1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO ĐỀ TÀI-HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG NHÀ TRƯỜNG

49 521 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 173,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người đã phát triểnmột cách tuyệt vời tư tưởng nhân ái đoàn kết yêu thương của dân tộc.Trong sự phát triển của xã hội hiện đại thì tư tưởng đó càng có ý nghĩa sâusắc, là cơ sở cho một nề

Trang 1

MỤC LỤC

II – Chương Một:

Từ chủ nghĩa nhân văn truyền thống đến

2.Những nội dung cơ bản của tư tưởng

3 Bước đầu xác định và nêu nhận xét về quá trình

phát triển của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh 18

Nhận thức về tư tưởng nhân vănHồ Chí Minh qua một số

tác phẩm văn học trong chương trình 12 THPT hiện nay 25

1 Biểu hiện của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

2 Biểu hiện của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

3 Vận dụng những hiểu biết về tư tưởng nhân văn

HCM vào việc giảng dạy các TPVH của Người

IV – Chương Ba:

Đề xuất một số biện pháp tuyên truyền và giáo dục tư

tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong trường THPT hiện nay 38

1 Thực trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức

2 Các biện pháp cần thực hiện trong việc giáo dục tuyên

truyền tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong nhà trường 41

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1/ Lý do chọn đề tài:

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Hồ Chí Minh đã đivào tiềm thức của nhiều thế hệ con người Việt Nam, đặc biệt là những lơpùngười đã đi qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ở thế kỷ XXchống Pháp và Mỹ xâm lược Tư tưởng của Người đã và đang là kim chỉnam soi rọi cho con đường cách mạng của dân tộc Người đã từng dạy:

“Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải có con người Xã hộichủ nghĩa”, một trong những điều mà Người quan tâm giáo dục và rènluyện thế hệ trẻ là tư tưởng Nhân văn, là lòng yêu thương con người, vìcon người Với sự nghiệp của ngành Giáo dục và đào tạo, chúng ta hiểurằng điều quan trọng nhất hiện nay của sự nghiệp giáo dục là đào tạo conngười phát triển toàn diện về tài, đức Trong đó đạo đức cách mạng là điềucực kỳ quan trọng Để Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa đời đời bền vững thì sứmệnh ấy thuộc về thế hệ trẻ, lấy cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh làm bài học Muốn vậy phải tiếp tục tìm hiểu tư tưởngnhân văn của Người , nhất là các tác phẩm được đưa vào giảng dạy trongNhà trường Phổ thông hiện nay Bởi:

- Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là sản phẩm vô giá của dân tộc ViệtNam, chúng ta tự hào thế kỷ XX là thế kỷ của Chủ nghĩa anh hùng Cáchmạng của thời đại Hồ Chí Minh, ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh còntiếp tục và mãi mãi soi đường tiến lên cho dân tộc Người đã phát triểnmột cách tuyệt vời tư tưởng nhân ái đoàn kết yêu thương của dân tộc.Trong sự phát triển của xã hội hiện đại thì tư tưởng đó càng có ý nghĩa sâusắc, là cơ sở cho một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, là định hướngcho sự rèn luyện đạo đức cách mạng của con người mới Xã hội chủ nghĩa

- Sự nghiệp đổi mới của đất nước đã đạt những thành tựu vô cùng

to lớn, chúng ta đang sống trong một thời đại mà “Một ngày bằng hai mươinăm”, sự phát triển của KHKT và CNTT đã làm biến đổi cả thế giới, gần

20 năm mở cửa và đổi mới bên cạnh sự phát triển của nền kinh tế quốcdân, con người cũng có những thay đổi căn bản trong tư duy, nhận thức,tính chất thực dụng của nền kinh tế thị trường đã làm cho con người cónhững biến đổi quan trọng Vì vậy việc giáo dục tư tưởng nhân văn cho thếhệ trẻ là một yêu cầu cấp thiết, phải thực hiện thường xuyên, đồng bộ vàphải có những biện pháp cả về mặt đạo đức và pháp lý mới có thể đạt hiệuquả mong muốn

Trang 3

Bác Hồ đã là tấm gương sáng, là hình ảnh vô cùng quen thuộc vớimọi thế hệ con người Việt Nam hơn nửa thế kỷ nay Từ lâu trong Nhàtrường Cách mạng, hình ảnh Bác và những áng văn thơ của Người đã trởnên vô cùng quen thuộc Đó không chỉ là nội dung của môn Văn thuần tuýmà còn là nội dung phong phú của các môn học khác như Đạo đức, Luânlý (ở tiểu học), Giáo dục công dân, Lịch sử… ở THPT, vì vậy mà tư tưởngNhân văn Hồ Chí Minh lại càng có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp giáodục thế hệ trẻ hiện nay Nó vừa mang ý nghĩa lý luận vừa có giá trị thựctiễn sâu sắc Hầu hết các trường học ở nước ta đều ghi khắc những lời dạycủa Người: “Non sông Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châuđược hay không chính là nhờ công học tập của các cháu”[3 – 110] Hoặc:

“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”[3 – 120].Bởi thế mà việc giáo dục tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ cónhiều thuận lợi Đảng và Nhà nước đang cần những thế hệ thanh niên tríthức có đạo đức cách mạng, biết cống hiến và sống trong sạch, lành mạnh

vì vậy trách nhiệm của ngành giáo dục – đào tạo càng trở nên nặng nề vàcó tính cấp thiết hơn bao giờ hết: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đờisau là một việc rất quan trọng và cần thiết”[3 – 48] Thực hiện Di chúcthiêng liêng của Người, ngành giáo dục – đào tạo càng phải đề cao chứcnăng “trồng người”, có như thế mới đáp ứng được yêu cầu xây dựng conngười mới: Những con người thấm nhuần tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.Trong nhà trường, việc giảng dạy các tác phẩm văn chương của Người làmột điều kiện thuận lợi cho giáo dục đạo đức, lòng nhân ái, khoan dung,độ lượng, biết “mình vì mọi người, mọi người vì mình”

2 – Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

2 2.1- Đối tượng nghiên cứu:

- Các ý kiến đánh giá, nhận xét của các nhà nghiên cứu, các tác giảtrong và ngoài nước về Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng nhân văn củaNgười

- Một số tác phẩm văn học, nhất là những tác phẩm được giảng dạy ởlớp 12 THPT, gồm các bài: Nguyễn Aùi Quốc – Hồ Chí Minh (tiểu sử, sựnghiệp văn học…), truyện ngắn Vi hành, Nhật ký trong tù (Hoàn cảnh sángtác, các bài thơ: Mộ, Tảo giải, Vãn cảnh, và Tân xuất ngục học đăng sơn);Tuyên ngôn độc lập

- Các tư liệu về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch

2.2-Phạm vi nghiên cứu:

- Các tác phẩm Văn học của Hồ Chí Minh trong chương trình Văn 12THPT(như nêu trên)

Trang 4

3 - Về tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh: những nội dung có liên quanđến Giáo dục – Đào tạo; những vấn đề về con người trong tư tưởng củaBác.

4 - Về vấn đề giáo dục đạo đức, tình yêu thương, nhân ái cho họcsinh trong Nhà trường THPT hiện nay

3 – Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:

3.1- Mục tiêu của đề tài:

Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minhthể hiện qua cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Người, nhận thức, tìm hiểuthêm những quan niệm của Bác về tình yêu thương con người để thấy đượcmặt tốt và chưa tốt trong bản chất của con người, từ đó rút ra những vấn đềcó tính lý luận góp phần làm tiền đề cho công tác giáo dục, đào tạo, nhấtlà trong việc giảng dạy môn Văn học nói chung và mảng thơ văn của Bácnói riêng

3.2 – Nhiệm vụ của đề tài:

5 Góp phần làm sáng tỏ thêm về nguồn gốc, nội dung cơ bản và quátrình phát triển của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

6 Tìm hiểu những biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn trong một sốtác phẩm Văn học, cách khai thác và vận dụng vào thực tiễn giảng dạyVăn học và giáo dục nhân văn

7 Đề xuất một số biện pháp trong tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồchí Minh, tư tưởng nhân văn của Người trong Nhà trường THPT hiện nay

4 – Phương pháp nghiên cứu:

Quán triệt phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử củaChủ nghĩa Mác – Lênin, và phương pháp Hồ Chí Minh

Sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic; đồng thời sử dụngcác phương pháp khác như phân tích, so sánh, bình giảng … để làm sáng rõnhững nội dung của đề tài

5 – Bố cục của đề tài:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3chương 8 tiết

