Mục đích nghiên cứu của đề tài: Mục đích nghiên cứu của đề tài là dựa trên việc nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dự án, căn cứ vào thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng c
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian hoàn thành luận văn thạc sĩ tác giả đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện rất nhiều của Ban Giám hiệu nhà trường, các cán bộ
và giảng viên của trường Đại học Thủy lợi Hà Nội
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa sau đại học Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội đã quan tâm và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS
Nguyễn Bá Uân đã dành nhiều thời gian và hướng dẫn nghiên cứu rất tận tình,
chu đáo cho tác giả
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể các cán bộ thuộc Công ty
cổ phần đầu tư và phát triền Nhà Hà Nội số 52 đã giúp đỡ nhiệt tình để tác giả được tiếp cận các tài liệu liên quan và có dữ liệu viết luận văn một cách tốt nhất
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, những người bạn và đồng nghiệp đã hỗ trợ tác giả rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc
và hoàn thành luận văn
Với sự nỗ lực và nghiêm túc của bản thân để hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học này, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những nhận xét, góp ý quý báu của các thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2014
Hoàng Thị Khuyên
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Khuyên
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 2
3 Phương pháp nghiên cứu: 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết quả dự kiến đạt được: 3
7 Nội dung của luận văn: 4
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 5
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư 5
1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư 5
1.1.2 Phân loại dự án đầu tư xây dựng 8
1.1.3 Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng 8
1.2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng 11
1.2.1 Khái niệm, vai trò, mục tiêu của quản lý dự án 11
1.2.2 Bản chất, nội dung, nhiệm vụ của quản lý dự án ĐTXD 16
1.2.3 Các phương pháp quản lý dự án đầu tư xây dựng 23
1.2.4 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng 24
1.2.5 Các hình thức quản lý dự án xây dựng 28
1.3 Yêu cầu về năng lực quản lý dự án 30
1.3.1 Khái niệm về năng lực quản lý dự án 30
1.3.2 Các yếu tố cấu thành năng lực quản lý dự án 30
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý dự án 31
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý dự án 32
1.3.5 Những yêu cầu về năng lực trong công tác quản lý dự án 32
Trang 4Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CÔNG TY CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI SỐ 52 35
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cố phần đầu tư và phát triển Nhà Hà Nội 35
2.1.1 Về bộ máy tổ chức 35
2.1.2 Về nguồn nhân lực 36
2.1.3 Trang thiết bị máy móc 36
2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 37
2.2 Tình hình hoạt động đầu tư xây dựng tại Công ty trong thời gian qua 41 2.2.1 Tình hình hoạt động đầu tư xây dựng tại Công ty 41
2.2.2 Các dự án đầu tư xây dựng tiêu biểu tại công ty trong những năm qua 42
2.2.3 Giới thiệu một số dự án đầu tư xây dựng tiêu biểu của Công ty 43
2.2.4 Mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Công ty 51
2.3 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Công ty trong những năm qua 57
2.3.1 Về mô hình quản lý dự án 57
2.3.2 Quản lý thực hiện dự án còn nhiều tồn tại 61
2.3.3 Quản lý chi phí của dự án còn nhiều bất cập 71
2.3.4.Công tác quản lý thực hiện và trách nhiệm giám sát 75
Kết luận chương 2 76
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KHU NHÀ Ở CÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐẦU TƯ THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI SỐ 52 77
3.1 Giới thiệu về dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục cảnh sát 77
Trang 53.1.1 Khái quát chung về dự án 77
3.1.2 Sự cần thiết phải đầu tư 79
3.1.3 Giải pháp quy hoạch kiến trúc 80
3.1.4 Tiến độ thực hiện dự kiến 81
3.1.5 Tổng mức đầu tư 82
3.2 Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý dự án ĐTXD khu nhà ở cán bộ chiền sĩ cục cảnh sát trong giai đoạn thực hiện đầu tư 84
3.2.1 Áp dụng mô hình tổ chức quản lý dự án phù hợp 84
3.2.2 Giải pháp về nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch 89
3.2.3 Giải pháp về tăng cường công tác quản lý thực hiện dự án 94
3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 121
3.2.5 Nâng cao cơ sở vật chất trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án 125
Kết luận chương 3 127
KẾT LUẬN VÀ KIẾM NGHỊ 128
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng 9
Hình 1.2 Chu trình quản lý dự án 14
Hình 1.3 Mục tiêu tổng thể của một dự án 16
Hình 1.4 Sơ đồ các nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng 21
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Công ty 37
Hình 2.2 Mô hình Phòng Đầu tư dự án đóng vai trò QLDA 53
Hình 2.3 Mô hình Công ty trực tiếp QLDA thành lập Ban Quản lý trực thuộc 54
Hình 2.4 Mô hình Công ty trực tiếp QLDA thành lập Ban Quản lý trực thuộc 55
Hình 3.1 Mối liên hệ giữa các nguồn lực thực hiện dự án 85
Hình 3.2 Đề nghị quy trình lập kế hoạch của dự án 90
Hình 3.3 Quy trình giám sát và duy trì lập kế hoạch dự án 93
Hình 3.4 Quy trình quản lý công tác đấu thầu 105
Hình 3.5 Mô hình quản lý chất lượng 117
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình tài chính của Công ty trong 3 năm 42
Bảng 2.2 Các dự án do công ty trực tiếp đầu tư và hợp tác 42
Bảng 2.3: Tổng hợp tiến độ dự án tiêu biểu của Công ty 64
Bảng 2.4 Bảng thống kê cơ sở vật chất và trang thiết bị 70
Bảng 2.5 Bảng thống kê quản lý chi phí các dự án 73
Bảng 3.1 Tổng hợp vốn đầu tư dự án ban đầu 82
Bảng 3.2 Lập kế hoạch dự kiến chi phí của dự án 91
Bảng 3.3 Lập kế hoạch khối lượng, hạng mục thi công tháng 92
Bảng 3.4 Lập kế hoạch khối lượng, hạng mục thi công tuần 92
Bảng 3.5 Quy trình thiết kế theo tiêu chuẩn ISO 95
Bảng 3.6 Kế hoạch đấu thầu 101
Bảng 3.7 Lập mốc quan trọng của dự án 107
Bảng 3.8 Biểu đồ Grantt tiến độ tổng thể 108
Bảng 3.9 Lập mốc quan trọng của dự án 109
Bảng 3.10 Sổ giao việc hàng ngày 110
Bảng 3.11 Báo cáo thực hiện tiến độ thi công tháng 110
Bảng 3.12 Báo cáo tiến độ thi công tuần 110
Bảng 3.13 Khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng 111
Bảng 3.14 Chi phí phát sinh và phương án xử lý 121
Bảng 3.15 Bảng thống kê cơ sở vật chất và trang thiết bị 126
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác, nhiều bộ phận liên quan Do đó công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có
sự phát triển chiều sâu và mang tính chuyên nghiệp hơn để đáp ứng nhu cầu xây dựng của nước ta hiện nay Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển và đổi mới cùng với sự biến động do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Ngành xây dựng ở nước ta đang thu hút và là ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Điều này không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước mà còn phụ thuộc vào sư phát triển của các doanh nghiệp xây dựng trong đó là lợi nhuận đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
