1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

64 445 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Người hướng dẫn Thầy Hoàng Xuân Quế
Trường học Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Thể loại Chuyên đề thực tập
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 364 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ cũng như các dịch vụ có liên quan đến tài chính – tiền tệ khác trong nền kinh tế quốc dân.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một tổ chức tài chính trunggian thực hiện các nghiệp vụ tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ cũngnhư các dịch vụ có liên quan đến tài chính – tiền tệ khác trong nền kinh tếquốc dân

Với vai trò vị trí vô cùng quan trọng, là một ngành chủ đạo của nềnkinh tế các hoạt động của ngân hàng ngày càng đa dạng về mặt hình thức,nâng cao nghiệp vụ Trong đó có một nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàngthương mại là sử dụng vốn và cho vay vốn, với nghiệp vụ cho vay là quantrọng, là nhân tố quyết định hiệu quả của việc huy động vốn cũng như hoạtđộng kinh doanh Câu hỏi đặt ra với một ngân hàng thương mại là cho vaynhư thế nào để kết quả kinh doanh có lãi và tạo điều kiện cho các thànhphần kinh tế phát triển trong đó đặc biệt chú trọng đến các doanh nghiệpngoài quốc doanh

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu là các doanh nghiệp vừa vànhỏ có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, tạo thu nhập, góp phầnvào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Ngoài những nhân

tố kinh tế xã hội để phát triển doanh nghiệp như: thị trường, trang thiết bịcông nghệ, nhà xưởng, trình độ quản lý, trình độ công nhân, chính sáchpháp luật của Nhà nước thì vốn là nhân tố quyết định, là vấn đề mà cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh gặp nhiều khó khăn

Sự phát triển Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã mở ra một thị trườngmới cho việc mở rộng và tăng trưởng hoạt động tín dụng Tín dụng Ngânhàng có tác động tích cực trong việc hỗ trợ Doanh nghiệp ngoài quốcdoanh đầu tư chiều sâu, đổi mới trang thiết bị giúp cho hoạt động sản xuấtkinh doanh được thực hiện liên tục, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăngsức cạnh tranh trên thị trường Cũng như các ngân hàng khác, Sở giao dịch

I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đang phải đối mặt với công tác

Trang 2

cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nghiệp vụ này cònnhiều hạn chế.

Xuất phát từ nhận thức đó, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, đươcj sựgiúp đỡ hướng dẫn của Ban giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam cùng với sự hướng dẫn của thầy Hoàng Xuân Quế, em mạnh dạn chọn

đề tài “Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ”.

Do kiến thức về lý luận và thực tiễn còn hạn chế, nên chuyên đề thựctập của em không thể tránh khỏi hạn chế, thiếu sót, vì vậy em mong nhậnđược them những ý kiến chỉ dẫn của thầy, cán bộ nhân viên của Ngân hàng

để bài viết của em được hoàn thiện hơn Kết cấu bài chuyên đề của emngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương:

Chương 1 : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và vai trò của Ngân hàng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Chương 2 : Thực trạng hoạt động cho vay của Ngân hàng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Chương 3 : Một số giải pháp mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới thầy giáo và Ban giám đốc, các

cô chú, anh chị của Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong thời gian thực tập vừaqua và hoàn thành bài chuyên đề thực tập này

Trang 3

CHƯƠNG 1 DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

1.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các đơn vị sản xuất kinh doanh

có tính chất tư hữu (không kể các đơn vị đầu tư nước ngoài) trong đó cácđơn vị, các cá nhân tự bỏ vốn, tự đóng góp và hoạt động vì mục đích lợinhuận bao gồm: các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữuhạn, các công ty cổ phần, công ty liên doanh…

1.1.2 Phân loại

* Theo hình thức sở hữu thì Doanh nghiệp ngoài quốc doanh gồm :

- Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau:

Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổphần Cổ đông có thể là một tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là

ba và không hạn chế tối đa Công ty cổ phần có quyền phát hành chứngkhoán ra công chúng theo quy định pháp luật về chứng khoán Công ty cổphần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm về nợ vàcác nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn góp và công ty

- Công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty trong đó phần vốn góp của

tất cả các thành viên phải được đóng đầy đủ ngay khi thành lập công ty.Các phần góp vốn được ghi trong điều lệ công ty Công ty không đượcphép phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào Việc chuyển nhượng vốngiữa các thành viên được thực hiện tự do Việc chuyển nhượng phần vốngóp cho người không phải là thành viên phải được sự nhất trí của các thànhviên đại diện với ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty

Trang 4

- Hợp tác xã là đơn vị kinh tế do nhiều lao động cùng nhau góp vốn để

sản xuất kinh doanh Hợp tác xã hoạt động theo luật hợp tác xã và trênnguyên tắc bình đẳng, dân chủ, cùng hưởng lợi, cùng chịu rủi ro với mọithành viên nhằm kết hợp sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơnnhững vấn đề sản xuất kinh doanh và đời sống Cơ quan cao nhất là Đại hội

xã viên, cơ quan quản lý các hoạt động của hợp tác xã

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự

chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động doanhnghiệp

- Hộ kinh doanh cá thể là một thực thể kinh doanh do một cá nhân

hoặc hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, khôngthường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằngtoàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh

* Theo quy mô doanh nghiệp thì Doanh nghiệp ngoài quốc doanhgồm:

- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô vừa và nhỏ : Theo Nghị

định số 90/2001/CP-ND ban hành tháng 3/2001 của Chính phủ có địnhnghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ, đó “là cơ sở sản xuất kinh doanh độclập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinhdoanh không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm khôngquá 300 người”

- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô lớn : là doanh nghiệp có

tính chất tư hữu, có số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng và số lao động lớn hơn 300người

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Vị trí của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam đã đượcHộinghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW Đảng khóa VI khẳng định : “Kinh tếquốc doanh cần có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, nghề loại hoạtđộng nào mà Hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt

Trang 5

cho nền kinh tế thì các hình thức kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tưnhân) Vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nềnkinh tế hàng hóa đi lên XHCN” Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốcdoanh đã được khẳng định qua các khía cạnh sau:

1.1.3.1 Sự phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh nâng cao tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

Thực vậy, việc các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển trênnhiều lĩnh vực, ngành nghề đã làm cho thị trường hàng hóa trở nên phongphú, đa dạng và sôi động hơn Người tiêu dung có nhiều cơ hội lựa chọnhàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mình Mặt khácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh với ưu thế về quy mô cộng thêm sự nhạybén với thị trường đã thực sự trở thành một đối thủ cạnh tranh trên thịtrường của rất nhiều doanh nghiệp khác Vì vậy sự phát triển của doanhnghiệp ngoài quốc doanh sẽ làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường Thể hiện

