanh chưa nhiều (vốn lưu động thấp), sự phân bổvốn kinh doanh thương mại tập trung chủ yếu ở địa bàn huyện Hoà Thành và thị xãTây Ninh kể cả của thương mại Nhà nước và thương mại ngoài quốc doanh đã chothấy, trên địa bàn tỉnh, ở nhiều vùng, khu vực thị trường còn khá nghèo nàn, nhucầu tiêu thụ thấp và nhịp độ tiêu dùn g còn chậm Các khu vực này vừa thể hiện sựthiếu năng động trong việc phát triển sản xuất hàng hoá cung ứng ra thị trường, vừa

có nguy cơ ngày càng chậm phát triển hơn so với các khu vực khác

- Xét về năng lực vốn kinh doanh, nhất là vốn lưu động của các doanh nghiệpthương mại Nhà nước trên địa bàn tỉnh Tây Ninh cho thấy năng lực làm đầu mốibán buôn hay thu mua nông sản hàng hoá còn thấp Hơn nữa, các doanh nghiệpthương mại Nhà nước sẽ khó có thể đảm nhận vai trò chủ đạo trên thị trường

Trang 35

VI THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG CỦA NGÀNH THƯƠNG MẠI

Theo số liệu thống kê tỉnh Tây Ninh, tổng số lao động trong các đơn vị kinhdoanh thương mại trên địa bàn năm 2005 là 42.708 người, chiếm 69% số lao độngtrong các đơn vị kinh doanh thương mại, du lịch, khách sạn và nhà hàng trên địabàn tỉnh, năm 2006 các chỉ tiêu trên đạt lần lượt là 46.087 người (bằng 1,1 lần năm2005) và 66,8% (giảm 2,2% so với năm 2005)

Nếu tính về số lượng tuyệt đối của lao động trong các doanh nghiệp thươngmại thì lực lượng này tăng rất mạnh trong g iai đoạn 2001 – 2006 Nếu tính laođộng thương mại trên 1.000 dân thì số liệu năm 2005 là 41,1 người/1.000 dân vànăm 2006 tăng lên 44 người/1.000 dân

1 Lao động thương mại Nhà nước

Lao động thương mại thuộc khu vực nhà nước trên địa bàn tỉnh Tây Ninh n ăm

2005 là 567 người và năm 2006 là 610 người Cả số lao động thương mại thuộckhu vực nhà nước do trung ương quản lý và địa phương quản lý năm 2006 đều tănglên so với năm 2005

2 Lao động thương mại ngoài quốc doanh

Lao động thương mại trong các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh trên địa bàn tỉnh cũng gia tăng rất nhanh, năm 2005 có 42.141 người vànăm 2006 có 45.477 người, tăng 7,9% so với 2005

Nếu tính số lao động thương mại ngoài quốc doanh trên 1.000 dân thì năm

2005, con số này là 40,6 người/1.000 dân (cao hơn so với tỷ lệ chung của cả nước

là 20,40 người/1.000 dân) và năm 2006 là 43,4 người/1.000 dân

Bảng 10: Lao động thương mại năm 2005 và 2006

Đơn vị: Người

Tổng số Quốc doanh Ngoài quốc

doanh Đầu tư nước ngoài

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh 2006

Như vậy, thực trạng phát triển lao động thương mại trên địa bàn tỉnh Tây Ninhcho thấy:

- Trong bối cảnh chung của lao động trong lĩnh vực thương mại trên phạm vi

cả nước thì Tây Ninh có tỷ lệ cao hơn so với cả nước trong giai đoạn 2001 – 2006,mặt khác lao động thương mại ngoài quốc doanh hiện nay có nhịp độ tăng khánhanh

- Tuy số lao động thương mại trong khu vực nhà nước tăng lên trong thời gianqua nhưng tương quan giữa lực lượng lao động thương mại thuộc khu vực nhànước và khu vực ngoài quốc doanh trên địa bàn Tây Ninh là 1:76, đây là một tỷ lệ

Trang 36

mà theo đó, số lượng lao động thuộc khu vực nhà nước tương đối nhỏ, điều này chothấy lao động ngoài khu vực nhà nước ngày càng phát triển trong những năm gầnđây.