Trang 5

CHƯƠNG MỘT

TỪ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN NHÂN ĐẠO TRUYỀN THỐNG ĐẾN

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

1 – Những cơ sở của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:

1.1- Từ tư tưởng nhân văn, nhân đạo truyền thống của dân tộc:Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng người đã có một lịch sử tồn tạihàng nghìn năm trên dải đất này Trên cái nền lịch sử lâu dài ấy, ngườiViệt chúng ta đã có một nền văn minh rực rỡ mà cốt lõi là sự đoàn kếtthương yêu lẫn nhau, giàu tình thân ái “thương người như thể thương thân”,đoàn kết để dựng nước và giữ nước, mà nói ngắn gọn là để sống tốt theolời khuyên:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” (ca dao)Hoặc dân dã hơn:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” (ca dao)Truyền thống văn hoá ấy được phản ánh trong các câu ca dao, tục ngữ,trong các câu chuyện cổ tích, nó như là những bài học đầu đời của cha ông

ta răn dạy cháu con Có ai trong chúng ta không lớn lên trong tiếng ru à ơicủa cha mẹ ông bà Vì vậy tính cộng đồng, lòng yêu thương con người đãthấm sâu vào máu thịt của người Việt Nam, dẫu là miền ngược hay miềnxuôi cũng đều từ cội ấy mà ra Để rồi tình cảm giữa người với người đã trởthành một triết lý sống của người Việt Nam Nhiều phong tục tập quán nảysinh cũng là để cố kết con người và giữ gìn thứ tình cảm đó Hãy đọcnhững câu tục ngữ, bài ca dao cổ ta thấy nghĩa tình, hay là tính nhân văn,nhân ái là mẫu số chung cho các mối quan hệ khác của con người trong đờisống xã hội:

Giọt máu đào hơn ao nước lã, Lá lành đùm lá rách (Ngày nay cònthêm: Lá rách ít đùm lá rách nhiều); Hoặc:

Quen nhau từ thuở bện thừng Trăm chắp nghìn nối xin đừng quên nhau … (ca dao)

Lịch sử dân tộc ta là lịch sử của những cuộc đấu tranh chống ngoạixâm giữ gìn đất nước Hãy bắt đầu từ Tây Nguyên bất khuất của các dântộc anh em, trong trường ca Đam San của người Ê Đê, nhân vật trung tâmtrong tác phẩm này là những con người “mang phẩm chất cao đẹp, giàu

Trang 6

lòng hy sinh, sẵn sàng xả thân cho lý tưởng của cộng đồng Họ là nhữnganh hùng cực kỳ dũng cảm, đã cầm vũ khí thì … chỉ có tiến chứ không baogiờ lùi Họ phi thường cả trong tình yêu lứa đôi Họ nói với người yêunhững lời say đắm:

“Ta xa nàng thì tim gan buồn như lá héo lúc trời mưa, như trâu buồnkhông gặm cỏ, ruột chán chường như ong không hút nhụy, như chim chẳnghót ca như bờ suối không tiếng đàn hát”

Vĩnh biệt người thân, họ cũng khóc những tiếng khóc phi thường:

“Đam San khóc từ sáng đến tối, từ tối suốt sáng, … nước mắt ròng đầymột bát, chảy ngập cả chiếc chiếu.”[24 – 22,23]

Có thể so sánh với chính sử nước nhà, nhiều vị anh hùng dân tộc nhưLý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi đánh giặc bằng “tâm công” (Ta đây mưuphạt tâm công – Nguyễn Trãi), “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chínhân để thay cường bạo” Suốt mấy mươi thế kỷ dựng nước và giữ nước,cha ông ta đã đúc kết truyền thống dân tộc trong mấy chữ Nhân ái, Nhânvăn, nói như nhà thơ Tố Hữu:“Dệt tấm lòng nhân đựng gió mưa!”[21 –452]

Một điều mà không phải ai cũng hiểu là chúng ta không chỉ “ngườitrong một nước phải thương nhau cùng”, mà với cả kẻ thù ta cũng “đánhkẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại”, Nguyễn Trãi từng nói:

“Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.” [24 – 123] Thử hỏi 500 năm trước đã có Công ước Quốc tế về tù binh chiếntranh để Nguyễn Trãi thực thi? Cha ông ta chỉ có công ước về lòng ngườiđể đối nhân xử thế mà Nguyễn Trãi là một điển hình

Một điểm nữa trong cơ sở tư tưởng nhân văn, nhân đạo của dân tộc

ta là truyền thống yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh tínhmạng và tài sản vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do cho Tổquốc Lịch sử đặt dân tộc ta trong những thử thách khắc nghiệt nhất vàchúng ta đã bước qua những khúc quanh đó một cách thật nhẹ nhàng vàvinh quang “Lòng nhân ái đã gắn chặt vận mệnh của mỗi cá nhân vàovận mệnh của dân tộc.”[1 – 4] Sự sống của mỗi cá nhân gắn với sự tồnvong của dân tộc Hơn ai hết mỗi người Việt Nam hiểu rõ về mình và hiểurõ điều này “Máu chảy ruột mềm” khi đất nước có ngoại xâm thì họ cùngnhau chung lưng đấu cật cầm vũ khí chống lại kẻ thù chung mà không suytính thiệt hơn, họ xả thân vì Nghĩa mà thực chất là vì sự sống còn của cảdân tộc Trong khoảng 3000 năm lịch sử, trải qua hơn 30 cuộc chiến tranhchống kẻ thù xâm lược, người Việt Nam thà chết chứ không bao giờ đầu

Trang 7

hàng giặc Chúng ta đã từng đương đầu với những kẻ thù mạnh hơn gấpnhiều lần như: nhà Tần (214 – 218 trCN), Triệu Đà (179 trCN), nhà Hán(938), nhà Tống (TKXII), nhà Nguyên (TKXIII), nhà Minh (TKXV), nhàThanh (TKXVIII), và Pháp, Mỹ (TKXIX – XX) Qua các cuộc chiến tranhgiữ nước ấy ta thấy ngời lên một phẩm chất tuyệt vời của người Việt Namlà yêu nước, thương dân, khoan dung độ lượng Trong bối cảnh ấy ta càngkhẳng định phẩm chất ngời sáng của nhân cách con người Việt Nam, “mộtnét nhân cách tuyệt đẹp trở thành sức mạnh bất tử, trường tồn quét sạch đôhộ”[1 – 6] Nét đặc sắc của nhân cách con người Việt Nam mà ca dao cổtừng nói “Có xáo thì xáo nước trong / Đừng xáo nước đục đau lòng còcon”, thà "chết vinh còn hơn sống nhục", bởi thế cho nên lịch sử từng thờiđại là lịch sử sự phát triển nhân cách con người Việt Nam, cùng với Đấtnước, nhân cách con người Việt Nam càng ngày càng hoàn thiện và pháttriển lên tầm cao mới Mỗi cá nhân con người Việt Nam cũng như cả dântộc ta luôn luôn sống vì nhau và vì cả bè bạn gần xa “Biết hy sinh nênchẳng nhiều lời”[21 – 428] Có thể nói, nhân cách của con người ViệtNam thường được thể hiện một cách đa dạng và sinh động trong tiến trìnhlịch sử của dân tộc Nhân cách ấy dù ở thời đại nào cũng là thứ nhân cáchbiết “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, vì sự sinh tồn của cả dân tộc.Như vậy trong suốt chiều dài gần 3000 năm lịch sử ấy, dân ta có lòng yêunước nồng nàn, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, vì Độc lập tự do của dân tộc.Đó là những biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước, của tư tưởng nhân văn,nhân ái của con người Việt Nam “Chủ nghĩa dân tộc chân chính, chủnghĩa yêu nước là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam.”[17– 24] Chúng ta khẳng định rằng “Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh bắtnguồn từ truyền thống yêu nước, cần cù lao động, anh dũng, sáng tạo trongdựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, truyền thống văn hoá nhânái của dân tộc Việt Nam.”[17 – 23]

1.2 – Những vấn đề về chủ nghĩa nhân văn trên thế giới:

1.2.a/ Văn hoá phương Đông:

Phương Đông từ xa xưa đã trở thành một nền văn minh lớn với nhiềutrường phái triết học nổi tiếng mà trước hết là Nho giáo