ở chỗ không chỉ có sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp ngoài quốc doanh vàdoanh nghiệp Nhà nước mà còn với bản thân các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh với nhau Đây là một động lực giúp cho nền kinh tế phát triển vì nó làmcho mọi nguồn lực trong nền kinh tế được tận dụng, sử dụng một cách tối đa

vì theo hình thức này từ lâu đã mang nặng tính quan liêu bao cấp, hoạtđộng theo kế hoạch, dần dần thủ tiêu tính sáng tạo và năng động của cácdoanh nghiệp, vì thế các doanh nghiệp không thể nào khai thác hết mọitiềm năng của đất nước Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời đã khaithác được mọi nguồn vốn tự tích lũy của mình đã đầu tư phát triển sản xuất

Trang 6

kinh doanh trong mọi lĩnh vực thúc đẩy kinh tế phát triển Kết quả trên làtất yếu khi mà kinh tế ngoài quốc doanh mang tính tư hữu cao, hiệu quả sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gắn liền vớiquyền lợi, lợi ích cá nhân của người sản xuất Chính vì vậy mà các doanhnghiệp ngoài quốc doanh luôn tập trung tận dụng tối đa những gì mà họ có

và có thể huy động được để mang lại lợi nhuận cao nhất cho chính bản thândoanh nghiệp và thông qua đó góp phần phát triển kinh tế đất nước

1.1.3.3 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần tạo việc làm, giảm thất nghiệp.

Việc làm hay tỉ lệ thất nghiệp cao là vấn đề nan giải với bất kỳ quốcgia nào Đặc biệt là ở một số nước đang phát triển như Việt Nam thì sự rađời của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là thực sự là một cứu cánh cho

số lượng lao động còn lại Mặt khác, doanh nghiệp ngoài quốc doanh cầnmột lực lượng lao động giản đơn, lao động không cần đầu tư phức tạp, nênphù hợp với trình độ lao động hiện nay ở Việt Nam

1.1.3.4 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có khả năng tập trung mọi nguồn lực trong xã hội vào hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Thật vậy, các DNNQD có khả năng tập trung vốn, trí tuệ và các nguồnlực khác vào các ngành kinh tế hay các ngành đòi hỏi hàm lượng trí tuệ caonhư công nghệ thông tin hay cũng có khả năng lấp đầy những khoảng trốngtrong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh không cần nhiều vốn và có mức lợinhuận thấp mà các nhà đầu tư lớn ít quan tâm

1.1.3.5 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một bộ phận đóng góp cho ngân sách Nhà nước và góp phần làm tăng thu nhập quốc dân.

Thuế là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước Về mặt pháp lýcác Doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng như doanh nghiệp Nhà nước đều

có nghĩa vụ như nhau trong việc nộp thuế Do đó sự phát triển của doanhnghiệp ngoài quốc doanh cũng như sự thành công trong sản xuất kinhdoanh của họ sẽ góp phần đáng kể tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước

Trang 7

1.1.3.6 Sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong mọi ngành nghềnhưng chủ yếu phổ biến ở các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịchvụ,xuất khẩu Doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa hút một lực lượng lớnlao động nông thôn, lại vừa có thể nhanh chóng thích nghi đón đầu côngnghệ mới, chuyển đổi theo hướng sản xuất nhanh chóng cho phù hợp vớithị trường, tham gia tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từnông nghiệp sang các ngành phi công nghiệp Từ đó doanh nghiệp ngoàiquốc doanh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nền sản xuất nhỏvới sản xuất nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế có cơ cấu tiên tiến,theo hướng xuất khẩu, phù hợp với định hướng Công nghiệp hóa – Hiệnđại hóa

Như vậy doanh nghiệp tuy có một số hạn chế, khó khăn trước mắtnhưng vai trò của nó đối với nền kinh tế vẫn không thể phủ nhận Với sự hỗtrợ khuyến khích ra đời và hoạt động của các doanh nghiệp này, Nhà nước

và các cơ quan liên quan, cùng với các nguồn lực có sẵn, các doanh nghiệpngoài quốc doanh ngày càng tăng nhanh về số lượng lẫn chất lượng, gópphần giải quyết việc làm, tạo ra sự năng động trong kinh doanh và thỏamãn một phần nhu cầu thị trường, góp phần vào sự phát triển kinh tế chungcủa toàn Đất nước

1.1.4 Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Sau khoảng thời gian 20 năm đổi mới trong tư duy, nhận thức cũngnhư những thay đổi cần thiết về luật pháp trong cách nhìn nhận về cácdoanh nghiệp Việt Nam nói chung, về DNNQD nói riêng kết quả là chúng

ta đã thu được rất nhiều thành tựu Các doanh nghiệp nói chung, trong đó

có các DNNQD đã không ngừng gia tăng về số lượng, hoạt động ngày mộthiệu quả, hàng hóa dịch vụ cung cấp ngày càng đa dạng, công ăn việc làmcho người lao động tăng lên nhanh chóng…Mặc dù được tạo điều kiện và

Trang 8

đã có nhiều thành tích nhưng hoạt động của các DNNQD vẫn còn nhiềuhạn chế do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân xuất phát từ bảnthân loại hình doanh nghiệp Một số đặc điểm của loại hình DNNQD sẽđược chỉ ra dưới đây, từ đó có thể tìm ra các phương án trong hoạt động

mở rộng cho vay của các NHTM với đối tượng này

1.1.4.1 Các DNNQD có số lượng lớn và tốc độ gia tăng nhanh.

Trong những năm qua, do tác động mạnh mẽ của các chính sách đổimới của đất nước, do tác động của mở cửa kinh tế số lượng các doanhnghiệp ngày một tăng lên trong đó có các DNNQD Sau khi luật công ty vàluật doanh nghiệp tư nhân được ban hành năm 1991,tổng số DNNQD trên

cả nước là 414 doanh nghiệp; đến năm 1999, số lượng loại hình doanhnghiệp này tăng đến 30.500 doanh nghiệp Bình quân trong giai đoạn nàytốc độ tăng khoảng 30% Năm 2000, nhà nước ban hành luật doanh nghiệp

để thay thế luật công ty, số lượng các DNNQD tăng lên nhanh chóng Năm

2000 số DNNQD là 44.943, năm 2002 là 54.642, năm 2003 là 82.000 Chođến cuối năm 2004, gần 110.000 doanh nghiệp mới đăng ký, và đến nay cókhoảng 155.000 doanh nghiệp Trong giai đoạn này, số lượng các DNNQDtăng với tốc độ 40%/năm, trong đó tăng nhanh nhất là các công ty cổ phần,các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân Số lượng cácDNNQD gấp trên 10 lần số lượng các doanh nghiệp nhà nước, gấp 25 lầndoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt, 1/7/2007 luật doanhnghiệp chung sẽ chính thức có hiệu lực điều này hứa hẹn sẽ mang lại rấtnhiều thay đổi cho các DNNQD Việt Nam đã chính thức trở thành thànhviên của WTO, quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước sẽ diễn ramạnh mẽ, sôi động hơn và cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì

sự gia tăng về quy mô và chất lượng của các DNNQD là khách quan, tấtyếu

Trang 9

1.1.4.2.Đa số các DNNQD đều mới hình thành.

