1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO GVG TỈNH TRẦN THỊ TRINH-TH YÊN THANH UÔNG BÍ

15 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 117 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo trực tiếp dạy lớp một nhiều năm, qua kinh nghiệm của bản thân và trao đổi với các bạn đồng nghiệp tôi thấy: Để rèn luyện cho học sinh Tiểu học viết đúng, viết đẹp thì cần chú

Trang 1

Lời nói đầu Bậc Tiểu Học là bậc đặt nền móng cho sự hình thành nhân cách của học sinh Là bậc học cung cấp các kĩ năng cơ bản ban đầu về tự nhiên xã hội con ngòi.Là bậc học trang bị những phơng pháp kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Bồi dỡng và phát huy những tình cảm thói quen và đức tính tốt đẹp của con ngời mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Tất cả các môn học ở bậc tiểu học đều có mối quan hệ mật thiết với nhau hỗ trợ lẫn nhau.Trong tất cả 9 môn học môn Tiếng Việt là môn học có vị trí đặc biệt quan trọng Môn học này

hộ trợ đắc lực cho các môn học khác, và đặc biết môn Tiếng Việt giúp các em giao tiếp một cách dễ dàng Thông qua môn Tiếng việt các em

đợc thu nhận những tri thức của thế giới xung quanh và đợc thể hiện mình với mọi ngời, với thế giới xung quanh Môn tiếng Việt có rất nhiều phân môn , mỗi phân môn lại có các dặc thù riêng Trong các lớp của bậc Tiểu học, lớp 1 là lớp quan trọng nhất, là lớp đặt viên gạch

đầu tiên cho bậc học Từ mẫu giáo các em bớc vào lớp một học tập sinh hoạt hoàn toàn mới các em phải tiến hành hoạt động học nhiều hơn hoạt

động vui chơi Để giúp các em làm quen và hăng say học tập Đặc biệt

là học môn Tiếng Việt giúp các em đọc đúng viết đúng, viết đẹp làm cơ

sở cho các môn học khác và làm tiền đề để học lên lớp trên

Chữ viết là công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phơng tiện

để ghi chépvà tiếp nhận các tri thức văn hoá, khoa học và đời sống

ở lớp 1 các em học viết là khó nhất Với phơng châm (nét chữ nết ngời) Dạy tập viết chúng ta sẽ rèn cho các em rất nhiều những phẩm chất đạo đức tốt đẹp nh tính kiên trì, bền bỉ, tự giác, độc lập ý

thức vợt qua khó khăn, tính cẩn thận,yêu thích cái đẹp, tinh thần trách nhiệm ý thức tự trọng và thái độ tôn trọng ngời khác ( thể hiện qua chữ viết) Đặc biệt là lòng tự hào về chữ mẹ đẻ

Phần thứ nhất

Trang 2

Những Vấn đề chung

I Lý do chọn đề tài

Tập viết là một phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc tiểu học, nhất là đối với học sinh lớp một Phân môn tập viết đã trang bị cho học sinh bộ chữ cái la tinh và những yêu cầu kỹ thuật để sử dụng chữ cái đó, trong học tập và giao tiếp Với ý nghĩa này, môn tập viết không những có quan hệ mật thiết đến chất lợng học tập của các môn học khác

mà còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt nh : Tính cần thận , tinh thần kỷ luật và khiếu thẩm mỹ Cố thủ tớng Phạm Văn Đồng nói : “ Chữ viết cũng là biểu hiện của nết ngời Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng nh đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình”

Lâu nay, nhiều thế hệ thầy cô giáo đã trăn trở góp nhiều công sức cải tiến kiểu chữ, nội dung và phơng pháp dạy tập viết Tuy vậy, học sinh vẫn viết sai, viết xấu Chữ viết thiếu nét, thừa nét, sai chính tả, trình bày bài bẩn, nhiều chữ không đọc đựoc và tốc độ viết còn chậm Điều này ảnh hởng không nhỏ đến chất lợng học tập nói chung (Vì bất cứ môn học nào cũng cần đến sự ghi chép)