Nho giáo do Khổng Tử và các môn đệ của ông sáng lập vào khoảngthế kỷ VI – V tr.Cn với những nội dung cơ bản là thuyết chính danh vớichữ Nhân là cốt lõi, kêu gọi tinh thần trung quân, ái quốc, nhằm lập lại trậttự xã hội, bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến, nhà nước phong kiến.Tuy nhiên bên cạnh mặt tiêu cực, Nho giáo có những mặt tiến bộ mà đếnnay vẫn còn nguyên giá trị Đó là tính nhân văn, nhân đạo, tính nhân loại

Trang 8

Nó răn dạy cá nhân làm điều nhân đức “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.”, “kỷ sởbất dục vật thi ư nhân” Lịch sử đã chứng minh rằng Nho giáo khi nhậpvào nước ta được cha ông ta tiếp nhận có sáng tạo, phát huy mặt tích cực,hạn chế tiêu cực, sáng tạo cho phù hợp với đặc điểm, phong tục, thể chếcủa xã hội nước ta “Lấy dân làm gốc”, “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân”(Nguyễn Trãi) “Lòng nhân ái, yêu thương nhân dân, hết lòng vì việc dâncũng được thể hiện rõ nét trong nhận thức, tư tưởng, hành động của nhữngnhà tư tưởng, nho sĩ trí thức và các bậc đế vương” xưa.[20 – 21] Hồ ChíMinh sinh ra trong một gia đình Nho giáo vì vậy mà Người tiếp thu đượcnhững gì tích cực tốt đẹp nhất của nó, gắn bó với quê hương, dân tộc,Người đã tiếp thụ một cách tự nhiên lòng yêu nước và những phẩm chất tốtđẹp của văn hoá dân tộc và nét đẹp của Nho giáo.

Phật giáo cũng truyền vào nước ta từ rất sớm Phát tích từ Aán Độ,qua một quá trình lâu dài du nhập vào nước ta, cũng như Nho giáo, mặttinh hoa và tích cực được phát huy bởi Đức Phật luôn mong muốn xây dựngcho chúng sinh một cuộc sống “thiện chí, bình đẳng, yên vui, no ấm” VàoViệt Nam Phật giáo cũng dần dần được Việt hoá không còn y nguyên triếtlý đạo Phật mà phái Trúc Lâm của vua Trần Nhân Tông là ví dụ điểnhình Phật giáo và các đệ tử của họ đã góp phần rất lớn trong việc làm

“phong phú nền văn hoá nước nhà, góp phần to lớn trong tiến trình dựngnước, giữ nước của dân tộc, nó còn góp phần làm phong phú thêm chủnghĩa nhân đạo, truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam “cứu nhân độthế”[20 – 23] Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu sâu sắc những tinh hoa ấy củaphật giáo Người đã vận dụng sáng tạo triết lý nhà Phật trong nhiều hoàncảnh sinh động Năm 1947 trong thư kêu gọi đồng bào Phật giáo chốngPháp Bác viết: “Đức Phật là đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn Muốn cứuchúng sinh ra khỏi bể khổ, Người phải hy sinh đấu tranh diệt trừ lũ ác ma.Nay đồng bào ta đoàn kết hy sinh của cải, xương máu, kháng chiến đếncùng để cứu nước, cứu dân, gìn giữ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.Thế là làm theo lòng đại từ , đại bi của đức Phật” (dẫn theo[20 – 23]) Nhưvậy cùng với Nho giáo, Phật giáo cũng là một bộ phận quan trọng trong cơsở hình thành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, những bộ phận tư tưởngnhân văn này tồn tại trong con người Bác suốt cuộc đời hoạt động cáchmạng của Người 1.2.b/ Văn hoá phương Tây:

Phương Tây có những nền văn hoá lâu đời và đến thế kỷ XIX cùngvới gót giày của bọn thực dân, nó bắt đầu có mặt trên đất nước ta Trướckhi đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến những

tư tưởng tiến bộ của Phương Tây như Cách mạng Pháp, Cách mạng Mỹ,

Trang 9

“Người đã tiếp thu, kế thừa có phê phán tư tưởng dân chủ, nhân văn củavăn hoá Phục hưng, của thế kỷ Aùnh sáng, của cách mạng tư sản PhươngTây”[17 – 24].

Chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo ở Phương Tây “thoạt đầu… là doquần chúng nhân dân đề ra một cách tự phát trong cuộc đấu tranh chốngbóc lột và những tệ hại về đạo đức Với tính cách là một cuộc vận động tưtưởng đã định hình, chủ nghĩa nhân đạo được hình thành trong thời kỳ Phụchưng(thế kỷ XV – XVI) Trong thời kỳ này chủ nghĩa nhân đạo đặc trưngcho hệ tư tưởng của giai cấp tư sản đấu tranh chống chế độ phong kiến vànhững quan điểm thần học thời trung đại, và có những quan hệ chặt chẽvới những quan điểm duy vật tiến bộ” [21 – 402, 403] Những đại diện tiêubiểu của chủ nghĩa nhân văn thời kỳ này là Đăngtơ, L đơ Vanhxi,Môngtecxkiơ,… họ tuyên bố những khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”bảo vệ quyền con người, tuy nhiên trong đó họ đề cao chủ nghĩa cá nhân,lấy nó làm cơ sở cho lý tưởng nhân đạo chủ nghĩa

Hồ Chí Minh đã sớm tiếp xúc với nền văn hoá Phương Tây và có ýthức tìm hiểu nó một cách sâu sắc Người cho biết:“… vào trạc tuổi 13, lầnđầu tiên tôi đã nghe được những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… Thế làtôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn dấu đằngsau những từ ấy” (trích theo[1 – 24]) Đó là lý do mở đầu cho cuộc hànhtrình hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước của Người, để rồi trong hànhtrình ấy Người đã tiếp thu một cách sáng tạo các tư tưởng cách mạng tiếnbộ trên thế giới, và nhất là Chủ nghĩa Mác – Lênin làm kim chỉ nam chocách mạng Việt Nam và kỷ nguyên Hồ Chí Minh

1.3 – Chủ nghĩa nhân văn Cộng sản:

Đây là chủ nghĩa nhân văn của giai cấp công nhân, một giai cấp sinhsau đẻ muộn nhưng lại bị áp bức bóc lột nhiều nhất, giai cấp tư sản và nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa vừa là nguyên nhân, vừa là điều kiện cho sự rađời và phát triển mạnh mẽ của giai cấp công nhân, do bị áp bức, bóc lộtthậm tệ nên nổ ra những cuộc đấu tranh trên phạm vi toàn thế giới Mácvà Aêngghen đã làm nên học thuyết của mình về giai cấp công nhân và chủnghĩa cộng sản Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Lênin đã bổ sung, cụthể hoá để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Nga và cách mạng thế giới

Giờ phút lịch sử vĩ đại nhất của Hồ Chí Minh và cũng là của dân tộc

ta là lúc Người bắt gặp bản sơ thảo luận cương của Lênin “Về các vấn đềdân tộc và thuộc địa” Người nói:

“Đề cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ,tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong

Trang 10

buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡiđồng bào bị đày đọa đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là conđường giải phóng chúng ta.”[14 – 471]

Từ đó Người tham gia tích cực các hoạt động của Đảng cộng sảnPháp, của các phong trào cộng sản và công nhân Quốc tế khác, Người đếnvới chủ nghĩa Mác – Lênin một cách tự nhiên, Người tìm thấy ở đó nhữngchân lý và con đường cách mạng Người nói: “Ngày nay học thuyết nhiều,chủ nghĩa nhiều nhưng đúng đắn nhất là Chủ nghĩa Mác – Lênin.” Nhưvậy chủ nghĩa Mác – Lênin là nguồn gốc lý luận và là cơ sở quan trọngbậc nhất cho sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh Ngườiđã bỏ nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu các trước tác của Mác,Aêngghen, Lênin và tìm thấy những giá trị to lớn trong đó, đặc biệt là chủnghĩa nhân văn Tư tưởng nhân văn ở Bác chính là sự tiếp thu có sáng tạotừ nhiều nền văn hoá khác nhau, nhưng Chủ nghĩa Mác – Lênin đã soisáng những mảng tối khác, làm cơ sở cho sự tiếp thu và sáng tạo ở Người.Trong các triết lý của văn hoá Phương Đông và chủ nghĩa nhân văn củagiai cấp tư sản Phương Tây con người chưa được coi là chủ thể, nhất làngười lao động Ở tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh ta thấy Bác đề xướngviệc giải phóng con người, nhất là những người lao động bị bóc lột và ápbức trên toàn thế giới, đem lại cơm no áo ấm cho mọi người, sống bìnhđẳng nhân ái Người nói:

“Cả đời tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao chonước ta được độc lập, dân ta được ấm no, hạnh phúc, đồng bào ai cũng cócơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”[12 - …]

Như vậy tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh lấy con người làm xuấtphát điểm, vì con người, cho con người

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là kết tinh những tinh hoa văn hoáViệt Nam và nhân loại, được thể hiện trong mọi hành động, cử chỉ, lời nóicủa Người, trong suốt cuộc đời hoạt động sôi nổi cho dân tộc và nhân loại

2 – Những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:

2.1 – Lòng yêu thương con người:

Người Việt Nam ta vẫn thường tự hào mình là dòng giống LạcHồng,”con Rồng, cháu Tiên”, điều đó cũng đúng ở Hồ Chí Minh, trước lúcđến với Chủ nghĩa Mác – Lênin, Bác cũng hay nói về những điều này Saukhi đến vối chủ nghĩa Mác – Lênin, Bác đã có quan niệm mới mẻ, Ngườicho rằng trên thế giới này chỉ có hai giống người mà thôi, đó là giốngngười đi áp bức bóc lột và người bị bóc lột hay giống người làm điều Thiệnvà giống người làm điều Aùc Bác cho rằng mọi người trên trái đất này, khi

Trang 11

họ là những người bị áp bức, những người làm điều thiện thì dù khác nhauvề chủng tộc vẫn có thể coi nhau như anh em một nhà, vẫn có thể thựchiện đại đoàn kết, đại hoà hợp Người ta thường dùng khái niệm “lý luậncon người” để chỉ về mối quan tâm của Bác về con người:

“Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh từng bước hoàn

chỉnh lí luận về con người Năm 1924, Người đã viết: “Vậy là dù màu da

có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột vàgiống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi:tình hữu ái vô sản ’’

Năm 1949, trong tác phẩm Cần kiệm liêm chính, Hồ Chí Minh đã

viết như sau: “Trên quả đất có hàng muôn triệu người Song số người ấycó thể chia làm hai hạng: người Thiện và người Aùc” Và khi lí giải mốiquan hệ giữa người với người, Hồ Chí Minh giải thích: “Chữ người, nghĩahẹp là gia đình, anh em , họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cảnước Rộng nữa là loài người Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xítthực dân là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cảnhững người khác thì ta phải yêu quý kính trọng giúp đỡ

Chớ nịnh hót người trên Chớ xem khinh người dưới… Phải học ngườivà giúp người tiến tới Phải thực hành chữ Bác-Aùi”.[17 – 265,266] Ở HồChí Minh có sự phân biệt rạch ròi trong việc thể hiện quan niệm, và tháiđộ của mình về con người để từ đó mà có những cách đối xử khác nhau,bày tỏ quan điểm giai cấp , tránh chung chung như quan niệm nhân đạotruyền thống trước đây và mục đích cuối cùng của Bác là vì hạnh phúc chongười cần lao

Yêu thương con người là yêu quý, kính trọng con người, biết nhìnnhận con người trong xu thế luôn luôn phát triển, con người chịu tác động

to lớn của môi trường, hoàn cảnh sống, nhưng còn phải thấy được conngười có khả năng cải tạo hoàn cảnh, tác động và làm biến đổi hoàn cảnh,môi trường sống Yêu thương con người là đặt mình vào hoàn cảnh củamọi người để cảm thông, giúp đỡ, học hỏi Trước khi trở thành người bồitàu trên hành trình ra đi tìm đường cứu nước, vào năm 1911, Bác đã thểhiện một ý chí, một nghị lực phi thường khi trả lời người bạn bằng cách giơhai bàn tay mình và khẳng định: “Đây, tiền đây!”, Bác tin vào khả nănglao động sáng tạo của bản thân mình nói riêng và của con người nói chung

Tin bản thân mình và tin ở Con người đó là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng

nhân văn Hồ Chí Minh Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình,Bác luôn thể hiện niềm tin vào đồng chí, đồng bào, vào Đảng và quầnchúng nhân dân Trong Di chúc, trước lúc đi xa Người viết: “Cuôïc chống

Trang 12

Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiềuhơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.”[3 – 47]

Đối với cuộc đời vĩ đại của Bác thì niềm tin của Bác vào dân còn cóphản ánh ngược là niềm tin của dân vào Bác và Đảng Đấy là điều cực kỳquan trọng và cũng là điều hiếm thấy đối với người lãnh đạo Ở Bác,Người đã tạo dựng được mối liên hệ khăng khít, thân tình giữa dân và cánbộ, giữa Đảng và dân biểu hiện một tư tưởng nhân văn vừa cao cả, vừagiản dị Người còn nói: “Cán bộ phải là người đầy tớ trung thành của nhândân”, Người dạy: “Học để làm người, học để làm cán bộ, để phụng sự Tổquốc, phụng sự nhân dân” Tất cả những điều đó chỉ có thể nói lên rằngBác một lòng vì con người , sự “ham muốn tột bậc” như đã nói ở phần trêncũng chính xuất phát từ lòng nhân ái bao la của Bác Yêu thương con ngườicòn là phải biết lắng nghe ý kiến cuả người dân, biết lấy dân làm gốc, biếthọc hỏi ở nhân dân Bác chỉ ra rằng cần phải: “Học ở trường, học ở nhà,học ở quần chúng, học ở nhân dân”, người cán bộ phải biết làm học tròcủa dân, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới Ơû Bác lòng yêuthương con người là không biên giới, Người từng nói:

“Quan san muôn dặm một nhàBốn phương vô sản đều là anh em”

Lòng yêu thương con người không thay đổi ở Bác, nó có ở mọi nơimọi lúc, có trong mọi công việc dù lớn nhỏ của Người

Tình yêu thương đối với con người ở bác đã tạo được nét riêng độcđáo mà ta vẫn gọi là phong cách Hồ Chí Minh, bởi Người đã đứng trên lậptrường của giai cấp công nhân, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lêninvà mạch nguồn dân tộc mà hun đúc nên Người sống cho một mục đích duynhất là phấn đấu cho độc lâïp tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.Hoàn cảnh của dân tộc và hoàn cảnh cá nhân là nguyên do lớn cho sựđồng cảm của Bác đối với những người cùng cảnh ngộ, “thương người nhưthể thương thân” khát vọng giải phóng luôn luôn thường trực trong Người,đó là giải phóng cá nhân và giải phóng dân tộc, giai cấp Bằng sự từng trảivà chiêm nghiệm từ những hiểu biết trong cuộc đời bôn ba của mình màBác tạo nên được sự đồng cảm lớn lao ấy Thậm chí có những lúc ta cònthấy Bác chỉ “thương người” mà chẳng cần “thương thân”, những điều nàythể hiện rõ qua những năm tháng bị tù đày bởi chíng quyền Tưởng GiớiThạch ở trung Quốc những năm 1942 – 1943, khát vọng duy nhất lúc bấygiờ là được tự do, tự do để hoạt động cách mạng, tự do để cứu dân, cứunước

Trang 13

Có thể khẳng định rằng “Lý luận về con người ở Hồ Chí Minh chothấy: … đồng bào cả nước là một đại gia đình… Tuy nhiên, Hồ Chí Minhkhông bao giờ đóng khung “người trong một nước”, mà: “rộng hơn nữa,chúng ta có đại gia đình xã hội chủ nghĩa” quan điểm cũ của Nho giáo “Tứhải giai huynh đệ” (bốn biển đều là anh em) được Bác vận dụng sáng tạotrên cở sở quan niệm “người yêu người sống để yêu nhau”[21 – 349] Tómlại “tình yêu thương con người và nhân dân của Hồ Chí Minh chính là sựđồng cảm với những người cùng cảnh ngộ, của những người dân mất nước,nô lệ, lầm than Chính Người cũng từng là nạn nhân của chính sách thốngtrị tàn bạo hà khắc của bọn thực dân.” [17 – 269] Vì vậy mà nỗi đau của

Người cũng chính là nỗi đau của dân tộc, nỗi đau con người Người đau nỗi

đau của một người từng trải và chứng kiến biết bao nhiêu nỗi đau của đồnglọai, những nỗi đau của những con người đủ màu da, sắc tộc, lãnh thổ.Thậm chí Người còn đau cả nỗi đau xưa và nỗi đau cho tương lai (xemtruyện ký “Con người biết mùi hun khói”[5 – 240]), lòng yêu thương conngười của Hồ Chí Minh không giới hạn, hết sức chân thành và phẫn nộtrước những bất công gây nên nỗi đau con người

