Trong thời gian khảo sát thực địa, tôi xin cảm ơn các cán bộ Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Nam Định, Ủy Ban Nhân Dân xã Nam Thanh, người dân làng nghề Bình Yên đã ủng hộ, hợp tác tạo
Trang 1LỜI CAM ĐOAN Tên tôi là : Lê Thị Bích Vân
Đây là đề tài nghiên cứu mới, không trùng lặp với các đề tài luận văn nào trước đây, do đó không có sự sao chép của bất kì luận văn nào Nội dung của luận văn được thể hiện theo đúng quy định, các nguồn tài liệu, tư liệu nghiên cứu và sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn
Nếu xảy ra vấn đề gì với nôi dung luận văn này, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy định./
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Lê Thị Bích Vân
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài những cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô, bạn
bè, trong trường và các cá nhân, tập thể trên địa bàn nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giáo viên Ts.Vũ Đức Toàn đã trực tiếp hướng dẫn tôi xây dựng luận văn, luôn giảng giải, chỉ dẫn, góp ý sâu sát một cách tận tình
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy, các cô thuộc Khoa Môi Trường trường Đại học Thủy Lợi, các thầy cô là những người đã truyền thụ cho tôi những kiến thức, ý tưởng trong suốt quá trình tôi được học tập tại trường, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Trong thời gian khảo sát thực địa, tôi xin cảm ơn các cán bộ Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Nam Định, Ủy Ban Nhân Dân xã Nam Thanh, người dân làng nghề Bình Yên đã ủng hộ, hợp tác tạo điều kiện cho việc thu thập tài liệu cũng như lấy mẫu phân tích được diễn ra thuận lợi
Một lần nữa tôi cảm ơn tất cả những thầy cô, bạn bè, tập thể, ban ngành vì những giúp đỡ quý báu trong suốt thời gian qua, tôi sẽ luôn ghi nhớ
Vì những kinh nghiệm và kiến thức của bản thân còn hạn chế, luận được hoàn thành trong thời gian có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô cùng toàn thể các bạn đọc để luận văn tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn nữa
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Lê Thị Bích Vân
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC HÌNH 8
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG NGHỀ 4
1.1 Đánh giá chung về làng nghề tái chế Việt Nam 4
1.2 Hiện trạng sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề Việt Nam 8
1.3 Phương pháp đánh giá sức khoẻ cộng đồng 9
1.3.1 Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận tính toán gánh nặng bệnh tật 9
1.3.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận tính toán tổn thất kinh tế 12
1.3.3 Bộ công cụ phân tích xử lý số liệu [23] 15
1.4 Giới thiệu về làng nghề Bình Yên 21
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 21
1.4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 24
1.4.3 Hiện trạng phát triển các ngành nghề và các lĩnh vực 26
1.4.4 Định hướng phát triển kinh tế xã hội 27
1.4.5 Nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất và quy trình tái chế nhôm tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên 28
1.4.6 Các tác động đến môi trường kinh tế - xã hội tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên 35
1.5 Tình hình quản lý, bảo vệ môi trường và các vấn đề tồn tại của làng nghề Bình Yên 37
1.5.1 Sự bất cập từ bộ máy quản lý môi trường 37
Trang 41.5.2 Sự bất cập từ người dân 38
1.5.3 Những vấn đề còn tồn tại 38
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG, SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM BÌNH YÊN 41
2.1 Đánh giá chất lượng môi trường tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên 41
2.1.1 Chất lượng môi trường không khí 41
2.1.2 Chất lượng môi trường nước 48
2.1.3 Môi trường đất 61
2.1.4 Hiện trạng môi trường chất thải rắn 63
*/ Nhận xét: Dựa vào bảng 2.12 chúng ta thấy được, các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất đã gây ra tác động rất lớn đối với môi trường sinh thái và môi trường kinh tế xã hội tại làng nghề Bình Yên 69
2.2 Đánh giá tình hình sức khỏe cộng đồng tại làng nghề Bình Yên 70
2.2.1 Các yếu tố nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân làng nghề Bình Yên 70
2.2.2 Thực trạng sức khỏe cộng đồng trên toàn xã Nam thanh – Số liệu cung cấp từ trạm y tế xã Nam Thanh 74
