1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản lý nhà nước Thực trạng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam

28 816 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 241 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I/ Khái quát quá trình hình thành và phát triển của cục sở hữu trí tuệ Việt NamNgày 29.07.1982 Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 125/HĐBT về sửa đổi tổ chức bộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA MARKETING

BỘ MÔN QUẢNG CÁO

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Tên đề tài: Thực trạng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Cục

Sở hữu trí tuệ Việt Nam ( National Office of Industrial Property of

Vietnam )

Họ và tên sinh viên: Phan Văn Hùng Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Lưu Văn Nghiêm

HÀ NỘI, NĂM 2008

Trang 2

Lời mở đầu

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO được một năm nhưng tình trạng vi phạm về SHTT lại diễn biến ngày càng phức tạp, ý thức người dân chưa có chuyển biến rõ rệt… gây lo lắng cho không chỉ các doanh nghiệp, các tổ chức trong nước mà còn làm mất uy tín, lòng tin đối với các tổ chức và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

Và các doanh nghiệp quảng cáo cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của những bất cập đó Đợt thực tập chuyên đề tốt nghiệp tại cục SHTT trong giai đoạn đầu là cơ hội để tôi tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về SHTT , giúp ích rất nhiều khi ra trường và đi làm trong lĩnh vực quảng cáo của mình Và cũng là cơ hội để tôi trau rồi, học hỏi kỹ năng quản

lý thông tin, sử dụng phương tiện công nghệ và đức tính cần, kiệm, liêm, chính của các cán bộ đang công tác tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Trang 3

I/ Khái quát quá trình hình thành và phát triển của cục sở hữu trí tuệ Việt Nam

Ngày 29.07.1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghịđịnh số 125/HĐBT về sửa đổi tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuậtNhà nước (sau này là Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường) trong đó có quyđịnh rằng một trong các tổ chức thuộc bộ máy của Ủy ban này là Cục sáng chế vớichức năng giúp Ủy ban thực hiện các công việc nhằm phát triển hoạt động sángkiến và sở hữu công nghiệp (SHCN) ở Việt Nam Sau nay (1993) Cục Sáng chếđược đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp

Với lý do đó, ngày 29.07.1982 được coi là ngày thành lập Cục Sở hữu côngnghiệp Ngay từ khi mới thành lập, Cục Sở hữu công nghiệp đã tập trung nỗ lựcnghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn từ đó xây dựng một hệ thống các cơchế, chính sách thể hiện tại một hệ thống văn bản pháp luật đệ trình cho các cơquan Nhà nước để làm cơ sở triển khai hoạt động sáng kiến - sở hữu công nghiệptrong phạm vi cả nước Hệ thống văn bản pháp luật đó không ngừng được bổ sung,hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của đất nước trong từng thời kỳ xây dựng và pháttriển Cùng với việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp,Cục Sở hữu công nghiệp đã khẩn trương chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiếtcũng như xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cầnthiết để triển khai thi hành các văn bản trên, trong đó có việc tiếp nhận đơn đăng

ký, xét và cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Trong 25 năm Cục Sởhữu công nghiệp đã tiếp nhận và xử lý hàng chục vạn đơn đăng ký và đã cấp hàngvạn văn bằng bảo hộ quyền SHCN cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.Cục Sở hữu công nghiệp cũng đã phối hợp với các cơ quan Nhà nước có thẩmquyền thực hiện nhiều biện pháp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả của việc bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp Ngày 19.05.2003 Chính phủ ban hành nghị định số54/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của

Bộ Khoa học và Công nghệ, theo Nghị định này, Cục Sở hữu công nghiệp đượcđổi tên thành Cục Sở hữu trí tuệ và tên này được giữ cho đến nay

Có thể nói, hoạt động sở hữu trí tuệ (SHTT) ở nước ta đang từng bước phát huyhiệu quả thiết thực đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Trang 4