Để khắc phục về chữ viết, trong ngành đã dấy nên phong trào thi

đua “ Rèn chữ viết đẹp trong giáo viên và học sinh” Với khẩu hiệu “ Mỗi chữ là một bông hoa cả bài viết là một rừng hoa đẹp”

Là một giáo trực tiếp dạy lớp một nhiều năm, qua kinh nghiệm của bản thân và trao đổi với các bạn đồng nghiệp tôi thấy: Để rèn luyện cho học sinh Tiểu học viết đúng, viết đẹp thì cần chú ý đến nền móng ban đầu đó là dạy viết chữ cái và liên kết các chữ cái để ghi tiếng đây chính là tiền đề để các em viết đúng viết đẹp các tiếng, từ và thành thạo bài viêt sau này Đó chính là lý do mà tôi chon đề tài “Dạy viết chữ ghi

âm cho học sinh lớp 1”

II Mục đích nghiên cứu

Tập viết là phân môn rất quan trọng và rất khó khăn với các em học sinh lớp Thấy đợc những khó khăn và thuận lợi trong việc dạy viết chữ cho các em học sinh lớp 1 Với kinh nghiệm của bản thân Để giúp

Trang 3

các em có thể viết đúng, viết đẹp và yêu thích tự hào khi viết chữ đẹp rèn cho các em tính cẩn thận ,tính kiên trì lòng tự hào về chữ mẹ đẻ và

hỗ trợ cho các em học tốt các môn học khác

III Giới hạn đề tài

Dạy viết chữ ghi âm cho học sinh lớp 1

IV Đối tợng nghiên cứu

Học sinh lớp 1A3 trờng Tiểu học Yên Thanh

V Nhiệm vụ đề tài

Để thực hiện đề tài này cần phải thực hiên những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu lí luận

- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh

- Cơ sở khoa học , cơ sở thực tiễn

- Đổi mới phơng pháp dạy học- Các biện pháp thực hiện

- Học sinh viết đúng, viết đẹp chữ ghi âm

VI.Phơng pháp nghiên cứu

1 Phơng pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu một số tài liêu khoa học giáo dục môn Tiếng Việt ( phân môn tập viết) các sách báo tạp trí có tài liệu liên quan đến việc dạy chữ cho học sinh Tiêu học

Các đặc san giáo dục đặc điểm tâm sinh lí học sinh Tiểu học

Các bài viết chũ đẹp các cấp , thị xã, cấp tỉnh, cấp quốc gia

2 Điều tra thực trạng

- Qua dự giờ thăm lớp đồng nghiệp

- Qua khảo sát chất lợng ban đầu của khối lớp 1, đặc biệt là lớp 1A3

- Qua trao đổi với đồng nghiệp và phụ huynh học sinh

Trang 4

V Kế hoạch thực hiện

Thực hiện trong năm học 2007- 2008 và năm học 2008 -2009

Nội dung đề tài

I.Cơ sơ lý luận:

1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học :

Học sinh Tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 11 - 12 tuổi Lứa tuổi này t duy đang phát triển, nhận thức của các em còn nặng về nhận thc cảm tính, nhất là đối với học sinh lớp 1, các em rễ có ấn tợng sâu sắc với các hình ảnh trực quan, có sắc thái cảm xúc Các em hay bắt chớc và làm theo ngời lớn Vì thế các hoạt động làm mẫu, các gơng ngời tốt việc thực đều có tác dụng giáo dục rất lớn đối với các em

2.Cơ sở khoa học :

Dạy viết chữ ghi âm cho học sinh lớp 1 ở đây thực chất là dạy viết

đúng tiếng mẹ đẻ Đó là thuận lợi cơ bản của học sinh ở lớp 1 việc dạy tập viết đợc phối hợp nhịp nhàng với dạy học âm Học sinh đợc luyện viết chữ ghi âm dới hai hình thức là chủ yếu: Luyện viết chữ ghi âm theo bài học và tập viết theo yêu cầu kỹ thuật trong các giờ tập viết trên cơ sở đó, ngời giáo viên phải có trách nhiệm dạy cho học sinh tiếp thu mẫu chữ, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo trong tập viết từ đó giáo viên phải chú ý đến từng đối tợng, tác động trực tiếp đến từng học sinh trong lớp theo tinh thần dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm, “ Trẻ em là