2.2.3 Kết quả tính toán gánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế tại làng nghề Bình Yên 75
2.3 Kết luận chương 2 về chất lượng môi trường, sức khỏe cộng đồng tại làng nghề Bình Yên 79
2.3.1 Chất lượng môi trường 79
2.3.2 Tình hình sức khỏe cộng đồng tại làng nghề 80
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU 81
3.1 Các giải pháp quản lý trong công tác bảo vệ môi trường 81
3.1.1 Áp dụng Kí quỹ môi trường đối với các hộ tham gia sản xuất 81
3.1.2 Áp dụng chế tài người gây ô nhiễm phải trả tiền 81
Trang 53.1.3 Áp dụng công cụ pháp luật kết hợp sự tham gia cộng đồng 82
3.1.4 Các biện pháp khác 82
3.1.5 Quản lý an toàn vệ sinh lao động 83
3.2 Giải pháp kỹ thuật để giảm thiểu ô nhiễm 84
3.2.1 Các biện pháp cải thiện môi trường không khí 84
3.2.2 Các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước 86
3.2.3 Các biện pháp xử lý chất thải rắn 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BOD Oxy hoá sinh học
COD Oxy hoá hoá học
HIA Đánh giá tác động sức khoẻ
IF/AF Tỷ phần quy thuộc cho môi trường
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Uỷ ban nhân dân
WHO Tổ chức y tế thế giới
YLL Số năm sống mất đi vì chết non
YLD Số năm chung sống với bệnh tật
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Số liệu đầu vào tính toán gánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế được thu thập qua mẫu phiếu điều tra 300 hộ gia đình (1.673 người) tại
làng nghề Bình Yên 18
Bảng 1.2: Khối lượng nguyên liệu sản xuất bình quân hàng tháng.[2] 29
Bảng 1.3: Khối lượng hóa chất sử dụng bình quân hàng tháng[2] 31
Bảng 2.1: Vị trí lấy mẫu môi trường không khí tại làng nghề Bình Yên 45
Bảng 2.2: Kết quả phân tích mẫu khí môi trường xung quanh 46
Bảng 2.3: Vị trí lấy mẫu nước thải tại làng nghề Bình Yên 50
Bảng 2.4: Kết quả phân tích mẫu nước thải 51
Bảng 2.5: Vị trí lấy mẫu nước mặt tại làng nghề Bình Yên 54
Bảng 2.6 Kết quả phân tích mẫu nước mặt 55
Bảng 2.7: Vị trí lấy mẫu nước ngầm tại làng nghề Bình Yên 57
Bảng 2.8: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm 59
Bảng 2.9: Vị trí lấy mẫu đất tại làng nghề Bình Yên 61
Bảng 2.10: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm 62
Bảng 2.11 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt hàng ngày của các hộ gia đình (điều tra 300 HGĐ) 64
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ tính toán gánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế theo WHO 14
Hình 1.2 Mô hình cơ bản của bệnh sử dụng trong DISMOD2 [18] 17
Hình 1.3: Bản đồ vị trí địa lý làng nghề Bình Yên 22
Hình 1.4: Tỷ lệ các hộ gia đình tham gia sản xuất công nghiệp 27
Hình 1.5: Cơ cấu định hướng phát triển của xã Nam Thanh 2010 - 2015 28
Hình 1.6: Đồ nhôm phế liệu làm nguyên liệu tái chế 29
Hình 1.7: Nhiên liệu sản xuất chủ yếu than đá 30
Hình 1.8: Quy trình cô lon, cô nhôm, cô bã 31
Hình 1.9: Cô lon, cô nhôm, cô bã 32
Hình 1.10: Những thỏi nhôm nguyên liệu thu được sau tái chế được 33
Hình 1.11: Quy trình sản xuất đồ nhôm gia dụng 33
Hình 1.12: Nhúng rửa, gia công, hoàn thiện sản phẩm 34
Hình 1.13: Sản phẩm từ nhôm tái chế 35
Hình 1.14: Đường làng, sân chơi đều là nơi xả thải 37
Hình 1.15: Máy móc và dụng cụ lao động bảo hộ thô sơ 38
Hình 2.1: Sơ đồ nguồn gây ô nhiễm không khí tại làng nghề Bình Yên [2] 43
Hình 2.2: Khí thải tại làng nghề 44
Hình 2.3: Các cống nước thải trong làng nghề 50
Hình 2.4: Môi trường nước mặt ô nhiễm nặng 56
Hình 2.5: Chất thải rắn xả bừa bãi không được thu gom 64
Hình 2.6: Chất thải rắn sản xuất chủ yếu là xỉ than, xỉ nhôm 66
Hình 2.7 : Mô hình bệnh tật của xã Nam Thanh từ năm 2003 – 2012 (%) 75
Hình 2.8: Gánh nặng bệnh tật EBD/1000 người trong các nhóm tuổi phân theo bệnh do yếu tố ô nhiễm không khí 76
Hình 2.9: Tổn thất kinh tế do yếu tố ô nhiễm không khí theo các bệnh (đồng) 77
Trang 9Hình 2.10: Tổn thất kinh tế do ô nhiễm không khí theo nhóm tuổi (đồng) 77
Hình 2.11: Gánh nặng bệnh tật EBD/1000 người trong các nhóm tuổi 78
Hình 2.12: Tổn thất kinh tế do nước và vệ sinh môi trường theo các bệnh 79
Hình 2.13: Tổn thất kinh tế do nước và vệ sinh môi trường theo nhóm tuổi 79 Hình 3.2: Sơ đồ dây chuyền xử lý nước thải cho làng nghề 87
Hình 3.3: Sơ đồ bể khử Crom 88
Hình 3.4: Sơ đồ bể kết tủa 89
Hình 3.5: Sơ đồ bể lắng đứng 89
