1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ KHU VỰC TÂY BẮC

77 731 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm dầu khí khu vực tây bắc
Tác giả Nguyễn Thị Ninh Giang
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Văn Định
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo hiểm
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 781,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa ngành ngoại thương của nước ta không ngừng mở rộng, phát triển với sự giao lưu, hợp tác, buôn bán với các nước trong và ngoài khu vực

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BỘ MÔN BẢO HIỂM

TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ KHU VỰC TÂY BẮC

Gi¸o viªn híng dÉn : GS.TS NGUYỄN VĂN ĐỊNH

Sinh viªn thùc hiÖn : NGUYỄN THỊ NINH GIANG

Hµ néi - 04/2007

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHDK Bảo hiểm dầu khí

CBCNV Cán bộ công nhân viên

Trang 2

XNK Xuất nhập khẩu

HĐBH Hợp đồng bảo hiểm

GTBH Gía trị bảo hiểm

STBH Số tiền bảo hiểm

Trang 3

độ tăng GDP của đất nước Điều này đã chứng tỏ một tiềm năng rất lớn về hoạtđộng XNK cũng như tạo một môi trường thuận lợi cho các doanh nghịêp bảo hiểmtrong nước khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK Sự phát triển củanghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp XNKyên tâm mở rộng quy mô hoạt động, đảm bảo được tình hình khả năng tài chính củadoanh nghiệp mình đồng thời cũng đẩy nhanh quá trình thu hút vốn đầu tư nướcngoài Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là ngành bảo hiểm nước nhà đã bỏ phímột lượng hàng hóa khổng lồ tham gia bảo hiểm, bởi nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóaXNK lại chủ yếu được nhường cho các Công ty bảo hiểm nước ngoài khai thác còncác Công ty trong nước chỉ cạnh tranh nhau một phần rất nhỏ.Chính vì thế, làm thếnào để giành lại thị phần khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK cũng nhưhạn chế lượng chảy máu ngoại tệ hiện nay, là thách thức và khó khăn đối với cácCông ty bảo hiểm Việt Nam.

Nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vậnchuyển bằng đường biển, trong thời gian thực tập tại phòng bảo hiểm hàng hải củaCông ty BHDK Khu vực Tây Bắc, em đã tìm hiểu, nghiên cứu và lựa chọn đề tài : “

Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường

biển tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc” cho chuyên đề tốt nghiệp.

Chuyên đề, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, có kết cấu như sau:

Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằngđường biển

Chương II: Phân tích thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóaXNK vận chuyển bằng đường biển tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc

Chương III: Một số giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNKvận chuyển bằng đường biển tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do điều kiện thời gian, kiến thức thực tế vàkinh nghiệm còn khá hạn chế nên chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót

Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế bảo

Trang 4

hiểm cùng các anh, chị trong phòng bảo hiểm Hàng hải – Công ty bảo BHDK Khuvực Tây Bắc để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.

Em cũng xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của thầygiáo, GSTS Nguyễn Văn Định và các anh, chị trong phòng bảo hiểm Hàng hải –Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ em hoàn thànhchuyên đề tốt nghiệp này

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK VẬN

CHUYỀN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

Trang 5

I GIỚI THIỆU CHUNG

1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển

Như chúng ta đã biết, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển đã có

từ lâu, nó ra đời và phát triển cùng với hàng hóa và hoạt động trao đổi buôn bánquốc tế Khoảng thế kỷ V trước Công nguyên giao lưu buôn bán giữa các quốc giadần hình thành, phát triển và cũng từ đó vận chuyển bằng đường biển đã ra đời Vàothời kì này để né tránh những tổn thất toàn bộ của mình con người đã tìm cách phântán hàng trên nhiều con thuyền khác nhau nhờ vậy mà nếu một thuyền không may

bị đắm thì chủ hàng cũng chỉ bị thiệt hại một phần trong tổng số hàng mà họ có, đâychính là một cách phân tán rủi ro, tổn thất và đó là hình thức sơ khai của bảo hiểm .Nhưng càng ngày cùng với sự phát triển của thương mại và giao lưu hàng hóađường biển thì tổn thất lại xảy ra ngày càng lớn làm cho giới thương mại ngày càng

lo lắng Họ tập trung nhau lại, thông báo tin tức về hành trình, tổn thất và tìm cácbiện pháp khắc phục, đối phó với những tổn thất nặng nề có khả năng dẫn đến phásản nên các thương nhân đi vay vốn để buôn bán Nếu hành trình gặp rủi ro xảy ratổn thất toàn bộ thì họ sẽ được xóa nợ còn nếu hành trình may mắn trót lọt thì ngoàiphần vốn phải trả chủ nợ, các thương nhân còn phải trả một khoản lãi rất nặng Và

có thể hiểu lãi suất vay nặng nề này là hình thức ban đầu của phí bảo hiểm hàng hóavận chuyển bằng đường biển Nhưng càng ngày thì tổn thất xảy ra càng nhiều làmcho những người cho vay vốn lâm vào tình trạng mạo hiểm, do đó một hình thứcmới ra đời đó là bảo hiểm

Sau thế kỷ XIV, trên đà phát triển của thương mại hàng hải, ở Châu Âu đã dầnxuất hiện những luật lệ về bảo hiểm hàng hải với hàng loạt các thể lệ, công ước,hiệp ước quốc tế liên quan đến thương mại và hàng hóa như: mẫu HĐBH Lloyd’snăm 1776 và Luật bảo hiểm của Anh năm 1906, Công ước Brucxen năm 1924, Quytắc Hague – Visby năm 1968, Hambuôc 1978, Incomterm 1953, 1980, 1990,2000…

Trang 6

Và khi nói đến bảo hiểm hàng hải không thể không nói đến nước Anh, là mộttrong những nước phát triển thương mại hàng hải sớm nhất thế giới Ngay từ thế kỷXVII, nước Anh đã có ngành thương mại phát triển với đội tàu buôn mạnh nhất thếgiới và trở thành trung tâm giao lưu thương mại và buôn bán nhộn nhịp nhất NướcAnh cũng là nước sớm có những nguyên tắc, luật lệ hàng hải, bảo hiểm hàng hảinhư mẫu HĐBH, Luật bảo hiểm hàng hải của Anh 1906, và đặc biệt là các điều kiệnbảo hiểm hàng hóa (ICC 1963, ICC 1982) do Viện những người bảo hiểm London(ILU) ban hành Những luật lệ, quy định về bảo hiểm hàng hải của Anh khá hoànchỉnh và được nhiều nước trên thế giới áp dụng trong đó có Việt Nam Đặc biệt với

sự hình thành và phát triển của Lloyd’s có một ảnh hưởng rất lớn đối với ngành bảohiểm của thế giới nói chung và ngành bảo hiểm hàng hải nói riêng

Bảo hiểm Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với các nước trên thế giới nhưng

so với các nước ở Đông Nam Á thì bảo hiểm Việt Nam vẫn ra đời sớm hơn cả.Vào thời kỳ Pháp thuộc (những năm 1920) cùng với sự ra đời của các Chi nhánhcông ty bảo hiểm Quốc gia Pháp, sau đó là của Ngân hàng thế giới, bảo hiểm hànghải cũng ra đời từ đó Năm 1965 bảo hiểm Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động, Bộtài chính đã ban hành quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đườngbiển (QTC – 1965) và đến năm 1990 Bộ tài chính ban hành quy tắc chung mới(QTC – 1990)

Chính vì vậy, có thể thấy nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đườngbiển là một nghiêp vụ rất quan trọng và không thể thiếu trong bất kì nền kinh tế nàonên hầu như ở mọi nước nó đều là nghiệp vụ bảo hiểm ra đời sớm nhất và chiếmmột vị trí quan trọng trong thương mại cũng như trong bảo hiểm của mỗi nước Nóthực sự cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung cũng như thương mại

và ngoại thương nói riêng

2 Sự cần thiết khách quan và tác dụng của bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển

Trang 7

Từ lịch sử ra đời của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, chúng ta

có thể khẳng định rằng không một quốc gia nào có thể xem nhẹ vai trò của nghiệp

vụ này Tuy chỉ là một mảng trong hoạt động XNK nhưng thiếu nó, một quốc giakhông thể có nền ngoại thương hay thương mại hoạt động tốt được Vì vậy, sự rađời và tồn tại của bảo hiểm hàng hóa là rất cần thiết và không thể phủ nhận được.Điều này xuất phát từ các đặc điểm sau:

Thứ nhất, do đặc điểm của quá trình XNK hàng hóa

Thứ hai, do đặc điểm của vận tải biển:

- Vận tải biển có ưu điểm là giá thành vận chuyển rất thấp, năng lực chuyên chởlại rất lớn (phương tiện là các tàu có sức chở lớn lại có thể chạy nhiều tàu trongcùng một thời gian trên cùng một tuyến đường), năng suất lao động cao Chi phíđầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp hầu hết là các tuyến đường giaothông tự nhiên không đòi hỏi nhiều vốn, nguyên vật liệu, sức lao động để xây, duytrì bảo quản Mặt khác, vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mốiquan hệ kinh tế với các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của Nhà nước,góp phần tăng thu ngoại tệ…

- Tuy nhiên, nó lại có một số nhược điểm:Vận tải đường biển gặp rất nhiều rủi

ro Các rủi ro này có thể do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kỹ thuật hoặc yếu tố xã hội,con người Những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển thường gây ra nhữngtổn thất lớn cho hàng hóa Tốc độ của tàu biển còn chậm, hành trình trên biển cóthời gian dài nên xác suất rủi ro càng cao

- Trong quá trình vận chuyển, hàng hóa được người chuyên chở chịu tráchnhiệm chính Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức độtuỳ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng vận chuyển

Thứ ba, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển đã có từ lâu đời và việcmua bảo hiểm cho hàng hóa vận chuyển bằng đường biển đã trở thành tập quánthương mại quốc tế

Trang 8

Thứ tư, hoạt động ngoại thương ngày càng phát triển cùng với sự phát triển củanền kinh tế thì bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển cũng đạt đến sựchuẩn hóa cao Trong khi đó các loại hình bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng cácphương tiện khác chưa hình thành một phương thức chấp nhận chung và có xuhướng dựa trên các HĐBH hàng hải ở mức độ cho phép.

Như vậy, bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển là một loại hìnhbảo hiểm quan trọng và không thể tách rời hoạt động kinh doanh thương mại quốc

tế Những tác dụng mà bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển manglại rất lớn cũng giống như trong bảo hiểm nói chung:

- Có khả năng tập trung được nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế nhờ vào phí bảohiểm thu được, sau đó nguồn vốn này một phần được trích lập dự phòng và phầncòn lại đem đầu tư trở lại nền kinh tế mang lại những khoản thu lớn hơn vốn đầu tưban đầu

- Nhờ có bồi thường, các tổ chức, cá nhân có thể nhanh chóng ổn định được sảnxuất kinh doanh, ổn định được cuộc sống Dù khả năng tích luỹ của các công ty bảohiểm không lớn tuy nhiên họ lại có khả năng bảo hiểm cho những giá trị bồi thườngrất lớn thông qua hoạt động phân tán rủi ro như tái bảo hiểm và đồng bảo hiểm

- Thông qua việc giúp đỡ, nhắc nhở người tham gia bảo hiểm thực hiện các biệnpháp đề phòng hạn chế tổn thất, người tham gia bảo hiểm nâng cao được ý thức tựbảo vệ hàng hóa, tài sản, tính mạng của mình đồng thời giảm thiểu thiệt hại khi córủi ro xảy ra, góp phần đảm bảo an toàn xã hội

- Bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển được thực hiện ở trongnước làm giảm chi ngoại tệ

- Thúc đẩy nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biểncũng như ngành bảo hiểm trong nước nói chung phát triển là góp phần tạo việc làm,tăng thu nhập cho người dân, tăng thu cho ngân sách Nhà nước

3 Đặc điểm của quá trình XNK hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

và trách nhiệm của các bên có liên quan

Trang 9

3.1 Đặc điểm của quá trình XNK hàng hóa

Các quốc gia khác nhau có năng lực sản xuất là khác nhau và khi kinh tếcàng phát triển, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao thì quá trìnhXNK hàng hóa càng trở nên quan trọng và cần thiết Hoạt động XNK hàng hóa đóchính là việc hàng hóa từ quốc gia này có thể đến được quốc gia khác, đảm bảo lợiích hai bên nhập khẩu, xuất khẩu và của người thứ ba Quá trình XNK hàng hóa cónhững đặc điểm sau:

- Việc XNK hàng hóa thường được thực hiện thông qua hợp đồng giữa ngườimua và người bán (ở hai nước khác nhau), trong đó có ghi rõ những nội dung về: sốlượng, phẩm chất, ký mã hiệu, quy cách đóng gói, giá cả hàng hóa, trách nhiệm thuêtàu và cước phí, phí bảo hiểm thủ tục và đồng tiền thanh toán…Do các bên tronghợp đồng có sự xa cách về địa lý và họ thường không áp tải được hàng hóa trongquá trình vận chuyển nên việc làm này thông thường được giao cho các hãng tàu

- Hàng hóa sau khi được trao đổi sẽ có sự chuyển quyền sở hữu từ người bánsang người mua

- Hàng hóa XNK được vận chuyển qua biên giới quốc gia nên phải chịu sự kiểmsoát của hải quan, kiểm dịch… tuỳ theo quy định của mỗi nước Đồng thời để đượcvận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới thì phải mua bảo hiểm theo tập quán thươngmại Quốc tế Người tham gia bảo hiểm có thể là người bán hàng (người xuất khẩu)hoặc người mua hàng (người nhập khẩu) Hợp đồng bảo hiểm thể hiện quan hệ giữangười bảo hiểm và người mua bảo hiểm thì phải chuyển nhượng lại cho người muahàng để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị tổn thất có thể đòi người bảo hiểm bồithường

- Hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển phải thông qua người vậnchuyển, tức là cả người mua và người bán đều không trực tiếp kiểm soát đượcnhững tổn thất có thể gây ra cho hàng hóa của mình Và theo hợp đồng vận chuyểnthì người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hóa trong một phạm vi,

Trang 10

giới hạn nhất định vì vậy để giảm rủi ro trong kinh doanh họ thường phải mua bảohiểm cho hàng hóa.

Quá trình XNK hàng hóa có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốn bên chủyếu là: người bán, người mua, người vận chuyển và người bảo hiểm Vì thế phảiphân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan

3.2 Trách nhiệm của các bên có liên quan

Hoạt động XNK hàng hóa thường được thực hiện thông qua ba loại hơp đồng:

- Nhóm E: EXW giao hàng tại cơ sở của người bán

- Nhóm F: Cước vận chuyển chính chưa trả, gồm:

+ FCA (Free carrier) giao hàng cho người vận tải

+ FAS (Free alongside ship) giao hàng dọc mạn tàu

+ FOB (Free on board) giao hàng lên tàu

- Nhóm C: Cước vận chuyển chính đã trả, gồm:

+ CFR (Cost and freight) tiền hàng và cước phí

+ CIF (Cost insurance freigh) tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí

+ CPT (Carriage paid to) cước trả rồi

+ CIP (Carriage and insurance paid to) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới

- Nhóm D: Nơi hàng đến, tức người bán giao hàng tại nước người mua, baogồm:

+ DAF (Delivered at frontier) giao hàng tại biên giới

Trang 11

+ DES (Delivered ex – ship) giao hàng tại tàu

+ DEQ (Delivered ex – quay) giao hàng tại cầu cảng

+ DDU (Delivered duty unpaid) giao hàng tại đích, chưa nộp thuế

+ DDP (Delivered duty paid) giao hàng tại đích, đã nộp thuế

Trong đó thông dụng nhất là điều kiện FOB, điều kiện CFR và điều kiện CIF.Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tùy theo từng điều kiện cụthể mà có thêm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm Có những điều kiện giaohàng mà người bán không có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm chohàng (hoặc không có trách nhiệm mua bảo hiểm) Như vậy, tuy bán được hàngnhưng dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm sẽ do người mua đảm nhận (điều kiệnFOB) Có trường hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài việc xuất khẩu được hànghóa, người bán còn có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng(điều kiện CIF) Vì vậy, nếu nhập khẩu hàng hóa theo điều kiện FOB, hay điều kiệnCFR thì sẽ giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm.Còn nếu bán hàng theo giá CIF người bán cũng giữ được dịch vụ vận chuyển vàbảo hiểm, đồng thời sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành vận chuyển bằngđường biển và ngành bảo hiểm ở quốc gia đó

Nói chung, trách nhiệm các bên có liên quan được phân định như sau:

- Người bán (người xuất khẩu): chuẩn bị hàng hóa theo đúng hợp đồng về sốlượng, chất lượng, loại hàng, bao bì đóng gói, thời hạn tập kết ở cảng; thủ tục hảiquan, kiểm dịch…

Nếu bán theo giá CIF, người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hóa, sau đó kývào hậu đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua

- Người mua (người nhập khẩu): có trách nhiệm nhận hàng của người chuyênchở theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp đồngmua bán, lấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kết toán giao nhận hàng với chủ tàu,biên bản hàng hóa hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên (nếu có)

Trang 12

Nếu sai lệch về số lượng, chất lượng với hợp đồng mua bán, nhưng đúng vớihợp đồng vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nại đối với người bán.Nếu phẩm chất, số lượng sai lệch so với biên bản giao hàng thì người mua căn cứvào hàng hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên mà khiếu nại người vận chuyển.