và là động lực chính thúc đẩy hoạt động công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng đạt hiệu quả cao nhất Trong cơ chế thi trường hiện nay muốn dự án đầu tư có lợi nhuân cao các doanh nghiệp xây dựng phải quan tâm đến công tác quản lý tốt vá định hướng đầu tư có hiệu quả
Đối với các doanh nghiệp đầu tư dự án xây dựng thì công tác quản lý dự
án được quan tâm nhiều hơn, doanh nghiệp đã đầu tư lớn cho công tác này và công tác quản lý dự án tốt, không những mang lại lợi nhuận cao mà còn nâng cao chất lượng công trình, giảm thiểu rủi ro, nâng cao tầm uy tín của doanh nghiệp Vì vậy, sự thành công của dự án phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý dự án và là một khâu quan trọng trong việc ra quyết định quản lý điều hành của lãnh đạo doanh nghiệp, là yếu tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp xây dựng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung Xuất phát từ thực tế trên, với những kiến thức chuyên môn trong qúa trình làm việc và học tập, nghiên cứu, tác giả luận văn chọn đề tài luận văn với tên
Trang 10gọi: “Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng
khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện đầu tư thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà Hà Nội số 52”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là dựa trên việc nghiên cứu cơ sở lý luận
về quản lý dự án, căn cứ vào thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển Nhà Hà Nội số 52 trong thời gian vừa qua, Luận văn nghiên cứu đề ra một số giải
pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng khu
nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện dự án tại Công
ty nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả đầu tư của Công ty trong nền kinh tế hội nhập
3 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Các phương pháp nghiên cứu chung như: Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp điều tra khảo sát thực tế; Phương pháp thống kê; Phương pháp hệ thống; Phương pháp phân tích so sánh
- Các phương pháp nghiên cứu mang tính đặc thù của lĩnh vực đầu tư dự án như: Phân tích theo chu kỳ của dự án, phân tích các bên có liên quan, các phương pháp đánh giá kết quả hiệu quả đầu tư
- Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy và một số phương pháp kết hợp khác, để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề được đặt ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng dự án khu nhà ở cán bộ
Trang 11chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện dự án nói riêng mà Công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Hà Nội số 52’ đang triển khai tổ chức thực hiện
b Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về mặt không gian và nội dung nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào nội dung công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở cán
bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện dự án do Công ty làm chủ đầu tư
Về mặt thời gian luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích hoạt động quản lý các dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng của Công ty đầu
tư từ năm 2011 – 2013 và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý
dự án đầu tư xây dựng cho thời gian tới
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần hệ thống hoá và cập nhật những vấn đề lý luận cơ bản
về công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình, làm rõ nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Nhà Hà Nội số 52 nói riêng và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nói chung
Những nghiên cứu này cũng có giá trị làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình
b Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu của đề tài sẽ được ứng dụng để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời kỳ phát triển và hội nhập kinh tế và hiện đại hóa đất nước trong các năm tiếp theo
6 Kết quả dự kiến đạt được:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ phải nghiên cứu, giải quyết được những vấn đề sau:
Trang 12a Nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về công tác quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình của doanh nghiệp xây dựng, những bài học kinh nghiệm trong công tác này và tổng quan những nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
b Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của Công ty trong thời gian vừa qua, đặc biệt là đối với Dự án khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện đầu tư, qua đó đánh giá những kết quả đạt được cần phát huy và tìm ra những nguyên nhân tồn tại cần khắc phục
c Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học, cụ thể và khả thi nhằm tăng cường công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiên dự án tại Công
ty
7 Nội dung của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, luận văn, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình tại Công
ty Cổ phần đầu tư và phát triển nhà Hà Nội số 52 trong thời gian vừa qua
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý dự án đầu tư
xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện đầu tư thuộc Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển nhà Hà Nội số 52
Trang 13
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Tổng quan về dự án đầu tư
1.1.1 K hái niệm dự án đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư xét dưới góc độ khác nhau:
- Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư: dự án đầu tư có thể được
hiểu như là một kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công trình cụ thế cụ thế thực hiện các hoạt động đầu tư
- Xét về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày
một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ hoạch định việc
sử dựng vốn, vật tư,, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội
- Xét trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đàu tư là kế hoạch chi tiết để thực
hiện chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xa hội làm căn cứ cho việc ra quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư
- Xét về góc độ phân công lao động xã hội: dự án đầu tư thể hiện sự phân
công, bố trí lực lượng lao động xã hội nhằm giải quyết mói quan hệ chủ thế kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên
- Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động cụ thể,
có mối liên hệ biện chúng nhân quả với nhau đạt được những mục đích nhất định trong tương lai
- Theo quan điểm phổ biến hiện nay: Dự án đầu tư là một tập hợp những
đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những
Trang 14cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiền nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định
Như vậy dù góc độ nào thì dự án đầu tư đều bao gồm 4 vấn đề chính đó là: mục tiêu của dự án, các kết quả, các hoạt động và các nguồn nhân lực Trong 4 thành phần đó các kết quả được coi là mốc đánh dấu tiến độ của dự
án Vì vậy trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi những kết quả đạt được, những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đối với việc tao
ra kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệt quan tâm