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam hiện có hơn 1.500 làng nghề sản xuất các loại sản phẩm khác nhau, sử dụng tới 30% lực lượng lao động nông thôn Các làng nghề tập trung chủ yếu ở vùng đông dân cư, đồng bằng, gần đô thị và dọc các sông Phần lớn các làng nghề đều có qui mô sản xuất nhỏ áp dụng công nghệ sản xuất lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên, nhiên liệu, hiệu suất sử dụng chỉ đạt 60-90% và thường gây các nguồn ô nhiễm lớn tác hại tới sức khỏe cộng đồng Tại các làng nghề, tỷ lệ dân mắc bệnh thông thường và hiểm nghèo do ô nhiễm môi trường cao gấp 2-3 lần các làng, xã thuần nông [3] Hầu hết môi trường sản xuất trong các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn, người lao động tiếp xúc trực tiếp với môi trường không an toàn như: 95% người lao động tiếp xúc với bụi, 85,9 % tiếp xúc với nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hóa chất [1] Sự ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ đời sống của con người Do môi trường không khí, nước ngầm và nước mặt, đất đều bị ô nhiễm nên số người dân tại các làng nghề
bị mắc các bệnh đường hô hấp, đau mắt, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa
là rất cao Ngoài ra còn có một số bệnh mang tính nghề nghiệp như bệnh bụi phổi, ung thư, thần kinh, đau lưng, đau cột sống [10]
Trên cả nước, Nam Định là một trong những tỉnh có hoạt động sản xuất làng nghề khá phát triển và góp phần giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập cho người lao động cũng như sản xuất nhiều mặt hàng tiêu dùng cần thiết cho xã hội Theo số liệu thống kê, Nam Định là tỉnh có 85% dân số ở nông thôn, có gần 90 làng nghề lớn nhỏ cơ cấu theo 7 nhóm: Dệt, tơ tằm; Mây tre đan; Đồ mỹ nghệ sơn mài; Chế biến thực phẩm; Làm muối; Cơ khí nhúng mạ và nhóm các nghề khác [12]
Trang 112
Làng nghề Bình Yên thuộc xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định với hoạt động chủ yếu là sản xuất các sản phẩm nhôm từ nhôm phế liệu Qua điều tra khảo sát tình hình hoạt động sản xuất cho thấy làng nghề Bình Yên ngày càng được mở rộng cả quy mô sản xuất và chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ đặc biệt là 5 năm trở lại đây Thực tế cho thấy làng nghề Bình Yên đang được đẩy mạnh sản xuất, tổng số hộ trong làng là
600 hộ và số hộ tham gia sản xuất làng nghề là 300 hộ, chiếm 50% số hộ trong làng [2]
Xuất phát từ hiện trạng phát triển làng nghề tái chế nhôm Bình Yên và cũng như tình hình sức khỏe, bệnh tật của cộng đồng đang sinh sống và
làm việc trong môi trường không an toàn, qua luận văn “Đánh giá ô nhiễm môi trường, sức khoẻ cộng đồng tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên – Nam Thanh – Nam Trực – Nam Định và đề xuất các biện pháp giảm thiểu ” tác giả có thể đánh giá được hiện trạng môi trường, sức khỏe
cộng đồng của làng nghề cũng như đề xuất các biện pháp giúp giảm thiểu
và cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề Bình Yên
2 Mục đích của đề tài:
- Đánh giá về hiện trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề Bình Yên
- Đánh giá về tình hình sức khỏe của người dân tại làng nghề Bình Yên
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: làng nghề tái chế nhôm Bình Yên
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
1) Phương pháp điều tra
Thu thập các dữ liệu về hiện trạng môi trường làng nghề Bình Yên,
xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
Trang 12Dự án, các chương trình đã được triển khai trên địa bàn tỉnh Nam Định
Điều tra xã hội học bằng bộ công cụ mẫu phiếu câu hỏi phỏng vấn
2) Phương pháp lấy mẫu, phân tích mẫu: Nhằm đánh giá được mức
độ ô nhiễm các thông số trong các thành phần môi trường tại làng nghề
Trên cơ sở đó, đưa ra kiến nghị và đề xuất, các biện pháp khắc phục
3) Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong quá trình làm đề tài
4) Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Dùng các phần mềm tính
toán, xử lý các số liệu thu thập tại khu vực điều tra
5) Phương pháp ma trận môi trường
6) Phương pháp Đánh giá tác động sức khỏe (Health impact
assessment - HIA): HIA là một qui trình nhằm tiên lượng các ảnh hưởng về
chính sách trên sức khỏe, phúc lợi (wellbeing) và trên những bất công bằng
về sức khỏe HIA được áp dụng trong chính sách và rất có hiệu quả khi triển khai ứng dụng sớm trong quá trình phát triển xây dựng chính sách