Ngoài ra người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hóa hoặc nhận

từ người bán chuyển nhượng lại

- Người vận chuyển: có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện vận chuyển theo yêucầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy định theohợp đồng vận chuyển Theo tập quán thương mại quốc tế, tàu chở hàng cũng phảiđược bảo hiểm

Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp đơn cho người gửi hàng

- Người bảo hiểm có trách nhiệm đối với hàng hóa được bảo hiểm: kiểm trachứng từ về hàng hóa, kiểm tra hành trình và bản thân con tàu vận chuyển…

Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, người bảo hiểm cótrách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba nếu họgây ra tổn thất này

II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1 Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đườngbiển là hàng hóa XNK đang trong quá trình vận chuyển từ địa điểm này đến địađiểm khác (bao gồm cả thời gian lưu kho, chờ xếp lên phương tiện vận chuyển,trung chuyển hoặc chờ chủ hàng nhận lại hàng theo quy định của điều khoản bảohiểm)

2 Người tham gia bảo hiểm và người được bảo hiểm

Trong HĐBH hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển có thể người muahoặc người bán đứng ra mua bảo hiểm cho hàng hóa (người tham gia bảo hiểm).Tuy vậy người được hưởng quyền lợi bảo hiểm thông thường là những người mua

Trang 13

hàng hóa đó Nếu người bán (nhà XK) đứng ra mua bảo hiểm cho hàng hóa thì họphải làm một thủ tục ký hậu để chuyển quyền lợi bảo hiểm cho người mua (nhàNK).

Như vậy, người tham gia bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa XNK có thể là nhànhập khẩu cũng có thể là nhà xuất khẩu tùy theo điều kiện giao hàng của

“INCOTERMS”, nhưng người được bảo hiểm thường là người nhập khẩu

3 Người bảo hiểm

Người bảo hiểm trong HĐBH hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển

là các công ty bảo hiểm đứng ra nhận bảo hiểm cho những rủi ro xảy ra đối vớihàng hóa XNK trong quá trình vận chuyển số hàng đó trên biển theo một hành trình

đã định (bao gồm cả thời gian lưu kho, chờ xếp lên phương tiện vận chuyển, trungchuyển hoặc chờ chủ hàng nhận lại hàng theo quy định của điều khoản quy định)

4 Thời hạn bảo hiểm và thủ tục bảo hiểm

Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian kể từ khi bắt đầu đến khi kết thúctrách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, tức là khoảng thời gian liên tụctồn tại trách nhiệm bảo hiểm Việc quy định thời gian bảo hiểm là một vấn đề quantrọng trong hợp đồng bảo hiểm nhằm xác định khoảng thời gian chịu trách nhiệmbảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm và đây là một trong các điều khoản cơ bản củahợp đồng bảo hiểm

Theo điều khoản bảo hiểm từ “kho đến kho”, trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu từkhi hàng hóa được bảo hiểm rời khỏi kho hoặc nơi chứa hàng tại địa điểm ghi tronghợp đồng bảo hiểm và kết thúc khi giao hàng vào kho hoặc nơi chứa hàng cuối cùngcủa người nhận hàng, hoặc một người khác tại nơi nhận có tên trong hợp đồng bảohiểm, hoặc khi giao hàng cho bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nào khác, dù trước khitới nơi hay tại nơi nhận hàng ghi trong HĐBH mà người được bảo hiểm dùng làmnơi chứa hàng ngoài hành trình vận chuyển bình thường; hoặc khi hết hạn 60 ngày

kể từ thời điểm hoàn thành việc dỡ hàng khỏi tàu biển, hoặc là xà lan, nếu có sựchậm trễ ngoài sự kiểm soát của người được bảo hiểm; hoặc những trường hợp tàu

Trang 14

di chệch hướng, dỡ hàng bắt buộc, chuyển tải ngoại lệ hoặc thay đổi hành trình, bảohiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực nhưng với điều kiện là phải thông báo ngay chongười bảo hiểm biết về việc xảy ra hoặc về thay đổi đó.

Theo Quy tắc bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm London năm 1982, thời hạn bảohiểm được quy định cụ thể trong các điều khoản vận chuyển, điều khoản kết thúchợp đồng vận chuyển, điều khoản thay đổi hành trình Thời hạn bảo hiểm tính theongày dương đối với hợp đồng bảo hiểm hàng hóa thường được tính bắt

đầu từ 0 giờ ngày bảo hiểm đầu tiên cho đến 24 giờ ngày hết hạn đã quy định Thờihạn bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa thông thường là một năm và đựơctính riêng cho từng chuyến hàng

5 Gía trị bảo hiểm , số tiền bảo hiểm

5.1 Giá trị bảo hiểm (GTBH)

Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của lô hàng, thông thường là giá CIF, baogồm: giá hàng hóa, cước phí vận chuyển, phí bảo hiểm và các chi phí liên quankhác

Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, đối với hàng thươngmại, người bảo hiểm có thể nhận bảo hiểm thêm cả phần lãi dự tính (tối đa là 10%giá CIF), tức mức chênh lệch giữa giá mua ở cảng đi và giá bán ở cảng đến GTBHcủa hàng lớn nhất bằng 110% CIF

+ Công thức xác định giá CIF:

Trong đó:

C (Cost) – giá hàng được tính bằng giá FOB ở cảng đi

F (Freigh) - cước phí vận chuyển

R (Rate) - tỷ lệ phí bảo hiểm

+ Nếu bảo hiểm cả lãi dự tính thì:

CIF =C R F

 1

Trang 15

V =

R

a F C

 1

) 1 ).(

5.2 Số tiền bảo hiểm (STBH)

STBH là số tiền được đăng ký bảo hiểm ghi trong HĐBH Và được xác định dựatrên cơ sở GTBH

- Nếu STBH bằng GTBH thì đó là “bảo hiểm ngang giá trị” hay “bảo hiểm toànphần”

- Nếu STBH cao hơn GTBH thì đó là “bảo hiểm trên giá trị” hay “bảo hiểm vượtmức”

- Nếu STBH thấp hơn GTBH thì đó là “bảo hiểm dưới giá trị” hay “bảo hiểmdưới mức”

Trong thực tế, các chủ hàng thường mua bảo hiểm ngang giá trị

Trang 16

R - tỷ lệ phí bảo hiểm

tính theo công thức:

P = CIF x R (nếu không bảo hiểm lãi dự tính)

Hoặc: P = CIF x (a+1) x R (nếu bảo hiểm thêm lãi dự tính a)

STBH = 110% x CIF

P = CIF x R x 110%

FOB,CF, cước vận tải và điều kiện bảo hiểm) thì phải tính lại STBH bằng hình thứccấp cho khách hàng Giấy sửa đổi bổ sung:

- Phần chênh lệch tăng: đề nghị khách hàng thanh toán thêm phí

- Phần chênh lệch giảm: Công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí cho khách hàngTrong mọi trường hợp cấp sửa đổi bổ sung Công ty bảo hiểm sẽ không thu lệphí

III CÁC RỦI RO VÀ TỔN THẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1 Các loại rủi ro

Rủi ro là những tai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiênhoặc những mối đe doạ nguy hiểm (mà khi xảy ra thì sẽ gây tổn thất cho đối tượngbảo hiểm) Sự tồn tại của rủi ro là cơ sở hoạt động của bảo hiểm do đó trong bảohiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển chúng ta cần phân biệt rủi ro củabiển và rủi ro trên biển Theo Luật hàng hải của Anh, “rủi ro của biển” đề cập đếnnhững tai nạn hoặc tổn thất có tính chất ngẫu nhiên không bao gồm những rủi rothông thường do gió hay sóng “Rủi ro trên biển” thì có nhiều nhưng bảo hiểm chỉchịu trách nhiệm những tai nạn xảy ra một cách bất ngờ

Tuỳ theo các cách phân loại khác nhau mà có nhiều loại rủi ro khác nhau:

1.1 Căn cứ vào nguồn gốc sinh ra rủi ro

Trang 17

- Thiên tai: là những hiện tượng tự nhiên xảy ra mà con người không thểkiểm soát được như: biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần, độngđất núi lửa phun, đá lở, mưa đá…

- Tai nạn bất ngờ trên biển: là những tai nạn xảy ra đối với con tàu trên biểnnhư: mắc cạn, đắm, cháy nổ, đâm va nhau, đâm va phải đá ngầm, đâm phải vật thểkhác không phải là nước, tàu bị lật úp, mất tích

Những rủi ro này còn được gọi là những rủi ro chính

- Các tai nạn bất ngờ khác: là những thiệt hại do tác động bên ngoài khôngthuộc các tai họa của biển nói trên Nó có thể xảy ra trên biển (nhưng nguyên nhânkhông phải là những tai họa của biển), trên bộ, trên sông, trong quá trình vậnchuyển, xếp dỡ, giao nhận, lưu kho bảo quản hàng hóa như: hàng bị cong vỡ, congbẹp, thiếu hụt, mất mát, trộm cắp…