2.2 – Niềm tin vào con người và khả năng vươn lên tự cải tạo của họ –một niềm tin giàu chất nhân văn, nhân đạo cộng sản chủ nghĩa:

Ơ ûHồ Chí Minh, việc thể hiện lòng yêu nước thương dân xuất phát từnhững điều Người cảm nhận được trong hành trình văn hoá của mình, nóđã trở thành yếu tố thuộc bản chất trong con người Bác Trong “Nhật kýtrong tù” Bác viết:

Hiền dữ đâu phải là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên

(Không ngủ được) [19 – 502]

Thể hiện niềm tin tuyệt đối vào khả năng giáo dục và tự giáo dục,rèn luyện để vươn lên của mỗi cá nhân con người Người suy ra từ bảnthân mình: “Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng” (Đi đường) [19 –359]

Ngay từ những ngày đầu khi mới tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin,

Hồ Chí Minh từng cho thấy: “Không: người Đông Dương không chết,

người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi … Đằng sau sự phục tùng tiêu

cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, gào thét và sẽ bùngnổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến.”[4 – 28] Niềm tin ấy còn thể hiệnsự tiên đoán tài tình của Hồ Chí Minh, ngay từ khi nhận mình là ngườiCộng sản (1920) Bác quan niệm phải tin vào nhân dân, tin vào sức mạnhcủa quần chúng và dựa vào họ để làm nên sự nghiệp cách mạng Trong

Trang 14

quan niệm của Hồ Chí Minh về cái Thiện và Aùc ta còn thấy người ác lànhững kẻ gây ra tội ác cho dân tộc, cho đồng bào Không có người xấu, chỉcó những người chưa được giáo dục, cải tạo Vì vậy mà Hồ Chí Minhthương cảm đến mọi “ngươiø cùng khổ”, một “người tù cờ bạc vừa chết”cũng thấy Người cất tiếng nói xót xa, cảm thông, đau đớn:

Thân anh da bọc lấy xương Khổ đau đói rét hết phương sống rồi

Hôm qua còn ở bên tôi Sáng nay anh đã về nơi suối vàng [4 – 425]

Một cháu bé nửa tuổi phải theo mẹ ở tù vì cha trốn lính cũng gợi sựthương cảm, sự xúc động sâu sắc ở Hồ Chí Minh:

Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi Phải theo mẹ đến ở nhà pha [4 – 476]

Những điều đó cho thấy ở Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân đạo đã mởrộng quan niệm của nó, không giới hạn trong phạm vi tộc người, dân tộc,

quốc gia mà vì Con Người Trong hành trình cách mạng của mình Hồ Chí

Minh luôn đặt niềm tin vào quần chúng nhân dân, “niềm tin ấy không hềthay đổi rằng: Dân chúng rất tốt, rất sáng suốt, rất khôn khéo, rất anhhùng… Người coi đó là chân lý, và đòi hỏi “người cán bộ phải ghi tạc vàođầu cái chân lý đó” [17 – 271]

Triết học Mác – Lênin còn chỉ rõ mối quan hệ giữa con người vàhoàn cảnh, con người có thể cải tạo được hoàn cảnh, thắng lợi của cáchmạng là thắng lợi của một quốc gia, một dân tộc và cả trong từng mỗi conngười Vì vậy mà Hồ Chí Minh luôn dạy bảo người cán bộ cách mạng phảibiết gần gũi nhân dân, yêu thương nhân dân, tin cậy nhân dân, nắm tâm tưnguyện vọng của nhân dân để tránh mắc bệnh quan liêu, một trong nhữngcăn bệnh nguy hiểm của sự nghiệp cách mạng, có làm được như thế mới:

“Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”[8 – 65]

Đất nước ta tồn tại suốt hàng ngàn năm lịch sử trải qua nhiều triềuđại, nhưng chưa có triều đại nào lại quan tâm đến việc đào tạo giáo dụcngười cán bộ lãnh đạo chính quyền như thời đại Hồ Chí Minh Chế độphong kiến coi người lãnh đạo (thống trị) là người quân tử, người dân laođộng (bị trị) là kẻ tiểu nhân, kẻ tiểu nhân phải phục tùng người quân tử… Ởthời đại Hồ Chí Minh người cầm quyền đã được giáo dục rèn luyện theo tưtưởng của Người, phải biết lấy dân làm gốc Chính quyền của ta là chínhquyền “của dân, do dân, vì dân”, mọi hoạt động phải ”dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra” Người cán bộ cách mạng phải toàn tâm toàn ý chocông việc, phải tin yêu dân, tin vào khả năng tự vươn lên của họ Như đã

Trang 15

noùi tređn, tö töôûng nhađn vaín Hoă Chí Minh coøn theơ hieôn ôû quan ñieơm kínhtróng con ngöôøi vaø kính tróng nhađn dađn, “chuùng ta phại yeđu dađn, kính dađnthì dađn môùi yeđu ta, kính ta.”[8 – 65] “Tođn tróng nhađn dađn, quyù sinh máng

con ngöôøi ôû Hoă Chí Minh thaâm ñöôïm moôt chụ nghóa nhađn vaín trong saùng

cao cạ.”[17 – 273] Laø vò Tö leônh toâi cao cụa Ñạng vaø dađn toôc ta trong gaăn

suoât hai cuoôc khaùng chieân choâng ngoái xađm nhöng Hoă Chí Minh heât söùcgiöõ gìn vaø bạo veô sinh máng con ngöôøi Ngay cạ vôùi kẹ thuø, phại tieđu dieôtchuùng nhöng Ngöôøi luođn nhaĩc nhôû mói ngöôøi khođng ñöôïc gói nhöõng traônñaùnh gieât ñöôïc nhieău ñòch laø traôn ñaùnh “ñép”, ñieău ñoù theơ hieôn taâm loøngbaùc aùi bao la cụa Ngöôøi

Toùm lái, tin vaøo con ngöôøi cuõng laø moôt bieơu hieôn cụa tö töôûng nhađnvaín Hoă Chí Minh Coù tin töôûng con ngöôøi, coù thaây ñöôïc khạ naíng vöôn leđntöï cại táo cụa hó thì môùi coù theơ duøng ngöôøi coù hieôu quạ, môùi táo ra ñöôïcsöùc mánh cụa khoâi ñái ñoaøn keât ñeơ hoaøn thaønh söù máng cao cạ maø lòch söûñaịt leđn vai Ngöôøi Yeđu thöông, tin töôûng vaøo con ngöôøi chính laø neùt ñéptrong tö töôûng nhađn vaín Hoă Chí Minh

2.3 – Suoât ñôøi vì hánh phuùc cụa nhađn dađn:

Ñoù chính laø “ham muoân toôt baôc” cụa Hoă Chí Minh, töø thuôû aâu thô,Ngöôøi ñaõ chöùng kieân bao cạnh laăm than cụa ñoăng baøo, dađn toôc Ngaøy coønlaø caôu hóc troø tröôøng Quoâc hóc Hueẩ, Nguyeên Taât Thaønh vì tham gia bieơutình choâng söu cao, thueâ naịng ôû Trung kyø maø bò thöïc dađn Phaùp truy luøng,phại boû hóc vaø ra ñi tìm ñöôøng cöùu nöôùc, cöùu dađn Suoât ñôøi vì hánh phuùccon ngöôøi nhöng ñoù khođng phại laø söï ban ôn cụa kẹ beă tređn, khođng chư ñoâivôùi nhöõng noêi ñau taăm thöôøng cụa con ngöôøi maø “taăm cao cụa giaù trò tö

töôûng nhađn ñáo ñoù laø söï giại phoùng con ngöôøi”, vì con ngöôøi.[1 – 2] Hoă

Chí Minh luođn coù quan nieôm “laây dađn laøm goâc”, coi quaăn chuùng nhađn dađnlaø ñoông löïc, laø múc tieđu cụa söï nghieôp caùch máng, giuùp hó töï ñöùng leđn laømcuoôc caùch máng ñaâu tranh giại phoùng dađn toôc vaø töï giại phoùng mình ÔÛmaịt naøy ta thaây tö töôûng Hoă Chí Minh ñaõ keâ thöøa vaø saùng táo töø tuyeănthoâng ñaâu tranh cụa dađn toôc vaø caùc trieât lyù, tö töôûng tieân boô cụa phöôngÑođng vaø cụa theâ giôùi, nhaât laø cụa chụ nghóa Maùc – Leđnin Khaùt vóng giạiphoùng con ngöôøi coù töø ngaøn xöa, nhöng tìm ñöôïc con ñöôøng ñi ñuùng ñaĩn,tìm ñöôïc ñöôøng loâi chư ñáo cho khaùt vóng ñoù thaønh hieôn thöïc thì phại ñôïiñeân khi Nguyeên Aùi Quoâc baĩt gaịp chụ nghóa Maùc – Leđnin Lòch söû cụa dađntoôc ta cho thaây ñoù cuõng laø khaùt vóng cụa bieât bao theâ heô:

Cha ođng ta töøng ñaâm naùt tay tröôùc cöûa cuoôc ñôøi

Cöûa vaên ñoùng vaø ñôøi im ưm khoaùNhöõng pho töôïng chuøa Tađy Phöông khođng bieât caùch trạ lôøi

Trang 16

Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ

“Văn chiêu hồn” từng thấm giọt mưa rơi…

(Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi – Chế Lan Viên)

Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào thực tiễncách mạng Việt Nam, muốn cách mạng thắng lợi thì “đầu tiên là công việc

đối vối con người”, “Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”[3 – 49],

suốt cuộc đời Người luôn luôn tâm niệm và hưóng về mục tiêu cao cả đó

“Với Hồ Chí Minh, độc lập của dân tộc phải gắn liền tự do hạnh phúc chocon người ở những hưởng thụ cụ thể: ăn, mặc, ở, học tập, đi lại, việc làm…Người nhấn mạnh ý tưởng này ở thư gửi các đồng chí đồng nghiệp củamình trong guồng máy chính quyền mới (10 – 1945): “Ngày nay chúng tađã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nhưng nếu độc lậpmà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý

gì Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phầnhạnh phúc …Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân taphải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta,kính ta.”[2 – 638] Quá trình hoạt động cách mạng của Người luôn hướngvề mục đích cao cả đó là giải phóng nhân dân, giải phóng cho con người,không phải để ban ơn hay vụ lợi cá nhân mà để sống vì mọi người, vì hạnhphúc của nhân loại, mặc dù đây là công việc vô cùng khó khăn, gian khổ,

hy sinh Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng cao đẹp đó,

“nhằm thực hiện được ý tưởng cao đẹp giải phóng con người, đem lại tự dohạnh phúc cho con người thì phải xây dựng kiến thiết được xã hội khôngcòn chế độ người bóc lột người Đó là chế độ xã hội chủ nghĩa mà Hồ ChíMinh và các đồng chí của mình trên bước đường cứu nước đã nhận thứcđược và có quyết tâm thực hiện trên quê hương mình Chế độ xã hội chủnghĩa không phải do lực lượng nào ban phát cho, nó là sản phẩm của chínhcon người – con người mang tố chất xã hội chủ nghĩa.” [2 – 647] Suốt đờimình Người đã hy sinh hạnh phúc cá nhân cho hạnh phúc chung của mọingười, cho Tổ quốc Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng một đại gia đìnhViệt Nam mà ở đó mọi người được sống độc lập, tự do, hạnh phúc Muốncó một xã hội tốt đẹp như vậy ngoài việc đấu tranh giành độc lập, tự do thìsau đó “công việc đầu tiên là đối với con người” “Vì lợi ích mười nămtrồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” [11 – 222], Hồ Chí Minh hếtsức chú trọng việc “trồng người” Bất kỳ một chế độ xã hội nào, muốn tồntại và phát triển phải có những lớp người tiên tiến, trung thành với lý tưởngcủa cha ông, toàn tâm toàn ý phục vụ cho lợi ích chung của cả cộng đồng

Trang 17

Các chế độ xã hội đều xây dựng những mẫu con người lý tưởng của thờiđại mình, chế độ phong kiến đó là các đấng trượng phu, hiền nhân quân tử,các hiệp sĩ, hay các võ sĩ đạo… Chế độ tư bản là những doanh gia, thươngnhân giàu “nứt đố đổ vách”… Chế độ xã hội chủ nghĩa là hình ảnh những

“con người mới”, lấy tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng, cốnghiến, hy sinh cho hạnh phúc chung của giai cấp, của loài người, biết làmchủ cuộc sống, làm chủ xã hội Ơû nước ta Hồ Chí Minh đã dày công giáodục và rèn luyện con người, mỗi giai đoạn của cách mạng nước nhà lại có

một mẫu con người mới xuất hiện Trong kháng chiến chống thực dân

Pháp xâm lược (1946 – 1954) hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ” đã trở thànhcon người lý tưởng của thời đại, họ là mẫu người để cho mọi người ngưỡngmộ, học tập và rèn luyện, những con người ấy đã làm nên những kỳ tíchlịch sử trong kháng chiến chống Pháp và cả chống Mỹ sau này (1965 –1975), ở miền Nam thời chống Mỹ hình ảnh anh Giải phóng quân hiênngang trên tuyến đầu chống Mỹ cũng một thời làm rung chuyển thế giới:

Hoan hô anh Giải phóng quânKính chào Anh, con người đẹp nhất!

Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đấtSống hiên ngang, bất khuất trên đời…

…Anh đi xuôi ngược tung hoành Bước dài như gió lay thành chuyển non [21 – 432,397]Hồ Chí Minh là ngưòi mở đường chỉ lối, người lèo lái con thuyềncách mạng Việt Nam và trên “con thuyền” đo,ù Người đã đào tạo ra nhiềulớp “thuỷ thủ” xuất sắc, họ chính là mẫu người lý tưởng của một thời đạnbom, một thời đầy máu lửa, cho đến bây giờ hình ảnh của họ vẫn còn làtấm gương sáng cho các thế hệ trẻ học tập, nhất là đức hy sinh, một lòngmột dạ cho Tổ quốc, cho lý tưởng

Hình ảnh con người mới, những con ngưởi lý tưởng của thời đại đãthể hiện những thắng lợi của cách mạng và thành công to lớn của Hồ ChíMinh trên con đường đi tìm hạnh phúc cho dân tộc, cho mọi con người.Không chỉ quan tâm đến những công việc đưa đến những hạnh phúc lớnlao, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến cả những hạnh phúc đời thường vôcùng giản dị của họ:

Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoaTự do cho mọi đời nô lệ

Sữa để em thơ, lụa tặng già.[21 – 446]

Có thể nói ở Hồ Chí Minh, cái bình dị, bình thường, cái cao cả và cái

vĩ đại hoà quyện với nhau, khó phân biệt tách bạch, tất cả đều nằm trong

Trang 18

một phạm trù duy nhất đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc conngười.

3 – Bước đầu xác định và nêu nhận xét về quá trình phát triển của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:

3.1 – Hồ Chí Minh là “tinh hoa, là khí phách của dân tộc Việt Nam”:Trong Điếu văn của BCH TW Đảng do đồng chí Lê Duẩn đọc khivĩnh biệt Người (9 – 9 – 1969) có đoạn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sôngđất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chínhNgười đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta” [3 –54] Hồ Chí Minh là bậc thiên tài được hun đúc từ khí phách ngàn năm củadân tộc, ở Người còn có cả tinh hoa của non sông xứ Nghệ và thiên nhiêntươi đẹp Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thụ đầy đủ và sáng tạonhững tinh hoa văn hoá của nhân loại để hình thành nên trí tuệ và nhâncách độc đáo

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với nét đặc sắc nhất là quan niệm

mới mẻ về con người, dù là thành phần nào, giai cấp nào, dân tộc nào,

cương vị nào ta cũng thấy Người đề cập và luôn luôn có những định hướng

cần thiết cho họ phát triển, hướng thiện Cái triết lý hay còn gọi là cái đạo mà Hồ Chí Minh nêu ra chỉ có thể gọi đó là đạo làm người Đạo ở đây

cũng còn hiểu là đạo đức, đây là những biểu hiện cụ thể của tư tưởng nhânđạo Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh thể hiện đạo đức của mình trên hai phương

diện: “Đạo đức chính trị và Đạo đức trong lối sống của con người” [1 –

8]

- Về đạo đức chính trị, ta thấy Hồ Chí Minh trên hành trình cách

mạng đã tìm thấy lý tưởng cho đời mình là con đường đấu tranh giải phóngdân tộc, giải phóng giai cấp, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân.Người đã bắt đầu từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác –Lênin, hành trình cách mạng đầy gian khổ hy sinh để đưa về vận dụng vàothực tiễn cách mạng Việt nam là một cuộc trường chinh vĩ đại của Người.Đạo đức chính trị ở Hồ Chí Minh là làm chính trị không vụ lợi, chính trị ởđây là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc Làm chính trị không phảiđể được là quan, làm quan không phải để “vinh thân phì gia”, mà là để

“phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân” Đây là một nét hết sức quan

trọng làm nên tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, ngay cả những tình thế cấpbách nhất trong tính mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng chỉ một lòng mộtdạ nghĩ về những mục tiêu cao cả đó:

Canh bốn canh năm vừa chợp mắtSao vàng năm cánh mộng hồn quanh.[19 – 437]

Trang 19

…Sống khác loài người vừa bốn tháng

…May mà:

Kiên trì và nhẫn nạiKhông chịu lùi một phânVật chất tuy đau khổKhông nao núng tinh thần.[19 – 507]

Phải chịu biết bao cực hình và khổ nhục như vậy mà vẫn trung kiênbất khuất là bởi Hồ Chí Minh xác định mục đích của lý tưởng cách mạngcủa mình Phải biết hy sinh chịu đựng chờ thời cơ cách mạng, biết vùng lênđúng lúc chứ đó không phải là sự cam chịu, đạo đức cách mạng yêu cầucon người biết hy sinh nhưng nó còn cho thấy sự kiên trì nhẫn nại, biếtchọn thời cơ, biết vùng lên đúng thời điểm, để tránh tổn thất, đạt mục đíchthì đó mới là thứ đạo đức của người cách mạng chân chính, tỉnh táo, sángsuốt

- Về đạo đức trong lối sống: “Chiều sâu nhân bản trong triết lý vềcon người của Hồ Chí Minh biểu hiện rõ nhất trong luận đề sau:

“ Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyếtđiểm” Và “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng”

Cũng như vậy, Người khẳng định rằng: “Con người dù xấu, tốt, văn

minh hay dã man đều có tình” (trích theo [1 – 8]) Như vậy cái tình là cái

chiếm ưu thế trong đạo đức lối sống của Hồ Chí Minh, không phải vì cáitình mà xóa nhòa quan điểm giai cấp của người cộng sản, tình phải kèmtheo lý “có lý có tình”, nhưng cũng không phải vì quan điểm giai cấp màquên mất cái tình, truyền thống của dân tộc ta xưa nay vẫn vậy Như đãphân tích ở quan điểm của Hồ Chí Minh về con người, ta thấy khát vọngvươn lên cuộc sống tốt đẹp, hướng thiện là khát vọng vĩnh cửu của họ, và

cái tình ở đây chính là tính người hay vẫn thường gọi là nhân tính [1 – 9].

Ta từng bắt gặp nhiều hình ảnh, sự việc rất sinh động minh chứng cho cuộcsống thanh bạch, giản dị và cái tình rất cao cả của Hồ chí Minh Viên Ưng,một nhà văn lớn của Trung Quốc thế kỷ XX đã nhận xét: “Hồ Chí Minh làmột bậc đại nhân, đại trí, đại dũng” Di sản mà Hồ Chí Minh để lại cho

các thế hệ mai sau là tư tưởng Hồ Chí Minh mà trong đó tư tưởng nhân

văn, tư tưởng của cái tình, của lòng nhân ái, yêu thương con người lànhững bài học vô giá:

Bác để tình thương cho chúng conMột đời thanh bạch chẳng vàng sonMênh mông áo vải hồn muôn trượngHơn tượng đồng phơi những lối mòn [21 – 416]

Trang 20

3.2 – Quá trình phát triển tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:

Sự hình thành và quá trình phát triển tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minhcó thể thấy nổi bật ở ba giai đoạn trong suốt cuộc đời đầy sóng gió và vinhquang của Người:

3.2.1 – Thời kỳ là anh thanh niên Nguyễn Tất Thành (1890 – 1911),Người đã tiếp thụ được lòng nhân ái bao dung từ bà mẹ nghèo làm ruộng,dệt vải Hoàng Thị Loan, từ những lời ru ầu ơ, đến những điệu ví dặm, câuhò ở người mẹ và những người dân xứ Nghệ, từ những bài học về lòng độlượng và tấm gương học tập nghiêm túc của nhà Nho Nguyễn Sinh Sắc,

thân phụ của Người Đây có thể gọi là thời kỳ “ẩn nhẫn nấp náu”, thời kỳ

chuẩn bị tiềm lực tinh thần cho con chim đại bàng sắp sửa tung cánh bay cao, bay xa Tư tưởng nhân văn đó chính là lòng yêu kính cha mẹ, ông bà,

anh em ruột thịt, quê hương, gia đình mà nguồn gốc sâu xa là truyền thốngdân tộc cộng với những nét đẹp của tư tưởng Nho giáo “trai thì trung hiếu

làm đầu” Ơû giai đoạn này ta thấy “trung, hiếu” của Nho giáo đã có

những biến đổi về khái niệm trong quan niệm của Nguyễn Tất Thành

Trong chữ “hiếu” đã bao hàm nghĩa của chữ “trung” một sự kiện trong

cuộc đời của hai cha con Người còn được kể lại: đầu năm 1911, sau khi

“treo ấn từ quan” cụ Nguyễn Sinh Sắc vào Sài Gòn làm nghề bốc thuốc trịbệnh cứu người, Nguyễn Tất Thành từ trường Dục Thanh (Phan Thiết) vàotìm gặp, cụ đã nói với con trai, đại ý: nước đã mất, dân lầm than, anh cònđến tìm ta làm gì nữa Đây chính là động lực lớn lao để Nguyễn Tất Thànhquyết chí ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước Trong lời dạy của cụ Phóbảng, trung - hiếu chỉ là một Trung là trung với nước, là phải tìm cách cứunước nhà khỏi họa thực dân Muốn tỏ lòng hiếu với cha thì phải tìm cáchcứu dân, cứu nước Rõ ràng hai chữ “trung hiếu” của Nho giáo đã thay đổivề nội hàm của nó Một điều nữa tác động lớn đến nhận thức của NguyễnTất Thành là thực tiễn sinh động của đơiø sống xã hội Việt Nam trong phầnđầu thế kỷ XX, một xã hội thực dân nửa phong kiến với sự cai trị hà khắc,tàn bạo của thực dân Pháp; với sự bóc lột thậm tệ của bọn địa chủ và cuộcsống bần cùng của những kiếp người nô lệ … thực tiễn xã hội vơí những nỗikhổ đau của người dân nô lệ, cảnh quan trường hỗn loạn, vua tôi bất lực vàbám gót thực dân bán rẻ Tổ quốc, rồi những cuộc khởi nghĩa thất bại,những chí sĩ bậc cha anh bế tắc trên con đường cứu nước đã tác động sâusắc đến tình cảm, tư tưởng của Người, thôi thúc Người ra đi tìm con đườngđúng đắn nhất để cứu nước cứu nhà Ơû Người lòng yêu nước, ý thức về đấtnước, dân tộc, nhân dân đã hình thành cơ sở cho tư tưởng nhân văn, nhânđạo cao cả

Trang 21

3.2.2 – Thời kỳ Nguyễn Aùi Quốc bôn ba ở nước ngoài (1911 – 1941)có tác động to lớn trong quá trình định hướng tư tưởng nhân văn, quá trìnhbổ sung tính giai cấp, tính cách mạng trong tư tưởng đó Hành trình đi đểthấy “bọn thực dân ở đâu cũng tàn ác như nhau, người nô lệ đâu cũng khổnhư nhau”, Người tìm hiểu về các cuộc cách mạng trên thế giới, chọnđường lối đúng đắn, thích hợp nhất cho cách mạng nước nhà Người thamgia vào phong trào cách mạng và công nhân Pháp để rồi từ đó Người bắtgặp chủ nghĩa Mác – Lênin (1920) Đây là giai đoạn tìm tòi học hỏi bổsung lý luận nhận thức vô cùng quan trọng, tạo bước phát triển đột phá vềnhững quan niệm và mở rộng phạm vi của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.Người thâm nhập vào thực tiễn của phong trào công nhân, trực tiếp làmngười lao động bình thường để vừa lo những nhu cầu thiết yếu của đờisống cá nhân, nhưng quan trọng hơn là để có điều kiện hiểu sâu về bảnchất của cuộc sống, của xã hội ngay từ trong lòng xã hội tư bản Ngườikhông chỉ hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của phong trào công nhân vàcác dân tộc bị áp bức, Người còn tìm hiểu, học hỏi được những điều sâusắc của những tư tưởng văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng ở PhươngTây Người đọc các tác phẩm của nhiều nhà văn, nhà tư tưởng vĩ đại nhưBan – dắc, Huy – gô, Tônxtôi, Người tự nhận mình chỉ là “người học tròcủa nhà văn Nga (Tônxtôi) vĩ đại” Đây là những điều kiện vô cùng quantrọng và cần thiết để Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, vàđịnh hình phong cách tư tưởng nhân văn Trong nhiều nét phong cách tạothành tư tưởng đó thì tự do là điều mà Người luôn luôn quan tâm Tự do ởPhương Tây như là một biểu tượng của giai cấp tư sản, nhưng “đối với HồChí Minh, độc lập, tự do cho các dân tộc bị áp bức là nội dung qua trọnghàng đầu, là mục tiêu chiến lược quan trọng nhất trong tư tưởng của Ngườivới thế giới chứ không phải tự do cá nhân đơn thuần theo quan điểm dânchủ tự do tư sản” [2 – 935,936] Có thể khẳng định đây là thời kỳ bổ sunglý luận quan trọng nhất về chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng nhân văn của HồChí Minh, vừa thâm nhập thực tiễn cách mạng ở nước ngoài, vừa học tậptìm hiểu thông qua các học thuyết nổi tiếng của các nhà văn hóa PhươngTây, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lênin Đối với Hồ Chí Minh độc lập dântộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà mục tiêu cao cả nhất là mang lạihạnh phúc cho đồng bào, đưa lại những quyền cơ bản nhất cho con ngườiđấy mới là nội dung quan trọng nhất của tư tưởng nhân văn, thời kỳ nàyNgười đang chuẩn bị mọi tiềm lực cho lý luận để sau này khi về nước vậndụng nó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trang 22