- Nếu so sánh số lao động trong lĩnh vực thương mại bình quân trên 1.000 dâncủa Tây Ninh với tình hình chung của cả nước cũng có thể thấy rằng mặc dù TâyNinh có tỷ lệ cao hơn so với mức chung của cả nước nhưng hoạt động thương mạitrên địa bàn tỉnh hiện nay chưa thực sự phát triển hiệu quả Tuy điều kiện của tỉnh

có nguồn lao động khá dồi dào, nhưng với trình độ còn hạn chế của lao độngthương mại trên địa bàn Tây Ninh cũng sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu sản xuất, tiêudùng trên địa bàn, nhất là đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theohướng sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô lớn

VII CƠ CẤU NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH

1 Mạng lưới chợ

Thực hiện quy hoạch phát triển thương mại của tỉnh đến năm 2010, Nghị định

số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ;đặc biệt là Quyết định 559/QĐ -TTg ngày 31/5/2004 của Chính phủ về việc phêduyệt Chương trình phát triển chợ đến năm 2010 và thực hiện Quyết định số1077/QĐ-CT ngày 18/12/2001 của UBND tỉnh, tính đến nay, toàn tỉnh có 97 chợ,ngoài các chợ ở thị xã và thị trấn đã phát huy hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trìnhphát triển kinh tế-xã hội và giao lưu hàng hoá của nhân dân địa phương thì đa s ốcác chợ khác chưa đáp ứng được nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá, nhất là cáchàng hoá thuộc nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân cư

Quá trình phát triển và quản lý chợ của tỉnh hiện nay cơ bản sử dụng năng lựchiện có, từng bước nâng cấp mạng lưới chợ theo Quy hoạch chu ng của tỉnh nhằmphục vụ tốt việc lưu thông hàng hóa, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế -

xã hội đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về địa điểm kinh doanh của các thành phầnkinh tế và góp phần mở rộng thị trường nông thôn

Theo số liệu thống kê trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hiện nay, có 98 chợ/95 xã,phường, thị trấn, bình quân có 1,03 chợ/xã, phường, thị trấn Bình quân 3,6 km cómột chợ phục vụ cho mua sắm của nhân dân trong vùng Trong đó, có 01 chợ hạng

I (chợ Thị xã Tây Ninh) chiếm 1,02%; 6 chợ hạng II (chợ Phường 3, thị xã TâyNinh; chợ thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên; chợ Thị trấn Dương Minh Châu,huyện Dương Minh Châu ; chợ thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu; chợ thị trấn GòDầu, huyện Gò Dầu và chợ Thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng) chiếm 6,12%

và 91 chợ hạng III chiếm 92,86% và hiện nay đang hình thành 02 chợ đầu mối làchợ Nông sản-hàng bông (Kênh Tây 19-26, xã Bàu Năng, huyện Dương MinhChâu) và chợ Thủy sản-rau sạch (Thị trấn Hoà Thành, huyện Hoà Thành)

So với Qui hoạch, mục tiêu đặt ra trong thời kỳ 2001 – 2010 là: xây dựng mới

33 chợ, nâng cấp, cải tạo 50 chợ và di dời, giải toả 12 chợ thuộc tất cả các hạng I, II

và III với tổng nguồn vốn đầu tư là 14.115 triệu đồng Nhưng trên thực tế, đến năm

2007, tổng số chợ đã được đầu tư xây dựn g mới, nâng cấp, sửa chữa, di dời, giải

Trang 37

chợ, đạt 60% và di dời, giải toả: 04 chợ, đạt 33,3% so với Qui hoạch) Tổng nguồnvốn đầu tư là 59.276,5 triệu đồng, gấp 4,2 lần so với vốn dự kiến đầu tư của Quihoạch (trong đó vốn doanh nghiệp đầu tư xây dựng chợ trong Khu kinh tế cửa khẩuMộc Bài là 35.000 triệu đồng).

Tổng diện tích chợ tính đến năm 2007 là 438.180,5 m2, số người kinh doanhtại chợ thường xuyên là 6.622 người, chiếm 74% và số người kinh doanh khôngthường xuyên là 2.331 người, chiếm 26% tổng số người kinh doanh thường xuyên

và không thường xuyên tại các chợ trên toàn tỉnh

Về tổ chức quản lý chợ trên địa bàn tỉnh hiện nay hầu hết các chợ đều có banquản lý hoặc tổ quản lý

Quy mô các chợ nhìn chung vừa và nhỏ, diện tích xây dựng giữa các chợkhông đồng đều Thực tế ở một số cụm thương mại (thị trấn, chợ tiểu vùng) do quỹđất ít không đáp ứng yêu cầu họp chợ của nhân dân nên đã xảy ra tình trạng lấnchiếm các lòng lề đường, hè phố để họp chợ Tuy nhiên, cũng có những chợ códiện tích khá rộng nhưng do công tác tổ chức sắp xếp chưa hợp lý nên gây ra sựquá tải “ảo”