Những rủi ro này được gọi là những rủi ro phụ

- Rủi ro do các hiện tượng chính trị xã hội hoặc do lỗi của người được bảohiểm gây nên như:

+ Các rủi ro chiến tranh: chiến tranh, khởi nghĩa, nội chiến, hành động thùđịch hoặc tàu và hàng bị bắt, bị tịch thu, bị chiếm giữ, thiệt hại do bom, mìn, ngưlôi…

+ Rủi ro đình công: đình công, cấm xưởng, ngừng trệ lao động, bạo động,nổi loạn của dân chúng hoặc do hành động của người đình công, công nhân bị cấmxưởng…)

+ Các hoạt động khủng bố hoặc do người khủng bố gây ra

- Rủi ro da bản chất hoặc tính chất đặc biệt của đối tượng bảo hiểm như nội

tỳ hay ẩn tỳ hay những thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là sự chậm trễ

Trong đó nội tỳ là những thiệt hại mang tính bản chất của hàng hóa còn ẩn tỳ

là những hư hỏng của hàng hóa mà bằng khả năng thông thường con người khôngthể phát hiện ra được

1.2 Xét theo khía cạnh nghiệp vụ

Trang 18

- Rủi ro thông thường được bảo hiểm: Đây là những rủi ro có tính chất bấtngờ, ngẫu nhiên, xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm như: thiên tai, taihọa của biển, tai nạn bất ngờ khác, tức là bao gồm cả những rủi ro chính và nhữngrủi ro phụ.

Có 6 điều kiện bảo hiểm chính cảu bảo hiểm hàng hóa (đó là AR, WA, FPA,

A, B, C) nằm trong 2 quy tắc bảo hiểm khác nhau là ICC 1963 và ICC 1982 củaViện những người bảo hiểm London, bao gồm:

Là những rủi ro phụ vì chúng chỉ được bảo hiểm trong những điều kiện bảohiểm rộng như AR hoặc A và kèm theo nó là các điều kiện bảo hiểm phụ

- Rủi ro phải được bảo hiểm riêng: là những rủi ro mà người được bảo hiểmmuốn tham gia thì phải có điều kiện hoặc điều khoản riêng biệt tách khỏi hợp đồng

Đó là các rủi ro: chiến tranh, rủi ro đình công, rủi ro khủng bố Tuy là những rủi roloại trừ trong bảo hiểm hàng hải nhưng vẫn có thể được bảo hiểm nếu khách hàng

có nhu cầu mua thêm

- Rủi ro loại trừ: là những rủi ro sẽ không được người bảo hiểm nhận bảohiểm hoặc không được bồi thường trong mọi trường hợp xảy ra Vì đây là các rủi ro

Trang 19

đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra, hoặc các thiệt hại do bản chất của hàng hóa,

do lỗi của người được bảo hiểm, hoặc những rủi ro mang tính chất thảm họa mà conngười không lường trứơc được quy mô, mức độ và hậu quả của nó

Loại rủi ro này bao gồm các rủi ro chủ yếu như: buôn lậu, phá bao vây, nội

tỳ, ẩn tỳ, lỗi của người được bảo hiểm, mất thị trường, sụt giá, chênh lệch tỷ giá hốiđoái, chủ tàu mất khả năng tài chính, tàu đi chệch hướng, tàu không đủ khả năng đibiển, hao hụt tự nhiên

2 Các loại tổn thất và chi phí có liên quan

2.1 Các loại tổn thất

Tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển lànhững thiệt hại, hư hỏng, mất mát của hàng hóa được bảo hiểm do rủi ro đã đượcthỏa thuận gây ra Người ta căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để phân loại tổnthất:

Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có thể chia ra tổn thất bộ phận (TTBP)

và tổn thất toàn bộ (TTTB):

- TTBP: là một phần của đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị mất

mát, hư hỏng, thiệt hại TTBP có thể là tổn thất về số lượng, trọng lượng, thể tích,phẩm chất hoặc giá trị

Ví dụ: lô hàng phân bón bị hao hụt 250kg, gạo bị ướt giảm giá trị thương mại20%

Các dạng cụ thể của TTBP là:

+Giảm một phần giá trị sử dụng của hàng hóa được bảo hiểm

+ Giảm về trọng lượng do bao bì bị rách,vỡ

+ Giảm về số lượng, số bao, số kiện, thùng, hòm bị giao thiếu hay do bị nướccuốn trôi

+ Giảm về thể tích như:số lượng rượu, xăng, dầu đựng trong thùng bị rò rỉhoặc bay hơi

Trang 20

- TTTB: là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư hỏng,

mất mát, thiệt hại

Có hai loại TTTB là TTTB thực tế và TTTB ước tính:

+ TTTB thực tế: là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư

hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới đượcbảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa

TTTB thực tế chỉ được xét trong 4 trường hợp sau:

 Hàng hóa bị huỷ hoại hoàn toàn

 Hàng hóa bị tước đoạt không lấy lại được

 Hàng hóa không còn là vật thể bảo hiểm

 Hàng hóa ở trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích

+ TTTB ước tính: là trường hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt hại, mất

mát chưa tới mức độ TTTB thực tế, nhưng không thể tránh khỏi TTTB thực tế; hoặcnếu bỏ thêm chi phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằng hoặc lớn hơnGTBH

Muốn được coi là TTTB ước tính thì phải có hành vi từ bỏ hàng Và việc từ

bỏ hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

 Người được bảo hiểm phải thông báo cho người bảo hiểm biết về tình trạngTTTB ước tính

 Người được bảo hiểm phải làm tuyên bố từ bỏ hàng bằng văn bản và gửi chongười bảo hiểm

 Người được bảo hiểm chỉ đựơc từ bỏ hàng hóa khi hàng hóa còn ở dọcđường và chưa xảy ra TTTB thực tế

 Khi từ bỏ hàng của người được bảo hiểm được chấp nhận thì không thay đổiđược nữa

Căn cứ theo trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất bao gồm tổn thất riêng (TTR) và tổn thất chung (TTC)

Trang 21

- TTR: là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số quyền lợi của các

chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu Nó chỉ liên quan đến từng quyền lợi riêngbiệt

Trong TTR, ngoài thịêt hại vật chất còn phát sinh các chi phí có liên quanđến TTR nhằm hạn chế những hư hại khi tổn thất xảy ra, gọi là tổn thất chi phí riêng

Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hóa để giảm bớt hư hạihoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm: chi phí xếp, dỡ, gửi hàng, đóng gói lại, thaythế bao bì… ở bến khởi hành và dọc đường

TTR có thể là TTBP hoặc TTTB

- TTC: là những hi sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và

hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hóa chở trên tàu thoát khỏi một sự nguyhiểm chung thực sự đối với chúng

Các thiệt hại, chi phí hoặc hành động được coi là TTC khi có các đặc trưng sau:

+ Hành động TTC phải là hành động tự nguyện, hữu ý của những người trêntàu theo lệnh của thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyền trưởng

+ Sự hi sinh hay chi phí phải là đặc biệt, bất thường

+ Sự hi sinh hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung cho tất cả cácquyền lợi trong hành trình

+ Các tai nạn xảy ra phải thực sự nghiêm trọng, đe doạ đến sự an toàn của tất

cả các quyền lợi có trên tàu Và các nguy cơ thiệt hại đối với hàng hóa phải đangthực sự xảy ra và có thể dẫn đến TTTB

+ Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành độngTTC

+ TTC phải xảy ra trên biển

+ Hành động TTC phải là hành động vì an toàn chung, không đơn thuần chỉ

vì an toàn cho tài sản cá biệt nào

Những tai nạn thường dẫn đến công nhận TTC:

Trang 22

- Các trường hợp về mắc cạn: hư hại tàu và máy tàu do những cố gắng làm nổitàu

- Các trường hợp về mất hoặc hỏng hàng do phải vứt hàng xuống biển hoặcphải dỡ hàng khỏi tàu:

+ Chi phí dỡ hàng, lưu kho và xếp hàng trở lại tàu trong trường hợp hàngphải dỡ xuống

+ Chi phí vào cảng lánh nạn

- Các trường hợp về tai nạn cháy:

+ Tổn thất về tàu hoặc hàng hóa do nỗ lực chữa cháy gây ra

+ Chi phí vào cảng lánh nạn

- Các trường hợp về thiếu nhiên liệu:

+ Tổn thất về vật liệu tàu hoặc hàng hóa phải đốt cháy thay nhiên liệu để đunnóng nồi hơi đối với tàu hơi nước

+ Chi phí vào cảng lánh nạn

- Các trường hợp di chuyển về hàng hóa khi có thiên tai: gặp giông bão, tàu bịnghiêng phải vứt hàng xuống biển nhằm tránh nguy cơ chìm tàu Hàng hóa bị vứtnày cần phải biết được tính chất, số lượng hàng bị vứt, đã bị hư hỏng hay không còngiá trị

TTC bao gồm hai bộ phận chủ yếu đó là hi sinh TTC và chi phí TTC:

+ Hy sinh TTC: là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực tiếp của mộthành động TTC, như thiệt hại do vứt hàng xuống biển vì sự an toàn chung của tàuhay đốt vật phẩm trên tàu để thay nhiên liệu

+ Chi phi TTC: là những chi phí phải trả cho người thứ ba trong việc cứu tàu

và hàng thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình

Những điểm khác nhau giữa TTC và TTR:

- TTR xảy ra một cách ngẫu nhiên, bất ngờ trong khi TTC là cố tình, cố ý vàhợp lý của con người nhằm bảo vệ an toàn chung của các bên có liên quan

Trang 23

- TTR chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi cá biệt, tức là TTR của người nào thìngười đó tự phảit chịu mà không có sự đóng góp của các bên như trong TTC.