Trước đổi mới, nhà nước độc quyền trong mọi lĩnh vực của đời sốngkinh tế, các thành phần kinh tế phi nhà nước đều bị coi là bất hợp pháp vàkhông có một DNNQD chính thức hoạt động Sau khi thực hiện đổi mớinền kinh tế và thực hiện những chính sách chiến lược nhằm đẩy mạnh nềnsản xuất trong nước thì các DNNQD mới có điều kiện thuận lợi để pháttriển Như phần trên đã phân tích trong bốn năm từ năm 2000 đến năm

2004 số lượng DNNQD tăng lên gần gấp đôi cả giai đoạn trước đó Hầuhết các doanh nghiệp tính đến nay đều thành lập được khoảng trên dưới 6năm, DNNQD “già nhât” cũng chưa được 20 năm Như vậy, so với cácdoanh nghiệp quốc doanh thì DNNQD còn quá non trẻ và mới mẻ

1.1.4.3.Quy mô vốn và lao động nhỏ.

Mặc dù số lượng DNNQD là lớn nhất trong tất cả các loại hìnhdoanh nghiệp nhưng quy mô vốn và lao động của các doanh nghiệp này lạinhỏ bé hơn nhiều Chiếm đến khoảng 68% tổng số các DNNQD là cácdoanh nghiệp có quy mô vốn dưới 500 triệu, khoảng 32% là các doanhnghiệp có số vốn trên 500 triệu, còn lai là các doanh nghiệp có vốn trên 1

tỷ đồng Năm 2006, tổng vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế thì khuvực nhà nước chiếm 50,1%, khu vực ngoài quốc doanh chiếm 33,6%, vàkhu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 16,3% Mặc dù có số lượng lớnnhưng các DNNQD vẫn chưa có được quy mô vốn tương xứng và tài chínhcòn hạn hẹp Chính bởi lý do này mà quy mô của các doanhh nghiệp cònnhỏ bé, sức cạnh tranh yếu, khó tiếp cận công nghệ hiện đại để nâng caohiệu quả kinh doanh Trong thời gian tới nếu không cải thiện được tìnhhình vốn kinh doanh, thì các DNNQD khó lòng cạnh tranh được với cácđối thủ khác đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài, liên doanh…

Cũng chính bởi quy mô nguồn vốn hạn hẹp, lĩnh vực kinh doanhchưa đa dạng nên đội ngũ lao động trong các DNNQD cũng còn hạn chế cả

về số lượng và chất lượng Theo thống kê cả nước chỉ có khoảng 700

Trang 10

doanh nghiệp có số lao động từ 100 người trở lên; bình quân mỗi doanhnghiệp có khoảng 35 lao động Đội ngũ lao động khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh nói riêng cũng như trong toàn bộ nền kinh tế nói chung đềuchưa có tay nghề kỹ thuật cao, ít được đào tạo và nhiều khi chưa đáp ứngđược đòi hỏi của công việc.

Từ quy mô nguồn vốn và quy mô lao động của các doanh nghiệp màchúng ta có thể nhận ra rằng phần lớn các DNNQD là các doanh nghiệpnhỏ và vừa Vốn chủ sở hữu nhỏ, vốn tích lũy chưa nhiều là nguyên nhânkhiến cho quy mô sản xuất chưa được mở rộng, từ đó dẫn đến khả năngtăng doanh thu không cao, năng lực cạnh tranh thấp…Bởi vậy vấn đề đặt ra

là cần phải có chính sách thu hút vốn đầu tư đa dạng hơn, linh hoạt hơn nhưvay ngân hàng, vay các tổ chức tài chính khác, tín dụng thương mại, pháthành các chứng khoán, kêu gọi đầu tư…

1.1.4.4 Môi trường kinh doanh chưa thuận lợi, thị trường tiêu thụ chưa được khai thác triệt để.

Đảng và nhà nước ta luôn cố gắng để tạo ra sân chơi bình đẳng chocác loại hình doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơncho các doanh nghiệp nhưng thực tế vẫn có sự phân biệt đối xử giữa cácdoanh nghiệp thuộc khu vực quốc doanh và ngoài khu vực quốc doanh.Môi trường kinh doanh không thuận lợi tạo ra sự phát triển không đồngđều giữa các doanh nghiệp, các DNNQD hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ

và thương mại là chủ yếu Nhiều ngành nghề các doanh nghiệp nhà nướccòn chiếm thế độc quyền

Phạm vi hoạt động của các DNNQD tập trung hầu hết ở các khu vực

có nền kinh tế phát triển, những địa phương này có các khu công nghiệp,chế xuất đã kéo theo sự phát triển của các DNNQD nhằm cung cấp cácdịch vụ và vật tư cho các nhà máy lớn, cho các khu công nghiệp… Bởi vậy

có thể nói ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh của các DNNQD còn chưa

đa dạng, chưa tập trung vào sản xuất các hàng hóa có giá trị, các dịch vụ

Trang 11

cung cấp chưa thuyết phục Cùng với đó là công nghệ lạc hậu khiến chocác hàng hóa do khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất chưa vươnrộng ra thị trường quốc tế và thị trường trong nước cũng không đủ rộnglớn, chưa xứng tầm…Các sản phẩm thiếu tính cạnh tranh và khó xâm nhậpthị trường mới Và trong điều kiện bị cạnh tranh gay gắt trong những nămtới nếu không có chiến lược kinh doanh phù hợp, linh hoạt thì khả năngmột số DNNQD bị mất thị trường là điều dễ nhận thấy.