Về mặt hình thức, dự án đầu tư là một hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai;
Về mặt quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế, xã hội trong một thời gian dài; Về mặt nội dung, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo nâng cấp những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
1.1.1.2 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng công trình
Dự án đầu tư xây dựng công trình là các dự án đầu tư có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản như xây dựng nhà cửa, đường sá, công trình thủy lợi, nhà ga, sân bay, xét theo quan điểm động, có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng công trình là một quá trình thực hiện các nhiệm vụ từ ý tưởng đầu tư xây dựng công trình thành hiện thực trong sự ràng buộc về kết quả (chất lượng), thời gian (tiến độ) và chi phí (giá thành) đã xác định trong hồ sơ dự
án Dự án đầu tư xây dựng công trình luôn được thực hiện trong những điều kiện không chắc chắn, có nhiều rủi ro
Trang 15Về mặt hình thức, dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các hồ
sơ và bản vẽ thiết kế kiến trúc, thiết kế kỹ thuật, và tổ chức thi công công trình xây dựng cùng các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án, thời gian thực hiện dự án, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
Theo định nghĩa của Luật Xây dựng Việt Nam số 16/QH 11 tháng 11
năm 2003 thì: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”
Dự án đầu tư xây dựng công trình có các đặc điểm:
- Dự án xây dựng hàm chứa tính hai mặt: một mặt dự án xây dựng tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công… được giải quyết đối với công trình xây dựng; mặt khác đây là môi trường hoạt động phù hợp với những mục đích đã đặt ra, nghĩa là một quá trình xây dựng có định hướng đối với các công trình mới hoặc cải tạo, nâng cấp đối với các công trình hiện đã và đang tiến hành sản xuất
- Loại dự án xây dựng thường được xác định bởi quy mô, thời gian thực hiện, chất lượng, mục tiêu, giới hạn về tiêu dùng tài nguyên (Nhân vật lực, đất đai, vốn,…) Việc quản lý dự án xây dựng đòi hỏi phải có một tổ chức năng động gồm các thành viên có kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội và kiến thức quản lý, thông thạo công việc, biết phối hợp làm việc nhóm một cách hiệu quả
- Kết thúc dự án xây dựng được coi như tại thời điểm bàn giao công trình đưa vào khai thác, sử dụng sản xuất ra sản phẩm Chủ đầu tư xây dựng công
Trang 16trình luôn kỳ vọng không chỉ ở công trình đang xây dựng mà điều chính yếu
là công trình xây dựng mang lại nguồn thu và lợi nhuận như thế nào sau khi đưa công trình vào quản lý vận hành hoặc khai thác kinh doanh
- Một dự án xây dựng được xem là thành công khi: Tổng các chi phí không vượt quá tổng dự toán hoặc tổng mức đầu tư (trong bước lập dự án); Thời gian thực hiện phải tương ứng với hạn định trong kế hoạch; Và chất lượng đảm bảo thỏa mãn nhu cầu khách hàng và các bên tham gia
1.1.2 Phân loại dự án đầu tư xây dựng
Theo Điều 2 của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/2/2009 về quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì có 2 cách phân loại dự án đầu tư xây dựng, đó là:
1.1.2.1 Phân loại theo quy mô và tính chất
Theo tính chất người ta phân ra dự án thông thường và dự án quan trọng Quốc gia Còn theo quy mô về vốn người ta phân dự án đầu tư xây dựng thành thành 3 nhóm A, B, C
1.1.2.2 Theo nguồn vốn đầu tư
Theo nguồn vốn đầu tư, các dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành những loại dự án sau đây:
- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
1.1.3 Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng
Trình tự thực hiện một dự án đầu tư xây dựng được chia làm ba giai đoạn, có thể mô tả các giai đoạn này như Hình 1.1:
Trang 17Hình 1.1 Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng
1.1.3.1 Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn chủ đầu tư lập báo cáo đầu tư, lập dự án đầu tư hoặc lập báo cáo kinh tế kỹ thuật và trình người quyết định đầu tư thẩm định, phê duyệt Riêng đối với các công trình nhà ở riêng lẻ của dân, chủ đầu tư không phải lập dự án đầu tư hay báo cáo kinh tế kỹ thuật, tất
cả các dự án đầu tư xây dựng công trình còn lại chủ đầu tư phải căn cứ vào quy mô, tính chất của các công trình đó để lập dự án đầu tư hoặc lập báo cáo kinh tế kỹ thuật Theo Điều 13, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009, những công trình không phải lập Dự án đầu tư chỉ cần lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình là những công trình xây dựng cho mục đích tôn giáo, công trình xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng Về bản chất, lập dự án đầu tư xây dựng công trình hay lập báo cáo kinh tế kỹ thuật đều nhằm mục đích: chứng minh cho người quyết định đầu tư thấy được sự cần thiết phải đầu tư, mục tiêu, hiệu quả của
dự án đầu tư; làm cơ sở cho người bỏ vốn (cho vay vốn) xem xét hiệu quả dự
án và khả năng hoàn trả vốn Đồng thời làm cơ sở cho các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét sự phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng; đánh giá tác động của dự án tới môi trường, kinh tế xã hội địa phương, mức độ an toàn đối với các công trình lân cận,
Nghiệm thu Thi công
Đấu thầu Thiết kế
Lập báo cáo đầu
tư, Dự án đầu tư
Chuẩn bị
đầu tư Thực hiện đầu tư Kết thúc dự án xây dựng
Trang 18Do vị trí, vai trò đặc biệt của các dự án quan trọng Quốc gia nên theo Điều 5, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009, trước khi lập Dự án đầu tư xây dựng công trình chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình, trình Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư Báo cáo đầu
tư xây dựng công trình thể hiện sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình, các điều kiện thuận lợi và khó khăn khi thực hiện dự án Đồng thời báo cáo đầu tư còn đưa ra dự kiến về quy mô đầu tư (công suất, diện tích xây dựng); các hạng mục công trình thuộc dự án; dự kiến về địa điểm xây dựng công trình và nhu cầu sử dụng đất Bên cạnh đó là các phân tích, lựa chọn sơ bộ về công nghệ, thông số kỹ thuật; các điều kiện cung cấp vật tư thiết bị, nguyên vật liệu , và đưa ra phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư, các ảnh hưởng của dự án đối với môi trường, sinh thái; an ninh, quốc phòng, phương
án phòng, chống cháy nổ Về nguồn vốn đầu tư, Báo cáo đầu tư phải xác định
sơ bộ tổng mức đầu tư, thời hạn thực hiện dự án, phương án huy động vốn theo tiến độ và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án,
1.1.3.2 Giai đoạn 2: Giai đoạn thực hiện đầu tư
Nội dung các công việc chủ yếu của giai đoạn này gồm:
- Xin xây lắp và mua sắm thiết bị;
- Giao đất hoặc thuê đất để xây dựng công trình;
- Đền bù giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư;
- Thiết kế (Hoặc thuê tư vấn thiết kế) công trình và lập tổng dự toán;
- Xin giấy phép xây dựng;
- Đấu thầu lựa chọn nhà thầu xây dựng, ký kết hợp đồng xây dựng và thực hiện thi công xây dựng công trình
Như vậy, kể từ khi có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình, dự án chuyển sang giai đoạn thực hiện đầu tư Trong giai đoạn này, chủ đầu tư tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi
Trang 19công, dự toán công trình Lập và đánh giá hồ sơ mời thầu, lựa chọn nhà thầu, đàm phán ký kết hợp đồng, giám sát thi công xây dựng, giám sát lắp đặt thiết
bị, quản lý tiến độ, chất lượng thi công xây dựng công trình, Đây là giai đoạn quan trọng và có tính quyết định đối với sự thành công của một dự án
1.1.3.3 Giai đoạn 3: Giai đoạn kết thúc xây dựng
Giai đoạn kết thúc xây dựng là giai đoạn chủ đầu tư tiến hành các công tác như: tổ chức nghiệm thu, kiểm định chất lượng, chạy thử, bàn giao công trình, đưa vào sử dụng, thực hiện bảo hành công trình và thanh toán, quyết toán hợp đồng; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
Việc chia chu trình của một dự án đầu tư xây dựng công trình làm 3 giai đoạn như trên chỉ là tương đối về mặt thời gian và công việc, không nhất thiết phải theo tuần tự như vậy Có những việc bắt buộc phải thực hiện theo trình
tự, nhưng cũng có những việc của một số dự án có thể làm gối đầu hoặc làm song song, để rút ngắn thời gian thực hiện
1.2 Q uản lý dự án đầu tư xây dựng
1.2.1 Khái niệm, vai trò, mục tiêu của quản lý dự án
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý dự án
Theo các nhà quản lý dự án, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý dự án, một số khái niệm thường được nhiều học giả sử dụng như sau:
- Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép;
- Quản lý dự án là nghệ thuật và khoa học phối hợp con người, thiết bị, vật tư, tiền bạc, cùng với tiến độ để hoàn thành một dự án cụ thể đúng thời hạn trong vòng chi phí đã được duyệt;
Trang 20- Quản lý dự án là việc điều phối và tổ chức các bên khác nhau tham gia vào một dự án nhằm hoàn thành dự án đó theo những hạn chế được áp đặt bởi chất lượng, thời gian và chi phí
- Quản lý dự án đầu tư là sự tác động của chủ đầu tư và các chủ thể có liên quan khác đến quá trình lập dự án đầu tư và thực hiện dự án đầu tư bằng
ủy nhiệm hoặc ký kết hợp đồng với các đơn vị thực hiện thông qua sử dụng các công cụ và kỹ thuật quản lý và mô hình tổ chức không có tính tập trung cao, mềm dẻo, linh hoạt để dự án được thực hiện trong những ràng buộc về chi phí, thời gian và các nguồn lực
Như vậy, có thể hiểu “Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công vi ệc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn Để thực
hi ện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối
h ợp, điều hành, giám sát, khống chế và đánh giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án” Quản lý dự án được thực hiện trong tất cả các
giai đoạn khác nhau của chu trình dự án
Quản lý dự án xây dựng bao gồm các công việc sau:
- Động viên nhân lực tham gia và kết phối hợp các hoạt động của họ;
- Theo dõi dự án, thông báo cho ban chỉ đạo dự án thông tin về tiến trình thực hiện dự án và tất cả những gì có thể dẫn tới sự thay đổi mục tiêu hoặc chương trình dự án
Trang 21Vậy, quản lý dự án đầu tư xây dựng không thể chỉ đơn thuần là thực hiện một khối công việc đã được hoạch định sẵn, mà là việc hình thành lên khối công việc đó Cũng không nên quan niệm đơn giản, quản lý dự án chỉ là theo dõi thực hiện dự án Để thực hiện mục tiêu đề ra một cách hiệu quả, các nhà quản lý dự án phải biết và có khả năng vận dụng các lý luận khoa học, các công cụ khoa học, các phương pháp khoa học và pháp luật vào quá trình quản lý Quản lý dự án cũng như các lĩnh vực quản lý khác luôn đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực ứng xử và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ các mối quan hệ con người
Về mặt chu trình, quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu: Đó là lập
kế hoạch, tổ chức điều phối thực hiện, giám sát các công việc nhằm đạt được mục tiêu xác định
- Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc,
dự tính nguồn lực cấn thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một
kế hoạch hành động thống nhất theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng
sơ đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống
- Điều phối thực hiện công việc: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án( khi nào bắt đàu, khi nào kết thúc) trên
cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp
- Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến độ của dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đè xuất biện pháp giả quyết nững vướng mắc trong quá trình thực hiện
Có thể sơ đồ hóa các nội dung nêu trên bằng sơ đồ Hình 1.2
Trang 22Giám sát Điều phối thực hiện
• Đo lường kết quả • Bố trí tiến độ thời gian
• So sánh với mục tiêu • Phân phối nguồn lực
• Báo cáo
• Phối hợp các hoạt động
• Giải quyết các vấn đề • Khuyến khích động viên
Hình 1.2 Chu trình quản lý dự án
1.2.1.2 Vai trò quản lý dự án đầu tư xây dựng
Quản lý dự án đầu tư xây dựng có các vai trò sau:
- Bảo đảm sự liên kết tất cả các hoạt động, công việc của dự án một cách trình tự và có hợp lý;
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án, chính vì vậy tận dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng (chủ đầu tư) và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án;
- Bảo đảm phát hiện sớm và giải quyết nhanh chóng những khó khăn, vướng mắc nảy sinh để xử lý, điều chỉnh kịp thời;
- Bảo đảm thời gian hoàn thành của dự án đúng theo kế hoạch tiến độ;
- Bảo đảm tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao
Lập kế hoạch
• Thiết lập mục tiêu
• Dự tính nguồn lực
• Xây dựng kế hoạch
Trang 231.2.1.3 Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng
Một dự án đầu tư xây dựng công trình có thể được xem như một hệ thống gồm 3 yếu tố chất lượng, thời gian và chi phí Nếu một dự án được thực hiện mà đạt được kết quả cuối cùng như dự kiến (độ hoàn thiện yêu cầu) trong một khoảng thời gian khống chế (thời hạn ấn định) với một nguồn lực
đã xác định (kinh phí giới hạn) thì dự án được xem là đã hoàn thành “mục tiêu tổng thể” Tuy nhiên, trên thực tế “mục tiêu tổng thể” thường rất khó, thậm chí không thể nào đạt được, và do đó trong quản lý dự án người ta thường phải tìm cách kết hợp dung hòa 3 phương diện chính của một dự án bằng cách lựa chọn và thực hiện phương án kinh tế nhất theo từng trường hợp
cụ thể
Tùy thuộc vào môi trường dự án (các điều kiện trong đó dự án xuất
hiện) và các tham số về quản lý bên trong dự án (vai trò, cương vị, năng lực của những người tham gia quản lý dự án, ) mà việc lựa chọn và quyết định phương án dung hòa sẽ khác nhau Có thể xem mục tiêu tổng thể của một dự
án cũng chính là mục tiêu tổng thể của quản lý dự án, bởi vì mục đích của quản lý dự án chính là dẫn dắt dự án đến thành công
Ba yếu tố cơ bản: Thời gian (T), chi phí (C) và kết quả (K) là những mục tiêu cơ bản của quản lý dự án, giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau Sự kết hợp 3 yếu tố này tạo thành mục tiêu tổng thể của quản lý dự án
Có thể mô tả mối quan hệ giữa 3 mục tiêu cơ bản của quản lý dự án theo Hình 1.3
Trang 24Hình 1.3 Mục tiêu tổng thể của một dự án 1.2 2 Bản chất, nội dung, nhiệm vụ của quản lý dự án ĐTXD
1.2.2.1 Bản chất của quản lý dự án đầu tư xây dựng
Nhiệm vụ cơ bản của ngành xây dựng là cung cấp cho xã hội những cơ