II/ Cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

1- Khái niệm về sở hữu trí tuệ

Theo nhận thức về sở hữu trí tuệ trong Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mai (TRIPS) thì giá trị hàng hoá và dịch vụ tham gia trong thương mại quốc tế ngày càng thể hiện sự kết tinh của yếu tố công nghệ và tính sáng tạo trong hàng hoá dịch vụ đó, hay nói cách khác hàng hoá và dịch vụ cũng bao hàm trao đổi sự sáng tạo của trí tuệ con người, tức là “sở hữu trí tuệ” kết tinh trong hàng hoá dịch vụ đó Và sở hữu trí tuệ được định nghĩa trong điều 1.2 của hiệp định bao gồm : Bản quyền và các quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hoá; chỉ dẫn địa lý; kiểu dáng công nghiệp; patent; thiết kế bố trí mạch tích hợp; thông tin

2.1- Căn cứ xác lập quyền sở hữu trí tuệ

Điều 6 Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký

Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả

Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:

- Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng,

Trang 5

quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký;

- Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;

- Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở

có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;

- Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh

Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này

2.2- Phạm vi bảo hộ sở hữu trí tuệ

Điều 14 Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

- Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác đượcthể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

- Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

+ Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu

Trang 6

Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác

Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này

2.3 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Điều 198 Quyền tự bảo vệ

Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:

- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùnghoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh

Điều 199 Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện phápdân sự, hành chính hoặc hình sự

Trang 7

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 200 Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền

xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật

Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật

Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan

Điều 211 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt hành chính

Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt hành chính:

- Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêudùng hoặc cho xã hội;

- Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó;

- Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại

Điều 212 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự

Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.3/ Một số văn bản pháp luật, pháp chế khác ( tham khảo tại trang web”

http://www.wincolaw.com.vn/vn/overview_vn.html”)

3.1 Công ước stockholm về thành lập Tổ chức trí tuệ Thế giới-WIPO

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, tiếng Anh viết tắt là WIPO, được thành lập trên cơ sở Công ước ký tại Stockholm này 14.07.1967 gọi là Công ước về việc

Trang 8

thành lập "Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới" Đây là một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tại Geneve, Thụy Sỹ và là một trong 16 Tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm

vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh luật pháp và quản lý sở hữu trí tuệ Tính đến ngày 22.06.1999 số nước thành viên của WIPO là 171 Việt Nam là thành viên của WIPO từ ngày 02.07.1976

3.2 điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá đi kèm với Nghị định số 197/HĐBT

(14.12.1982): Điều lệ này ban hành nhằm bảo hộ pháp lý các nhãn hiệu hàng hoá, bảo vệ quyền lợi chính dáng của người tiêu dùng và của các cơ sở sản xuất, kinh doanh

Để thống nhất quản lý nhãn hiệu hàng hoá trong phạm vi cả nước, thúc đẩy các

cơ sở sản xuất, kinh doanh bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, góp phần quản lý việc lưu thông hàng hoá trên thị trường trong vàngoài nước, chống làm hàng giả và kinh doanh trái phép

3.3 Thoả ước madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá (1891-1979)

Thoả ước này được ký tại Madrid năm 1891, trong đó quy định việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ở Geneva Theo Thoả ước này thì công dân của một nước thành viên của Thoả ước muốn bảo hộ một nhãn hiệu của mình tại nhiều nước thành viên khác, trước tiên phải đăng ký nhãn hiệu của mình tại Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia, sau đó thông qua Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia có thể nộp đơn đăng

ký quốc tế cho Văn phòng quốc tế của WIPO Văn phòng quốc tế sẽ công bố đơn đăng ký quốc tế và chỉ rõ những nước thành viên mà người nộp đơn yêu cầu bảo

hộ nhãn hiệu của mình (nước được chỉ định) Nước được chỉ định có thời gian 1 năm để xem xét chấp nhận hoặc từ chối bảo hộ nhãn hiệu trên lãnh thổ của mình Nếu sau 1 năm nước được chỉ định không có ý kiến thì nhãn hiệu coi như được chấp nhận bảo hộ ở nước đó