Trình độ quản lý của các DNNQD còn yếu kém nhất là các doanhnghiệp có quy mô nhỏ Rất nhiều cá nhân đứng ra thành lập các công ty,trực tiếp quản lý điều hành hoạt động của công ty, trong khi không phải tất

cả các cá nhân đó có hiểu biết và am hiểu về kinh tế, có trình độ quản lýdoanh nghiệp Điều đó dẫn tới việc nhiều khi các DNNQD tham gia thịtrường mắc nhiều sai phạm hoặc hoạt động kém hiệu quả Bên cạnh đó, cóthể do thiếu hiểu biết về môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, phươngpháp quản lý lao động mà nhiều doanh nghiệp có thể vi phạm pháp luật, tàichính có thể không minh bạch

Trang 12

1.2 Hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động cho vay của ngân hàng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Trong lịch sử phát triển của mình, để khai thác được vốn, Doanhnghiệp ngoài quốc doanh đã dựa vào 3 nguồn vốn chủ yếu: vốn tự có,thông qua thị trường tài chính và thông qua tín dụng Ngân hàng Thực tế đãchứng minh rằng, với số vốn tự có nhỏ bé của mình Doanh nghiệp ngoàiquốc doanh không thể tự mình đổi mới công nghệ thiết bị, mở rộng quy môsản xuất, đầu tư vào những lĩnh vực ngành nghề đang được ưa chuộng Cònthông qua thị trường tài chính thì rủi ro lai rất lớn và điều kiện tham gia rấtkhó khăn Do đó muốn phát triển, Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ cóthể dựa vào nguồn vốn cho vay của Ngân hàng Ngân hàng là nơi cung cấpvốn dồi dào và an toàn nhất

1.2.2.1 Hoạt động cho vaycủa ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Tại thị trường tín dụng chính thức, hoạt động của các HTX tín dụng vàquỹ tín dụng nhân dân chủ yếu là để hỗ trợ, giải quyết nhu cầu sinh hoạt vàvốn phát triển kinh tế gia đình Mặt khác, thị trường vốn dài hạn, thị trườngchứng khoán ở nước ta mới trong giai đoạn sơ khai Điều kiện tham gia thịtrường chứng khoán của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không phải là

dễ dàng Vì vậy, kênh cung cấp vốn chủ yếu và hết sức quan trọng để cácthành phần kinh tế này phát triển là vốn cho vay của các NHTM Do đó, đểdoanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển nhất thiết phải có sự hỗ trợ vốn

Trang 13

vốn vay dưới hình thức vay vốn ngắn hạn là nguồn vốn bổ sung vốn lưuđộng rất quan trọng Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa của các doanhnghiệp ngoài quốc doanh sản xuất ra không phải lúc nào cũng bán được hết

và không phải lúc nào cũng thanh toán được tiền ngay, trong khi sản xuấtkhông thể dừng lại Để việc kinh doanh tiến hành bình thường, liên tục và

có hiệu quả, tự doanh nghiệp khó có thể giải quyết được, cần thiết phảithông qua nguồn vốn vay từ phía Ngân hàng để bố sung vốn lưu động chochính mình

1.2.2.3 Nguồn vốn vay từ ngân hàng hỗ trợ cho các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị.

Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều có đặc điểm chung là trình độcông nghệ sản xuất lạc hậu, tuổi thọ tài sản cố định khá cao và được tântrang lại Do đó sản phẩm làm ra có giá thành cao, chất lượng hạn chế, khócạnh tranh được với các hàng ngoại nhập, dẫn đến kinh doanh bị thua lỗ,phá sản Do vậy, nhu cầu đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ngàycàng trở nên bức xúc Với khả năng của mình, ngân hàng hoàn toàn có thể

hỗ trợ vốn, giúp các doanh nghiệp từng bước tháo gỡ khó khăn, thích nghivới thị trường thông qua hoạt động cho vay trung và dài hạn

Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể giúp các doanh nghiệp thực hiện đổimới công nghệ thông qua hình thức thuê mua Đây là hình thức cho thuêmáy móc, thiết bị để phục vụ sản xuất, được ngân hàng mua theo yêu cầucủa bên thuê (các doanh nghiệp) Bên thuê có quyền lựa chọn bên cung ứnghàng, thương lượng thỏa thuận chủng loại, giá, việc bảo hiểm, bảo hành,cách thức và hình thức giao hàng, việc lắp đặt, bảo lãnh và những vấn đềkhác liên quan đến tài sản thuê Nhờ đó, các doanh nghiệp có nhiều điềukiện hơn trong việc đầu tư trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình

Tóm lại, sự phát triển của các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn vay từ các ngân hàng Để phát triển khu

Trang 14

vực kinh tế ngoài quốc doanh – đây cũng là định hướng chủ đạo của Đảng

và Nhà nước trong phát triển kinh tế đất nước – thì ngoài việc đổi mới cơ chế, phạm vi hoạt động… thì việc mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng đối với khu vực này là rất quan trọng, cần thiết cho sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

1.2.2 Các hình thức cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Trên cơ sở nhu cầu sử dụng từng khoản vốn vay của khách hàng, độtín nhiệm của khách hàng trong quan hệ tín dụng và khả năng kiểm tra,giám sát việc sử dụng vốn vay của ngân hàng Ngân hàng sẽ thỏa thuận vớikhách hàng về việc lựa chọn phương án cho vay theo một trong các phươngthức sau:

- Cho vay từng lần:

+ Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu và đề nghịvay vốn từng lần, có quan hệ không thường xuyên với Ngân hàng, cónguồn thu thường không ổn định; cho vay bù đắp thiếu hụt tài chính tạmthời, cho vay bắc cầu, cho vay hỗ trợ triển khai các đề tài nghiên cứu khoahọc, công nghệ, cho vay tiêu dùng trong dân cư

+Mức trả nợ và kỳ hạn trả nợ đối với hình thức cho vay theo món cóthể được xác định dựa trên cơ sở từng chu kỳ sản xuất kinh doanh, hoặckhả năng nguồn thu của khách hàng

- Cho vay theo hạn mức tín dụng:

+ Chi nhánh cùng khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tíndụng duy trì trong một thời gian nhất định Phương thức cho vay theo hạnmức tín dụng được áp dụng đối với các khách hàng có sản xuất kinh doanh

ổn định, có hiệu quả và có quan hệ tín dụng thường xuyên đối với Chinhánh

+ Khi xác định hạn mức tín dụng cần dựa trên cơ sở: Báo cáo quyếttoán của năm trước, Báo cáo kế toán tại thời điểm gần nhất cùng với kế

Trang 15

hoạch sản xuất kinh doanh năm, quý và các hợp đồng kinh tế, hợp đồng thicông…

+ Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng theo hạn mức, kháchhàng có thể vừa rút vốn vay, vừa trả nợ tiền vay, song phải đảm bảo số dư

nợ không vượt hạn mức tín dụng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụnghạn mức

+ Để đảm bảo duy trì sản xuất kinh doanh ổn định, hàng năm hoặctheo nhu cầu mở rộng, thu hẹp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của kháchhàng, điều kiện vay vốn của khách hàng, Chi nhánh và khách hàng thỏathuận ký phụ lục bổ sung hợp đồng tín dụng điều chỉnh hạn mức tín dụngcho kỳ tiếp theo, hoặc ký hợp đồng tín dụng hạn mức mới hoặc chấm dứtphương thức cho vay này

- Cho vay theo dự án đầu tư:

Chi nhánh cho vay khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tưphát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đầu tư phục đời sống

- Cho vay hợp vốn:

+ SGD tham gia một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một

dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một

tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụngkhác Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế cho vayban hành theo quyết định số 1627/QĐ NHNN và Quy chế đồng tài trợ củacác tổ chức tín dụng do Thông đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành

+ Chi nhánh quyết định việc tham gia cho vay hợp vốn mà các tổ chứctín dụng khác đề nghị, hoặc tham gia theo ủy quyền của Tổng Giám đốc,hoặc tự tổ chức làm đầu mối cho vay hợp vốn theo quy định của TổngGiám đốc

+ Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổchức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành vàhướng dẫn của Tổng Giám đốc Việc thẩm định dự án, phương án vay vốn,

Trang 16

quyết định tham gia đồng tài trợ của Ngân hàng thực hiện theo Quy chếnày.

- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:

SGD cam kết đảm bảo sẵn sang cho khách hàng vay vốn trong phạm

vi hạn mức tín dụng nhất định SGD và khách hàng thỏa thuận thời hạnhiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức chi trả cho hạn mức tín dụng

dự phòng

- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:Ngân hàng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trongphạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua khách hàng, dịch vụ vàrút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt tại các Chinhánh Tổng Giám đốc quy định cụ thể về cho vay thông qua nghiệp vụphát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định hiện hành củapháp luật

- Cho vay trả góp:

Khi cho vay, Chi nhánh cùng khách hàng xác định và thỏa thuận số lãivốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳhạn trong thời hạn vay

- Cho vay theo hạn mức thấu chi:

Ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng đượcchi vượt quá số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng tại Chinhánh trong khoản thời gian nhất định, phù hợp với các quy định của Chínhphủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổchức cung ứng dịch vụ thanh toán Tổng Giám đốc hướng dẫn cụ thểphương thức cho vay này

.- Các phương thức cho vay khác:

Ngoài ra các phương thức cho vay nêu trên, Ngân hàng cho kháchhàng vay vốn theo các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm,phù hợp với quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quy chế

Trang 17

này và điều kiện hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và đặc điểm củatừng loại khách hàng vay Tổng Giám đốc quy định, hướng dẫn hoặc chophép các Chi nhánh thực hiện các phương thức cho vay khác

1.2.3 Quy trình cho vay

Quy trình cho vay là tập hợp nội dung, kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, cácbước phải tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một món vay Thôngthường, để đảm bảo hiệu quả thì quy trình cho vay phải tuân theo các bướcsau:

1 Khai thác khách hàng cũ, tìm kiếm dự án, khách hàng mới

2 Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vayvốn

3 Phân tích thẩm định khách hàng và phương án vay vốn

4 Ra quyết định cho vay, thông báo đến cho khách hàng

5 Kiểm tra hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và tài sản thế chấp, cầm cố,bảo lãnh

6 Kiểm soát trong khi cho vay, phát tiền vay

7 Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay, theo dõi hoạt động của

vụ để trở thành kỹ năng, nghệ thuật cho vay của Ngân hàng và năng lựccủa từng cán bộ, phù hợp với yêu cầu đa dạng của thị trường

Trang 18

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.3.1 Về chủ quan

- Khả năng tài chính của doanh nghiệp còn yếu :

Do sự phát triển của thành phần kinh tế này mới được thừa nhận hơn

15 năm và hoạt động trong môi trường luật pháp đạng được tạo dựng nênDoanh nghiệp ngoài quốc doanh còn nhiều vướng mắc trong quá trình pháttriển Mặc dù trong những năm gần đây được Đảng và Nhà nước khuyếnkhích tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưngnhìn chung độ tập trung vốn của khu vực này chưa cao Phần lớn các doanhnghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta đều có quy mô nhỏ và chủ yếu thuộcloại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các doanh nghiệp Nhà nước vốn phần lớn được hỗ trợ từ ngân sáchcòn Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì không nhận được sự hỗ trợ này mànguồn vốn kinh doanh chủ yếu được khai thác từ các nguồn vốn : vốn tự

có, vốn huy động trên thị trường bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu

và các nguồn vốn vay Ở nước ta phát hành cổ phiếu vẫn chưa được ápdụng rộng rãi mà chỉ dừng ở việc phát hành cổ phiếu trong nội bộ công ty

cổ phần Doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới hình thành và quy mô cònnhỏ, uy tín còn hạn chế, do đó chưa đáp ứng được các yêu cầu trên Vì vậycác doanh nghiệp này chỉ còn cách là vay các Ngân hàng thương mại, đây

là nguồn vốn dồi dào có thể đáp ứng được quá trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp ngoài quốc doanh

- Trình độ sản xuất còn thấp, công nghệ lạc hậu, chắp vá

Do hạn chế về vốn nên năng lực sản xuất thấp, kéo theo trình độ kỹthuật công nghệ của doanh nghiệp còn lạc hậu, chủ yếu vẫn là kỹ thuậtcông nghệ sử dụng nhiều lao động Công nghệ lạc hậu là một trong nhữngnguyên nhân chính làm cho các sản phẩm kém sức cạnh tranh và thị phần

Trang 19

hàng hóa bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp Tuy nhiên đây cũng là điểmchung của các doanh nghiệp nước ta, kể cả doanh nghiệp Nhà nước.

- Trình độ quản lý, kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh còn nhiều hạn chế, kỹ năng người lao động thấp

Thành phần xuất than của các chủ doanh nghiệp thuộc Doanh nghiệpngoài quốc doanh có từ nhiều nguồn gốc khác nhau: nông dân, thợ thủcông, tầng lớp trí thức Họ có nhiều hạn chế, vướng mắc trong công tác tổchức nhân sự, trong việc hoạch định kế hoạch cũng như phân tích dự án,các cơ hội đầu tư Việc thực hiện Pháp lệnh về tài chính và thống kê củaNhà nước trong các doanh nghiệp này chưa được thực hiện nghiêm túc.Phần lớn, các doanh nghiệp hạch toán kế toán chủ yếu bằng kinh nghiệmbản than Do đó, họ gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng

vì không chứng thực được năng lực kinh doanh cũng như tình hình tàichính của bản than một cách rõ rang

- Tính ổn định của chính sách kinh tế - tài chính còn thấp, thiếu tínhkích thích mà chủ yếu là chính sách thuế và pháp luật còn nặng tính ràngbuộc về nguyên tăc, chế độ

- Chính sách thuế còn nhiều ưu đãi, chiếu cố cho doanh nghiệp Nhànước, chưa đảm bảo công bằng, bình đẳng và sự cạnh tranh lành mạnh giữacác doanh nghiệp

Trang 20

- Các chính sách Nhà nước chưa được thực sự khuyến khích doanhnghiệp ngoài quốc doanh tăng cường sử dụng công nghệ mới, đào tạo cán

bộ quản lý, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật Thiếu chính sách bảo hộquyền lợi chính đáng của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân

về các chế độ người lao động BHXH, BHYT trong thời gian làm việc và vềhưu

-Thủ tục hành chính còn nhiều phiền hàm nhũng nhiễu Tình trạng quan lieu, cửa quyền trong quản lý kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng vẫn đang là nhân tố cản trở không nhỏ đối với sản xuất kinh doanh

