1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị chất lượng Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2010

30 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 218,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUTrong giai đoạn phát triển vừa qua tỉnh Việt Nam đã đạt được kết quả tương đối cao về tăng trưởng kinh tế.Cùng với tăng thu nhập bình quân đầu người và cải thiện về cuộc sống ,

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn phát triển vừa qua tỉnh Việt Nam đã đạt được kết quả tương đối cao về tăng trưởng kinh tế.Cùng với tăng thu nhập bình quân đầu người và cải thiện về cuộc sống ,tỷ lệ nghèo đã giảm đáng kể.Nhưng theo một vài đánh giá gần đây thì chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp Nghị quyết hội nghị TW

9 ,khóa IX đã nhận định: “Tăng trưởng kinh tế khá nhưng chưa tương xứng với mức tăng đầu tư và tiềm năng của kinh tế”.

Có thể thấy tính bền vững hay chất lượng tăng trưởng ngày càng được quan tâm nhiều hơn vì vậy đánh giá chất lượng tăng trưởng là một việc làm cần thiết để đưa ra chính sách phát triển cho phù hợp.Đặc biệt là ở tỉnh Bắc Ninh nơi có quá

trình CNH-HĐH đang diễn ra mạnh mẽ thì việc đánh giá chất lượng tăng trưởng

đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tỉnh.Chính vì vậy

em mạnh dạn chọn đề tài : “Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2010”.Qua bài chúng ta để có được cái nhìn toàn diện, tổng thể về

chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tìm ra những rào cản đối với tăng trưởng kinh tế trên cả hai mặt lượng và chất, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong thời gian tới

Do kiến thức về kinh tế còn hạn chế và thời gian làm gấp rút nên bài viết của em còn nhiều sai sót.Vì vậy em rất mong nhận được sự hướng dẫn và góp ý của thầy giáo THS.Bùi Đức Tuân

Em xin chân thành cảm ơn!

Kết cấu của bài bao gồm 3 phần:

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2005–2010

III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH BẮC NINH TỚI NĂM 2015

Trang 2

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

I Khái niệm và mỗi quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế

1 Tăng trưởng kinh tế

Khái Niệm: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh

tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ”

Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít,còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ.Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị.Thu nhập bằng giá trị phán ánh qua các chỉ tiêu GDP,GNI và được tính toán cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người

Như vậy bản chất của tăng trưởng là phán ánh sự thay đổi mặt lượng của nền kinh tế.Ngày nay ,yêu cầu cầu tăng trưởng được gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao.Theo khía cạnh này,điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục,có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tôc độ tăng thu nhập bình quân đầu người.Hơn thế nữa,quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý

2 Chất lượng tăng trưởng kinh tế

Chúng ta chưa có khái niệm chính thức về chất lượng tăng trưởng Nhưng đã có rất nhiều khái niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế đã đưa ra.Có quan điểm thì cho rằng,chất lượng tăng trưởng kinh tế đánh giá ở đầu

Trang 3

ra,thể hiện bằng kết quả đạt được qua tăng trưởng kinh tế như chất lượng cuộc sống được cải thiện,bình đẳng trong phân phối,bình đẳng về giới trong phát triển,bảo vệ môi trường sinh thái…Quan điểm này đã dần đưa khái niệm chất lượng tăng trưởng gần hơn với phát triển kinh tê.Quan điểm khác lại nhấn mạnh đầu vào của quá trình sản xuất như việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực,nắm bắt và tạo cơ hội bình đẳng cho các đối tượng tham gia đầu tư quản

lý hiệu qủa các nguồn lực đầu tư

Nếu theo nghĩa rộng thì chất lượng tăng trưởng cũng gần với phát triển

bền vững: “ Đó là sự phát triển có sự kết hợp chặt chẽ ,hợp lý hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm : tăng trưởng,cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường”.Tiêu trí đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế

ổn định: thực hiện tốt công bằng xã hội,khai thác hợp lý ,sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên,bảo vệ va nâng cao chất lượng môi trường sống

Còn theo nghĩa hẹp,chất lượng tăng trưởng có thể chỉ là một khía cạnh

nào đó của vấn đề phát triển

Một số nhà kinh tế học đã đưa ra những khái niệm khá đầy đủ về chất lượng tăng trưởng:

*Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế đạt được khi tốc độ tăng trưởng cao được duy trì trong dài hạn và phải đóng góp trực tiếp vào phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo.