Hệ thống chợ hiện nay trên địa bàn tỉnh có thể chia thành 4 loại:

- Chợ trung tâm ở thị xã, trung tâm huyện: là đầu mối giao lưu hàng hóa trên

địa bàn, thực hiện cả hai chức năng bán buôn và bán lẻ, tập trung nguồn hàng kháphong phú đủ sức chi phối, điều tiết trên thị trường cả tỉnh

- Chợ liên xã ở các thị tứ: bao gồm chợ thị trấn và một số chợ xã trọng điểm

tập trung dân cư, trung tâm liên xã, có điều kiện phát triển kinh tế, thuận lợi về giaothông, vừa thực hiện chức năng bán lẻ tại địa bàn xã, phường, đồng thời thu hútđược nguồn hàng tương đối dồi dào, đủ sức chi phối hàng hóa cho một số xã lâncận

- Chợ dân sinh: gồm chợ các xã, phường ven nội ô thị xã, vốn không thuận lợi

về giao thông, mật độ dân thưa, nguồn hàng có giới hạn, chỉ phục vụ bán lẻ trên địabàn, quy mô chợ nhỏ và thường là chợ được xây dựng bán kiên cố hoặc tạm thời

- Chợ biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu trong khu vực xã,

phường, thị trấn biên giới, gắn với các cửa khẩu, trong khu kinh tế cửa khẩu đãhình thành từ trước hoặc hình thành mới theo nhu cầu cần thiết của dân cư biên giớihoặc theo Quyết định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chínhphủ về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế

Các chợ có xu hướng thiên về chức năng bán lẻ hàng tiêu dùng cho dân cưtrong khu vực xã, huyện và trong tỉnh Lực lượng tham gia kinh doanh ở hầu hếtcác chợ trên địa bàn chủ yếu là kinh doanh cá thể; còn DNTN, HTX TM, DNNNchiếm tỷ lệ nhỏ không đáng kể Theo số liệu điều tra thu được, số hộ kinh doanhthường xuyên tại chợ khoảng 5.804 hộ/97chợ, trung bình có 59 hộ/chợ

Trang 38

2 Chợ biên giới, cửa khẩu và chợ trong khu ki nh tế cửa khẩu

Tây Ninh có 20 xã biên giới nằm trên địa bàn của 5 huyện (Tân Biên,Tân Châu, Châu Thành, Bến Cầu và Trảng Bàng)

Đến nay, có tổng số 23 chợ biên giới, chợ cửa khẩu và chợ trong Khu kinh tếcửa khẩu Doanh số mua bán bình quân 01 chợ (không tính chợ trong KKTCK MộcBài) từ 30-50 triệu đồng/ngày, trong đó mua bán của cư dân qua biên giới từ 20 -30%

- Chợ biên giới: 17chợ, gồm: Chợ Trung tâm cụm xã Suối Ngô, Tân Đông,Tân Hà, Tân Lập, Hoà Hiệp, Trung tâm cụm xã Hoà Hiệp, Phước Vinh, Biên Giới,Hoà Bình, Bến Sỏi, Ninh Điền, Trung tâm cụm xã Hoà Thạnh, chợ Cầu LongThuận, chợ Chiều Long Phi, Tiên Thuận, Lợi Thuận và Bình Thạnh

- Chợ cửa khẩu: 05 chợ (Vạc Sa, Chàng Riệc, Hiệp Bình, Phước Trung vàLong Khánh)

- Chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu: 01 chợ (chợ đường biên trong Khu kinh tếcửa khẩu Mộc Bài)

Vốn đầu tư xây dựng chợ: từ năm 2002 đến năm 2007 đã đầu tư xây dựng

được 16 chợ với tổng nguồn vốn đầu tư là 43.519,7 triệu đồng Cụ thể:

- Xây dựng mới: 10 chợ (05 chợ biên giới: Trung tâm cụm xã Suối Ngô, Tân

Hà, Trung tâm cụm xã Hòa Hiệp, Ninh Điền và Trung tâm cụm xã Hòa Thạnh; 04chợ cửa khẩu: Vạc Sa, Chàng Riệc, Phước Trung và Long Khánh; 01 chợ trongKhu kinh tế cửa khẩu);

- Nâng cấp, sửa chữa: 05 chợ (chợ Tân Lập, Hòa Hiệp, Hòa Bình, Bến Sỏi vàchợ Cầu Long Thuận);

- Di dời và xây dựng mới hoàn toàn: 01 chợ (chợ Biên giới)