sở hạ tầng kỹ thuật như nhà ở, đường giao thông, trường học, bệnh viện, công trình thủy lợi, Để tạo ra được những sản phẩm này đòi hỏi phải có những nguồn lực như: vốn, đất đai, nhân lực, tài lực, nguyên vật liệu, máy móc trang thiết bị phục vụ cho xây lắp Quản lý dự án trong xây dựng chính là quản lý các hoạt động cung cấp các nguồn lực này và các quá trình phối kết hợp các nguồn lực này để tạo ra sản phẩm xây dựng theo mục tiêu đã định
Sự khác biệt giữa quản lý dự án xây dựng với quản lý các dự án thông thường đó là vấn đề về phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, vấn đề về quản lý nguyên vật liệu cung cấp, mua sắm trang thiết bị và nhu cầu vốn đầu tư lớn, thời gian diễn ra thường rất dài (Thường là trong nhiều năm) Đối với một dự
án thông thường, thì công tác quản lý dự án thì dự án chỉ tập trung ở khía cạnh về tài chính là chủ yếu, tức là làm sao cho một đồng vốn bỏ ra sau một thời gian nhất định đồng vốn đó có sinh lời đúng mục tiêu và đúng quy định
Kết quả (K)
Th ời gian
Chi phí (C)
Mục tiêu tổng thể
Trang 25pháp luật Còn đối với một dự án xây dựng, công tác quản lý rất phức tạp, các công việc trong quản lý liên quan và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các tiêu chuẩn mang tính bất định như tiêu chuẩn về kết cấu móng; tiêu chuẩn về phòng cháy chữa cháy; tiêu chuẩn về kết cấu bao che; tiêu chuẩn về cung cấp điện; tiêu chuẩn về ánh sáng công trình, nhưng để đạt được tiêu chuẩn đó có nhiều cách khác nhau như có thể lựa chọn chủng loại vật liệu khác nhau, biện pháp thi công khác nhau Do vậy, công tác quản lý xây dựng của dự án là phải làm sao đảm bảo cho công trình đáp ứng được các tiêu chuẩn hiện hành, đúng quy định của pháp luật, chất lượng công trình đảm bảo yêu cầu mà chi phí sử dụng thấp nhất
Dự án xây dựng còn có đặc thù riêng, đó là việc thiết kế các bản vẽ thi công, chất lượng, bản vẽ kiến trúc công trình, các khâu này lại quyết định đến giá thành, tiến độ thi công của công trình Nếu bản vẽ sai sót như thiếu hoặc chưa đúng, thì khi thi công sẽ gặp nhiều trở ngại Trong trường hợp này,
sẽ phải dừng thi công để chờ xử lý thiết kế bổ sung gây chậm tiến độ thi công của dự án và làm phát sinh khối lượng, tăng chi phí, dẫn tới tăng tổng mức đầu tư của dự án so với giá trị được phê duyệt Đây chính là những yếu bất định trong dự án xây dựng, đồng thời đó cũng là đặc thù lớn, khác biệt nhất của dự án xây dựng với các dự án khác Do vậy, công tác quản lý có hiệu quả
và thành công các dự án đầu tư xây dựng là hết sức quan trọng Việc phải nghiên cứu để tìm ra những biện pháp tăn cường công tác quản lý dự án xây dựng là một đòi hỏi thực sự mang tính quan trọng và cấp thiết
Mục đích mong đợi của nhà quản lý dự án là làm sao với các nguồn lực
có hạn mà vẫn cho ra được sản phẩm xây dựng có chất lượng Công việc của nhà quản lý là lập kế hoạch để phối kết hợp các nguồn lực: thời gian, tiền vốn, nhân lực, vật tư kỹ thuật để tạo ra sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng, đáp ứng mực tiêu của dự án Sản phẩm cuối cùng của hoạt động xây dựng là
Trang 26thước đo thành quả của công tác quản lý dự án Nếu sản phẩm tốt thì công tác quản lý đạt yêu cầu và ngược lại
Do đặc điểm của hoạt động xây dựng, nhiều khi có những biến đổi khó lường trước, được nảy sinh trong quá trình thực thi dự án như các thủ tục pháp lý, khảo sát địa chất, giá cả thị trường, điều kiện tự nhiên, do đó, để quá trình thực hiện dự án đạt được kết quả tốt nhất, thì việc thực hiện, kiểm tra, giám sát luôn phải bám sát vào kế hoạch đã được hoạch định Nếu trong quá trình thực hiện, phát hiện thấy có chỗ chưa đúng với kế hoạch, thì phải có phương án xử lý, điều chỉnh kịp thời Có như vậy mới có thể đạt được những mục tiêu của dự án đã được đặt ra
1.2.2.2 Nội dung của quản lý dự án đầu tư xây dựng
Như chúng ta đã biết, quản lý dự án đầu tư xây dựng là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức, lên kế hoạch đối với các giai đoạn trong vòng đời của dự án Là việc áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dự án như: mục tiêu về giá thành, thời gian, chất lượng Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, nội dung của quản lý dự án gồm 9 lĩnh vực quản lý sau đây:
2 Quản lý thời gian dự án
Là quá trình quản lý mang tính hệ thống các giai đoạn, các công việc, nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra Nó bao gồm các công việc như xác định kế hoạch hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thời gian, khống chế thời gian các công việc và tiến độ thực hiện toàn bộ dự án
Trang 273 Quản lý chi phí dự án
Đây là một trong những nội dung rất được quan tâm trong các nội dung của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Suy cho cùng, tất cả quá trình quản lý kinh tế xã hội nói chung, quản lý dự án nói riên đều nhằm mục tiêu bỏ ra chi phí ít nhất những đạt được hiệu quả, lợi ích lớn nhất Hoạt động quản lý chi phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự án mà chi phí không vượt quá mức trù bị ban đầu Nó bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí
4 Quản lý chất lượng (Thành quả) dự án
Quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lư-ợng mà khách hàng đặt ra Quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng bao gồm việc lập hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng
5 Quản lý nguồn nhân lực của dự án
Quản lý dự án suy cho cùng là quản lý nguồn nhân lực của dự án, bởi
dự án được thực hiện bởi con người Quản lý nguồn nhân lực là phương pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi thành viên tham gia vào dự án và tận dụng nó một cách
có hiệu quả nhất Nội dung qunr lý bao gồm các việc như quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và lựa chọn mô hình tổ chức quản lý
dự án
6 Quản lý việc trao đổi thông tin dự án
Muốn cho dự án đạt được mục tiêu thì đòi hỏi phải có sự thống nhất cao trong mọi hoạt động của dự án, quản lý việc trao đổi thông tin dự án là biện pháp hữu hiệu để đạt được điều đó Quản lý thông tin của dự án là hoạt động quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đổi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như
Trang 28việc truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ thực hiện dự án và truyền đạt những mệnh lệnh trong việc điều chỉnh, chỉ huy thống nhất
7 Quản lý việc mua bán của dự án
Quản lý việc mua bán của dự án cũng là một biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm sử dụng những hàng hóa, vật liệu, máy móc trang thiết bị thu mua được từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án một cách chuẩn xác, đúng chủng loại, tiết kiệm và kịp thời Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua, lựa chọn việc thu mua và trưng thu các nguồn vật liệu, máy móc trang thiết bị
8 Quản lý việc giao nhận dự án
Một số dự án sau khi thực hiện hoàn thành dự án, hợp đồng cũng kết thúc cùng với sự chuyển giao kết quả Dự án mới bước vào giai đoạn đầu vận hành sản xuất nên người tiếp nhận hay còn gọi người ủy quyền dự án có thể thiếu nhân lực quản lý, kinh doanh, kỹ thuật, vì vậy chưa nắm vững được tính năng, kỹ thuật của dự án, vì thế cần có sự hỗ trợ của đơn vị thi công dự án hoặc đơn vị cung cấp thiết bị, giúp đơn vị tiếp nhận dự án giải quyết vấn đề này, người ta gọi công tác này là quản lý việc giao - nhận dự án Hoạt động này cần có sự tham gia của đơn vị thi công dự án và đơn vị tiếp nhận dự án,