Đây là quan điểm được nhìn nhận trọng tâm hơn vào vấn đề xã hội của quá trình phát triển theo hướng bền vững với mục tiêu định hướng là tiến tới xóa đói giảm nghèo.Đây là quá trình mà CNH-HĐH của nước ta đang tiến tới

và được các tổ chức quốc tế đánh giá cao

*Quan niệm chất lượng tăng trưởng theo quan niệm hiệu quả

Nội hàm của chất lượng tăng trưởng theo quan niệm hiệu quả được nhìn nhận theo hai phương thức:

Một là tăng trưởng theo chiều rộng: Tức là tăng thêm vốn,lao động và tăng cường khai thác tài nguyên khoáng sản…

Trang 4

Hai là tăng trưởng theo chiều sâu: Thể hiện ở tăng năng suất lao động nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong đó quan trọng nhất là vốn tư bản,nâng cao chất lượng quản lý,khoa học công nghệ,cải thiện môi trường kinh doanh,thể chế và pháp luật vĩ mô.

*Quan niệm của Lucas,Sen lại cho rằng cùng với quá trình tăng trưởng

chất lượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn sau:

+Yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp cao (TFP): đảm bảo cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động bên ngoài

+Tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

+Tăng trưởng phải đi đôi với phát triển môi trường bền vững

+Tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới,đến lượt nó thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn

+Tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và xóa đói giảm nghèo

* Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bền vững

Đặc trưng của tăng trưởng kinh tế có chất lượng được biểu hiện qua việc phát triển bền vững Theo WB, thuật ngữ “phát triển bền vững” là phát triển theo nguyên tắc “sự thoả mãn nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm tổn hại tới sự thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Phát triển bền vững phải bảo toàn và phát triển ba nguồn vốn: tài nguyên môi trường (bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội), vốn nhân lực (chất lượng của người lao động) và vốn vật chất (cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế) Trong đó, tài nguyên môi trường thiên nhiên hiện nay được quan tâm đặc biệt,

vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các quốc gia thời gian qua thường dẫn tới huỷ hoại về môi trường Các nghiên cứu của WB cho thấy, mức độ ô nhiễm lúc đầu tăng cùng với tốc độ tăng trưởng kinh Thu nhập bình quân đầu

Trang 5

người tiếp tục tăng thì chất lượng môi trường giai đoạn tiếp theo được cải thiện rõ rệt

Kết luận : Như vậy có thể hiểu chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự

phát triển nhanh hiệu quả và bền vững của nền kinh tế,thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định,mức sống của người dân được nâng cao không ngừng,cơ cấu kinh tế chuyển dịch ohù hợp với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế,tăng trưởng còn phải đi đôi với tiến

bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường,quản lý nhà nước có hiệu quả.Điều

đó được thể hiện ở các chỉ tiêu sau:

1 Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài

2 Phát triển có hiệu quả: ICOR TFP cao

3 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả phù hợp với thực tế của nền kinh tế

4 Nền kinh tế có tính cạnh tranh cao

5 Tăng trưởng đi đôi với đảm bảo công bằng đời sống xã hội

6 Tăng trưởng đi đôi với bảo vệ môi trường

7 Sự quản lý hiệu quả của nhà nước

3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng

Tăng trưởng về mặt lượng thường diễn ra trước và là điều kiện để đẩy mạnh nâng cao chất lượng tăng trưởng Chúng ta cần phải xem xét một cách đầy đủ hai mặt số lượng và chất lượng tăng trưởng.Mối quan hệ giữa mặt lượng và mặt chất của quá trình tăng trưởng là rất chặt chẽ.Tốc độ tăng trưởng phản ánh mặt ngoài của quá trình tăng trưởng thể hiện ở mức độ số lượng lớn nhỏ,nhanh hay chậm của việc mở rộng quy mô còn chất lượng phản ánh nội dung bên trong của quá trình tăng trưởng ,biểu hiện ở phương thức,mục tiêu

và hiệu ứng đối với môi trường chứa đựng quá trình tăng trưởng ấy

Trang 6

Tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng là hai mặt của một vấn

đề có quan hệ rằng buộc lẫn nhau.Tăng trưởng kinh tế thường diễn ra trước và

là điều kiện tiền đề để đẩy mạnh nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tăng trưởng bền vững hiệu qủa tạo

ra nhiều tư bản tăng thu nhập lại là điều kiện bổ sung cho nguồn lực tăng trưởng.Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau tùy theo sự lựa chọn mô hình phát triển khác nhau mà vị trí mối quan hệ giữa mặt chất và lượng của

sự tăng trưởng lại khác nhau:

-Trong giai đoạn đầu của sự phát triển,mặt lượng được nhấn mạnh và là mục tiêu quan trọng nhất Điều đó thể hiện ở quy mô và tốc độ tăng trường.Tuy nhiên mặt số lượng và chất lượng tăng trưởng lại có tính đánh đổi Khi ta chú trọng qua cho sự tăng trưởng thì chúng ta cũng phải trả giá đó

là chất lượng tăng trưởng kém thể hiện ở sự bất bình đẳng trong thu nhập,ô nhiễm môi trường…

-Trong giai đoạn sau khi các chỉ tiêu kinh tế đã đạt được mức độ nhất định thì vấn đề chất lượng tăng trưởng bắt đầu được chú trọng Vấn đề đặt ra trong giai đoạn này không phải là đạt được chỉ tiêu tăng trưởng là bao nhiêu

mà quan tâm đến tính bền vững và sự hiệu quả của các chỉ tiêu ấy.Chính việc quan tâm đến các tiêu trí về chất lượng tăng trưởng lại là cơ hội để đạt được mục tiêu về số lượng tăng trưởng đặt ra

Thể hiện mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế đã đưa ra 3 mô hình tăng trưởng như sau:

Mô hình 1: Tăng trưởng không bền vững,quy mô của nền kinh tế được

mở rộng trong thời kỳ tăng trưởng nhanh nhưng ở những thời kỳ khác ,tăng trưởng kinh tế lại thấp và nền kinh tế suy giảm,trì trệ

Môi hình 2: Tăng trưởng nhanh mất cân đối phải trả giá bằng những

tồn thất to lớn về tài nguyên và môi trường.Do đánh giá thấp tác động của các

Trang 7

loại tài sản nguồn vốn cho nên chậm chễ trong đầu tư và đầu tư không hiệu quả đặc biệt là vốn nhân lực do đó không nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Mô hình 3: Tăng trưởng bền vững nhờ nguồn tích lũy từ các loại vốn

tăng lên theo thời gian một cách cân đối.Chính phủ tập trung đầu tư nhiều hơn cho khu vực kinh tế công cộng như y tế giáo dục,bảo vệ tài nguyên thiên nhiên môi trường.Vốn nhân lực được tiếp sức có giá trị gia tăng cao hơn tạo điều kiện đổi mới công nghệ và tăng TFP

II Đánh giá tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế

1 Đánh giá về tăng trưởng kinh tế

Theo mô hình kinh tế thị trường,thước đo tăng trưởng kinh tế được xác định theo các chỉ tiêu của hệ thống tài sản quốc gia(SNA).Các chỉ tiêu gồm có:

a Tổng giá trị sản xuất (GO-Gross output)

Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của 1 quốc gia trong một thời kỳ nhất định(thường là một năm).Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất có thể được tính theo hai cách:

- Thứ nhất, đó là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị,các nghành trong toàn bộ nền kinh tế quôc dân

- Thứ hai tính trực tiếp từ sản xuất ,dịch vụ gồm chi phí trung gian(IC)

và giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ (VA)

b Tổng sản phẩm quôc nội (GDP-Gross domestic product):

Là tổng giá trị sản phẩm của nền kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong 1 thời kỳ nhất định

Để tính GDP có ba cách tiếp cận cơ bản là từ sản xuất,tiêu dùng và phân phối:

Trang 8

-Theo cách tiếp cận từ sản xuất : GDP là giá trị gia tăng tính cho toàn

bộ nền kinh tế.Nó được đo bằng tổng giá trị gia tăng của tất cả các đơn vị sản xuất thường trú trong nền kinh tế

- Theo cách tiếp từ chi tiêu , GDP là tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình ( C ),chi tiêu chính phủ ( G ),đầu tư tích lũy tài sản (I) và chi tiêu qua thương mại quốc tế tức là giá trị kim nghạch xuất khẩu trừ kim nghạch nhập khẩu (X-M)

GDP=C+I+G+(X-M)-Theo tiếp cận từ thu nhập,GDP được xác định trên cơ sở các khỏan hình thanh thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu,bao gồm: Thu nhập của người có sức lao động dưới hình thức tiền công và tiền lương (W);thu nhập của người có đất cho thuể (R) ;thu nhập của người có tiền cho vay (In);Thu nhập của người có vốn ( Pr ); khấu hao vốn cố định (Dp) và cuối cùng là thuế kinh doanh (Ti)