Trang 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

2.1 Khái quát về Sở Giao dịch - Ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam 2.1.1.Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động

2.1.1.1 Cơ cấu tổ chức

SGD được thành lập theo quyết định số 572 TCCB/ĐT ngày26/12/1990 của Vụ Tổ chức cán bộ Ngân hàng Nhà nước về tổ chức bộmáy của NHĐT&PTVN và Quyết định số 76 QĐ/TCCB ngày 28/03/1991của Tổng Giám đốc Ngân hàng ĐT&PTVN Theo các Quyết định này,SGD là đơn vị trực thuộc, thực hiện hạch toán nội bộ, có bảng cân đối tàikhoản riêng, có con dấu riêng và trực tiếp giao dịch với khách hàng Trụ sởđặt tại 191 Bà Triệu-Hà Nội Trong suốt quá trình hình thành và phát triển,SGD trải qua hai thời kỳ:

- Thời kỳ từ 1991-1995: nhiệm vụ chính trong thời kỳ này là cấp phátvốn ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản

Trang 22

KHỐI ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC

Trang 23

2.1.1.2 Mạng lưới hoạt động

Từ ngày đầu thành lập, SGD có 2 phòng và 1 tổ nghiệp vụ; chủ yếu làm nhiệm vụ cấp phát vốn ngân sách đầu tư các dự án

Giai đoạn 1996 – 2000: với 167 cán bộ nhân viên SGD đã có 12

phòng nghiệp vụ, 1 chi nhánh khu vực, 2 phòng giao dịch và 7 quỹ tiết kiệm Thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại, phục vụ đông đảo khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế và dân cư

Từ 2001 – 2005: SGD đã thực hiện tách nâng cấp mở 4 chi nhánh cấp

I trên địa bàn Hà Nội đó là: chi nhánh Bắc Hà Nội năm 2002, chi nhánh HàThành năm 2003, chi nhánh Đông Đô năm 2004 và chi nhánh Quang Trungnăm 2005 Cơ cấu lại SGD theo mô hình phục vụ một cửa thuận lợi cho khách hàng và quản lý thông tin, thanh toán trực tuyến Đến nay SGD đã có

15 phòng nghiệp vụ; 15 điểm giao dịch với gần 300 cán bộ nhân viên Hệ thống máy rút tiền tự động ATM hoạt động kết nối với các điểm giao dịch của BIDV trên phạm vi toàn quốc hợp thành mạng lưới rộng khắp phục vụ khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Năm 2006, SGD đã mở thêm 1 chi nhánh nữa, trở thành phòng Giao dịch III của SGD, nằm trên đường Hàng Khoai Đây là chi nhánh hoạt độngtín dụng chủ yếu đối với khách hàng thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Mô hình tổ chức của SGD đang được hoàn thiện hướng theo các ngân hàng hiện đại trên cơ sở áp dụng công nghệ thông tin để hình thành các kênh phân phối sản phẩm tín dụng, huy động vốn, dịch vụ…

Trang 24

2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của SGD từ năm 2004 – 2006

Bảng số liệu tình hình kinh doanh của SGD năm 2004 – 2006

Đơn vị: tỷ đồngNăm

1,019.978 2,685.478

3,317.088

2,208.801 461.017 647.270

85.906

-15.46 33.69

83.31 21.22

-35.79

-8.14 -72.70 -39.64

-81.75

7,569.500 4,407.585

844.839 3,562.746

3,084.831

2,168.426 230.878 649.527

113.084

6.49 18.95

-17.17 32.67

-8.09

-1.83 -49.92 0.35

31.64

10,110.926 7,284.959

1,645.390 5,639.569

2,791.400

2,290.055 122.200 379.145

34.567

33.57 65.28

94.76 58.29

-8.44

5.61 -47.07 -41.63

5.71

29.64 -14.01 37.45 -11.56 3.79

4,813.816

1,724.458 1,012.621 1,396.026 374.866 305.846

13.96

101.50 -24.73 24.68 -27.28 -21.12

5,000.752

1,959.934 623.713 1,894.594 256.478 266.034

3.88

13.66 -38.41 35.71 -31.58 -13.02

-4.48 -36.15 -5.31

25.600 93.659 11,180.720

4.48 11.69 2.10

49.512 184.858 14,141.538

93.41 97.37 26.48

2.1.2.1 Công tác huy động vốn

Qua bảng số liệu, ta có thể thấy rõ rằng trong những năm gần đây,tổng huy động vốn của SGD đã có sự tăng trưởng rất mạnh Năm 2004, huy

động vốn đạt 7,108.450 tỷ đồng, giảm 15.46 % so với năm 2003 Nhưng

năm 2005, tổng huy động vốn đã tăng trở lại, đạt 7,569.500 tỷ đồng, tăng

6.49% so với năm 2004 Và năm 2006 là năm tăng trưởng mạnh của SGD

với nguồn vốn huy động được đạt 10,110.926 tỷ đồng, tăng 33.57 % so với

Trang 25

năm 2005 và là năm có nguồn vốn huy động nhiều nhất cũng như tăngtrưởng mạnh nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây.

- Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế trong 3 năm cũng có sự đột biến rõràng Năm 2004 đạt 3,705.456 tỷ đồng, tăng 33.69% so với năm 2003 Đếnnăm 2005 thì chỉ đạt 4,407.585 tỷ đồng, tăng 18.95% so với năm 2004 Tuynhiên năm 2006 thì con số này đạt 7,284.959 tỷ đồng, tăng 65.28% so vớinăm 2005 Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn năm 2006 tăng gần gấp đôi sovới năm 2005, đạt 1,645.390 tỷ đồng tương ứng 94.76% tăng so với năm

2005 Tỷ lệ này năm 2005 lại giảm 17.17% so với năm 2004, chỉ đạt844.839 tỷ đồng Tiền gửi có kỳ hạn cũng tương tự như tiền gửi không kỳhạn Năm 2006 đạt 5,639.569 tỷ đồng tăng 58.29% so với năm 2005 Năm

2005 đạt 3,562.746 tỷ đồng không giảm như tiền gửi không kỳ hạn, tăng32.67% so với năm 2004

Có được điều này là do các tổ chức kinh tế đã có sự thay đổi về hoạtđộng kinh doanh, đã đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, giảm lượng vốnđọng lại ở ngân hàng mà chuyển nó thành vốn lưu động phục vụ sản xuấtkinh doanh của mình Ngoài ra các chính sách của ngân hàng cũng khuyếnkhích các doanh nghiệp tăng lượng gửi tiền có kỳ hạn bằng cách tăng lãisuất huy động có kỳ hạn lên cao, khiến các doanh nghiệp, tổ chức kinh tếchuyển từ gửi không kỳ hạn sang có kỳ hạn nhiều hơn

- Tiền gửi dân cư không có sự đột biến nào rõ ràng Điều này thể hiệnrất rõ qua tổng vốn huy động từ dân cư Năm 2004 đạt 3,317.088 tỷ đồng,giảm 35.79% so với năm 2003 Năm 2005 đạt 3,048.831 tỷ đồng, giảm8.09% so với năm 2004 Năm 2006 đạt 2,791.400 tỷ đồng giảm 8.44% sovới năm 2005

Các hoạt động thành phần bao gồm huy động tiền gửi tiết kiệm, kỳphiếu, chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu nhìn chung qua các năm đều giảm.Điều này thể hiện rõ việc dân cư ngày càng ít giữ tiền ở trong ngân hàng

Trang 26

hơn so với các năm trước Họ đem tiền vào kinh doanh và mong muốn sốtiền của họ ngày càng nhiều hơn.