sự phối hợp chặt chẽ giữa hai bên giao và nhận để tránh tình trạng dự có chất lượng, kỹ thuật tốt nhưng khai thác kém hiệu quả
9 Quản lý rủi ro của dự án
Khi thực hiện dự án có thể sẽ gặp phải những nhân tố rủi ro mà chúng
ta không lường trước được thường do các yếu tố khách quan gây ra Quản lý rủi ro là biện pháp quản lý nhằm tận dụng tối đa những nhân tố bất định có lợi
và giảm thiểu đến mức thấp nhất những nhân tố bất lợi, thiệt hại không xác định cho dự án Quản lý rủi ro bao gồm việc nhận dạng, phân loại rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro
Trang 29Hình 1.4 Sơ đồ các nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng
1.2.2.3 Nhiệm vụ của quản lý dự án đầu tư xây dựng
Về tổng thể, nhiệm vụ cơ bản trong quản lý dự án xây dựng nói chung chính là đẩy nhanh tốc độ giải ngân các nguồn vốn xây dựng cơ bản nhằm tăng cường sự phát triển kinh tế quốc gia và giải quyết các nhiệm vụ xã hội Thông thường, tham gia vào lĩnh vực xây dựng gồm có các đơn vị tư vấn thực hiện các công khảo sát, thiết kế, giám sát, các nhà thầu thi công xây dựng, với mục tiêu chung hoàn thành các sản phẩm xây dựng với chất lượng quy định trong khuôn khổ vốn đầu tư và thời gian đã được xác định trước Trong quá trình đó, giai đoạn thực hiện đầu tư nói chung, hoạt động thi công xây dựng nói riêng luôn chiếm tỷ trọng thời gian tương đối lớn trong chu kỳ đầu tư và
là giai đoạn quan trọng Nhiệm vụ của giai đoạn này là hoàn thành mọi công tác xây dựng đảm bảo chất lượng và đưa công trình vào vận hành Sản xuất xây dựng chính là hệ thống phức tạp bao gồm các hệ thống tổ chức và sản xuất, cũng như các hệ thống thông tin quản lý Hệ thống sản xuất bao gồm các tổ chức xây dựng sản xuất ra các sản phẩm xây dựng
Tuỳ thuộc vào mức độ chuyên ngành và quy mô tổ chức của các đơn vị xây dựng, quá trình xây dựng có thể được chia thành các công đoạn khác
Qu¶n lý
dù ¸n ĐTXD
Qu¶n lý chÊt lưîng
Qu¶n lý ph¹m vi thêi gian Qu¶n lý Qu¶n lý chi phÝ
Qu¶n lý th«ng tin
Qu¶n lý nh©n lùc Qu¶n lý
rñi ro Qu¶n lý thu mua giao nhËn Qu¶n lý
Trang 30nhau mang tính chuyên môn hoá Do vậy, hệ thống sản xuất xây dựng là một
tổ hợp các đơn vị chuyên ngành khác nhau, bao gồm các công ty là nhà thầu chính, nhà thầu phụ, các tổ chức cung cấp nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị
và phương pháp quản lý Kết quả của các hoạt động sản xuất phối hợp này chính là thành phẩm xây dựng Tất cả các phần tử được xác định bởi các mối tương quan và luôn tương tác lẫn nhau, có đặc trưng điều phối, thoả thuận và hợp tác
Những mối quan hệ điều hành phản ánh các kế hoạch quản lý hành chính, các quy chuẩn, tiêu chuẩn hoá và tiến độ cung cấp tài chính,… những mối quan hệ cam kết được thiết lập sau khi ký kết các hợp đồng tư vấn thiết
kế, xây dựng và cung cấp các tài nguyên,… Những mối quan hệ hợp tác xảy
ra khi thực hiện phối hợp các công tác trên công trường, trong phạm vi tổ chức, công nghệ và môi trường cũng như xã hội
Nói tóm lại, nhiệm vụ của thu gọn của quản lý dự án là:
1 Nhiệm vụ tổ chức thực hiện:
Nhiệm vụ của quản lý dự án là phải tạo ra điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu thực hiện các nhiệm vụ trong hợp đồng của mình Cho dù sử dụng công nghệ này hay công nghệ khác, thì công tác tổ chức vẫn được vận dụng hết sức đa dạng cả về sự tập chung các nguồn lực, cũng như sự phối hợp đồng
bộ các hoạt động giữa các đơn vị xây lắp trên công trường Vấn đề chi phối mạnh mẽ tới hiệu quả của công tác tổ chức trong quá trình sản xuất xây dựng
là các hình thức tổ chức như: điều phối nhân lực, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu xây dựng theo đúng tiến độ
2 Nhiệm vụ quản lý kinh tế:
Là việc thực hiện thống nhất các quá trình kinh tế trong sản xuất và trong các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào dự án Trong lĩnh vực kinh tế xây dựng vấn đề có ý nghĩa quan trọng chính là sự phân loại chi phí, thu nhập hay sức hấp dẫn vật chất đối với người lao động,… Trong phạm
Trang 31vi này cần vận dụng các nguyên tắc kinh tế tác động tương hỗ giữa các phần
tử tham gia vào quá trình xây dựng và thúc đẩy họ hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất
Giữa hai nhiệm vụ nêu trên luôn tồn tại những mối liên hệ trao đổi và phụ thuộc, chúng phản ánh bản chất và nội dung của các hoạt động xây dựng
và ảnh hưởng tới việc xây dựng cấu trúc liên hệ giữa các thành phần của tổ chức Đầu mối liên hệ trong công tác tổ chức ở các phạm vi khác nhau chính
là quản lý xây dựng Hệ thống thông tin quản lý xây dựng có nhiệm vụ tìm kiếm, thu thập, xử lý, phân phối, lưu trữ và bảo mật thông tin, đáp ứng được các yêu cầu: nhanh chóng, chính xác, kịp thời và có độ tin cậy cao, đảm bảo thông tin xuyên suốt phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản lý
1.2.3 Các phương pháp quản lý dự án đầu tư xây dựng
Để quản lý dự án thành công và đạt hiệu quả cần thiết phải có phương pháp quản lý thích hợp Trong quản lý nói chung, quản lý dự án đầu tư xây dựng nói riêng, có 3 phương pháp quản lý chủ yếu sau đây:
1.2.3.1 Phương pháp hành chính
Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong quản lý kinh tế - xã hội của các quốc gia Đây là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động trực tiếp đến đối tượng bị quản lý bằng những văn bản, chỉ thị, những quy định, chế định, luật định Phương pháp này có ưu điểm góp phần giải quyết trực tiếp và nhanh chóng những vấn đề cụ thể Tuy nhiên nếu sử dụng quá mức và không kiểm soát tốt sẽ dẫn đến hệ lụy bộ máy hành chính cồng kềnh, quan liêu mệnh lệnh và độc đoán
Phương pháp hành chính trong quản lý được thể hiện ở hai mặt: Mặt tĩnh thể hiện ở những tác động có tính ổn định về mặt tổ chức thông qua việc thể chế hoá tổ chức (gồm cơ cấu tổ chức và chức năng quản lý) và tiêu chuẩn hoá tổ chức (định mức và tiêu chuẩn tổ chức) Mặt động của phương pháp là
sự tác động thông qua quá trình điều khiển tức thời khi xuất hiện và các vấn
đề cần giải quyết trong quá trình quản lý
Trang 321.2.3.2 Phương pháp sử dụng công cụ kinh tế
Phương pháp kinh tế là phương pháp sử dụng sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng các chính sách và đòn bẩy kinh tế như tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, giá cả, lợi nhuận, tín dụng, thuế, Không giống như phương pháp hành chính dựa vào mệnh lệnh là chính, phương pháp kinh tế thông qua các chính sách và đòn bẩy kinh tế để hướng dẫn, kích thích, động viên và điều chỉnh các hành vi của những đối tượng tham gia quá trình thực hiện dự án đầu tư theo mục tiêu nhất định của nền kinh tế xã hội Như vậy, phương pháp kinh tế trong quản lý đầu tư chủ yếu dựa vào nhu cầu lợi ích kinh tế của đối tượng bị quản lý với sự kết hợp hài hoà lợi ích của Nhà nước, xã hội với lợi ích của tập thể và cá nhân người tham gia
1.2.3.3 Phương pháp giáo dục
Nội dung của phương pháp giáo dục bao gồm giáo dục về thái độ lao động, ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, khuyến khích phát huy sáng kiến, thực hiện các biện pháp kích thích sự say mê hăng hái lao động, giáo dục về tâm lý tình cảm lao động, về giữ gìn uy tín Các vấn đề này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực đầu tư do những đặc điểm của hoạt động đầu tư
1.2.4 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng
Ở Việt Nam các chủ thể tham gia vào quản lý dự án đầu tư xây dựng gồm Nhà nước, chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng, nhà thầu tư vấn, và một số đối tượng khác như: sự giám sát của nhân dân, các nhà bảo hiểm để bảo hiểm cho người và công trình xây dựng, như vậy có thể khái quát về các chủ thể tham gia vào quản lý xây dựng gồm 2 nhóm là Nhà nước và các tổ chức xã hội
1.2.4.1 Quản lý nhà nước về xây dựng
Ở Việt Nam, quản lý nhà nước về xây dựng được quy định như sau: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về xây dựng trong phạm vi cả nước;
Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý
Trang 33nhà nước về xây dựng; Các Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Xây dựng để thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn theo phân cấp của Chính phủ
1 Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng
Quản lý nhà nước về xây dựng bao gồm các nội dung: Xây dựng và chỉ
đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển và các hoạt động xây dựng; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng; Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng; Quản lý chất lượng, lưu trữ hồ cơ công trình xây dựng; Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xây dựng; Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động xây dựng; Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong hoạt động xây dựng; Đào tạo nguồn lực cho hoạt động xây dựng; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạt động xây dựng
Tuỳ theo trình độ phát triển của nền kinh tế đất nước, trình độ dân trí, đặc điểm của địa phương, mà mỗi một tỉnh, thành phố có những cách quản lý
và mức độ quản lý khác nhau Tuy nhiên có một điểm chung là việc quản lý nhà nước về xây dựng đều tập trung vào hai nội dung chính như sau:
2 Nội dung quản lý thứ nhất: Quản lý con người
Con người ở đây là các cá nhân, các tổ chức tham gia hoạt động xây dựng, để quản lý được con người, người ta phân chia các công trình xây dựng thành các loại công trình khác nhau như xây dựng dân dụng, xây dựng công nghiệp trong công trình đó lại phân chia ra các loại công việc xây dựng như: khảo sát, thiết kế, thi công, tư vấn, và đề ra những điều kiện, những tiêu chuẩn cho cá nhân, các tổ chức, muốn làm công việc đó, công trình đó Chỉ
khi nào đạt được các yêu cầu ghi trong quy định thì các cá nhân, các tổ chức mới được cấp giấy phép (chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề, giấy
Trang 34chứng nhận đăng ký hành nghề, giấy chứng nhận năng lực chuyên môn chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ ) Và chỉ khi nào có đủ các giấy tờ theo yêu cầu thì các
cá nhân hoặc tổ chức hoạt động xây dựng được coi là hợp pháp Nhà nước quy định cho các cơ quan chức năng được phép cấp lại loại giấy này
3 Nội dung quản lý thứ hai: Quản lý sản phẩm trong hoạt động XD
Sản phẩm trong hoạt động xây dựng rất đa dạng vì vậy người ta chia quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng thành 3 giai đoạn để tiện cho việc quản lý Như vậy sẽ có hai loại giấy là công cụ để quản lý xây dựng:
- Đối với con người: Giấy phép hành nghề (Builder's Licences)
- Đối với công trình xây dựng: Giấy chứng nhận công trình được phép sử dụng (Occupency Permits)
4 Thanh tra xây dựng
Thanh tra xây dựng là thanh tra chuyên ngành về xây dựng có các nhiệm
vụ quyền hạn và trách nhiệm sau đây: Thanh tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng; Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về xây dựng Xác minh, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
về xây dựng
1.2.4.2 Quản lý xã hội về xây dựng
Quản lý xã hội về xây dựng được thực hiện thông qua các hợp đồng kinh
tế trong hoạt động xây dựng Các chủ thể này đều chịu trách nhiệm với nhau qua các quy định, các thoả thuận trong hợp đồng kinh tế và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
1 Chủ đầu tư xây dựng công trình
Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình Đa số các dự án chủ đầu tư đồng nhất với chủ sở hữu và chủ sở dụng như: trụ sở cơ quan,
Trang 35khách sạn, trường học Tuy nhiên cũng có nhiều dự án chủ đầu tư chỉ là người quản lý dự án, còn người sử dụng lại là người khác đó là các công trình công cộng do Nhà nước đầu tư Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, rất nhiều dự án xây dựng công trình, chủ đầu tư và chủ sử dụng là hai chủ thể khác nhau
2 Nhà thầu tư vấn thiết kế
Có thể là cá nhân hoặc tổ chức có giấy phép hành nghề và có đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, được phân thành 2 hạng theo loại công trình: Hạng 1 và hạng 2
3 Nhà thầu xây dựng
Nhà thầu xây dựng có 2 loại là nhà thầu chính (hoặc tổng thầu) và nhà thầu phụ Nhà thầu xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức thi công công trình trong phạm vi gói thầu đã trúng thầu (hoặc được chỉ định thầu) trên cơ sở hợp đồng xây dựng được ký kết giữa chủ đầu tư (hoặc tổng thầu) và nhà thầu xây dựng với những điều khoản quy định cụ thể phạm vi trách nhiệm của mỗi bên
Năng lực các nhà thầu xây dựng được phân thành 2 hạng theo loại công trình: Nhà thầy xây dựng hạng 1 và nhà thầu xây dựng hạng 2
4 Nhà thầu tư vấn quản lý dự án
Năng lực của nhà thầu tư vấn quản lý dự án cũng được chia thành 2 hạng: Tổ chức tư vấn quản lý dự án hạng 1 và tổ chức tư vấn quản lý dự án hạng 1
5 Tư vấn giám sát thi công xây dựng
Tư vấn giám sát là tư vấn cùng kết hợp với nhà thầu xây dựng kiểm soát được chất lượng thi công cũng như kiểm soát được khối lượng, tiến độ…
để có thể khống chế được nó với dung sai cho phép Đây là một sự đổi mới trong tư duy nhận thức, cũng là sự đổi mới trong cơ chế quản lý giám sát ở
Trang 36công trường Ngoài nhiệm vụ giám sát, tư vấn giám sát còn giúp chủ đầu tư phát hiện những sai sót hay sự chưa phù hợp của thiết kế để sửa chữa lại cho phù hợp và cùng với chủ đầu tư tham gia nghiệm thu công trình, đề xuất với chủ đầu tư tổ chức kiểm định lại chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng xây dựng Tư vấn giám sát phải bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các dịch vụ tư vấn do mình cung cấp và các hành vi khi gây ra thiệt hại
Năng lực của tổ chức tư vấn giám sát thi công xây dựng được phân thành 2 hạng theo loại công trình: Tư vấn giám sát thi công xây dựng hạng 1
và tư vấn giám sát thi công xây dựng hạng 2
6 Nhân dân
Pháp luật cho phép nhân dân được tham gia vào quá trình quản lý dự
án Đây là một chủ thể đặc biệt mang tính xã hội Nhân dân tham gia vì trách nhiệm công dân và quyền tự do, dân chủ của mình, không có hợp đồng và không có tiền Đây là một đặc điểm riêng của Việt Nam trong quản lý dự án
Nhân dân khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm chất lượng trong quá trình xây dựng, phải phản ánh kịp thời bằng văn bản với chủ đầu tư, Ủy ban nhân dân nơi đặt công trường xây dựng hoặc với cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền về xây dựng
1.2.5 Các hình thức quản lý dự án xây dựng
1.2.5.1 Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là hình thức chủ đầu tư sử dụng bộ máy của cơ quan, đơn vị mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án hoặc giao cho ban quản lý dự án do mình thành lập ra để tổ chức quản lý thực
hiện dự án Hình thức này có 2 mô hình:
Trang 371 Mô hình 1:
Chủ đầu tư không thành lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy hiện
có của mình để trực tiếp tổ chức quản lý dự án Chủ đầu tư sử dụng pháp nhân
của mình để trực tiếp quản lý thực hiện dự án Chủ đầu tư phải có quyết định
cử người tham gia quản lý dự án và phân công nhiệm vụ cụ thể, trong đó phải
có người trực tiếp phụ trách công việc quản lý dự án Những người được cử tham gia quản lý dự án làm việc theo chế độ kiêm nhiệm hoặc chuyên trách
2 Mô hình 2:
Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án để giúp mình trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án Ban quản lý dự án là đơn vị trực thuộc chủ đầu tư Quyền hạn, nhiệm vụ của Ban quản lý dự án do chủ đầu tư giao Ban quản lý
dự án có tư cách pháp nhân hoặc sử dụng pháp nhân của chủ đầu tư để tổ
chức quản lý thực hiện dự án Ban quản lý dự án hoạt động theo Quy chế do chủ đầu tư ban hành Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm toàn diện về những công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình kể cả những công việc đã giao cho Ban quản lý dự án thực hiện
1.2.5.2 Hình thức chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án
Hình thức này áp dụng khi chủ đầu tư không có năng lực quản lý dự án theo pháp luật mà phải ký hợp đồng thuê tổ chức tư vấn chuyên nghiệp làm công tác quản lý dự án
Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án là hình thức chủ đầu tư ký hợp đồng thuê một pháp nhân khác làm Tư vấn quản lý dự án Chủ đầu tư cử cán
bộ phụ trách, đồng thời giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc bộ máy của mình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư và quản lý việc thực hiện
hợp đồng ký với tư vấn quản lý dự án Tư vấn quản lý dự án phải có đủ năng
lực phù hợp với công việc đảm nhận và là một pháp nhân kinh tế có đủ năng lực ký kết hợp đồng Tư vấn quản lý dự án thực hiện các nội dung quản lý
Trang 38thực hiện dự án theo hợp đồng ký với chủ đầu tư Tư vấn quản lý dự án có trách nhiệm tổ chức bộ máy và cử người phụ trách để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý thực hiện dự án theo hợp đồng đã ký với chủ đầu tư Tư vấn
quản lý dự án được thuê thêm tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện một
số phần việc quản lý thực hiện dự án khi được chủ đầu tư chấp thuận
1.3 Yêu c ầu về năng lực quản lý dự án
1.3.1 Khái ni ệm về năng lực quản lý dự án
Năng lực quản lý dự án là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của các chủ thể tham gia vào quá trình quản lý dự án, phù hợp với các yêu cầu đặc trưng nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động quản lý dự án đạt kết quả cao nhất Năng lực quản lý dự án được hình thành trên cơ sở các nguồn lực của dự
án và từ các hoạt động và kinh nghiệm thực tế trong công tác quản lý Có hai
loại chính là năng lực quản lý chung và năng lực chuyên môn
Năng lực quản lý chung là năng lực cần thiết cho tổng thể các hoạt động khác nhau khi tiến hành một dự án, còn năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định từng dự án như năng lực tổ chức, năng
lực đội ngũ kỹ thuật
Năng lực quản lý chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn Muốn hoạt động có kết quả và hiệu quả cao phải có năng lực quản lý chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng
1.3.2 Các y ếu tố cấu thành năng lực quản lý dự án
Theo nhiều nghiên cứu của các tổ chức (như Viện quản lý dự án PMI, Viện FMIT…), thành phần của Năng lực quản lý dự án gồm nhóm quy trình
và các lĩnh vực, kiến thức bao trọn tất cả các mặt của công tác quản lý dự án
Nó đánh giá kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý dự án trên tất cả 5 nhóm quy trình (nhóm khởi tạo, nhóm lập kế hoạch, nhóm thực thi, nhóm
Trang 39kiểm tra giám sát và nhóm kết thúc dự án) và 10 lĩnh vực kiến thức (quản lý tích hợp dự án/ lập kế hoạch tổng quan, quản lý phạm vi dự án, quản lý thời gian dự án, quản lý chi phí dự án, quản lý chất lượng dự án, quản lý nhân sự
dự án, quản lý thông tin dự án, quản lý rủi ro dự án, quản lý mua sắm dự án, quản lý các bên liên quan)
Ngoài ra, việc đánh giá năng lực quản lý dự án còn dựa vào kết quả của các khảo sát thực hiện bởi các cá nhân, cấp quản lý của họ, các đồng nghiệp ngang cấp, các thành viên dự án hoặc khách hàng
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý dự án
Năng lực quản lý dự án được thể hiện trên một số chỉ tiêu sau:
Khả năng đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ được giao trong việc thực hiện các hoạt động quản lý các dự án của đơn vị Khả năng này được thể hiện ở:
- Có lực lượng cán bộ, nhân viên: Được trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năng về quản trị tiến độ, thời gian, chi phí và chất lượng, có thể thực hiện nhiệm
vụ giám sát quá trình thực hiện dự án một cách trọn vẹn và có chất lượng Số lượng cán bộ, nhân viên có đủ theo ngành nghề, cấp bậc theo quy định
- Có đủ điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, có khả năng tạo điều kiện tốt cho công tác quản lý dự án
- Bộ máy tổ chức quản lý: Trên cơ sở nguồn lực của hiện có của cơ quan cấp trên có thể thành lập mới hoặc duy trì bộ máy tổ chức đã có tùy theo tính chất và quy mô của các dự án Bộ máy tổ chức quản lý dự án sẽ phải phù
hợp với chức năng nhằm nâng cao năng lực hoạt động và đáp ứng được nhiệm vụ do cấp trên giao cho Bộ máy tổ chức quản lý được đánh giá là gọn
nhẹ, cồng kềnh, nhiều cấp…
- Kinh nghiệm: Số năm hoạt động về quản lý dự án càng nhiều, số dự
án càng lớn và nhiều thì càng có kinh nghiệm và càng tốt
- Mức độ ảnh hưởng: Đã xác định được vị trí và uy tín qua các hoạt động và dự án đã và đang triển khai
Trang 40- Nguồn nhân lực: Có trình độ tay nghề, kinh nghiệm, thâm niên, đạo đức và tinh thần tổ nhóm …
1.3.4 Các y ếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý dự án
Các cơ quan khi tham gia hoạt động quản lý dự án phải có đủ điều kiện năng lực và phù hợp với nhiệm vụ, chức năng của cơ quan Năng lực quản lý
dự án chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:
- Trình độ tư duy chiến lược để hình thành mục đích, mục tiêu, phương pháp luận về tiếp cận vấn đề và phương pháp thực hiện các chính sách, chủ trương, chiến lược và kế hoạch dài hạn
- Trình độ tư duy logic để phân tích, tổng hợp sự việc, sự vật và quá trình thực hiện
- Trình độ tổ chức thực hiện công việc:
+ Bộ máy tổ chức linh hoạt, không phức tạp
+ Lực lượng vừa đa dạng vừa chuyên sâu và huy động được nhanh chóng + Hiệu suất làm việc của các bộ phận, cá nhân
+ Kỹ năng điều tiết lực lượng và quá trình thực hiện công việc
1.3.5 Nh ững yêu cầu về năng lực trong công tác quản lý dự án
Sự thành công của dự án phần lớn được quyết định bởi năng lực quản
lý của đơn vị Vì thế năng lực QLDA của đơn vị phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định Có thể kể ra các yêu cầu đó như sau:
- Mục đích dự án phải được xác định rõ ràng và được tất cả mọi người tham gia dự án thấu hiểu và cam kết thực hiện Mục đích của dự án là nhân tố xuyên suốt các giai đoạn của dự án và chỉ ra đích cuối cùng phải đạt, sản
phẩm phải hoàn thành khi kết thúc dự án
- Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, nghiệp vụ vững phù hợp
để thực hiện nhiệm vụ QLDA Nhân lực là nguồn lực quan trọng, quyết định
sự thành công của dự án