GDP= W+R+In+Pr+Dp+Ti

c, Tổng thu nhập quốc dân (GNI)

Về nội dung thì GNI và GDP là như nhau ,tuy nhiên khi sử dụng GNI

là muốn nói theo cách tiếp cận từ thu nhập chư không hải nói theo góc độ sản phẩm sản xuất như GNP

Theo nghĩa hiểu trên thì GNI là tôngt thu nhập từ sản phẩm vật chất cuối cùng do công dân của một nước tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định

GNI =GDP+ chênh lệch thu nhập nhân tố với nước người

d, Thu nhập quốc dân (NI);

Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.NI chính là tổng thu nhập quốc dân(GNI) sau khi

đã loại trừ khấu hao vốn cố định của nền kinh tế

NI=GNI- Dp

Trang 9

e,Thu nhập bình quân đầu người

Lưu ý rằng, để đánh giá xác thực hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia dưới góc độ mức sống dân cư, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu bình quân đầu người, chẳng hạn như GDP bình quân đầu người (hay GNI bình quân đầu người) Khi đó, tốc độ tăng trưởng lại phụ thuộc hai yếu tố: tốc

độ tăng trưởng thu nhập (sản lượng) và tốc độ tăng trưởng dân số

2 Đánh giá về chất lượng tăng trưởng kinh tế

a, Chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

- Dưới góc độ ngành, cơ cấu kinh tế xem xét số lượng và chất lượng các ngành tạo nên nền kinh tế, cũng như các mối quan hệ giữa chúng với nhau Thông thường nền kinh tế được phân chia thành ba nhóm ngành lớn là Nông - lâm nghiệp - Thuỷ sản, Công nghiệp - Xây dựng và Dịch vụ Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng hiện đại hơn và tiên tiến hơn,

mà cụ thể là tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp trong GDP

- Dưới góc độ lãnh thổ, cơ cấu kinh tế được nhìn nhận theo sự bố trí lực lượng sản xuất giữa các vùng Quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng cần đảm bảo sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng để đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển Tuy nhiên cũng cần phải phải xem xét vai trò động lực của từng vùng để lôi kéo và thúc đẩy các vùng khác phát triển

b Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế

- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động - Năng suất lao động

Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, có thể đơn giản lấy GDP (theo giá cố định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động) Nếu GDP bình quân trên mỗi lao động càng lớn, thì năng suất lao động xã hội càng cao

Trang 10

WBQ =

Ltt

Y

(1)Trong đó, WBQ là năng suất lao động bình quân cho toàn bộ nền kinh tế

Y là GDP của năm nghiên cứu Ltt là số lao động thực tế đang làm việc tại năn nghiên cứu

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn - Hệ số ICOR

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp cho biết để tăng thêm một đơn vị GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện Vì vậy, hệ số này phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư dẫn tới tăng trưởng kinh tế Với nội dung đó, hệ số ICOR được coi

là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế

Thường sử dụng hệ số ICOR vào kế hoạch hóa kinh tế ngắn hạn (quý, nửa năm hoặc một năm) ICOR giúp xác định xem để kinh tế kỳ này cứ tăng 1% so với kỳ trước thì cần tăng vốn đầu tư trong kỳ này lên bao nhiêu phần trăm so với kỳ trước Qua hệ số này người ta có thể thấy được vốn đầu tư so với các nhân tố tăng trưởng khác có ý nghĩa thế nào đối với tăng trưởng sản lượng Một cách sử dụng ICOR để so sánh khác là so sánh hiệu quả sử dụng vốn (hay hiệu quả đầu tư) giữa các thời kỳ hoặc giữa các nền kinh tế

Có hai phương pháp tính hệ số ICOR

Phương pháp thứ nhất

0 1

1

Y Y

I ICOR

Trong đó, I1 là tổng vốn đầu tư của năm nghiên cứu, Y1 là GDP của

năm nghiên cứu, và Y0 là GDP của năm trước đó Các chỉ tiêu về vốn đầu tư

và GDP để tính hệ số ICOR theo phương pháp này phải được đo theo cùng một loại giá (giá thực tế hoặc giá so sánh)

Trang 11

Phương pháp thứ hai

Y g

Y I

Trong đó, I Y là tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP, g Y là tốc độ tăng GDP

Hệ số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện để tăng thêm 1% GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu phần trăm tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP

Từ công thức tính trên ta thấy ICOR tỷ lệ thuận với tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP và tỷ lệ nghịch với tốc độ tăng trưởng Nếu không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư sẽ không đạt được mục tiêu tăng trưởng; tuy nhiên, nếu chất lượng quản

lý và sử dụng vốn đầu tư không được cải thiện thì áp lực về vốn cũng chưa được giải quyết một cách triệt để Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là biện pháp thiết thực

để làm giảm suất đầu tư tăng trưởng ICOR và giảm áp lực về nhu cầu vốn

c Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội

Các thước đo này phản ánh hiệu quả xã hội, hay nói cách khác, thể hiện

sự tác động lan toả của tăng trưởng đến các đối tượng chịu ảnh hưởng trong

xã hội Quá trình tăng trưởng kinh tế phải kéo theo sự gia tăng các chỉ tiêu phúc lợi xã hội dưới các mặt:

Tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm: tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việc tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và thời gian nông nhàn ở khu vực nông thôn Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm bao gồm so sánh tốc độ tăng số lao động trong nền kinh tế quốc dân với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thời gian lao động không được sử dụng ở nông thôn

Tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo: trong một nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng, tăng trưởng kinh tế phải đi kèm xoá đói giảm nghèo Các chỉ tiêu như tỷ lệ nghèo đói của quốc gia và của các vùng, tốc độ giảm tỷ

Trang 12

lệ nghèo đói, % giảm nghèo so với % tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng để phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm nghèo.

Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội: tiến bộ xã hội được thể hiện rõ nhất ở hai lĩnh vực giáo dục - đào tạo và y tế Những tiêu chí về cơ sở vật chất, số lượng học sinh, giáo viên, số cán bộ ngành y gia tăng thể hiện sự tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân Sự nâng cao về trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, cũng như những cải thiện về mặt sức khoẻ và chăm sóc y tế đối với người dân (tuổi thọ, tỷ lệ chết

ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng ) có thể coi là kết quả của sự gia tăng phúc lợi xã hội và thể hiện rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: các công trình nghiên cứu, các báo cáo phát triển chính thức ở cấp độ quốc gia cũng như quốc tế thường

sử dụng một số công cụ và thước đo chủ yếu như: Đường cong Lorenz; Hệ số Gini; Mức độ thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người; Chỉ số phát triển xã hội tổng hợp; Chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống

Tuy vậy, trên thực tế, chúng ta rất khó định lượng chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ với các vấn đề xã hội

d, Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến bảo vệ và cải thiện môi trường

Tăng trưởng kinh tế cùng việc tổ chức sản xuất của con người luôn gắn liền với việc khai thác các nguồn tài nguyên và môi trường thiên nhiên để sản xuất Tăng trưởng kinh tế và sử dụng tài nguyên môi trường có mối quan hệ với nhau và được xem xét qua rất nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chính sau đây: nhịp độ tăng trưởng của GDP cả nước; giá trị gia tăng của các ngành trong tương quan so sánh với mức độ cạn kiệt tài nguyên và tình hình ô nhiễm môi trường

Trang 13

III Các nhân tố tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế

1 Các yếu tố nội tại của nền kinh tế

Các nhân tố kinh tế bao gồm các yếu tố đầu vào mà sự biến đổi của nó trực tiếp làm biến đổi sản lượng đầu ra của một nghành sản xuất.Nó bao gồm vốn sản xuất,lao động ,đất đai ,tài nguyên,khoa học công nghệ

-Vốn sản xuất: là 1 yếu tố đầu vào của doanh nghiệp được trực tiếp sử

dụng vào quá trình sản xuất hiện tại cùng với các yếu tố sản xuất khác,để tạo

ra sản phẩm hàng hóa.Nó bao gồm máy móc thiết bị phương tiện vận tải nhà kho,và cơ sở hạn tầng kỹ thuậ.Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng vốn sẽ làm tăng sản lượng.Trên thực tế thì yếu tố vốn còn liên quan đến các yếu tố khac như lao động,ký thuật.Tuy nhiên chất lượng tăng trưởng còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn ,trình độ quản lý và hiệu qủa sủ dụng vốn trong doanh nghiệp

-Lao động: là yếu tố sản xuất đặc biệt có vai trò vô cùng quan trọng

trong phát triển kinh tế.Nó là yếu đố đầu vào của tăng trưởng và yếu tố quyết định rất lớn đến năng suất lao động và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh từ đố tác động không nhỏ đến chất lượng tăng trưởng