Trang 134
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ VÀ ĐÁNH
GIÁ SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG NGHỀ
1.1 Đánh giá chung về làng nghề tái chế Việt Nam
Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề Việt Nam trong những năm gần đây có ý nghĩa tích cực về kinh tế- xã hội, đặc biệt trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hiện nay, trên toàn quốc có khoảng gần 1.500 làng nghề đang hoạt động với trên 100 nghề khác nhau, trong đó có khoảng trên 300 làng nghề truyền thống Dựa vào sản phẩm và phương thức sản xuất, có thể chia ra làm 5 loại nghề như sau: Làng nghề sản xuất thủ công, làng nghề sản xuất công nghiệp, làng nghề chế biến lương thực- thực phẩm, làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu, làng nghề buôn bán – dịch vụ [1] Quy mô của các cơ sở sản xuất ở các làng nghề rất linh động, từ hộ gia đình đến các tổ hợp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển từ một vài gia đình, một làng nghề đến một vài xã, trong mỗi tỉnh có thể có rất nhiều loại làng nghề
Số lượng thiết bị, công suất và mức sử dụng nguyên, nhiên liệu vật liệu ở nhiều làng nghề tương đương với các khu công nghiệp lớn Ví dụ: các làng nghề sản xuất sắt thép xây dựng ở xã Châu Khê (Bắc Ninh) với khoảng 3000- 4000 nhân công, có sản lượng là 210.000 tấn/năm, gấp hơn 2 lần sản lượng Nhà máy Gang thép Thái Nguyên (sản lượng 100.000 tấn với 13.000 cán bộ, công nhân); Riêng khu vực Đồng bằng Bắc Bộ có khoảng gần 20 làng nghề sử dụng vật liệu kim loại như vậy, nằm ở các tỉnh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định… với hàng ngàn lò nấu thép trung tần, lò rèn; các làng sản xuất giấy ở Dương ổ, Châu Khê, Hạ Giang… (Bắc Ninh) có trên 100 xưởng sản xuất giấy các loại, tổng công suất gần 60.000 tấn/năm; một số làng tái chế nhựa ở Hưng Yên có công suất hàng ngàn tấn sản phẩm/năm; các khu vực sản xuất vật liệu xây dựng gốm, sứ…[1]
Trang 145
Hiện nay, tốc độ cải tiến công nghệ ở các làng nghề còn chậm, cầm chừng và không đồng bộ, vì mức độ đầu tư cho cải tiến công nghệ phụ thuộc vào khả năng của từng tổ hợp hoặc hộ gia đình, vào sự cân đối giữa mức đầu tư với giá trị sản phẩm trên thị trường, vào trình độ hoạt động kinh tế của người đầu tư sản xuất… các thiết bị bán tự động hoặc tự động được sử dụng trong dây chuyền sản xuất phần lớn đã cũ, không đồng bộ và nhiều thiết bị không còn đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật Nhiều nơi, khoa học kỹ thuật và công nghệ mới được thâm nhập vào làng nghề một cách tự phát, do các chủ sản xuất tự tìm hiểu và ứng dụng, thậm chí bằng cách truyền miệng mà không được tư vấn, hướng dẫn của các nhà chuyên môn, nên đã gây ra nhiều sự cố về chất lượng sản phẩm và môi trường
Cùng với sự phát triển về quy mô, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là mối lo ngại cho toàn xã hội Hiện nay, hướng giải quyết những vấn đề môi trường trong các làng nghề đang gặp nhiều vướng mắc lớn Các biện pháp tăng cường quản lý, kiểm soát chỉ đạt hiệu quả ở mức
độ rất thấp, do các cơ sở sản xuất chỉ dùng các biện pháp tiêu cực (như nộp tiền phạt hoặc tạm thời ngừng phát thải vào thời điểm kiểm tra…) để đối phó với công luận và sự kiểm soát của các cơ quan quản lý Ngay cả ở những làng nghề đã được cấp đất để di chuyển khu vực sản xuất ra khỏi khu vực dân cư (như làng gốm Bát Tràng, sắt Đa Hội…) thì hiệu quả về môi trường cũng chưa cao, vì nhiều cơ sở sản xuất có nhu cầu di chuyển đến khu mới quy hoạch vì muốn mở thêm diện tích sản xuất Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng mức độ ô nhiễm Các công nghệ và thiết bị bảo
vệ môi trường chưa có trong các dây chuyền sản xuất Một vài nơi thử áp dụng một số biện pháp xử lý chất thải, nhưng hiệu quả chưa cao, do điều kiện cơ sở hạ tầng của các làng nghề quá thấp kém và chi phí xử lý quá cao Điều quan trọng hơn nữa là hầu hết các chủ sản xuất chưa sẵn sàng tự
Trang 15ở mới, cũ và nhà xưởng chen nhau tạo nên một quang cảnh hỗn loạn và ô nhiễm; nhiều diện tích mặt nước, sông, kênh mương, đất canh tác, đất dự phòng… đang bị các loại chất thải lấn dần và làm ô nhiễm…
Tình trạng phát thải bừa bãi với khối lượng lớn và thường xuyên đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng
Ở nhiều làng nghề, các nhà ở phải thường xuyên đóng cửa để giảm tác động của bụi, tiếng ồn, hơi hoá chất và các khí độc (làng sắt thép, đồ
gỗ, sơn, giấy, nhựa…); các công trình công cộng như trường học, trạm xá, nhà trẻ… đều nằm trong khu vực ô nhiễm nặng…
Người lao động làm việc trong các điều kiện không an toàn, nhà xưởng, hệ thống điện nước tạm bợ, các điều kiện chiếu sáng và thông gió kém, mặt bằng sản xuất chật chội, thời gian lao động quá dài (10- 12h/ngày) trong môi trường độc hại, điều kiện lao động nặng nhọc và hầu
Những điều kiện trên dẫn đến tình trạng gia tăng các tai nạn lao động, các bệnh nghề nghiệp như không có các dụng cụ bảo hộ lao động…(bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da và một số bệnh hiểm nghèo khác) Ví dụ ở khu vực sản xuất sắt thép xã Châu Khê (Bắc Ninh) có trên 60% dân số trong xã (kể cả những người không tham gia sản xuất) mắc các bệnh liên quan đến sản xuất làng nghề Trong 10 năm gần đây, tuổi thọ trung bình trong làng nghề thấp hơn hẳn các khu vực dân cư không có làng nghề [3]
Trang 167
Những tác động tiêu cực tới môi trường kinh tế- xã hội cũng đang trở thành những vấn đề bức xúc ở các khu vực này Đó là sự gia tăng dân số
cơ học; thay đổi cơ cấu lao động… kéo theo sự gia tăng các nhu cầu dịch
vụ xã hội như y tế, giáo dục… nảy sinh các vấn đề lớn trong việc sử dụng lao động, những biến động đột biến về thị trường nguyên liệu, hàng hoá và các vấn đề liên quan đến trật tự trị an khu vực, gây khó khăn trong quản lý
xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường của các địa phương
Nhiều làng nghề thu hút lao động từ các vùng lân cận và các tỉnh khác lên tới con số hàng ngàn người và con số này luôn biến động theo thời vụ
và thị trường sản phẩm, khiến cho các cơ quan quản lý địa phương luôn ở trong tình trạng quá tải
Sự phát triển của các làng nghề hầu hết mang tính tự phát và hoàn toàn chịu sự chi phối bởi các yếu tố thị trường, nguồn nguyên, vật liệu Thêm vào đó, những hạn chế về trình độ quản lý, trình độ lao động, dân trí, khả năng đầu tư, điều kiện cạnh tranh trên thị trường… đã làm tăng mức
độ rủi ro trong sản xuất, kinh doanh, lãng phí vật tư, nguyên liệu, tài nguyên khoáng sản và ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi, nhiều lúc, tác động tới môi trường đã đến mức báo động, thậm chí gây nguy hại đến người, gia súc, suy giảm hệ sinh thái khu vực như các vụ nổ lò nấu kim loại, nhiễm độc kim loại nặng, khí và hoá chất độc, tình trạng ô nhiễm hoàn toàn các nguồn nước trong khu vực… do thiếu trách nhiệm và kiến thức nghề nghiệp… Bên cạnh đó, những hạn chế trong cơ chế quản lý, ý thức và trách nhiệm của cộng đồng cũng là một trong những nguyên nhân chính cản trở việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường cũng như việc bảo đảm quyền lợi, sức khoẻ và tính mạng người lao động
Rõ ràng, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là yêu cầu cấp bách hiện nay và rất cần có những biện pháp quản lý và xử lý thích hợp
Trang 178
1.2 Hiện trạng sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề Việt Nam
1.2 1 Lao động và các vấn đề về bệnh nghề nghiệp liên quan đến làng nghề
Từ lâu, vấn đề về an toàn lao động trong các làng nghề được nhắc đến nhiều, song tình trạng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn không giảm đáng kể Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều chủ cơ sở sản xuất không quan tâm đến việc trang bị phương tiện bảo hộ cho người lao động Thậm chí, chính bản thân người lao động còn thờ ơ với việc tự bảo vệ mình
Một số liệu thống kê của các tổ chức chuyên ngành cho biết, hơn 90% người lao động nông nghiệp và làng nghề tiếp xúc các yếu tố nhiệt, bụi là 65,89%, tiếng ồn: 48,8%, hóa chất: 59,5% Đối với tai nạn lao động và bệnh tật thì những nguy cơ gây bỏng, đứt tay chân, điện giật, bệnh hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa luôn chiếm tỷ lệ cao Cụ thể, hơn 50%
số người lao động tại các làng nghề bị nhiễm bệnh liên quan đến hô hấp [3]
Tình trạng bệnh nghề nghiệp, số vụ tai nạn lao động ngày càng có xu hướng gia tăng tại các làng nghề, một phần do chủ các cơ sở không đầu tư máy móc, thiết bị có độ an toàn cao Theo đánh giá của ngành chức năng, máy móc sử dụng trong sản xuất tại các làng nghề phần lớn không đảm bảo
