KHOA Triết học & KHXH *************** Tiểu luận về phơng pháp luận vận dụng nguyên tắc về cáI tất nhiên, ngẫu nhiên để bình luận về sự tự do của ý chí thông qua việc kinh doanh của tập đ
Trang 1KHOA Triết học & KHXH
***************
Tiểu luận về phơng pháp luận
vận dụng nguyên tắc về cáI tất nhiên, ngẫu nhiên để bình luận về sự tự do của ý chí thông qua việc kinh doanh của tập đoàn trà số 1 thế giới: lipton
Giáo viên hớng dẫn: Trần Đình Bích
Họ và tên sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hằng Trang Lớp: Kế tóan 15-16
Hà nội Ngày 01 tháng 12 năm 2010
Lời núi đầu
í thức là sự phản ỏnh cú tớnh chất năng động, sỏng tạo của bộ úc con người
về thế giới khỏch quan; là hỡnh ảnh chủ quan của thế giới khỏch quan
í chớ là sự biểu hiện sức mạnh của bản thõn mỗi con người nhằm vượt qua những cản trở trong quỏ trỡnh thực hiện mục đớch của nú í chớ được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đú
Trang 2con người tự ý thức được mục đích của hành động nên tự đấu tranh với mình
và ngoại cảnh để thực hiện đến cùng mục đích đã lựa chọn Có thể coi ý chí
là quyền lực của con người đối với mình; điều khiển, điều chỉnh hành vi để con người hướng đến mục đích một cách tự giác; nó cho phép con người tự kiềm chế, tự làm chủ bản than và quyết đoán trong hành động theo quan điểm
và niềm tin của mình Lê nin cho rằng: “ ý chí là một trong những yếu tố tạo nên sự nghiệp cách mạng của hàng triệu người trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt nhằm giải phóng mình, giải phóng nhân loại”
Giá trị chân chính của ý chí không chỉ thể hiện ở cường độ của nó mạnh hay yếu mà chủ yếu thể hiện ở nội dung, ý nghĩa của mục đích mà ý chí hướng đến Giá trị chân chính của ý chí ở mỗi con người là khác nhau Chúng ta hãy
làm rõ cụm từ “tự do của ý chí” có nghĩa gì Nó có nghĩa là tự do quyết định,
chứ không phải tự do hành động Đó là tự do chọn lựa một kiểu hành động nào đó, một mục tiêu nào đó, hay một lối sống nào đó.Tự do trong suy nghĩ,
tự do trong chọn mục đích để bản thân hướng tới cũng như sự tự do trong ý chí Em thấy đây là một đề tài rất hay nên em đã chọn chủ đề: “ sự tự do của
ý chí dưới góc nhìn triết học”
Em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Đình Bích đã giúp đỡ em hòan thành bài tiểu luận này
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 3
I - Tính tất nhiên, ngẫu nhiên trong tự to của ý chí
Trang 31 Tất nhiên, ngẫu nhiên và mối quan hệ biện chứng ………… 5
2 Tính tất nhiên trong tự do của ý chí ………6
3 Tính ngẫu nhiên trong tự do của ý chí……….7
II - Tác động của biện chứng đến sự thành công trong
kinh doanh của tập đoàn trà số 1 thế giới:LIPTON
1 Hòan cảnh ra đời của ý tưởng 10
2 Con đường phát triển của ý chí 11
3 Tác động biện chứng đến sự thành công của công ti……… 13
Kết luận
Chương I: Tất nhiên và ngẫu nhiên trong sự tự do của ý chí
1.Tất nhiên, ngẫu nhiên và mối quan hệ biện chứng
a Tất nhiên
Trang 4Tất nhiên là phạm trù triết học chỉ cái do những nguyên nhân bên trong
hệ thống, do bản chất của sự vật sinh ra, do đó trong những điều kiện nhất định thì nó phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác
Vd: hạt giống khi gieo xuống đất nếu gặp điều kiện độ ẩm tốt thì tất nhiên
sẽ nảy mầm
b Ngẫu nhiên
Ngẫu nhiên là phạm trù triết học chỉ cái xuất hiện do các nguyên nhân bên ngòai hệ thống quyết định, không do bản chất của sự vật sinh ra, do
đó trong những điều kiện nhất định nó có thể xảy ra hoặc có thể không; có thể xảy ra như thế này hoặc xảy ra như thế khác
Vd: mùa đông tất nhiên sẽ lạnh nhưng do hậu quả của việc trái đất nóng lên nên sẽ có những khoảng thời gian trời nóng như mùa hè…