Qui mô chợ hiện có: trong 23 chợ có 16 chợ kiên cố, 04 chợ bán kiên cố (Tân

Đông, Tân Lập, Phước Vinh và Hoà Bình) và 03 chợ tạm (Lợi Thuận, Chợ ChiềuLong Phi và Tiên Thuận) Hiện nay còn 04 xã biên giới chưa có chợ (Tân Bình,Tân Hoà, Hoà Hội, Phước Chỉ)

* Có 03 chợ xây dựng xong nhưng chưa đưa vào sử dụng (Vạc Sa, ChàngRiệc, Phước Trung) do chưa hoàn chỉnh các công trình còn lại như mặt bằng xungquanh chợ, đường nội bộ, hệ thống điện, cấp thoát nước, khu vệ sinh, bãi đậu xe…

3 Trung tâm thương mại và siêu thị

Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, sản xuất hàng hóa ngàycàng phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp, thủy sản…Sựphát triển của các ngành sản xuất đã thúc đẩy các họat động thương mại của tỉnhphát triển Hiện nay, do ảnh hưởng về đặc điểm sản xuất, điều kiện địa lý kinh tế,

cơ sở vật chất, sự phân bố dân cư, điều kiện giao thông vận tải, tập quán muabán v v…đã và đang hình thành các trung tâm buôn bán ở thị xã, thị trấn và các

Trang 39

là TTTM Hiệp Thành (hạng I), Trung tâm thương mại dịch vụ Quốc tế Phi Longthuộc Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài và Trung tâm thương mại Long Hoa thuộcThị trấn Hoà Thành (đang hoàn chỉnh thành trung tâm thương mại hạng III) Bêncạnh đó, hệ thống siêu thị trên địa bàn tỉnh cũng chưa rõ nét; có 05 siêu thị trongkhu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài: siêu thị GC - Thế Kỷ Vàng (hạng I), siêu thịSmilling (hạng III), siêu thị Daiso (hạng III), siêu thị Tiết kiệm (hạng III) và siêuthị Fuso (hạng III) Nhìn chung, việc đầu tư phát triển hệ thống siêu thị, trung tâmthương mại trên địa bàn tỉnh Tây Ninh còn chưa triển khai được nhi ều, do đó chưahình thành được rõ nét và đầy đủ để có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của dân

cư trong tương lai Vì vậy, cùng với việc đầu tư xây dựng các trung tâm thươngmại, siêu thị ở thị xã và ở các huyện chủ yếu theo hướng sẽ hình thành thêm cácsiêu thị mới, đủ tiêu chuẩn thoả mãn các nhu cầu đa dạng từ thu nhập thấp, trungbình và cao, phục vụ cho dân cư thị xã, các huyện, khách vãng lai và khách quốc tế

Nhận xét chung:

- Về phân bố: Các trung tâm thương mại, siêu thị phân bố không đều, pháttriển còn mang tính tự phát, chủ yếu mới chỉ xuất hiện tại thị xã Tây Ninh và huyệnHoà Thành, các huyện, thị khác chưa có loại hình tổ chức thương mại này

- Về chủng loại và chất lượng hàng hoá: hàng hoá kinh doanh tại các siêu thịchủ yếu là hàng công nghiệp tiêu dùng

- Về cơ sở vật chất: các trung tâm thương mại có quy mô không lớn về diệntích, siêu thị chưa có trang thiết bị hiện đại

Nhìn chung, mạng lưới TTTM, siêu thị tại Tây Ninh hiện nay còn sơ khai,chưa phát triển, cần có định hướng qui hoạch hợp lý ngay từ đầu để sau này đi vàohoạt động có hệ thống, có hiệu quả, đem lại lợi ích cho xã hội cũng như cho sự pháttriển kinh tế nói chung

4 Hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu

Năm 2007, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 290 cửa hàng kinh doanh xăng dầu,được phân loại như sau:

Bảng 11: Số lượng các cửa hàng xăng dầu

Trang 40

Bảng 12: Số lượng cửa hàng kinh doanh xăng dầu phân bố theo địa bàn các, huyện, thị xã

- Bình quân một huyện, thị có 32,2 cửa hàng kinh doanh xăng dầu, mật độ là0,07 cửa hàng/km2 Nếu tính riêng khu vực thành thị gồm thị xã Tây Ninh thì mật

độ bình quân là 0,3 cửa hàng/k m2, khu vực ngoại thành và nông thôn có mật độ là0,06 cửa hàng/km2, những tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với các tỉnh, thành phốkhác trong cả nước Các cửa hàng được bố trí nằm ở dọc theo các đường quốc lộ lốivào thành phố, bên đường vành đai, trong các khu phố và các xã Với lưu lượngphương tiện giao thông như hiện nay, mật độ các của hàng kinh doanh xăng dầunhư vậy là quá thấp Trên địa bàn tỉnh có rất ít cửa hàng kinh doanh xăng dầu hiệnđại, quy mô lớn, kết hợp kinh doanh xăng dầu với các loại dịch vụ khác (hiện naymới chỉ có 02 cửa hàng)