- TTR có thể xảy ra trên biển hoặc bất kì địa điểm nào khác trong khi TTC chỉxảy ra trên biển

- Tuỳ thuộc vào điều kiện bảo hiểm mà xét TTR có thuộc trách nhiệm bồithường của công ty bảo hiểm không Ngược lại với mọi điều kiện bảo hiểm, công tybảo hiểm đều chịu trách nhiệm bồi thường về mức đóng góp TTC của chủ hàng

2.2 Các loại chi phí trong bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển

2.2.1 Chi phí đề phòng hạn chế tổn thất

Theo như điều 16 “Điều khoản trách nhiệm của người được bảo hiểm ” cónghĩa vụ bảo vệ hàng hóa trong quá trình vận chuyển, đồng thời cũng quy định nhàbảo hiểm hàng hóa phải trả mọi chi phí hợp lý liên quan đến nghĩa vụ ấy Ngườiđược bảo hiểm có thể khiếu nại chi phí này ngay cả khi nó vượt quá giá trị hàng hóađược bảo hiểm theo HĐBH Bởi vì, điều khoản đề phòng hạn chế tổn thất được coi

là hợp đồng bổ sung cho hợp đồng bảo hiểm gốc

2.2.2 Chi phí gửi hàng tiếp

Là khoản chi phí tăng thêm (mà người bảo hiểm sẽ hoàn trả lại cho ngườiđược bảo hiểm) khi người được bảo hiểm phải chi ra một cách hợp lý và thỏa đáng

để dỡ hàng lưu kho và gửi hàng tới nơi nhận thuộc phạm vi bảo hiểm mà nguyênnhân là do việc vận chuyển bảo hiểm phải kết thúc tại một cảng hoặc một nơi kháckhông phải là nơi nhận có tên ghi trong HĐBH

2.2.3 Chi phí tổn thất riêng

Là những chi phí nhằm đảm bảo an toàn hay bảo toàn hàng hóa để không hưhại thêm Đó là các chi phí: chi phí xếp dỡ, gửi hàng, phân loại, đóng gói lại bao bì,thay thế bao bì…(đối với lô hàng đang tổn thất)

Chỉ những chi phí ở bến đi và dọc đường mới được coi là chi phí tổn thấtriêng và được bồi thường

Trang 24

+ Chi phí làm nổi tàu khi đã bị mắc cạn

+ Chi phí thuê kéo, lai dắt tàu khi bị nạn

+ Chi phí tại cảng lánh nạn như: chi phí ra vào cảng, chi phí xếp, dỡ nhiênliệu… vì an toàn chung hoặc để sửa chữa tạm thời

+ Chi phí tái xếp hàng, lưu kho hàng hóa

+ Tiền lương cho thuyền trưởng, thuyền viên

+ Lương thực, thực phẩm nhiên liệu tiêu thụ tại cảng lánh nạn

Bao gồm các loại chi phí sau đây:

- Chi phí chứng minh tổn thất: là chi phí phải bỏ ra do việc chứng nhận hoặc

giám định hàng hóa tổn thất Ngoài ra chi phí đặc biệt còn bao gồm các chi phíkhông định trước được cho việc chứng nhận hoặc giám định hàng tổn thất Luật bảohiểm Hàng hải 1906 của Anh quy định rằng chi phí đặc biệt không được tính thêmvào tổn thất riêng khi so sánh tổn thất riêng với số tiền miễn đền Người được bảohiểm chỉ thanh toán chi phí ngoại lệ khi hư hỏng mất mát được bồi thường theo đơnbảo hiểm

- Chi phí tái chế phát sinh tại bến đích: khi hàng tới cảng đích nếu gặp tổn

thất thì có thể tiến hành các biện pháp ngăn chặn việc hàng hóa hư hỏng thêm Chi

Trang 25

phí phát sinh liên quan đến các biện pháp trên như: chi phí tách riêng phần hàng tổnthất khỏi hàng nguyên, chi phí tẩy rửa nước biển hoặc nước ngọt, chi phí cho việclưu kho hoặc di chuyển hàng vì mục đích tái chế… đều được người bảo hiểm bồithường bổ sung vào tổn thất riêng nhưng cũng chỉ trong phạm vi số tiền bảo hiểm.

IV HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

1 Khái niệm

Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển là một vănbản, trong đó người bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người tham gia bảo hiểmcấc tổn thất của hàng hóa theo các điều kiện bảo hiểm đã ký kết, còn người thamgia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển còn là mộthợp đồng bảo hiểm hàng hải Nó mang tính chất là một hợp đồng bồi thường, mộthợp đồng tín nhiệm và có thể chuyển nhượng được Hợp đồng được thiết lập dựatrên nguyên tắc “mất hay không mất”:

+ Đối với người được bảo hiểm khi ký hợp đồng bảo hiểm mà hàng hóa đã bịtổn thất nhưng người được bảo hiểm vẫn chưa biết gì thì hợp đồng vẫn có hiệu lực

và vẫn được bồi thường Ngược lại, nếu biết thì hợp đồng sẽ vô hiệu lực

+ Đối với người bảo hiểm, khi ký hợp đồng bảo hiểm mà hàng hóa đã đếnnơi an toàn nhưng người bảo hiểm vẫn chưa biết việc đó thì hợp đồng vẫn có hiệulực và vẫn có quyền thu phí bảo hiểm Ngược lại, người bảo hiểm đã biết việc đó thìhợp đồng bảo hiểm sẽ không có hiệu lực đồng thời phải hoàn lại phí bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm coi như được ký kết khi lời đề nghị của người được bảohiểm chấp nhận bằng văn bản Bằng chứng của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm là:Giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex hoặc các hình thức dopháp luật quy định

Đơn bảo hiểm và Giấy chứng nhận bảo hiểm là loại chứng từ có thể lưuthông được và có thể chuyển nhượng được cho người khác bằng thủ tục ký hậu.Đơn bảo hiểm và Giấy chứng nhận bảo hiểm được gọi chung là chứng từ bảo hiểm

Trang 26

Chứng từ bảo hiểm là một loại chứng từ quan trọng được sử dụng nhiều trong thanhtoán quốc tế.

Ở Việt Nam, Đơn bảo hiểm hay Giấy chứng nhận bảo hiểm được coi nhưHợp đồng bảo hiểm Tuỳ từng trường hợp mà Công ty bảo hiểm sẽ cấp Đơn bảohiểm hoặc Giấy chứng nhận bảo hiểm

Đơn bảo hiểm : là một loại chứng từ bảo hiểm do Công ty bảo hiểm ký, phát

và trong Đơn bảo hiểm phải chứa đựng tất cả các điều khoản của hợp đồng bảohiểm Tuỳ theo tính chất của hoạt động bảo hiểm mà có nhiều loại Đơn bảo hiểmkhác nhau:

+ Đơn bảo hiểm bao: là loại Đơn bảo hiểm xác nhận việc công ty bảo hiểm

tiến hành bảo hiểm cho nhiều lô hàng gửi đi trong một khoảng thời gian nhất định(thường là sáu tháng đến một năm) Đơn bảo hiểm bao được áp dụng cho nhữnghợp đồng mua bán có giá trị lớn, hàng hóa được vận chuyển nhiều lần trong mộtkhoảng thời gian dài

+ Đơn bảo hiểm chuyến: được áp dụng cho một chuyến hàng đi từ địa điển

này đến địa điểm khác (hoặc từ một cảng này tới một cảng khác) Loại đơn nàythường áp dụng cho những hợp đồng có giá trị nhỏ, hàng hóa được vận chuyển mộtlần trên một tàu

+ Đơn bảo hiểm định hạn: là loại đơn bảo hiểm mà trên đó người tính toán

ghi rõ thời gian bảo hiểm

+ Đơn bảo hiểm định giá: là loại đơn bảo hiểm mà trên đó đã ghi rõ giá trị

bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm

+ Đơn bảo hiểm không định giá: là loại đơn bảo hiểm mà trên đó Công ty

bảo hiểm không ghi rõ giá trị hay số tiền bảo hiểm mà chỉ đưa ra nguyên tắc chung

để tính giá trị bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm

Giấy chứng nhận bảo hiểm : là chứng từ do Công ty bảo hiểm cấp cho

người được bảo hiểm để thay thế cho Đơn bảo hiểm đồng thời xác nhận việc Công

ty đã chấp nhận bảo hiểm cho một lô hàng nào đó

Trang 27

Giấy chứng nhận bảo hiểm thường chỉ có nội dung như 1 mặt của Đơn bảohiểm, mặt 2 để trống Và thường chỉ được dùng để cấp cho khách hàng trong nước.