c Mối quan hệ biện chứng giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên
Cái tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và đều có vai trò trong quá trình phát triển của sự vật
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất biện chứng thuần túy
Cái tất nhiên( không thuần túy) bao giờ cũng vạch đường đi cho mình xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên Còn cái ngẫu nhiên( không thuần túy) là hình thức biểu hiện và là cái bổ sung cho cái tất nhiên Ph.Ăngghen cho rằng: “ cái mà người ta quả quyết cho là tất yếu lại hoàn tòan do những cái ngẫu nhiên thuần túy cấu thành, và được cái coi là ngẫu nhiên, lại là hình thức, dưới đó ẩn nấp cái tất yếu,….” (1)
Quan hệ giữa cái tất nhiên và ngẫu nhiên có tính lịch sử cụ thể hoặc có tính tương đối tùy những quan hệ nhất định, chúng chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện nhất định
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Tòan tập Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t21, tr 431
d Ý nghĩa phương pháp luận
Con người muốn nhận thức và hành động đúng, chủ động thì phải nắm được cái tất yếu, cũng là nắm quy luật nhưng không có cái tất nhiên thuần túy Không được bỏ qua cái ngẫu nhiên, phải thong qua cái ngẫu nhiên để tìm ra cái tất nhiên và từ cái tất nhiên chi phối lại cái ngẫu nhiên bất lợi Cái ngẫu nhiên diễn ra phong phú, phức tạp và ngòai ý muốn nên nhiều khi gây tác hại xấu cho con người Vì vậy nắm cái tất nhiên để chủ động phòng cái ngẫu nhiên tránh gây ra hậu quả xấu
2 Tính tất nhiên trong tự do của ý chí
Trang 5Tự do ý chí (TDYC) có thể hiểu một cách đơn giản là sự lựa chọn và
hành động tự do trong ý thức, bắt nguồn từ những tác nhân được xem xét dựa trên lý trí để đạt đến một mục đích nào đó, theo cách này chủ thể điều khiển được chính bản thân trong những hành động và quyết định của chính mình tựa hồ như TDYC là muốn làm gì thì làm, tuỳ sở thích và quyết định
cá nhân; như vậy là tuỳ tiện, mà đã tuỳ tiện thì không còn chuẩn mực nào hết, kể cả chuẩn mực đạo đức
Nếu lịch sử chỉ có nhiệm vụ nghiên cứu những hiện tượng bên ngoài thì nó chỉ cần nêu lên cái quy luật đơn giản và hiển nhiên ấy là đủ rồi, và cuộc biện luận của chúng ta đã kết thúc Nhưng quy luật của lịch sử lại liên quan đến con người Một phân tử vật chất không thể nói với chúng ta rằng
nó hoàn toàn không cảm thấy có nhu cầu hấp dẫn hay xô đẩy gì cả, và quy luật này không đúng, trái lại con người là đối tượng của lịch sử lại khẳng định dứt khoát rằng: tôi tự do, và do đó, không lệ thuộc vào các quy luật
Sự có mặt của vấn đề tự do ý chí của con người, tuy không được biểu hiện
ra, vẫn có thể nhận thấy ở mỗi bước của lịch sử
Tất cả các sử gia nghiêm túc đều đã vô hình chung đi đến vấn đề này Tất cả những chỗ mâu thuẫn, những điểm mơ hồ trên con đường sai lầm
mà khoa học lịch sử đi theo chẳng qua đều do vấn đề này chưa được giải quyết mà ra Nếu ý chí của mỗi người đều là tự do, tức nếu mỗi người có thể hành động theo sở thích của mình thì lịch sử sẽ chỉ là một chuỗi những hiện tượng ngẫu nhiên không liên quan gì với nhau
Ngay dù trong số hàng triệu con người sống trong khoảng một ngàn năm chỉ có một người duy nhất có thể hành động tự do, tức là, theo sở thích của mình, thì hiển nhiên là chỉ cần một hành động tự do, trái với quy luàt của người này cũng đủ để thủ tiệu khả năng tồn tại của bất kỳ quy luật nào đối với toàn bộ nhân loại
Và nếu có một quy luật, dù chỉ là một quy luật thôi, chi phối hành động của con người thì không thể nào không phục tùng quy luật đó