an toàn Phần lớn máy móc không có tài liệu kỹ thuật để hướng dẫn, vận hành an toàn thiết bị Ngoài ra, còn có các máy tự chế, tự lắp ráp từ các bộ phận cũ, chắp vá, nhiều chi tiết hỏng không được thay thế, sửa chữa Do vậy, nguy cơ gây ra các vụ tai nạn lao động là rất lớn Hoặc thậm chí, có người được trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động nhưng vẫn chủ quan không sử dụng dẫn đến những tai nạn đáng tiếc
Đây là thực trạng chung trong việc sử dụng lao động tại hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở các làng nghề Môi trường sản xuất hiện nay rất thiếu an toàn, bản thân người sử dụng lao động chưa ý thức trong
Trang 189
việc cần phải thực hiện trách nhiệm của mình, dẫn đến những tai nạn lao động đáng tiếc Đáng tiếc hơn, những người chịu tổn thất hầu hết đều là người nghèo, người thu nhập thấp
Theo các chuyên gia ngành y tế, việc bảo đảm sức khỏe cho người lao động tại các làng nghề cần phải có sự kiểm tra, theo dõi chặt chẽ hơn Với lao động tại các làng nghề truyền thống, nhất là các làng nghề có nguy cơ ô nhiễm cao, việc khám sức khỏe cho người lao động phải được tiến hành định kỳ hàng năm Đồng thời, người lao động cần tuân thủ các quy định về
an toàn lao động, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm để tự bảo
vệ sức khỏe của mình
1.2 2 Các nhóm bệnh tật đặc trưng tại các làng nghề
Theo một khảo sát mới đây của Bộ LĐ- TB&XH, qua những lượt người đến khám- chữa bệnh tại các làng nghề thì có khoảng 31% số NLĐ tại các làng nghề bị mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp, trong đó chủ yếu
là các bệnh về đường hô hấp (32,6%), bệnh về mắt (29,7%), bệnh điếc tiếng ồn (11,3%), bệnh tim mạch (18%) [3]
1.3 Phương pháp đánh giá sức khoẻ cộng đồng
1.3.1 Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận tính toán gánh nặng bệnh tật
Để đo lường gánh nặng bệnh tật của một cộng đồng, ta sử dụng phép
đo lường do Tổ chức Y tế thế giới và Ngân hàng Thế giới lại đề xuất bao
gồm tính “số năm sống mất đi vì chết non “(YLL) và “số năm chung sống với bệnh tật “(YLD) hay tạm dịch là số năm sống mất đi vì mang bệnh hoặc bị chấn thương, và thường dùng nhất là phép tính DALY (số năm sống điều chỉnh theo mức độ tàn tật) là phép cộng của YLL và YLD.[21]
a Các phép đo lường gánh nặng bệnh tật qua tính DALY, YLL
và YLD [21]
- Tính số năm sống mất đi vì chết non (YLL)
Trang 1910
Số năm sống mất đi vì chết non tính bằng hiệu số giữa kỳ vọng sống khi sinh và tuổi lúc chết Trong tính toán, kì vọng sống được lấy theo tuổi thọ trung bình cao nhất của người Việt Nam, nữ giới là 81 và nam giới là
71 tuổi Khi tính số năm mất đi vì chết non cho một cộng đồng, người ta dựa vào kỳ vọng sống khi sinh trung bình cho từng nhóm tuổi và theo hai giới (trong nghiên cứu này chia theo 8 nhóm tuổi: 0-4, 5-14, 15-29, 30-44, 45-59, 60-69, 70-79, 80+) và áp dụng công thức sau:
- Tính số năm sống mất đi vì mang bệnh hoặc thương tích (YLD)
Khi tính số năm sống mất đi vì mang bệnh hoặc thương tích của một cộng đồng người ta sử dụng công thức sau:
YLD = I x DW x L
Trong đó:
I là số trường hợp mới mắc trong một khoảng thời gian quy định;
DW là mức độ nặng nhẹ của bệnh, khi bệnh càng nặng hệ số này càng lớn và ngược lại, DW có giới hạn từ 0 - 1 (0 là hoàn toàn khoẻ, 1 coi như là chết);
L là thời gian mang bệnh trung bình
Hệ số DW được xác định bằng hai phương pháp; (1) dựa vào bảng tra sẵn và (2) dựa vào các định nghĩa về mức độ mất khả năng Phép tính toán
Trang 2011
này sử dụng DW dựa vào bảng tra sẵn của Tổ chức Y tế thế giới đưa ra (Phụ lục)
- Phép tính DALY và một số yếu tố bổ sung
Việc tính DALY còn khá nhiều khâu tính toán trung gian, đôi khi các tác giả khác nhau tính DALY một cách khác nhau Vì vậy, phép tính DALY được sử dụng trong nghiên cứu này theo công thức sau:
DALY = YLL + YLD
b Mô hình tính toán gánh nặng bệnh tật (EBD) [20]
Trong khuôn khổ luận văn tính EBD theo 02 nhóm yếu tố đó là: + EBD theo các nhóm bệnh liên quan đến yếu tố ô nhiễm không khí + EBD theo các bệnh liên quan đến yếu tố nước sạch và vệ sinh môi trường
- Gánh nặng bệnh tật là chỉ số DALY theo các nhóm tuổi và giới
- Tỷ phần tác động hoặc tỷ phần quy thuộc: IF (Impact Fraction-tỷ phần tác động) hoặc AF (Attribute Fraction-tỷ phần quy thuộc) là tỷ lệ giảm đi các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong do việc giảm yếu tố nguy cơ môi trường Nói cách khác nó là tỷ lệ của vấn đề sức khỏe hoặc tử vong trong cộng đồng do yếu tố nguy cơ môi trường đó gây ra [18]