Để thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ (L/C), ngày ghi trên Đơnbảo hiểm và Giấy chứng nhận bảo hiểm không được muộn hơn ngày xếp hàng lêntàu hoặc ngày nhận hàng để chở Đồng thời loại tiền phải giống loại tiền trong Thưtín dụng trừ phi có quy định khác Khi xuất trình để thanh toán phải xuất trình trọn

bộ hoặc một bản gốc duy nhất cho ngân hàng Theo điều 34 UCP 500, trừ trườnghợp thư tín dụng có quy định khác, các Ngân hàng sẽ chấp nhận một Giấy chứngnhận bảo hiểm hay một tờ khai bảo hiểm bao đã được các Công ty bảo hiểm hoặcđại lý của họ ký tên trước Trong trường hợp tín dụng đặc biệt đòi hỏi phải có mộtGiấy chứng nhận bảo hiểm hay một tờ khai bảo hiểm bao thì các Ngân hàng sẽ chấpnhận một Đơn bảo hiểm thay cho các chứng từ nêu trên

Khác với Giấy chứng nhận bảo hiểm và Đơn bảo hiểm, Thư bảo hiểm chỉ làmột bức thư của người xuất khẩu gửi cho người nhập khẩu nhằm thông báo rằnghàng hóa đã được chấp nhận bảo hiểm Xét về mặt pháp lý, Thư này không có hiệulực mà chỉ là chứng cứ, bằng chứng mà người nhập khẩu có thể sử dụng khi xảy rakiện tụng với người xuất khẩu

2 Các loại hợp đồng bảo hiểm

2.1 Hợp đồng bảo hiểm chuyến:

Hợp đồng bảo hiểm chuyến là loại hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàngchuyên chở từ địa điểm này đến địa điểm khác ghi trong HĐBH Người bảo hiểmchỉ chịu trách nhiệm về hàng hóa trong phạm vi một chuyến theo điều khoản “từkho đến kho”

HĐBH chuyến có thể là hợp đồng hành trình, hợp đồng thời gian, hợp đồnghỗn hợp hoặc có thể phân định thành hợp đồng định giá, hợp đồng không định giá

a Hợp đồng hành trình:

Trang 28

HĐBH hành trình là loại hợp đồng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm từ địađiểm này đến địa điểm khác và người bảo hiểm phải thanh toán tổn thất xảy ra tronghành trình đó.

Hiệu lực của HĐBH hành trình với hàng hóa phụ thuộc vào điều khoản hànhtrình khi hàng hóa rời khỏi kho chứa hàng Hợp đồng bảo hiểm hành trình thườngkhông thông dụng vì loại hợp đồng này chỉ thích hợp để bảo hiểm cho hàng hóatrong một khoảng thời gian nhất định

b Hợp đồng bảo hiểm thời gian:

HĐBH thời gian là hợp đồng trong đó một con tàu được bảo hiểm trong bất

kỳ một chuyến hành trình đặc biệt nào đó, trong một thời gian nhất định Khi thờihạn bảo hiểm chưa hết mà bất kỳ tổn thất nào xảy ra thì đương nhiên Công ty bảohiểm vẫn phải đảm nhận trách nhiệm bảo hiểm của mình

c Hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp:

HĐBH hỗn hợp là hợp đồng kết hợp giữa hợp đồng hành trình và hợp đồngthời gian, bằng cách thêm vào điều khoản trong đó hàng hóa hoặc con tàu sẽ đượcbảo hiểm trong một số ngày sau khi tàu cập bến

d Hợp đồng bảo hiểm định giá

Hợp đồng bảo hiểm định giá là loại hợp đồng bảo hiểm ghi rõ giá trị bảohiểm hay số tiền bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm không định giá là hợp đồng không xác định giá trị đốitượng bảo hiểm, nhưng trong trường hợp bị tổn thất , GTBH có thể được xác địnhsau đó Ví dụ: giá trị bảo hiểm của hàng hóa được xác định là giá trị đầu tiên củahàng hóa (giá trị của hóa đơn) cộng thêm chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm

2.2 Hợp đồng bảo hiểm bao:

HĐBH bao là hợp đồng bảo hiểm cho một khối lượng hàng vận chuyển trongnhiều chuyến kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định (thường là một năm) hoặcnhận bảo hiểm cho một lượng hàng vận chuyển nhất định (không kể đến thời gian)

Trang 29

Trong HĐBH bao hai bên chỉ thỏa thuận những vấn đề chung nhất, có tínhnguyên tắc như: nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, tên hàng được bảo hiểm,loại tàu chở hàng, cách tính giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối đa cho mỗi chuyến

và điều kiện bảo hiểm, cách thanh toán phí bảo hiểm và tiền bồi thường, hiệu lựccủa hợp đồng, vấn đề giải quyết tranh chấp…Một hợp đồng bảo hiểm bao phải chứađựng ba điều kiện cơ bản sau:

- Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chở hàng hóa sẽ được bảo hiểm: tàu

được thuê chuyên chở hàng hóa phải có cấp hạng cao, phải có khả năng đi biển bìnhthường và tuổi tàu thấp (dưới 15 năm) Tàu có dung tích đăng ký 100 GRT trở lênkhi đóng phải có sự giám sát của một cơ quan đăng kiểm nhất định được thừa nhậnbằng Giấy chứng nhận cấp hạng Nếu Giấy chứng nhận cấp hạngu= này được 10hãng đăng kiểm nổi tiếng thế giới cấp (ví dụ: Lloyd’s Register of Shipping, London,Norske Veritas, Olso…) hạng tàu mới được chấp nhận một cách tuyệt đối

- Điều kiện về giá trị bảo hiểm: người được bảo hiểm phải kê khai giá trị

hàng hóa theo từng chuyến về số kiện, giá CIF hoặc giá FOB, số hợp đồng mua bán,

số thư tín dụng (L/C), ngày mở và giá trị L/C, số vận đơn B/L

- Điều kiện về quan hệ trên tinh thần thiện chí: tức là đã mua bảo hiểm bao

của người bảo hiểm nào thì trong thời gian đó người được bảo hiểm không đượcphép mua bảo hiểm hàng hóa của người bảo hiểm khác

Trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm bao, mỗi lần vận chuyểnhàng hóa, người tham gia bảo hiểm phải gửi giấy báo vận chuyển cho người bảohiểm.Nếu có thay đổi đặc biệt về số lượng, giá trị hàng… phải tiến hành kí kếtHĐBH khác Sau khi cấp đơn bảo hiểm hoặc HĐBH, nếu người được bảo hiểmthấy cần bổ sung, sửa đổi một số điều và công ty bảo hiểm đồng ý thì Công ty bảohiểm sẽ cấp giấy bảo hiểm bổ sung Giấy này cũng có giá trị như một đơn bảo hiểm,

là một bộ phận đính kèm theo và không thể tách rời của đơn bảo hiểm (hoặcHĐBH) ban đầu

HĐBH bao có ưu điểm:

Trang 30

-Linh hoạt, có thể dùng để bảo hiểm cho nhiều chuyến hàng (đặc biệt làtrường hợp có nhiều hãng vận chuyển lớn nhưng số hàng vận chuyển nhỏ) sẽ làmgiảm trách nhiệm của người bảo hiểm theo hợp đồng, bảo vệ người bảo hiểm trước

sự tích tụ rủi ro không dự kiến trứơc trong bất kỳ một hành trình riêng biệt nào

- Được ký kết một lần nhưng có giá trị bảo hiểm cho nhiều chuyến hàngtrong một khoảng thời gian dài

- Thường không giới hạn về mặt thời gian, mặc dù trong hợp đồng thôngthường có một điều khoản chấm dứt và hợp đồng chỉ hết hiệu lực khi tổng số tiềnbảo hiểm đã được thanh toán, hàng hóa được vận chuyển theo các điều khoản củahợp đồng phải được công bố để đảm bảo sự công bằng đối với người bảo hiểm

- Trong HĐBH bao giá trị và tên của hàng hóa không đổi

- HĐBH bao đem lại lợi ích cho cả người bảo hiểm và người được bảo hiểm.Người bảo hiểm đảm bảo thu được khoản phí bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm.Ngược lại người được bảo hiểm vẫn được bồi thường nếu tàu đã bị tai nạn rồi màchưa kịp thông bào cho Công ty bảo hiểm

Ở Việt Nam hàng hóa xuất khẩu thường mua bảo hiểm từng chuyến một, không dùng HĐBH bao Ngược lại, hàng hóa nhập khẩu thường mua bảo hiểm theo HĐBH bao.