Trang 9

II/ Thực trạng sở hữu trí tuệ ở Việt Nam giai đoạn 2005-2007

Sở hữu trí tuệ là khái niệm lâu đời nhưng mới được quan tâm nhiều tại Việt Nam thời gian gần đây Trước kia, các tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn là tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp Ngày nay, tài sản vô hình nổi lên như một nhân tố đầy giá trị trong hoạt động của doanh nghiệp với bộ phận quan trọng là sở hữu trí tuệ Trên thị trường được toàn cầu hóa hiện nay, một nhãn hiệu hàng hóa - sản phẩm của trí tuệ - mà chúng ta sở hữu có giá trị tỷ lệ thuận với hànghóa bán ra Giá trị của nhãn hiệu hàng hóa đó được tăng lên khi bạn bán được nhiều hàng và không thể tính được khi hàng hóa của bạn đã nổi tiếng Đó là lý do người ta định giá nhãn hiệu Coca Cola đến hơn 70 tỷ USD, Microsoft hơn 65 tỷ USD hay Nokia hơn 29 tỷ USD Việc thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tăng cũng liên quan rất nhiều tới mức sống được nâng cao nhanh chóng

ở những quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ Chỉ vài năm trước đây, Ấn Độ đã không thể giữ được các kỹ sư và chuyên gia máy tính hàng đầu của mình Việc thiếu các quy định về bảo vệ sở hữu trí tuệ đã buộc các chuyên gia này di cư sang những quốc gia nơi mà thành quả lao động của họ được bảo vệ và những đối thủ cạnh tranh không được phép khai thác trái phép những tiến bộ khoa học Sau đó vào năm 1999, Quốc hội Ấn Độ đã thông qua một đạo luật bảo vệ sản phẩm trí tuệcủa các chuyên gia máy tính Kết quả là Ấn Độ đã có ngành công nghiệp công nghệ cao sản xuất những phần mềm tiên tiến nhất thế giới và sử dụng hàng ngàn nhân công mà lẽ ra đã rời Ấn Độ để sang những nước giàu có hơn

Trong khi đó Việt Nam lại là một trong những quốc gia có tỉ lệ vi phạm quyền

sở hữu trí tuệ cao nhất thế giới Việt Nam đứng trên top 5 thế giới về tỉ lệ phần mềm lậu (88%), phim ảnh và âm nhạc là 90% ( theo bài viết : tản mạn về sở hữu trí tuệ lậu: http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach/.) Tình trạng xâm phạm quyềnSHTT đang ngày càng nghiêm trọng và phổ biến Các vụ vi phạm, tái vi phạm về sản xuất, kinh doanh nhãn hiệu, kiểu dáng, xuất xứ và bản quyền doanh nghiệp dường như không giảm Thậm chí tái phạm với quy mô và mức độ nặng hơn

Về phía doanh nghiệp vẫn còn thờ ơ với việc bảo vệ tài sản trí tuệ của mình Khi cơ quan quản lý thị trường, cơ quan công an phát hiện có sự vi phạm về quyềnSHTT, báo cho chủ thể quyền nhưng không nhận được sự hợp tác của họ với lý dorất đơn giản là ngại tốn kém hoặc ngại ảnh hưởng đến uy tín và kết quả là nhiều doanh nghiệp đã phải trả giá cho vấn đề này (Nhận định của cục trưởng ông Trần Việt Hùng

http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Baoho-ThuongHieu/Thuc_thi_quyen_So_huu_tri_tue_-Che_tai_lam_kho_doanh_nghiep/)

Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa ý thức được và thấy hết ý nghĩa của việctôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể khác và của chính mình Chính vì thế mà so với các đơn đăng kí quyền bảo hộ của Việt Nam chỉ chủ yếu hướng vào

Trang 10

nhãn hiệu trong khi các doanh nghiệp nước ngoài họ đăng kí cả phát minh sáng chế, chỉ dẫn địa lý hay kiểu dáng công nghiệp một cách đầy đủ và chi tiết Theo thống kê của cục sở hữu trí tuệ thì số lượng đăng kí phát minh sang chế của Việt Nam chỉ chiếm 8% trên tổng số so với 92% của các doanh nghiệp nước ngoài.” http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Baoho-ThuongHieu/Bao_ho_quyen_SHTT-Con_nhieu_lo_hong/”

Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp lâu đời và tỉ lệ người lao động làm trong ngành vẫn chiếm đa số Mặc dù vậy tỉ lệ đăng kí bảo hộ giống cây trồng là rất thấp Trong các văn bản dưới luật được ban hành trước đó đã quy định cụ thể

về bảo hộ giống cây trồng, nhưng mãi đến năm 2004, đơn đăng ký bảo hộ đầu tiên

về giống cây trồng mới được nộp cho Văn phòng bảo hộ giống cây trồng mới (được thành lập theo quyết định số 12/2002/QĐ-BNN-TCCB ngày 19/2/2002) Đến tháng 6 năm 2007, VN mới chỉ bảo hộ cho 15 loài cây trồng.”

http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Baoho-ThuongHieu/Bao_ho_giong_cay_trong_tai_Viet_Nam_-So_luong_qua_it/”

Bên cạnh việc không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, Việt Nam còn là nơi chứa chấp và sử dụng một khối lượng lớn các sản phẩm không có bản quyền Điển hình

là các hàng hoá của Trung Quốc Nhiều tình huống vi phạm nghe có vẻ kì lạ nhưng lại đang diễn ra khắp nơi Chẳng hạn khi Honda vừa ra một dòng xe mới future Neo thì chỉ sau một thời gian ngắn tại các cửa hàng kinh doanh xe máy có giấy phép đã bán một dòng xe có kiểu dáng tương tự chỉ khác thay vi chữ Honda

là chữ Motor và bánh xe khác một chút nhưng giá chỉ băng 1/4 so với xe của Honda và đi đường nếu không để ý thì chắc chắn sẽ nhầm với xe của Honda Ấy vậy mà người dân Việt Nam vẫn thản nhiên bán công khai Đó là những sản phẩm

có giá trị lớn Còn các sản phẩm khác thì tràn nan Nhất là vào dịp tết này hàng hoá từ biên giới, cửa khẩu ồ ạt đưa về hàng giả, hàng nhái Điều đó cho thấy là người Việt Nam dù biết cũng vẫn sử dụng những sản phẩm hoàn toàn không có giá trị về mặt sở hữu trí tuệ, ham rẻ và đầu cơ kiếm lời từ những sản phẩm nhái đó

Và khôi hài lại chính người Việt Nam sử dụng các sản phẩm không có nguồn gốc

và chất lượng không được đảm bảo đó

Đến thời điểm nảy Việt Nam đã chính thức ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO được một năm nhưng thực trạng về sở hữu trí tuệ như trên vẫn không

có nhiều chuyển biến tích cực như mong đợi Lý giải điều này chúng ta nhận thấy vẫn có những nguyên nhân cốt lõi vẫn chưa thay đổi được :

Thứ nhất là đứng trên khía cạnh nhận thức Người Việt Nam vẫn ‘chưa hội nhập” được “cá tính” tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ Với đa số người dân họ nhận thức một cách mơ hồ về nó Hơn nữa từ cá tính của người dân Việt chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được vì sao tỉ lệ người dân chấp hành đúng luật lệ giao thông lại thấp như vậy Và như vậy cũng có thể liên hệ tới sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ Từ người đi mua và tiêu dùng sản phẩm đến người cung cấp sản phẩm thì ý thức về

Trang 11

hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ là rất kém, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin Ngay cả đến các doanh nghiệp có quy mô lớn đôi khi lại lợi dụng sự mập mờ và lách luật để kinh doanh những sản phẩm vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ chẳng hạn công ty Cát tường cố ý lấy tên một sản phẩm đã được một nước ở trung đông đăng kí làm một phần tên cho sản phẩm của mình hay các doanh nghiệp Việt Nam đa số vẫn sử dụng các phần mềm không có bản quyền mà ước tính có vụ lên tới cả tỉ đồng Hay chính cái tâm lý mọi người như vậy ta cũng vậy làm cho vấn nạn này càng khó giải quyết Người dân Việt ta đúng là chưa có thói quen trả giá cho những sản phẩm trí tuệ và sản phẩm vô hình như các quốc gia khác.