Vấn đề TDYC chính đáng là đang lâm vào tình trạng mâu thuẫn này, vấn đề này từ thời cổ đại đã bắt những bộ óc ưu tú nhất của nhân loại phải suy nghĩ, và từ thời cổ đại đã được đặt ra với tất cả tầm quan trọng to lớn của nó
Nội dung vấn đề này là như sau: khi nhìn con người với tính sách một đối tượng để quan sát dù đứng trên quan điểm nào cũng vậy, thần học, lịch
sử, đạo đức, triết học, chúng ta đều gặp lại cái quy luật chung của tính tất yếu mà con người cũng như tất cả những gì tồn tại đều phải tập trung Trái lại, khi nhìn con người qua bản thân mình như một đối tượng ý thức được, thì ta lại cảm thấy mình tự do
Con người chỉ quan niệm rằng nó tồn tại khi nó có ý muốn, tức là khi
nó nhận thức được ý chí của mình Đã thế, ý chí là thực chất của đời sống cho nên con người nhận thức và ắt phải nhận thức nó như một ý chí tự do
Trang 6Nếu khi tự quan sát mình, con người thấy rằng ý chí của nó bao giờ cũng hướng theo một quy luật duy nhất và không thay đổi (bất kỳ quan sát nhu cầu ăn uống hay hoạt động của bộ óc, hay bất kỳ cái gì khác), thì nó không thể không quan niệm cái hướng không bao giờ thay đổi này của ý chí của
nó là một sự hạn chế đối với ý chí Cái gì đã không tự do thì cũng không thể nào bị hạn chế Ta thấy ý chí của con người bị hạn chế chính vì ta không có cách nhận thức nào khác ngoài cách khái niệm rằng ý chí là tự
do Nếu nhận thức của ta về tự do không phải là một cội nguồn tự nhận thức không liên quan đến lý trí, thì nó sẽ phục tùng lý luận và kinh nghiệm, nhưng trong thực tế không bao giờ có và không thể quan niệm được một
sự phục tùng như vậy
Nếu con người phát tnển từ loài khỉ ở một thời kỳ nào chưa rõ, thì điều đó cũng có thể hiểu được như nói rằng nó do một nắm đất sinh ra ở một thời kỳ nhất định (trong trường hợp thứ nhất thì X là thời gian, trong trường hợp thứ hai thì X là nguồn gốc) Nhưng vấn đề lại là ở chỗ ý thức
về tự do của con người kết hợp như thế nào với quy luật về tính tất yếu mà
nó phục tùng, và vấn đề này không thể giải quyết bằng sinh lý học và động vật học so sánh, bởi vì trong con ếch, con thỏ và con khỉ, ta chỉ có thể thấy hoạt động của thần kinh và bắp thịt trái lại trong con người ta thấy ngoài hoạt động của bắp thịt và thần kinh lại còn có cả ý thức nữa
3 Tính ngẫu nhiên trong tự do của ý chí
Tự do của ý chí là sự phát triển tinh thần của cá nhân (tính tự giác, ý thức đạo đức), nhờ đó con người chỉ theo tình cảm, nhận thức riêng của mình mà thực hiện những hành vi đạo đức ấy; ở đây, tính tất yếu bên ngoài (sự thực hiện những quy tắc xã hội) trở thành tính tất yếu bên trong (con người tuân theo tiếng nói của lương tâm cá nhân) TDYC không loại trừ sự kiềm chế, làm chủ bản thân; ở đây, "tự do là ở chỗ chúng ta có thể chi phối được chính bản thân chúng ta" (Enghen) Cá nhân sẽ đạt đến TDYC tuỳ theo độ trưởng thành của mình về mặt văn hoá, thông qua sự giáo dục và tự giáo dục
Jean Paul Sartre(1), triết gia hiện sinh người Pháp, có lẽ là người
bênh vực cực đoan nhất sức mạnh con người trong việc quyết định cho
chính nó cái gì nó sẽ trở thành Sartre nói con người tuyệt đối tự do thoát
khỏi mọi tình thế, kể cả ảnh hưởng từ dĩ vãng của chính nó Chúng ta chỉ là cái gì chúng ta lựa chọn hiện hữu Chúng ta phải tự do chỉ để được hiện
hữu một cách nào đó Hiện hữu của con người là tự do Kẻ không có tự do
là không phải con người Sartre tuyên bố: “Tự do nhân vị có trước yếu tính
trong con người và nó làm cho yếu tính khả hữu… Con người không hiện hữu trước để tự do sau đó; không có gì khác biệt giữa hiện hữu của con người và trạng huống tự do của nó”.