2.3 Hợp đồng nguyên tắc:

HĐBH nguyên tắc là một loại hợp đồng bảo hiểm trong đó người được bảohiểm và người bảo hiểm thỏa thuận trước một số điểm cơ bản như: tên hàng hóađược bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm và nhữngđiểm liên quan khác

Về cơ bản, hợp đồng bảo hiểm nguyên tắc tương tự như hợp đồng bảo hiểmbao nhưng người được bảo hiểm không phải trả phí bảo hiểm ứng trước hoặc định

kì như trong hợp đồng bảo hiểm bao mà phí bảo hiểm được trả theo từng chuyếnhàng thực tế

3 Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia bảo hiểm

Trang 31

3.1 Đối với người được bảo hiểm

a Quyền lợi:

- Người được bảo hiểm có quyền yêu cầu người bảo hiểm bồi thường nhữngtổn thất xảy ra đối với hàng hóa được bảo hiểm do những rủi ro được bảo hiểm gây

ra trong thời hạn bảo hiểm có hiệu lực

- Được hưởng các dịch vụ chăm sóc khách hàng từ phía các Công ty bảohiểm

- Có quyền chỉ định người giám định riêng nếu không đồng ý với kết quảgiám định của Công ty

- Khi nhận được thông tin hoặc phát hiện thấy hàng hóa bị tổn thất thì ngườiđược bảo hiểm phải thông báo ngay cho người bảo hiểm biêta và làm giấy yêu cầungười bảo hiểm giám định ngay Việc giám định hàng hóa bị tổn thất phải được tiếnhành bởi Công ty bảo hiểm theo đơn đề nghị của người được bảo hiểm

- Thực hiện các biện pháp phòng chống hạn chế rủi ro xảy ra đối với hàng hoáđược bảo hiểm Trong trường hợp tổn thất, mất mát xảy ra đối với hàng hóa đượcbảo hiểm có liên quan đến người chuyên chở, người nhận uỷ thác hàng hóa hoặcngười thứ ba thì người được bảo hiểm phải làm các thủ tục để bảo lưu quyền khiếunại cho Công ty bảo hiểm

- Nếu tổn thất xảy ra do lỗi của người thứ ba thì người được bảo hiểm phảichuyển quỳên đòi bồi thường đối với người thứ ba Trong nhiều trường hợp vì

Trang 32

những nguyên nhân khác mà người bảo hiểm không muốn chuyển quyền đòi ngườithứ ba thì Công ty bảo hiểm sẽ căn cứ vào mức độ lỗi của người được bảo hiểm màbồi thường.

3.2 Đối với người bảo hiểm

a Quyền lợi:

- Thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm

- Có quyền từ chối bồi thường hoặc đòi lại tiền bồi thường đối với ngườiđược bảo hiểm nếu có đầy đủ bằng chứng chứng minh rằng các tổn thất gây rathuộc rủi ro loại trừ hoặc bỏ quyền lợi đối với người thứ ba

- Khi có tổn thất xảy ra đối với hàng hóa được bảo hiểm thuộc trách nhiệmcủa mình thì người bảo hiểm phải có nghĩa vụ bồi thường nhanh chóng, thỏa đángcho người được bảo hiểm

- Trong trường hợp người tham gia bảo hiểm cần thay đổi một số thông tinliên quan đến lô hàng được bảo hiểm thì người bảo hiểm phải có nghĩa vụ cấp giấybảo hiểm sửa đổi bổ sung và có quyền yêu cầu người tham gia bảo hiểm trả thêmphí

V CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO HIỂM

Điều kiện bảo hiểm là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của ngườibảo hiểm đối với tổn thất của hàng hóa Hàng được bảo hiểm theo điều kiện bảohiểm nào thì chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồithường

1 ICC 1963

Trang 33

ICC 1963 bao gồm các điều kiện bảo hiểm chủ yếu sau:

1.1 Điều kiện bảo hiểm miễn TTR (FPA)

Theo điều kiện bảo hiểm miễn TTR (FPA), Công ty bảo hiểm phải chịu tráchnhiệm bồi thường đối với:

- TTTB do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng lánh nạnthuộc TTR

- TTBP vì thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng lánh nạn

do rủi ro chính đem lại

- Mất nguyên kiện hàng trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải

- Bồi thường các chi phí sau:

+ Chi phí đóng góp TTC

+ Chi phí cứu nạn

+ Chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm do người thứ

ba không phải là người được bảo hiểm hay do người làm công của họ gây nên

+ Chi phí giám định tổn thất nếu tổn thất này do rủi ro được bảo hiểm gây ra.+ Chi phí tố tụng, khiếu nại

Để đảm bảo an toàn tài chính tối đa, tuỳ theo tính chất của hàng hóa, ngườimua bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm FPA còn có thể tham gia bảo hiểm các rủi rophụ như: rách vỡ, chảy, cong, hở, bẹp, cẩu móc, hấp hơi, lây bẩn, nước mưa, nứơcbiển, han rỉ…

1.2 Điều kiện bảo hiểm TTR(WA)

Theo điều kiện bảo hiểm TTR, Công ty bảo hiểm không những chịu tráchnhiệm về các rủi ro tổn thất và chi phí của điều kiện bảo hiểm FPA mà còn mở rộngthêm TTBP vì thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra không giới hạn trong bốn rủi ro chính

và khi dỡ hàng tại cảng lánh nạn

Điều kiện bảo hiểm này có áp dụng mức miễn thường

1.3 Điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro (AR)

Trang 34

Ngoài các rủi ro tổn thất và chi phí của điều kiện bảo hiểm WA thì phạm vibảo hiểm của điều kiện bảo hiểm AR còn mở rộng thêm các rủi ro phụ, không phânbiệt TTTB và TTBP.

Trong điều kiện bảo hiểm này người bảo hiểm không áp dụng mức miễnthường

1.4 Điều kiện bảo hiểm chiến tranh, đình công

Các rủi ro chiến tranh, đình công, nổi loạn dân sự phải bảo hiểm theo cácđiều kiện bảo hiểm riêng Vì đây là hai điều kiện bảo hiểm phi hàng hải và các điềukiện này không phải là điều kiện độc lập mà phải mua kèm với điều kiện bảo hiểmgốc

2 ICC 1982

Để phù hợp với sự phát triển của hàng hải và thương mại, ngày 1/1/1982 ILUxuất bản các điều kiện bảo hiểm mới thay thế các điều kiện bảo hiểm cũ So với cácđiều kiện bảo hiểm cũ, các điều kiện bảo hiểm mới trình bày rõ ràng, dễ hiểu hơn.ICC 1982 bao gồm:

- Điều kiện bảo hiểm C tương đương với điều kiện bảo hiểm FPA

- Điều kiện bảo hiểm B tương đương với điều kiện bảo hiểm WA

- Điều kiện bảo hiểm A tương đương với điều kịên bảo hiểm AR

- Điều kiện bảo hiểm chiến tranh

- Điều kiện bảo hiểm đình công

2.1 Điều kiện bảo hiểm C

a Rủi ro được bảo hiểm

Phạm vi bảo hiểm theo điều kiện C bao gồm:

- Tổn thất hay tổn hại của hàng hóa được bảo hiểm có nguyên nhân hợp lýdo: cháy hoặc nổ; tàu bị mắc cạn, chìm đắm, bị lật; đâm va; dỡ hàng tại cảng lánhnạn

- Hy sinh TTC

Trang 35

- Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản haitàu đâm va nhau đều có lỗi

b Rủi ro loại trừ

b.1 Điều khoản loại trừ chung

- Tổn thất, thiệt hại hay chi phí do lỗi cố ý của người được bảo hiểm

- Rò rỉ, hao hụt thông thường về trọng lượng , thể tích hay rách vỡ thôngthường ở đối tượng được bảo hiểm

- Tổn thất, thiệt hại hay chi phí do việc đóng gói, chuẩn bị cho đối tượngđược bảo hiểm không thích hợp hoặc không đầy đủ

- Tổn thất, thiệt hại do nội tỳ hoặc xuất phát từ bản chất của hàng hóa

- Tổn thất hoặc thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ

- Tổn thất, thiệt hại hay chi phí phát sinh do chủ tàu, người quản lý, ngườithuê tàu hoặc người khai thác tàu không có khả năng trả được nợ hoặc thiếu thốn vềtài chính