Thứ hai là khía cạnh về kinh tế Cũng có thể chúng ta viện vào lý do này để biện minh cho hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng trên khía cạnh thực tế nếu GDP và đời sống của người dân Việt Nam đủ cao để người dân coi trọng việc

sử dụng các sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì tỉ lệ vi phạm chắc chắn

sẽ không cao như bây giờ Việc mức thu nhập bình quân quá thấp sẽ ảnh hưởng rấtnhiều đến hiệu quả của các chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Để mua một phần mềm có bản quyền cài đặt window Xp chúng ta phải trả cả trăm đôla Mỹ trong khi nó lại là một khoản tiền lớn đối với hầu hết mọi người vì thu nhập bình quân của người Việt Nam chỉ khoảng 835 USD/ năm và vẫn chưa thoát ra khỏi nước có thu nhập thấp Trong khi đó chỉ với 7000/đĩa là chúng ta đã có một đĩa càiđặt đầy đủ các chức năng cần thiết cho công việc Với tính kinh tế như vậy thì các chính sách của Nhà nước nếu thẳng tay thì cũng chưa chắc mang lại hiệu quả cao

và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội.Chẳng hạn trong lĩnh vực phần mềm, Việt Nam đang rất cần phổ cập tin học nếu áp giá có bản quyền thì các trường học phải bỏ ra hàng trăm triệu đồng chỉ riêng cài đặt phần mềm có bản quyền trong khi ngân sách chi cho giáo dục lại quá hạn hẹp Như thế các em sẽ còn lâu mới biết đến ngài Billgate, internet, blog…

Thứ ba là khía cạnh pháp luật Các Chính sách và Văn bản Luật về sở hữu trí tuệ đã có nhưng vẫn còn nhiều điều khó thực hiện làm cho quá trình thực thi gặp nhiều khó khăn Đây cũng là tình trạng chung của các bộ luật Việt Nam Luật và thực tế vẫn còn là khoảng cách quá lớn Người làm luật cũng chỉ chạy theo những

sự việc đã xảy ra chứ khả năng đi trước, dự trù các vấn đề trong tương lai gần vẫn còn là ngoài tầm với

Trang 12

III/ Các hoạt động của cục sở hữu trí tuệ (CSHTT)giai đoạn 2005-2007

1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ

1.1 Ban hành các văn bản pháp luật

Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ tiếp tục được hoàn thiện cùng với việc quốc hội sửa đổi bộ luật dân sự năm 2005, quyết định đưa dự án Luật Sở hữu trí tuệ vào chương trình xây dựng pháp luật năm 2005 Và chỉ trong 10 tháng dự án

đã được hoàn thành, luật sở hữu trí tuệ Luật sở hữu trí tuệ-một đạo luật lớn và phức tạp đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 Đây là một sự kiện quan trọng đối với hoạt động sở hữu trí tuệ, làmốc đánh dấu quan trọng một giai đoạn mới của hoạt động này và có ý nghĩa to lớn đối với quá trình đám phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO cũng như các hoạt động hội nhập quốc tế về kinh tế, khoa học công nghệ sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này, góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ đồng thời thúc đẩy các hoạt động sáng tạo khoa học-công nghệ, văn hoc, nghệ thuật,kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việc hoàn thành và ban hành luật sở hữu trí tuệ

2005 là mốc cuối cùng đánh dấu nỗ lực 10 năm của Việt Nam trong việc thực hiệnđầy các nghĩa vụ liên quan đến sở hữu trí tuệ của một thành viên WTO Năm 2007Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Sở hữu trí tuệ 2005, cụ thể: hoàn thành việc xây dựng và trình ban hành Thông tư

sô 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 cùa Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành Nghị đinhk số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2007 của Chính phủ quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, hoàn thành Dự thảo Nghị định về Sáng kiến trình Lãnh đạo Bộ, góp