- Huy động vốn từ các loại huy động khác nhìn chung là biến độngnhiều Năm 2004 đạt 85.906 tỷ đồng giảm 81.75% so với năm 2003 Năm

2005 lại tăng 31.64%, đạt 113.084 tỷ đồng Năm 2006 lại giảm 69.43% sovới năm 2005, đạt 34.567 tỷ đồng

2.1.2.2 Hoạt động cho vay

Nhìn chung ở hoạt động này không có sự biến đổi đáng kể về tổngdoanh số cho vay Năm 2004 đạt 4,224.050 tỷ đồng, tăng 5.71% so vớinăm 2003 Năm 2005 đạt 4,813.816 tỷ đồng, tăng 13.96% so với năm

2004 Năm 2006 đạt 5,000.752 tỷ đồng, tăng 3.88% so với năm 2005

Sự đột biến duy nhất ở lĩnh vực này trong 3 năm này là xảy ra vàonăm 2005, đối với hoạt động cho vay ngắn hạn, khi doanh số cho vay đạt1,724.458 tỷ đồng tăng 101.50% so với năm 2004 Trong khi đó, năm 2004chỉ đạt 855.911 tỷ đồng và chỉ tăng 29.64% so với năm 2003 Và năm 2006đạt 1,959.934 tỷ đồng chỉ tăng 13.66% so với năm 2005

Các hoạt động cho vay TDH TM, cho vay ĐTT, cho vay KHNN, chovay ủy thác, cho vay ODA không có sự biến động nào đáng kể Chỉ có hoạtđộng cho vay ủy thác năm 2004 đạt 387.754 tỷ đồng tăng nhẹ 3.79% so vớinăm 2003 Sang năm 2005 và 2006 thì doanh số này đều giảm tương ứng21.12% so với năm 2004 và 13.02% so với năm 2005

2.1.2.3 Các chỉ tiêu khác

- Thu dịch vụ ròng: năm 2004 đạt 24.502 tỷ đồng giảm 4.48% so vớinăm 2003 Năm 2005 đạt 25.600 tỷ đồng tăng 4.48% so với năm 2004.Năm 2006 tăng đột biến, gần gấp đôi so với năm 2005, đạt 49.512 tỷ đồngtương ứng 93.41% tăng

Có được điều này là do năm 2006, SGD đã áp dụng rất nhiều chínhsách đổi mới, tăng cường các dịch vụ của ngân hàng, như dịch vụ về thẻATM, thẻ tín dụng, dịch vụ chuyển tiền Weston Union… đã thu hút được

Trang 27

rất nhiều khách hàng từ nhiều lĩnh vực bao gồm cả dân cư lẫn các tổ chứckinh tế, các doanh nghiệp.

- Lợi nhuận trước thuế: cũng giống với chỉ tiêu thu dịch vụ ròng, đếnnăm 2006 có sự tăng đột biến 97.37% so với năm 2005 đạt 184.858 tỷđồng Năm 2005 chỉ đạt 93.659 tỷ đồng tăng 11.69% so với năm 2004

- Tổng tài sản: năm 2006 tăng 26.48% so với năm 2005, đạt14,141.538 tỷ đồng Trong khi năm 2005 và 2004 tổng tài sản của Ngânhàng thay đổi không đáng kể, tăng giảm rất ít Cụ thể, năm 2004 đạt10,950.980 tỷ đồng, giảm 5.31% so với năm 2003 và năm 2005 đạt11,180.720 tỷ đồng, tăng 2.10% so với năm 2004

2.2 Thực trạng hoạt động cho vay của SGD đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

2.2.1.1 Nguyên tắc vay vốn

Khách hàng vay vốn của SGD phải đảm bảo:

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tíndụng Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng chỉ cho vay để thực hiện kếhoạch và dự án sản xuất kinh doanh trong phạm vi chức năng nv ghe tronggiấy phép hoạt động và quyết định thành lập của doanh nghiệp

- Phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồngtín dụng Để thực hiện được nguyên tắc này, việc tính toán xác định thờihạn phải tính đến chu kỳ sản xuất kinh doanh, lưu chuyển vốn của doanhnghiệp, nguồn thu của người vay

- Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiện theo đúng quy định của Chínhphủ và của Thông đốc NHNN Đảm bảo tiền vay là thiết lập những cơ sởpháp lý để có them một nguồn thu thứ 2 Việc đánh giá bảo đảm tiền vaydựa vào các tiêu chuẩn của doanh nghiệp, người đi vay sau đây: Năng lực

Trang 28

doanh nghiệp, nguồn vốn doanh nghiệp, tư các uy tín giám đốc, điều kiện

và tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay

2.2.1.2 Điều kiện vay vốn

Đối với các doanh nghiệp : phải có năng lực pháp luật dân sự, có tưcách pháp nhân, được phép thành lập theo quyết định của cơ quan có thẩmquyền, có trụ sở và con dấu riêng, có tài sản riêng thuộc quyền sở hữu hoặcquyền quản lý của doanh nghiệp, có giấy phép đăng ký kinh doanh, doanhnghiệp phải được nhân danh tổ chức mình ký kết các hợp đồng kinh tế.Đối với cá nhân đại diện tổ hợp tác, đại diện gia đình phải có năng lựcpháp luật và năng lực hành vi dân sự Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợtrong thời gian cam kết Sử dụng vốn vay theo đúng mục đích hợp pháp

Có dự án đầu tư, hoặc theo phương án sản xuất kinh doanh khả thi Thựchiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ

Riêng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, ngoài nhữngđiều kiện trên còn phải đáp ứng một số điều kiện khác như: Vay vốn phảiđảm bảo 100% bằng tài sản, không có nợ quá hạn, trả nợ đúng hạn và kếtquả tài chính 2 năm liền có hiệu quả

2.2.1.3 Đối tượng cho vay

- Giá trị vật tư hàng hóa, các chi phí để khách hàng thực hiện các dự

án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

- Số tiền thuế xuất khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục xuất cảnhđối với lô hàng mà ngân hàng đã cho vay để tạo thành hàng xuất khẩu

- Các nhu cầu tài chính theo quy định của ngân hàng như:

+ Đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ ngân hàng chovay các yếu tố chi phí sản xuất cấu thành giá thành toàn bộ sản phẩm, baogồm cả tiền thuê nhân công trừ (-) đi khấu hao TSCĐ

+ Đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực lưu thông (thương nghiệp):đối tượng cho vay là hàng hóa theo giá mua

Trang 29

+ Đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ, đối tượng cho vay làgiá trị vật tư và chi phí để tiến hành các dịch vụ.