đối tợng chủ yếu của quá trình dạy và học nhà trờng tồn tại là vì trẻ em Vì vậy trẻ em phải đặ vào vị trí trung tâm của giáo dục dạy học” ( Theo Phạm Bá Hoành - Viện khoa học GD)

Trên nguyên tắc đó, phơng pháp dạy học mới là, dạy học tổ chức cho học sinh hoạt động : Học theo lớp, học theo nhóm (tổ) tự học cá nhân

Từ đó sẽ phát huy đợc tính tích cực, chủ động sáng tạo và phấn đấu vơn lên của từng cá nhân

Trang 5

Tiếp thu những lý luận trên tôi đã từng bớc vận dụng và dạy viết chữ ghi âm cho học sinh lớp tôi theo tinh thần đổi mới phơng pháp dạy và học

I Cơ sở thực tiễn:

Năm học này tôi đợc BGH nhà trờng phân công dạy lớp 1 bán trú Tổng số học sinh có 35 em đều nằm trong phổ cập ra lớp

Qua kinh nghiệm của bản thân đã dạy lớp 1, ngay từ những ngày

đầu ổn định lớp, tôi đã ra bài tập để khảo sát chất lợng ban đầu về chữ

viết của học sinh bằng cách : tôi yêu cầu học sinh viết chữ cái o, a vào

bảng cá nhân Dựa vào cách viết tôi đã phân loại học sinh trong lớp nh sau :

+ Viết đúng các chữ o, a : 13 em.

+ Viết đợc hình dáng chữ nhng cha đúng: 14 em

+Cha biết viết: 5 em

Qua tìm hiểu và tiếp xúc với các em, tôi thấy : 5 em này là những

em cha qua mẫu giáo và ít đợc sự quan tâm của gia đình do trình độ nhận thức và văn hoá của bố mẹ còn hạn chế

Với chất lợng trên Tôi rất băn khoăn làm thế nào để các em theo kịp với các bạn trong lớp và học đợc chơng trình thay sách hiện tai, đáp ứng đợc chất lợng chỉ đạo chung của nhà trờng nên tôi đã đề ra những biện pháp để rèn luyện học sinh viết chữ ghi âm nh sau

III.Các biện pháp và thực hiện

1 Sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh.

Đối với học sinh lớp 1 thì vị trí ngồi cũng ảnh hởng không nhỏ đến kết quả học tập của học sinh

Vị trí bàn 1 và bàn 2 dành cho những em mắt kém, nhỏ, tiếp thu chậm, cha biết viết ngồi trên,những em cao ngồi dới Tôi chú ý xếp xen

kẽ những em hiếu động ngồi kèm bên em hiền lành ít nói để các em nhắc nhở nhau chú ý nghe giảng Nh vây sẽ dễ theo dõi kèm cặp các em hàng ngày

2 Giúp học sinh nhận biếtcác nét cơ bản

Để các em dễ tiếp thu kiến thức về mẫu chữ, ngay từ bài học đầu tiên của tiết học vần tôi đã dạy cho học sinh nắm đợc hình dáng, tên gọi các nét cơ bản của Tiếng Việt Cụ thể là :

Trang 6

Nét xiên trái

Nét móc ngợc

Nét móc hai đầu

Nét móc xuôi

Nét móc hai đầu

Nét vắt (b, r, s )

nét thẳng ngang nét cong khép kín nét cong hở trái nét cong hở phải nét khuyết trên nét khuyết dới

Từ chỗ học sinh đã nắm đợc các nét cơ bản, tôi tiến hành rèn cho học sinh theo các bớc sau :

3 Luyện viết bảng cá nhân

Đối với học sinh lớp 1, bảng cá nhân quan trọng hàng đầu khi luyện viết (vì nó dễ viết và dễ xoá khi sai) Để học sinh ban đầu viết