- Tổn thất hoặc thiệt hại do việc sử dụng bất kỳ một loại vũ khí chiến tranhnào có sử dụng phản ứng hạt nhân, phản ứng hóa học, chất phóng xạ…

b.2 Điều khoản loại trừ sự không phù hợp và không đủ khả năng đi biển

Bảo hiểm này không bồi thường cho những tổn thất, thiệt hại hay chi phíphát sinh do tàu, thuyền không đủ khả năng đi biển hoăc do sự không phù hợp củatàu, máy bay, phương tiện vận chuyển, container, toa xe để chuyên chở an toànhàng hóa được bảo hiểm

Người bảo hiểm không chấp nhận bất kỳ sự vi phạm của việc ngụ ý bảo đảmkhả năng đi biển của tàu và sự thích hợp của tàu để chuyên chở hàng hóa được bảohiểm tới cảng đích, trừ khi người được bảo hiểm hoặc người làm công che giấu sựkhông đủ khả năng đi biển hoặc hay sự không thích hợp này

b.3 Điều khoản loại trừ rủi ro chiến tranh

Bảo hiểm này không bồi thường cho tổn thất, thiệt hại hay chi phí phát sinhdo:

Trang 36

- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc bạo động dân

sự xảy ra hoặc bất kỳ hành động thù địch nào gây ra giữa các thế lực tham chiến

- Bắt giữ, chiếm giữ, tịch thu (trừ trường hợp là cướp biển) và hậu quả củacác hành động trên

- Bom,mìn, thuỷ lôi hoặc các vũ khí chiến tranh khác còn sót lại trong cáccuộc chiến tranh

b.4 Điều khoản loại trừ rủi ro đình công

Bảo hiểm này không bồi thường cho tổn thất, thiệt hại hay chi phí gây ra bởi:

- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặc người tham gia các vụ gâyrối lao động, bạo loạn dân sự

- Các vụ đình công, cấm xưởng, gây rối lao động hoặc bạoloạn dân sự

- Người có hành độnmg khủng bố hay bất kỳ người nào hành động vì động

cơ chính trị

c Phạm vi bảo hiểm

c.1 Điều khoản vận chuyển

Bảo hiểm này có hiệu lực kể từ khi hàng hóa được bảo hiểm rời khỏi kho haynơi chứa hàng (tại địa điểm được ghi trong HĐBH) để bắt đầu vận chuyển Và vẫntiếp tục quá trình vận chuyển bình thường, kết thúc khi:

- Giao hàng tới kho của người nhận hoặc kho cuối cùng tại địa điểm đượcghi trong HĐBH

- Giao hàng đến kho, nơi chứa trước khi tới hoặc tới địa điểm được ghi trongHĐBH mà người được bảo hiểm lựa chọn:

+ Để lưu chứa hàng không tuân theo quá trình vận chuyển bình thường

Trang 37

với nơi đã quy định trong hợp đồng, thì bảo hiểm này vẫn kết thúc mà không mởrộng cho việc vận chuyển hàng đến địa điểm khác.

Bảo hiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực nếu có sự chậm trễ ngoài khả năng kiểmsoát của người được bảo hiểm, tàu đi chệch hướng, dỡ hàng bắt buộc, tái xếp hoặcchuyển tải và thay đổi hành trình do phát sinh từ những đặc quyền mà chủ tàu hoặcngười thuê tàu được hưởng theo quy định của hợp đồng vận tải

c.2 Điều khoản rủi ro chấm dứt hợp đồng chuyên chở

Nếu do các sự cố nằm ngoài khả năng kiểm soát của người được bảo hiểmhoặc hợp đồng chuyên chở chấm dứt tại một cảng hay một địa điểm khác ngoài nơighi trong HĐBH hoặc việc vận chuyển chấm dứt trước khi giao hàng như quy định

ở trên thì bảo hiểm này cũng sẽ hết hiệu lực, trừ khi có thông báo được gửi ngaycho người bảo hiểm yêu cầu tiếp tục bảo hiểm và chấp nhận đóng thêm phí nếu cóyêu cầu

c.3 Điều khoản thay đổi hành trình

Nếu sau khi bảo hiểm này có hiệu lực mà người được bảo hiểm yêu cầu có

sự thay đổi địa điểm của hàng hóa được bảo hiểm thì bảo hiểm này chỉ tiếp tục nếu

có thông báo tức thời cho người bảo hiểm trên cơ sở phí bảo hiểm và các điều kiện

sẽ thỏa thuận thêm

d Điều khoản khiếu nại

d.1 Điều khoản quyền lợi được bảo hiểm

Người được bảo hiểm muốn được bồi thường theo bảo hiểm này thì phải cóquyền lợi đối với hàng hóa được bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất Và ngườiđược bảo hiểm có quyền đòi bồi thường cho những tổn thất được bảo hiểm xảy ratrong thời hạn bảo hiểm này dù tổt thất đó xảy ra trước khi ký kết hợp đồng bảohiểm, trừ khi người được bảo hiểm biết về tổn thất xảy ra mà người bảo hiểm khônghay biết

d.2 Điều khoản rủi ro chi phí giao nhận

Trang 38

Nếu do hậu quả của rủi ro được bảo hiểm mà hàng hóa vận chuyển kết thúctại một địa điểm khác với nơi được ghi trong HĐBH thì người được bảo hiểm sẽđược bồi hoàn các chi phí hợp lý và cần thiết phát sinh trong việc dỡ hàng, lưu kho

và vận chuyển hàng đến nơi khác

Tuy vậy, bảo hiểm này không áp dụng cho tổn thất chung và chi phí cứu hộnhưng phải phụ thuộc vào những quy định loại trừ bảo hiểm trong các trường hợptrên.Đồng thời không bao gồm các chi phí phát sinh từ sai lầm, bất cẩn từ việckhông trả được nợ hoặc thiếu thốn về tài chính ở người được bảo hiểm hay nhữngngười làm công cho họ

d.3 Điều khoản tổn thất toàn bộ ước tính

Bảo hiểm sẽ không bồi thường tổn thất toàn bộ ước tính, trừ khi hàng hóađược bảo hiểm bị từ bỏ hợp lý hoặc do tổn thất toàn bộ thực tế là không tránh khỏihay vì chi phí cứu hàng, tu bổ lại và gửi hàng đến nơi nhận thuộc phạm vi bảo hiểm

có thể vượt quá giá trị hàng khi hàng đến nơi nhận

d.4 Điều khoản bảo hiểm cho phần giá trị tăng thêm

Nếu người được bảo hiểm có nhu cầu bảo hiểm cho phần giá trị tăng thêmcủa hàng hóa được bảo hiểm theo HĐBH này, thì giá trị của hàng hóa thoả thuận sẽđược coi như đã tăng thêm bằng tổng số tiền bảo hiểm theo HĐBH này và tất cả cácbảo hiểm gía trị tăng thêm bảo hiểm những mất mát và trách nhiệm theo hợp đồngbảo hiểm này sẽ được tính theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và tổng số tiền bảo hiểmtăng thêm đó Khi có khiếu nại, người được bảo hiểm sẽ cung cấp cho người bảohiểm những bằng chứng về số tiền bảo hiểm được bảo hiểm theo tất cả các HĐBHkhác

Khi hợp đồng bảo hiểm được bảo hiểm theo giá trị tăng thêm thì điều khoản sau đây sẽ áp dụng:

- Gía trị thỏa thuận của hàng hóa sẽ được coi như bằng tổng số tiền được bảohiểm theo hợp đồng bảo hiểm đầu tiên và tất cả các bảo hiểm giá trị tăng thêm, và

Ngày đăng: 08/04/2013, 14:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình bảo hiểm – NXB Thống kê, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
2. Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm – NXB Thống kê 3. Tập bài giảng thống kê bảo hiểm – GSTS Nguyễn Văn Định Khác
4. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm hàng hóa – GSTS Trương Mộc Lâm Khác
5. Giáo trình vận tải và giao nhận trong ngoại thương – PGSTS Nguyễn Hồng Đàm, NXB Giao thông vận tải Khác
6. Vận tải, giao nhận quốc tế và bảo hiểm hàng hải – Dương Hữu Mạnh, NXB Thống kê Khác
7. Giáo trình kinh tế ngoại thương - Đại học Ngoại thương Hà Nội 8. Tạp chí bảo hiểm số 1/2001, 4/2003, 2/2004 Khác
11. Quy tắc bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển – Công ty bảo hiểm dầu khí Khác
12. Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hoá trong thương mại quốc tế - Nguyễn Vũ Hoàng, NXB Chính trị Quốc gia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình khai thác bảo hiểm hàng hoá XNK vận   chuyển bằng đường biển tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ KHU VỰC TÂY BẮC
Bảng 2 Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình khai thác bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w