Trang 7Các tư tưởng gia hiện đại khác, như A.N Whitehead(2), Henri
Bergson(3), Paul Weiss(4), và Charles Hartshorne(5), đồng ý với Sartre
trong việc khẳng nhận sự tự do lựa chọn Tuy nhiên, họ khác ông ta ở chỗ
họ nhấn mạnh một số ảnh hưởng từ dĩ vãng của con người và ở chỗ họ
mở rộng tự do lựa chọn đến thế giới phi nhân văn
Khi nói đến tâm lý học như “sự bác bỏ” ý chí tự do, có lẽ bạn đang
nghĩ về Sigmund Freud Ông là một trong những kẻ phản đối hiển nhiên nhất của ý chí tự do trong thời đại chúng ta Đối với Freud, tất cả những
khát vọng của con người đều đã bị tất định, một mặt, bởi những xung lực
và nhu cầu tự nhiên, và, mặt khác, bởi những áp lực văn hóa mà con người tuân theo một cách không tự giác Phân tâm học đưa ra một phương pháp thực hiện tự do cá nhân, thông qua một tiến trình tự tri và tự chủ rất
gian khổ Nhưng tự do của ý chí hiểu như một thiên năng, đối với Freud, là điều hoàn toàn hư cấu Freud nói: “Nhà phân tâm học được biết tới như
người có niềm tin đặc biệt mạnh mẽ vào sự tất định của đời sống tâm linh Đối với ông ta, trong việc thể hiện tâm linh không có gì… tùy tiện, không có
gì vô trật tự… Bất kỳ ai… trốn khỏi sự tất định của các hiện tượng tự nhiên
ở bất kỳ mức độ nào, họ đã rời bỏ toàn bộ quan điểm khoa học về thế giới”.
Các triết gia thực chứng đương thời, như Moritz Schlick(6) và A.J.
Ayer(7), cho rằng tự do hệ tại vào việc chúng ta có thể thực hiện những
khát vọng của mình bằng hành động Họ nghĩ rằng chúng ta tự do khi có những hoàn cảnh mà có thể chúng ta đã làm khác đi, nếu chúng ta đã lựa chọn làm khác đi Nhưng họ cho là chúng ta không thể lựa chọn làm khác
đi trừ phi toàn bộ dĩ vãng của chúng ta và tất cả những ảnh hưởng khác đối với chúng ta khác đi
Trong khi xác lập một quan điểm về chủ đề này, chúng ta đối mặt với một song luận thú vị: Những quan niệm về tự do ý chí của chúng ta tự chúng có bị tất định không, hoặc chúng có phải là vấn đề lựa chọn tự do không? Trong bất kỳ trường hợp nào thì chúng ta cũng ở ngoài phạm vi của sự chứng minh khoa học Và nhân tiện, chưa ai có thể tuyên bố rằng
tâm lý học đã và đang phản chứng ý chí tự do William James, bản thân là
người tin vào ý chí tự do và đồng thời là nhà tâm lý học khoa học, khẳng định rằng lập trường mà chúng ta xác lập về vấn đề này tự nó là một hành
vi của ý chí tự do Chúng ta phải quyết định một cách tự do ngay cả khi chúng ta tán thành thuyết tất định Mọi “chứng cứ” sau đó của chúng ta tùy thuộc vào hành vi ý chí tiên quyết này
(1) Jean-Paul Sartre (1905 – 1980): triết gia, kịch tác gia, và tiểu thuyết gia
người Pháp Là một trong những nhà luận thuyết quan trọng nhất của chủ
nghĩa hiện sinh, ông viết tác phẩm triết học L’Être et le Néant (“Hữu thể và
Hư vô”; 1943) và tiểu thuyết La Nausée (“Buồn nôn”; 1939).