đúng cỡ chữ nhỡ, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh phải mua đúng bảng mich hoặc bản Thiên Long( vì hai loại bảng này đều có dòng kẻ ô li rõ ràng).Trớc hếtkhi dạy học sinh luyện viết, giáo viên phải hớng dẫn để học sinh nhận và phân biệt tên gọi các dòng kẻ trên bảng, trong vở

Ghi chú: 1 : đờng kẻ ngang trên

2 : đờng kẻ ngang giữa

3 : đờng kẻ ngang dới

4 : Đờng kẻ dọc chia ô vuông

Từ đờng kẻ thứ nhất đến đờng kẻ thứ hai là 1 dòng Trong 1 dòng

có 5 dòng kẻ li việc xác định vị trí các đờng kẻ ngang, dọc, một dòng

kẻ, các ô vuông và các dòng kẻ li trên bảng, trong vở là rất cần thiết khi cho các em học sinh luyện viết ban đầu Có nh vậy các em mới xác định

đợc toạ độ biết đợc điểm đặt phấn, biết đợc điểm tựa của các nét dể viết

đúng ô, đúng dòng, không leo lên trèo xuống vợt quá dòng quy định

Trong phần luyện viết bảng,giáo viên cần chú ý luyện cho học sinh

+ Với nhóm học sinh đã biết viết và nhận thức nhận thức nhanh tôi chỉ việc gợi mở để các em tự xác định đợc ô, dòng, chiều cao độ dài rộng của các nét hoặc chữ để viết đúng rõ ràng và đẹp

Trang 7

+ Với nhóm học sinh cha viết đúng, nhận thức trung bình, tôi phải hớng dần kỹ hơn để các em nhận biết đợc điểm đặt phấn, bút, cách lia phân, bút từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái, biết đợc độ cao, độ dài các nét, xác định đợc điểm tựa để viết các nét tạo thành chữ Sau đó giáo viên viết mẫu vào khung kẻ quy định để học sinh quan sát và viêt theo mẫu

+ Với nhóm học sinh nhận thức quá chậm, cha biết viết, tôi phải thờng xuyên quan tâm hàng ngày Luôn động viên hớng dẫn thật tỉ mỉ cách viết, kết hợp cầm tay uốn nắn luyện viết cho học sinh chịu viết ngay từ những bài đầu tiên.Nh vậy, học sinh sẽ không bị hổng kiến thức

và dần dần sẽ theo đợc các bạn

a Luyện viết các nét cơ bản :

Khi học sinh đã biết đợc tên gọi của các nét cơ bản, tôi tiến hành h-ớng dẫn cho học sinh luyện viết từng nét thật cứng cáp rõ ràng và quen tay (vì các chữ viết sau này đều do các nét cơ bản tạo thành)

Ví dụ : Hớng dẫn viết nét móc ngợc ( )

Khi giới thiệu nét móc tôi phải có chữ mẫu trên khung dòng kẻ li

để học sinh qua sát và tôi hỏi :

Nét móc ngợc cao mấy dòng kẻ li? Điểm đặt phấn và điểm dừng ở

vị trí nào trên dòng kẻ? Học sinh trả lời, tôi kết hợp vừa viết vừa giả thích: khi viết nét móc ngợc, điểm đặt phấn xuất phát từ đờng kẻ li số 2 (ở dới lên ) rê phấn xuống 2 dòng li, chạm dòng li dới hất móc sang phải điểm dừng phấn ở dòng kẻ li thứ nhất(từ dới lên) ta viết đợc nét móc hoàn chỉnh Mỗi nét móc đợc viết cách nhau một ô vuông trong bảng Cứ nh vậy tôi hớng dẫn cho học sinh rèn luyện viết hét các nét cho thật đúng, đẹp Khi học sinh đã viết quen tay, đúng nét tôi hớng dẫn cho học sinh nhận dòng kẻ trong vở và viết theo mầu từng dòng