ý xây dựng các dự thảo Thông tư liên tịch với Toà án về bảo vệ quyền SHTT( do Toà án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với viện kiểm soát nhân dân tối cao) hướng dẫn áp dựng một sô quy định của Luật sở hữu trí tuệ trong việc giải quết các tranh chấp về quyền SHTT tại toà án nhân dân; đề xuất các nội dung cần sửa đổi trong Thông tư 132/2004/TT-BTC ngày 30/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí SHCN; góp ý các dự thảo khác văn bản khác liên quan đến SHTT

1.2 Tổ chức thi hành các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ

Tổ chức thi hành hệ thống luật mới: Xây dựng và đưa vào áp dụng các mẫu công văn, thông báo, quyết định mới của Cục Sở hữu trí tuệ phù hợp với Lluật sở hữu trí và Thông tư 01/2007/TT-BTC; thống nhất căn cứ áp dụng đối với việc xử

lý đơn đăng kí SHCN trong giai đoạn chuyển tiếp sang hệ thống pháp luật mới; giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật mới về SHCN của các cơ quan,

tổ chức và các doanh nghiệp, ấn hành bộ tài liệu hướng dẫn các thủ tục về SHCN được biên soan the hệ thống pháp luật mới

Trang 13

Xây dựng Đề án cấp Bộ về nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về SHCN; thẩm định hồ sơ và làm thủ tục ghi nhận 78

Tổ chức dịch vụ đại diện SHCN và cấp 235 Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện SHCN

Nhằm thúc đẩy hơn nữa hoạt động này, cục sở hữu trí tuệ đã thành lập và đưa Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh và Đại diện tại Đà Nẵng Nhờ đó, việc giao dịch của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiến hành thủ tục về sở hữu công nghiệp đã thuận tiện hơn Các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ tiếp tục được đơn giản hóa theo hướng tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và các chủ thể khác và từng bước hiện đại hóa theo tiêu chuẩn chung của thế giới Chế độ phân biệt đối xử được xác lập và một số thủ tục khó khăn không cần thiết đã bị xóa bỏ Cùng với những cải tiến về mặt thủ tục, cách thức tổ chức thực hiện các thao tác chuyên môn, nghiệp vụ cũng tiếp tục được đổi mới Các công nghệ mới hiện đại-sản phẩm của Dự án “Hiện đại hoá hoạt động của Cơ quan sở hữu công nghiệp Việt Nam” do Chính phủ Nhật Bản tài trợ - đã được đưa vào khai thác Kết quả là

số lượng đơn được xử lý trong năm 2005 đã đạt gần 18000 đơn, tăng 25% so với năm 2004 Tính đến 31/12/2005 đã có 668 bằng sáng chế, 74 Bằng giải pháp hữu ích, 726 Bằng kiểu dáng công nghiệp, 9760 Giấy chứng nhận Đăng kí nhãn hiệu hàng hoá được cấp Số đăng kí quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam là 3507

2 Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về sở hữu trí tuệ

12/2004/QĐ-a Các đơn vị quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ

- Phòng thực thi và giải quyết khiếu nại

- Phòng Công nghệ thông tin

- Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng

b Các đơn vị thực hiện hoạt động sự nghiệp phục vụ công tác quản lý Nhà nước vê sở hữu trí tuệ

- Phòng sáng chế số 1

- Phòng sáng chế số 2

Trang 14

- Trung tâm nghiên cứu và đào tạo

- Trung tâm thông tin

- Trung tâm Hỗ trợ và tư vấn

Sơ đồ cơ cấu tổ chức (năm 2005)

Từ năm 2005 trở về trước cục sở hữu trí tuệ có đến 3 cục phó nhưng đến nay cơ

cấu chỉ còn hai

Ngày đăng: 23/05/2015, 14:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức (năm 2005) - luận văn quản lý nhà nước Thực trạng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức (năm 2005) (Trang 14)
Bảng tổng hợp từ các bảng Tiếp nhận đơn và cấp văn bằng bảo hộ năm 2005; - luận văn quản lý nhà nước Thực trạng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam
Bảng t ổng hợp từ các bảng Tiếp nhận đơn và cấp văn bằng bảo hộ năm 2005; (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w