(2) Alfred North Whitehead (1861 – 1947): nhà toán học và triết gia người Anh Ông soạn chung với Bertrand Russell công trình Principia
Mathematica (“Nguyên lý Toán học”; 1910 – 1913).
Trang 8(3) Henri Bergson (1859 – 1941): triết gia Pháp Một trong những ý tưởng
có ảnh hưởng quan trọng nhất của ông là năng lực sáng tạo giữ vai trò
trung tâm trong sự phát triển của con người Ông lãnh giải thưởng Nobel về văn chương năm 1921.
(4) Paul Weiss (1898 – 1989): nhà sinh vật học Mỹ gốc Ao, người có
những nghiên cứu tiên phong về cơ chế của sự tái tạo của thần kinh, sự
hồi phục thần kinh, và tổ chức tế bào.
(5) Charles Hartshorne (1897 - ?): triết gia, nhà thần học, nhà giáo dục
người Mỹ, nổi tiếng là người đề xướng có ảnh hưởng nhất của “triết học
tiến trình”, theo đó Thượng Đế được xem như một thành phần trong sự tiến hóa của vũ trụ.
(6) Moritz Schlick (1882 – 1936): triết gia thực nghiệm luận lý người Đức,
đứng đầu trường phái các triết gia thực chứng nổi tiếng với tên gọi Nhóm
Vienna ở châu Âu
(7) Alfred Jules Ayer (1910 – 1989): nhà giáo dục và triết gia Anh, người
biện hộ cho thuyết thực chứng luận lý Công trình gây chấn động và được
nhiều người quan tâm của ông là Language, Truth, and Logic (“Ngôn
Ngữ, Chân Lý, và Lôgic”; 1936
Nguồn tư liệu : website www.chungta.com
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA BIỆN CHỨNG ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG TRONG KINH DOANH CỦA TẬP ĐÒAN TRÀ SỐ 1 THẾ GIỚI: LIPTON
Trang 9Trà là loại nước uống ưa chuộng và bắt nguồn từ châu Á Thế nhưng người
đầu tiên làm nên một thương hiệu trà lại là một người châu Âu Đó là Thomas Lipton.
1 Hoàn cảnh ra đời của ý tưởng
Thomas Lipton sinh ngày 10 tháng 5 năm 1850 tại Glasgow thuộc xứ
Scotlen, nước Anh Đúng ra, gia đình ông lại là người Ailen sang định cư tại đây Thomas Lipton là con trai duy nhất trong ba người con của một
doanh nhân nhỏ, chuyên bán tạp hoá, văn phòng phẩm.Năm 1865,
Thomas Lipton thôi học và đi làm để kiếm tiền Lúc này ở châu Âu nói
chung cũng như ở Anh nói riêng đang có làn sóng những người nghèo khó
đổ xô sang Mỹ để kiếm sống và đổi đời Nghe theo nhiều người quen, cậu
bé 15 tuổi quyết tâm bỏ nhà một mình sang Mỹ kiếm sống Số tiền ít ỏi cậu
có được chỉ vừa đủ mua chiếc vé tầu thuỷ đi từ Glasgow sang Mỹ
Những năm tháng ở đất Mỹ,
ông lang thang đi khắp nước Mỹ
để kiếm sống và đã trải qua rất
nhiều nghề khác nhau Đầu tiên
ông làm công nhân cho một đồn
điền ở Virginia, làm chân sai vặt
ở South Carolina Sau đó
Thomas Lipton chuyển về New
York và làm việc phụ lái xe trong
thành phố Cuối cùng thì
Thomas Lipton có vẻ hài lòng
nhất khi làm chân bán hàng tại
một cửa hàng thực phẩm tại
New York Thomas Lipton đã
học rất nhanh những kinh
nghiệm bán hàng Chỉ sau vài
tháng Thomas Lipton đã biết
ngay cái nghề mà mình muốn
học chính là nghề kinh doanh
Những kinh nghiệm buôn bán,