+ Cho vay tiêu dung: đối tượng cho vay là các tư liệu sinh hoạt

2.2.1.4 Mức cho vay

Mức cho vay dựa trên 2 yếu tố chủ yếu:

- Nhu cầu vốn của khách hàng: dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh

và các dự án kế hoạch tài chính của doanh nghiệp

- Khả năng huy động vốn ngân hàng trong khuôn khổ mức cho vay tối

đa đối với một khách hàng không thể vượt quá 15% vốn tự có của tổ chứctín dụng

Tỷ lệ giữa vốn vay và vốn tự có của doanh nghiệp được xác định theotừng loại doanh nghiệp

- Doanh nghiệp Nhà nước: tối thiểu 100% vốn tự có

- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: tùy thuộc mức độ uy tín mà cácngân hàng tự xác định cho khách hàng vay theo từng thời kỳ

- Cá nhân, hộ dân cư: khách hàng phải có mức vốn tối thiểu cao hơntrong tổng nhu cầu vốn

Giá trị tài sản đảm bảo: tài sản đảm bảo hoặc thế chấp được ngân hàng

ấn định một tỷ lệ cho vay theo từng loại tài sản, từng thời kỳ tối đa cho vaybằng 70% giá trị tài sản thế chấp

2.2.1.5 Lãi suất cho vay

- Mức lãi suất cho vay do SGD và khách hàng thỏa thuận phù hợp vớiquy định của NHNN Việt Nam

- Lãi suất cho vay ưu đãi được áp dụng đối với các khách hàng được

ưu đãi về lãi suất do Tổng giám đốc Ngân hàng thông báo theo quy địnhcủa Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước

- Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do SGD ấn định

và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt

Trang 30

quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kếthoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng.

2.2.2 Quy trình cho vay

Quy trình cho vay được áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống củaBIDV và áp dụng chung cho mọi loại hình doanh nghiệp Quy trình nàybao gồm bốn bước với nhiều giai đoạn:

* Bước 1: Phân tích trước khi cho vay

Đây là bước quan trọng nhất, là bước đưa ra các đánh giá,phân tích ảnhhưởng trực tiếp đến quyết định có cho vay hay không, ảnh hưởng đến chấtlượng tín dụng Quá trình tiến hành phân tích trước khi cho vay trải qua cácgiai đoạn sau:

- Tiếp nhận hồ sơ vay vốn/ đánh giá thẩm định

Sơ đồ sau tóm tắt quy trình tiếp nhận vốn vay, quy trình đánh giá vàthẩm định của BIDV với khách hàng doanh nghiệp:

Trang 31

Trong giai đoạn ban đầu này cán bộ tín dụng sẽ tìm hiểu hoạt độngkinh doanh của khách hàng, cấu trúc hoạt động, vị thế kinh doanh củakhách hàng, mục đích vay vốn của khách hàng Sau quá trình thảo luận banđầu giữa cán bộ tín dụng và khách hàng nếu thấy nhu cầu của khách hàngphù hợp với chiến lược của BIDV thì cán bộ tín dụng hướng dẫn nhânkhách hàng về hoàn tất hồ sơ vay vốn.

thông tin

Yêu cầu bổ sung thêm thông tin Không đạt

Không đạt

Hỗ trợ KH hoàn thiện hồ sơ

nếu cần thiết Cung cấp mẫu hồ

Trang 32

hình hoạt động và khả năng tài chính của khách hàng đồng thời thực hiệnphân tích tình hình quan hệ của khách hàng với ngân hàng Cán bộ tíndụng xem xét, kiểm tra, phân tích mức độ tin cậy của báo cáo tài chính vàtiến hành phân tích tình hình tài chính của khách hàng theo các phụ lục,hướng dẫn cụ thể của BIDV Mối quan hệ tín dụng giữa khách hàng vớiBIDV và các ngân hàng khác sẽ xem xét rất cẩn thận để đảm bảo tính antoàn của khoản cho vay.

- Phân tích, thẩm định dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh Mục tiêu của công việc này là đư ra kết luận về tính khả thi hiệu quả vềmặt tài chính của phương án, khả năng trả nợ, rủi ro có thể xảy ra…

- Các biện pháp bảo đảm tiền vay

BIDV không coi đây là điều kiện duy nhất để quyết định cho vay,không phải phương tiện duy nhất để đảm bảo an toàn vốn Cán bộ tín dụng

sẽ xem xét một số nội dung sau: kiểm tra tình hình thực tế của tài sản đảmbảo; phân tích, thẩm định tài sản đảm bảo…

- Chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng

Cán bộ tín dụng chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng theo hệthống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV Mức xếp hạng của BIDV gồm

10 mức AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D Mức xếp hạng trêngiảm dần từ khách hàng có mức xếp hạng cao nhất đến mưc xếp hạng cuốicùng dành cho những khách hàng mất khả năng trả nợ Trên cơ sở xếp hạngtín dụng khách hàng BIDV sẽ đưa ra các chính sách phù hợp với các nhómkhách hàng như chính sách về lãi suất, tài sản đảm bảo, kỳ hạn thu nợ, tiếpthị khách hàng…

- Lập báo cáo thẩm định cho vay

Sau khi thảo luận với cán bộ thẩm định, cán bộ tín dụng sẽ trình tờtrình kèm sồ sơ vay vốn cho trưởng phòng tín dụng Việc phân cấp ủyquyền phê duyệt tín dụng của BIDV được quy định rõ trong sổ tay tín dụng

- Phê duyệt khoản vay

Ngày đăng: 08/04/2013, 14:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Doanh số cho vay qua các năm của SGD - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 1 Doanh số cho vay qua các năm của SGD (Trang 34)
Bảng 2: Doanh số cho vay DNNQD theo kỳ hạn - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 2 Doanh số cho vay DNNQD theo kỳ hạn (Trang 35)
Bảng 3: Tình hình dư nợ theo thành phần kinh tế của SGD - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 3 Tình hình dư nợ theo thành phần kinh tế của SGD (Trang 37)
Bảng 5: Tình hình thu nợ qua các năm 2004-2006 - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 5 Tình hình thu nợ qua các năm 2004-2006 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w