Vai trò của lao động còn thể hiện ở khía cạnh là một bộ phận của dân số,là người được hưởng lợi ích của quá trình phát triển.Việc nâng cao năng lực cơ bản của các các nhân của người lao động sẽ giúp họ có nhiều cơ hội việc làm hơn.Khi thu nhập từ việc làm tăng họ sẽ có điều kiện cải thiện nâng cao đời sống.Kết quả là tăng nhu cầu xã hội đồng thời tác động đến hiệu quả sản xuất trong điều kiện năng suất lao động tăng

Do vậy lao động có vai trò là động lực quan trọng trong tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng

- Đất đai tài nguyên: là yếu tố sản xuất quan trọng trong sản xuất công

nghiệp.Đất đai đó là yếu tố không thể thay thế bởi lao động và vốn bởi vì

Trang 14

diện tích đất đai là cố định,chính vì vậy cần phải nâng cao hiệu qủa sử dụng đất đai bằng cách đầu tư thêm lao động và vốn trên một đơn vị diện tích nhằm tăng thêm sản phẩm.

Các tài nguyên là đầu vào trong quá trình sản xuất.Nguồn tài nguyên phong phú dồi dào sẽ làm tăng sản lượng một cách nhanh chóng nhất là cách nghành sử dụng nhiều tài nguyên qua đó thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng.Tuy nhiên tài nguyên là khan hiếm tương đối so với nhu cầu.Vì các tài nguyên cần thiết cho sản xuất và đời sống đều có hạn không tái tạo được hoặc nếu có thì cũng cần có thời gian dài và chi phí lớn.Vì vậy cần phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả

-Khoa học công nghệ:

Khoa học công nghệ không chỉ tạo ra công cụ lao động mới mà cả phương pháp sản xuất mới, do đó mở ra mới về kết quả sản xuất và tăng năng suất lao động.Dưới tác động của khoa học công nghệ ,các nguồn lực sản xuất được mở rộng,làm biến đổi chất lượng nguồn lao động.Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc,có kỹ thuật có trí tuệ nhờ đó nâng cao năng suất lao động tạo ra tăng trưởng kinh tế

Sự phát triển của KH-CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của các nghành mà còn làm cho phân công lao động xã hộ ngày càng trở nên sâu sắc đưa đến phân chia các nghành thành nhiều phân nghành nhỏ,xuất hiện nhiều nghành phân nghành mới.Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực làm cho chất lượng tăng trưởng ngày càng tăng

2 Các yếu tố phi kinh tế

-Thể chế chính trị: Một thể chế kinh tế -xã hội ổn đinh và mềm dẻo sẽ tạo điều

kiện để đổi mới liên tục cơ cấu đầu tư,công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế tọa ra tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và chất lượng tăng trưởng cao.Ngược lại nếu thể chế không phù hợp sẽ gây nhiều cản trở mất ổn

Trang 15

định những quan hệ làm ăn và hợp tác và gây ra ảnh hưởng tớ sự tăng trưởng

của một nghành.

-Văn hóa xã hội: là nhân tố quan trọng tác động nhiều đến quá

trình phát triển của mỗi quốc gia.Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với việc nền tảng tốt cho sự phát triển của mỗi quốc gia.Trình độ văn hóa và ý thức của người dân cũng là những nhân tố tác động đến chất lượng.Chính vì vậy để tăng trưởng lâu dài và ổn định để tạo chất lượng tăng trưởng tốt thì đầu tư cho việc bồi dưỡng lao động được coi là những đầu tư cần thiết và đi trước một bước trong tương lai

-Dân tộc tôn giáo: Những xung đột và bất ổn chính trị từ vấn đề tôn

giáo và sắc tộc sẽ dẫn đến các xung đột bạo lực gây ra tình trạng lãng phí các nguồn lực để phát triển kinh tế qua đó kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế.Sự tham gia của cộng đồng cũng là một yếu tố phi kinh tế tác động tới tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế.Sự phát triển là điều kiện làm tăng thêm năng lực thực hiện quyền dân chủ của cộng đồng dân

cư trong xã hội.Ngược lại,sự tham gia của cộng đồng là nhân tố đảm bảo tính chất bền vững và động lực nội tại cho phát triển kinh tế xã hội

Ngày đăng: 23/05/2015, 16:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh  phân theo nhóm ngành (giá hiện hành) - luận văn quản trị chất lượng   Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2010
Bảng 2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh phân theo nhóm ngành (giá hiện hành) (Trang 18)
Bảng 3: Năng suất lao động của tỉnh Bắc Ninh - luận văn quản trị chất lượng   Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2010
Bảng 3 Năng suất lao động của tỉnh Bắc Ninh (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w