Trang 8

Trong khi học sinh thực hành viết, tôi phải chú ý hớng dẫn các em cách ngồi viết đúng t thế nh lng thẳng, ngực không tì vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25 đến 30 cm tay phải cầm bút, tay trái tỳ nhẹ lên mép vở để giữ, hai chân để song song thoải mái ngoài ra tôi còn h-ớng dẫn cho học sinh cách cầm phấn, bút đặt bảng (hoặc vở )sao cho

đúng những việc làm này tởng nh rất đơn giản song lại là viếc hết sức quan trọng và cần thiết đối với học sinh lớp 1

a Luyện viết âm ( chữ cái theo bài học)

Phần này chủ yếu học sinh đợc luyện vào cuối tiết 1 (học Tiếng Việt) Thời gian đợc luyện viết rất ít nhng rất quan trọng vì các em vừa đợc học âm, nhận chữ ghi âm, đồng thời đợc luyện viết để khác sâu chữ ghi âm học trong ngày

Ví dụ: Khi dạy bài 13: n, m

Sau khi học sinh đọc bài và nhận dạng đợc chữ n, m trong bài giáo viên treo chữ mẫu hoặc giới thiệu chữ (n, m ) trong khung dòng kẻ li

cho học sinh quan sát, giáo viên giới thiệu chữ n viết và hỏi: “ chữ cái n” gồm mấy nét ? Là những nét nào ? Học sinh trả lời : Giáo viên dùng que nhỏ chỉ theo và giảng giải : chữ cái n gồm 2 nét, nét móc xuôi và

nét móc hai đầu đều cao 2 dòng kẻ li Khi viết chữ cái ( n ) điểm đặt bút, phấn và điểm kết thúc ở vị trí nào trên dòng kẻ?

Học sinh trả lời, Giáo viên kết hợp viết mẫu và giải thích: khi viết chữ cái ( n ) điểm đặt phấn, bút từ dòng kẻ li thứ 2 (từ dới lên) viết nét móc xuôi dựa vào dòng kẻ dọc rê bút xuống, điểm dừng phấn, bút ở dòng li thứ nhất( từ dới lên) sau đó rê phấn, bút lên cao bằng nét móc xuôi để tạo nét móc hai đầu, điểm dừng của nét móc hai đầu ở dòng li thứ 2 độ rộng từ nét móc xuôi sang nét móc hai đầu là 1 ô li rỡi ta đợc chữ ( n )hoàn chỉnh Mỗi chữ cái ( n )đợc viết cách nhau 1 ô vuông trong bảng, vở

Giáo viên cần lu ý : khi viết mẫu nhất thiết phải để cho học sinh cả lớp đợc quan sát thấy tay giáo viên viết Có nh vậy các em mới viết

đúng, viết xuôi chiều, không viết ngợc

Trang 9

Khi giáo viên hớng dẫn cách viết xong cho vài em nêu lại quy trình viết, từ đó cả lớp cùng viết vào bảng con Luyện viết các chữ cái

đều có sự liên kết chữ trớc với chữ sau nh : đã viết đúng “ chữ cái n” thì viết sang “ chữ cái m” học sinh chỉ việc so sánh nhận ra điểm giống

nhau ( đều có các nét móc) nhng “ chữ cái n” chỉ có hai nét móc, còn “

chữ cái m” có ba nét móc nối liền nhau (Nét 1 là nét móc xuôi trái, nét

2 tiếp tục là nét móc xuôi trái nhng độ rộng lớn hơn nét 1, nét 3 là nét móc hai đầu ) giáo viên két hợp viết mẫu cho các em quan sát nhận diện quy trình và kỹ thuật viết Từ đó các em sẽ viết đợc chữ m dễ dàng

Khi dạy chữ ( l )giáo viên đa chữ mẫu hớng dẫn học sinh nhận biết độ cao, các nét và giáo viên hớng dẫn cách viếtchữ ( l ) là nét viết kết hợp của hai nét cơ bản : Nét khuyết trên ( nét khuyết xuôi ) và nét móc ngợc phải Đặt bút trên dòng kẻ thứ 2 viết nét khuyết đầu chạm dòng kẻ thứ năm đa mềm thẳng xuống gần chạm dòng kẻ 2 lợn mềm viết nét ngợc phải rộng 1 li rỡi điểm dừng ở dòng kẻ 2 sau đó giáo viên viết mẫu đúng , đẹp