kinh doanh tích góp được càng
làm tăng thêm khao khát kinh doanh của chàng thanh niên chưa đầy 20
tuổi
Cuối năm 1869, sau gần 5 năm ở Mỹ, Thomas Lipton quyết tâm trở lại
quê hương để lập nghiệp Thomas Lipton muốn tự kinh doanh, tự mình áp dụng những kinh nghiệm và ý tưởng kinh doanh học hỏi ở Mỹ
Năm 1871, với vẻn vẹn 100 Bảng Anh, ông đã mở một cửa hàng kinh doanh thực phẩm mang tên Lipton ở Glasgow, thủ phủ xứ Scotlen Không
Trang 10một ai, kể cả cha ông, lại nghĩ rằng đó là một quyết định đúng đắn đã đưa Thomas Lipton trở thành triệu phú nước Anh chỉ hơn 10 năm sau.Thomas Lipton kinh doanh rất thành đạt Vốn ít nhưng ông đã biết cách đàm phán
để nhà sản xuất nhập hàng trả chậm Hơn nữa Thomas Lipton rất biết cách quảng cáo để thu hút khách hàng Xuất thân từ gia đình lao động, Thomas Lipton chủ trương định hướng vào khách hàng là người có thu nhập bình thường trong xã hội Vì thế giá cả phải chăng là yếu tố mấu chốt để Thomas Lipton bán được hàng Thomas Lipton quyết định phải mở thật nhiều cửa hàng để có thể nhập hàng khối lượng lớn với giá rẻ Hơn nữa ông tin rằng với những ý tưởng và kinh nghiệm học hỏi từ Mỹ, ông sẽ có cách quản lý kho hàng và phân phối sao cho tối ưu nhất, tiết kiệm nhất Sau 5 năm, Thomas Lipton đã mở đựơc 20 cửa hàng thực phẩm Lipton Năm 1881, sau 10 năm Thomas Lipton đã có cả một hệ thống cửa hàng thực phẩm Lipton với gần 300 cửa hàng ở khắp nước Anh Riêng tại London ông đã cho mở hàng chục cửa hàng như vậy Có thể nói các cửa hàng Lipton là chuỗi cửa hàng bán lẻ đầu tiên xuất hiện ở Anh Lúc này Thomas Lipton đã trở thành một nhà kinh doanh trẻ, nổi tiếng
2 Con đường phát triển của ý chí
Trà lúc này đã xuất hiện ở Anh từ lâu
nhưng vẫn chỉ dành cho giới thượng
lưu Đơn giản vì trà còn hiếm và rất đắt
Những thương gia đi tầu biển sang
châu Á chỉ chuyển về một số lượng có
hạn trà đem bán lại cho các cửa hàng
thực phẩm dành cho quí tộc và người
Thomas Lipton rất thích uống trà
Ông đam mê thưởng thức từng ngụm
trà vàng óng, nóng hổi mỗi ngày Ông tự
hình dung sẽ có biết bao triệu người bình thường nếu được thưởng thức thứ nước uống này rồi cũng sẽ đam mê và nghiện trà như ông Thomas Lipton nghĩ ngay tại sao mình không thể nhập trà với số lượng lớn để bán Chắc chắn số lượng lớn sẽ phải rẻ Với hệ thống cửa hàng bán lẻ dày đặc của mình, Thomas Lipton tin chắc thứ nước trà với hương vị thơm ngát quyến rũ sẽ chính phục được người tiêu dùng.Với đa số người dân bình thường thì cách thức pha trà vẫn còn rất lạ với họ Khách hàng của Thomas Lipton chỉ có thể mua những gói trà rất nhỏ Những cửa hàng thực phẩm cao cấp có bán trà thì đều bán như bán muối, bán bột mì, người bán xúc từ bao tải và đem cân cho khách Thomas Lipton đã rất tinh khi phát hiện ra điều đó và ý tưởng công nghệ đóng gói trà xuất hiện.Và ngay lập tức ý tưởng độc đáo và tuyệt vời này được Thomas Lipton thực hiện ngay