Trong nghiên cứu trên, luận văn sử dụng các tính toán về tỷ phần tác động/tỷ phần quy thuộc sẵn có đã được tính toán bởi Tổ chức Y tế thế giới
Trang 21
12
năm 2004 cho các nước đang phát triển, các nước tại khu vực Đông Nam Á
áp dụng vào tính toán gánh nặng bệnh tật do môi trường theo 02 yếu tố là:
yếu tố ô nhiễm không khí và yếu tố nước sạch vệ sinh môi trường (phụ lục 1)
1.3 2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận tính toán tổn thất kinh tế
- Tỉ lệ người mắc bệnh theo 4 nhóm tuổi
- Chỉ số về môi trường như: yếu tố nguy cơ quy thuộc IF/AF (tỉ lệ mắc bệnh do yếu tố môi trường)
* Mô hình tính tổn thất: tổn thất kinh tế do yếu tố rủi ro từ môi
trường sẽ được tính dựa trên các bệnh liên quan và theo từng nhóm tuổi theo mô hình sau 3 nhóm tuổi chính được đưa vào mô hình tính là:
Nhóm 1: ngoài độ tuổi lao động (từ 0 - 4 và trên 60: 60 – 69, 70 – 79, 80+)
Trang 2213
Trong đó:
DALYsi: gánh nặng bệnh tật tính theo bệnh i
DS: dân số
GDP theo đầu người
* Tổn thất kinh tế trong thời gian mắc các bệnh i trong nhóm tuổi (tính trên 1000 dân):
Trang 2314
Hình 1.1 : Sơ đồ tính toán gánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế theo WHO
Trang 2415
1.3.3 Bộ công cụ phân tích xử lý số liệu [23]
1.3.3.1 Xây dựng bộ công cụ phỏng vấn, điều tra thu thập phông tin
Bộ công cụ phỏng vấn điều tra được xây dựng dựa trên các nhà nghiên cứu về sức khỏe cộng đồng, dịch tế học, khoa học môi trường, kỹ thuật môi trường, công nghệ sinh học, đã lập ra bộ phiếu điều tra trực tiếp các hộ dân sống xung quanh khu vực ô nhiễm, đánh giá về tình hình sức khỏe người lao động làm việc, người dân sống xung quanh khu vực ô nhiễm và chịu ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro từ ô nhiễm môi trường
- Cấu trúc: bộ câu hỏi hỏng vấn được chi làm 03 nhóm vấn đề chính:
1 Nhóm thông tin chung: các thành viên trong hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về bệnh tật: các loại bệnh do yếu tố nguy cơ mắc từ môi trường, tỷ lệ tử vong, thời gian mắc, chi phí khám chữa bệnh, thời gian nghỉ lao động
3 Nhóm thông tin về môi trường tại khu vực làng nghề
- Lựa chọn cỡ mẫu điều tra phỏng vấn:
Giả thiết tỷ lệ mắc bệnh trong dân cư tại địa điểm nghiên cứu là p = 0,5 để có
cơ mẫu nghiên cứu lớn nhất) số lượng cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức sau:
Trong đó:
- p: Tỷ lệ mắc bệnh liên quan với môi trường làng nghề
- e : là sai số ước lượng = 0,05
- Z21-α/2 hệ số giới hạn tin cậy lấy ở mức 95% = 1,96
- n : Cỡ mẫu tối thiểu chọn theo phương pháp ngẫu nhiên (n = 196 mẫu)
- Cách chọn mẫu điều tra phỏng vấn : Đối tượng ngiên cứu được chọn
ngẫu nhiên và được bắt đầu từ các hộ gia đình ở đầu làng, hướng đến các hộ
Trang 2516
gia đình về phía trong của làng nghề cho đến đủ số lượng mẫu về số hộ gia đình và số người trong hộ cần thiết phỏng vấn Trong trường hợp hộ gia đình
đi vắng thì sẽ được thay thế bởi hộ gia đình kế bên cạnh
1.3.3.2 Giới thiệu về các phần mềm phân tích và xử lý số liệu
- EpiData có thể chạy trên các máy tính cài đặt hệ điều hành Microsoft Windows hoặc Macintosh
- Epidata có thể xuất số liệu sang nhiều dạng khác nhau để sử dụng cho phân tích số liệu bằng các phần mềm như Stata, Spss, v.v
b Stata:
Stata là một chương trình thống kê với khả năng quản lý và phân tích dữ liệu, vẽ đồ thị được phát triển từ năm 1985 bởi StataCorp Tên gọi “Stata” là kết hợp của các từ “statistics” và “data” Nó được sử dụng bởi nhiều doanh nghiệp và tổ chức học thuật trên thế giới Hầu hết những người sử dụng làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội học, khoa học chính trị, và dịch tễ học Phần mềm được viết bằng C, có thể chạy trên Windows, Mac OS X, Unix, Linux
Stata cho phép:
* Quản lí dữ liệu
* Phân tích thống kê
Trang 26Hình 1.2 Mô hình cơ bản của bệnh sử dụng trong DISMOD2 [18]
1.3.3.3 Các số liệu thu thập, thống kê tính toán ghánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế của làng nghề Bình Yên