Ngoài dạy viết chữ cái ghi âm, tôi còn dạy cho học sinh viết liền mạch các chữ để tạo thành tiếng, từ

a Luyện viết chữ ghi tiếng, từ :

Khi dạy cho học sinh luyện viết chữ ghi tiếng, từ, giáo viên cần chú ý cho học sinh nắm đợc cấu tạo chữ trong tiếng Viết đúng độ cao, độ rộng của các chữ, cách nối các chữ cái liền mạch và vị trí các

dấu mũ, dấu phụ dấu thanh ( ô, ă,â, ê, i, ơ ) các dấu này viết đúng vị trí không quá xa, cũng không gần quá hoặc vị trí các dấu thanh ( ` ~ ?

) đặt chúng trên đầu âm chính và xuôi chiều từ trên xuống hoặc thanh

nặng ( ) cũng đặt dới âm chính Có nh vậy ngay từ ban đầu các em sẽ

viết đúng và đẹp

Ví dụ : Dạy viết chữ ( bò ) trong bài 9

Trang 10

Khi dạy viết chữ “bò” Giáo viên cũng phải có chữ mẫu trong khung dòng kẻ li cho học sinh quan sát rồi hỏi về cấu tạo chữ “ bò” độ cao của các chữ cái, cách nối các chữ cái và vị trí dấu thanh

Học sinh trả lời Giáo viên kết hợp vừa viết mẫu vừa giải thích : Khi viết chữ “bò” Ta viết chữ cái b trớc cao 5 dòng li, nối liền mạch sang chữ cái o cao hai dòng li, dấu thanh huyền đặt ở dòng li thứ 3 (từ dới lên ) trên đầu chữ cái o nghiêng phải ta đợc dấu thanh huyền tạo thành chữ “bò” Mỗi chữ ghi tiếng “bò” cách nhau một ô vuông

Khi học sinh đã viết đợc chữ ghi tiếng thì cần luyện cho các em biết cách viết từ

Ví dụ : Dạy viết từ “lá mạ” ( bài 16 )

Vào giờ viết, giáo viên cũng phải có chữ mẫu trên khung dòng kẻ

li cho học sinh quan sát rồi hỏi :Trong từ “ lá mạ ” có mấy chữ ghi tiếng? Khi viết“ lá mạ ” ta viết chữ nào trớc, chữ nào sau? Khoảng cách các chữ trong từ cách nhau nh thế nào?

Học sinh trả lời.Giáo viên cũng kết hợp vừa viết mẫu vừa giải thích Khi viết từ “lá mạ”, ta viết chữ “lá” trớc, cách 1/2 ô vuông( hoặc bằng 1 chữ cái o ) ta viết tiếp ch “ mạ” Nh vây ta viết đợc

từ “lá mạ” Viết từ thứ nhất đến từ thứ hai cách nhau bằng một ô vuông trên bảng có nh vậy khi viết từ các em không viết rời rạc và nâng dần trình độ viết sau này cho các em

Khi viết bảng, để khắc sâu kiến thức, lần 1, tôi cho học sinh nhìn mẫu viết; lần 2 tôi xoá bảng đọc lại chữ vừa hớng dẫn, học sinh t duy tái hiện ghi lại bảng cá nhân đúng chữ nghe đọc

Khi giơ bảng, giáo viên cần nhận xét chữ viết của học sinh động viên kịp thời các em và rút kinnh nghiệm cho lần sau

Với học sinh cha viết đợc hoặc viết còn xấu, tôi trực tiếp hớng dẫn các em ngay trên bảng cá nhân kịp thời động viên khích lệ để các em cô gắng viết cho đẹp, đúng hơn

4 Luyện viết trong vở :

a.Luyện viết trong vở tập viết.

Ngày đăng: 23/05/2015, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w