- Chất lượng dịch vụ bán hàng xăng dầu về cơ bản đã đảm bảo theo quy địnhcủa các cơ quan quản lý, trước hết là điều kiện kinh doanh xăng dầu theo quy địnhtại Nghị định số 55/2007/NĐ-CP ngày 06/4/2007 của Chính phủ Hầu hết cửa hàngxăng dầu sử dụng các loại cột bơm điện tử của Nhật, Mỹ, Italia hoặc lắp ráp trongnước Các bể chứa đều bố trí họng nhập kín, trang bị van hở Chưa có cửa hàng nàolắp đặt hệ thống đo lường tự động Tuy nhiên, do chủ sở hữu đa dạng, việc kiểmsoát chất lượng xăng dầu và độ chuẩn xác của các đồng hồ điện tử vẫn là khó khăncủa các cơ quan quản lý và ảnh hưởng đến người tiêu dùng

5 Hệ thống kho hàng

Theo báo cáo thực trạng phát triển thương mại của các huyện, thị thì cho đếnnay hệ thống kho bãi dành cho việc lưu trữ, đóng gói, giao nhận và vận chuyểnhàng hoá trên địa bàn toàn tỉnh chưa hình thành rõ nét, hầu như không có hoặc có

Ngày đăng: 23/05/2015, 17:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Dân số Tây Ninh giai đoạn 2001-2007 - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 1 Dân số Tây Ninh giai đoạn 2001-2007 (Trang 11)
Bảng 2: Lao động bình quân trong khu vực nhà nước và cơ cấu lao động theo ngành nghề trên địa bàn Tây Ninh - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 2 Lao động bình quân trong khu vực nhà nước và cơ cấu lao động theo ngành nghề trên địa bàn Tây Ninh (Trang 12)
Bảng 3: Thu nhập và quĩ mua dân cư Tây Ninh - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 3 Thu nhập và quĩ mua dân cư Tây Ninh (Trang 15)
Bảng 4: Giá trị tăng thêm của ngành thương mại Tây Ninh giai đoạn 2001-2007 - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 4 Giá trị tăng thêm của ngành thương mại Tây Ninh giai đoạn 2001-2007 (Trang 20)
Bảng  5: So sánh giá trị tăng thêm của ngành thương mại với các ngành kinh tế khác của Tây Ninh - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
ng 5: So sánh giá trị tăng thêm của ngành thương mại với các ngành kinh tế khác của Tây Ninh (Trang 21)
Bảng 7: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tỉnh Tây Ninh so với cả nước (phân theo thành phần kinh tế) - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 7 Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tỉnh Tây Ninh so với cả nước (phân theo thành phần kinh tế) (Trang 24)
Bảng 8: Giá trị xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2001 – 2007 - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 8 Giá trị xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2001 – 2007 (Trang 30)
Bảng 9: Số cơ sở kinh doanh thương mại, du lịch, khách sạn và nhà hàng - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 9 Số cơ sở kinh doanh thương mại, du lịch, khách sạn và nhà hàng (Trang 32)
Bảng 10: Lao động thương mại năm 2005 và 2006 - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 10 Lao động thương mại năm 2005 và 2006 (Trang 35)
Bảng 11: Số lượng các cửa hàng xăng dầu - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 11 Số lượng các cửa hàng xăng dầu (Trang 39)
Bảng 12: Số lượng cửa hàng kinh doanh xăng dầu phân bố theo địa bàn các, huyện, thị xã TT Huyện, thị xã Số lượng cửa - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 12 Số lượng cửa hàng kinh doanh xăng dầu phân bố theo địa bàn các, huyện, thị xã TT Huyện, thị xã Số lượng cửa (Trang 40)
Bảng 13: Dự báo dân số tỉnh Tây Ninh - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 13 Dự báo dân số tỉnh Tây Ninh (Trang 67)
Bảng 14: Dự báo thu nhập và quỹ mua dân cư Tây Ninh - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 14 Dự báo thu nhập và quỹ mua dân cư Tây Ninh (Trang 68)
Bảng 18: Dự báo GDP thương mại tỉnh Tây Ninh - BÁO CÁO THỰC TẬP- ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN, YẾU TỐ PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI TỈNH TÂY NINH
Bảng 18 Dự báo GDP thương mại tỉnh Tây Ninh (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w