3.2.3 – Thời kỳ Hồ Chí Minh với những thắng lợi của cách mạngViệt Nam (1941 – 1969) là thời kỳ vĩ đại nhất trong cuộc đời cách mạngsôi nổi của Người Tấm lòng yêu nước thương dân của Người thể hiện từnhững hình ảnh sinh động và cao cả: “Xa nước ba mươi năm một câu KiềuNgười vẫn nhớ”, “Kìa bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trongmàu hồng hình đất nước phôi thai” (Chế Lan Viên) Đây là giai đoạn tưtưởng nhân văn Hồ Chí Minh được biểu hiện cụ thể, đa dạng và sinh động.Sau khi về nước, thành lập mặt trận Việt Minh, chuẩn bị cho cuộc khởinghĩa vũ trang sau này, Người sang Trung Quốc nhằm liên hệ với Đảngcộng sản đế liên minh chống phát xít Nhật thì bị chính quyền Tưởng GiớiThạch bắt giam “Mười bốn trăng tê tái gông cùm”[21 – 459] nhưng đã thểhiện một nhân cách Hồ Chí Minh Đọc Nhật ký trong tù của Người ta thấyBác là bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng” (Viên Ưng), bậc “đại nhân” ấy đãtỏ lòng cảm thông, yêu thương những con người cùng khổ, thể hiện mộttinh thần quốc tế trong sáng và cao cả Năm 1945 khi lãnh đạo toàn dângiành được độc lập, Người viết bản Tuyên ngôn nổi tiếng khai sinh ra nước

Việt Nam dân chủ cộng hòa, “Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao

nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hy sinh của những người con anhdũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo

xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết

quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệunhân dân Việt Nam”[24 – 56,57] Có thể nói đây là tác phẩm biểu hiệncao nhất cho tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh Khát vọng độc lập cho dântộc đã được thực hiện, Người đã đưa dân tộc ra khỏi cảnh lầm than Hànhtrình xây dựng một nước Việt Nam mới là hành trình còn nhiều gian khổ,cam go, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác cách mạng Việt nam đã

đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Mỗi thời kỳ như vậy ta thấy xuấthiện những nội dung mới trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh Thời kỳgiành, giữ độc lập, kháng chiến chống thực dân Pháp, tư tưởng nhân vănthể hiện trong khẩu hiệu mà Người nêu ra: “diệt giặc đói, giặc dốt, giặcngoại xâm”, đói và dốt cũng là những thứ giặc nguy hiểm mà ta phải tiêudiệt chúng để cứu quốc gia đồng bào, yêu thương đồng bào là lo lắng chođồng bào ở cả những điều tưởng như nhỏ nhặt nhất như dạy chữ cho mọingười, phong trào “Bình dân học vụ” chính là cứu con người ra khỏi sự dốtnát Kháng chiến và kiến quốc là mục tiêu cao cả của dân tộc ta lúc bấygiờ và cũng là của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

Trong kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975), là thời kỳ nước ta, dântộc ta đã có vị thế trên chính trường Quốc tế Vì vậy cả thế giới hướng về

Trang 23

Việt nam Hồ Chí Minh đã là lãnh tụ nổi tiếng thế giới, thế nhưng ta vẫnthấy cuộc sống của Người thật giản dị Người đã mở rộng tầm quan hệquốc tế, coi nhân dân lao động, nhân loại tiến bộ là bè bạn “Quan sanmuôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em”, yêu thương conngười nhưng Hồ Chí Minh cũng rất cương quyết với kẻ thù của dân tộc vàcủa nhân loại Trước những diến biến ngày càng phức tạp của thế giới, HồChí Minh một mặt chèo lái con thuyền cách mạng, mặt khác kiên định lậptrường chính trị và lập trường nhân văn của mình Vừa chống Mỹ vừa xâydựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhưng Hồ Chí Minh vẫn quan tâm đếncon người, Người đã có những dự cảm thiên tài về tình hình cách mạng thếgiới nên Người hết sức chú trọng trong việc giáo dục rèn luyện những lớpngười kế tục Trong Di chúc để lại Người nói nhiều về việc giáo dục, đàotạo con người mới, nhất là thế hệ trẻ: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng chođời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Tư tưởng nhân văn củaNgười thể hiện một tầm cao mới đó là quan tâm đến tương lai của đấtnước của dân tộc và cả thời đại “Bởi vậy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minhlà đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo cao cả của dân tộc Việt Nam ở mọithời đại”[1 – 26].

Trang 24

CHƯƠNG HAI

NHẬN THỨC VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH QUA

MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC CỦA NGƯỜI

1 – Biểu hiện của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh qua các tác

phẩm văn xuôi:

Ngay từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã tâm đắc hai câu thơ củaViên Mai mà thân phụ Người vẫn thường đọc:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạchLập thân tối hạ thị văn chương(Khuya sớm những mong ghi sử sáchLập thân hèn nhất ấy văn chương)Người xưa thường quan niệm muốn lập thân mưu danh lợi thì lấy vănchương khoa cử làm con đường duy nhất Nhưng mưu danh lợi mà quênmất trách nhiệm của mình trước hoàn cảnh của non sông Tổ quốc thì đó làđiều đáng trách Hồ Chí Minh cũng không coi văn chương chỉ có ý nghĩathù tạc, nhàn tản ngâm ngợi khi trà dư tửu hậu, mà Người còn thấy đượcvai trò to lớn của văn chương trong việc tác động đến tư tưởng tình cảmcủa con người Lịch sử đã đặt lên vai Người sứ mạng lớn lao là tìm đườnggiải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, đem độc lập tự do cho dân tộc,hạnh phúc cho đồng bào Trên hành trình cứu nước ấy Hồ Chí Minh sớmnhận thấy vai trò to lớn của văn chương nghệ thuật, nó là vũ khí sắc béncủa cách mạng và người nghệ sĩ cũng phải là một chiến sĩ luôn luôn mangtinh thần tiến công cách mạng Người đã am hiểu một cách sâu sắc nhữngđặc trưng và quy luật của sáng tạo nghệ thuật, lấy quan điểm cách mạngcủa hệ tư tưởng vô sản làm phương hướng nhận thức và sáng tạo Hànhtrình học hỏi đã tạo cho Người một vốn tri thức uyên bác, tiếp thụ sâu sắcnhững tinh hoa của nhiều nền văn hoá từ Đông sang Tây, với một tâm hồngiàu cảm xúc yêu thương và luôn luôn bừng sáng vẻ đẹp của trí tuệ, lạiluôn luôn thiết tha với vẻ đẹp của cuộc sống và nghệ thuật, nên ngay từnhững tác phẩm đầu tay của mình Người đã mang đến những phẩm chấtcao đẹp của một chất lượng sáng tạo mới

Hoạt động văn học chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ sự nghiệp lớnlao mà Hồ Chí Minh đã cống hiến cho dân tộc, nhưng đáng quý biết bao

Ngày đăng: 23/05/2015, 17:03

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w