Các số liệu về bệnh tật sử dụng trong báo cáo được tiến hành thu thập trực tiếp qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bộ công cụ phiếu phỏng vấn Các thông tin từ bộ công cụ phiếu phỏng vấn được nhập vào phần mềm Epidata để xử lý ban đầu sau đó xuất số liệu sang phần mềm Stata để bắt đầu quy tình tính toán ghánh nặng bệnh tật, tổn thất kinh tế liên quan đến 02 yếu tố là yếu tố ô nhiếm không khí và yếu tố nước sạch vệ sinh môi trường
Mô hình tính toán được thể hiện trong bảng 1.2 dưới đây:
Trang 2718
Bảng 1.1: Số liệu đầu vào tính toán gánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế được thu thập qua mẫu phiếu điều tra
300 hộ gia đình (1.673 người) tại làng nghề Bình Yên
Thông tin chung
1 Tổng dân số điều tra tại làng Bình
4 Số người mắc 1 bệnh trở lên tại làng
tính Dismod II Tính YLD
5 Số người tử vong tại làng Bình Yên 64 người Số liệu đầu vào
tính Dismod II Tính YLL
Trang 2819
6 Tổng chi phí khám chữa bệnh của
làng nghề Bình Yên 825.090.000 đồng
Số liệu đầu vào tính TTKT
7 Số ngày nghỉ học, nghỉ làm, nghỉ để
chăm sóc người bệnh
Nghỉ làm và nghỉ học:
3148 ngày Nghỉ chăm sóc bệnh nhân: 3506 ngày
Số liệu đầu vào tính TTKT
Thông tin riêng cho từng bệnh tại
làng nghề Bình Yên
8 Độ tuổi mắc bệnh trung bình theo
từng nhóm tuổi tại làng nghề
Kết quả tính toán từ bảng tính Dimod II
9 Số năm mắc bệnh trung bình theo
từng nhóm tuổi tại làng nghề
Kết quả tính toán từ bảng tính Dimod II
10 Chỉ số quy thuộc do môi trường tính
cho từng bệnh
Lấy từ WHO tính cho các bệnh ở Việt Nam
Trang 2920
Phiếu điều tra > nhập vào phần mềm Epidata > chuyển sang định dạng đuôi của Stata để rút số liệu;
+ Số thành viên trong gia đình, nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi
+ Các bệnh liên quan đến từng thành viên trong gia đình
+ Số người mới mắc bệnh, số người tử vong do mắc bệnh trên
+ Chi phí khám chữa bệnh
+ Số ngày nghỉ học, nghỉ làm, nghỉ để chăm sóc người bị mắc bệnh trên
Dismod II sử dụng các số liệu sau:
+ Số người mới mắc bệnh, số người hiện đang mắc bệnh
+ Số người tử vong do mắc bệnh
Kết quả tính toán Dismod II:
+ Độ tuổi mắc bệnh trung bình theo từng nhóm tuổi
+ Số năm mắc bệnh trung bình theo từng nhóm tuổi
Bảng tính DALY = YLL + YLD
Đầu vào tính toán YLL như sau:
+ Số người tử vong do mắc bệnh
+ Trọng số bệnh tật tính theo WHO của từng bệnh
Đầu vào tính toán YLD:
+ Số người mắc bệnh tại khu vực nghiên cứu
+ Độ tuổi mắc bệnh trung bình theo từng nhóm tuổi từ Dismod II
+ Số năm mắc bệnh trung bình theo từng nhóm tuổi từ Dismod II
Tính toán EBD = DALY*AF (AF là tỷ phần quy thuộc do môi trường được WHO tính cho Việt Nam đối với các nước đang phát triển)
Tính TTKT: Từ Stata rút ra được tổng chi phí khám chữa bệnh, số ngày nghỉ làm, nghỉ học, nghỉ để chăm sóc người bênh, chi phí gánh nặng bệnh tật
ta tính được tổn thất kinh tế cho từng nhóm tuổi theo bảng tính
(Bảng kết quả tính toán chi tiết được thể hiện trong phần phụ lục 3)
Trang 3021
1.4 Giới thiệu về làng nghề Bình Yên
Làng nghề Bình Yên là một làng nghề cơ khí sản xuất tái chế nhôm phế liệu, nằm cách thành phố Nam Định 17 Km về phía Nam Ban đầu chỉ có 4 hộ chế tạo các sản phẩm chủ yếu là đồ nhôm gia dụng với nguyên liệu nhôm cán được nhập về từ Vân Chàng hoặc Bắc Ninh Hiện nay, số lượng hộ gia đình tham gia sản xuất nhôm đã lên đến 300 hộ Sản xuất ở làng nghề Bình Yên chủ yếu là cô lon; cô nhôm và sản xuất sản phẩm nhôm như ấm, chậu, xoong, mâm… Ngoài ra Bình Yên còn có các hộ thuần nông, các hộ làm nghề dệt vải, kinh doanh dịch vụ nhỏ… [15]
Sự phát triển của sản xuất công nghiệp đang đóng vai trò quan trọng và tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của địa phương Tuy nhiên, do việc phát triển của làng nghề Bình Yên mang tính tự phát, công nghệ lạc hậu, thiết bị thiếu đồng bộ, ý thức môi trường của người dân còn nhiều hạn chế, nên ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động Do trong sản xuất làng nghề có sử dụng những hóa chất độc hại nhưng các hộ sản xuất hoàn toàn không qua một khâu xử lý nào mà xả thải trực tiếp ra môi trường, gây những tác động tiêu cực đến cảnh quan, môi trường sống cũng như sức khỏe cộng đồng
1.4 1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Thôn Bình Yên được hình thành cách đây hàng trăm năm, bao gồm 2 xóm (xóm 1 và xóm 2), cách thành phố Nam Định 17 Km về phía Nam Phía Đông giáp thôn Trung Thắng xã Nam Thanh;
Phía Tây giáp xã Nam Lợi huyện Nam Trực;
Phía Nam giáp thôn Xối Tây xã Nam Thanh;
Phía Bắc giáp xã Nam Hồng huyện Nam Trực
Trang 3122
Hình 1.3 : Bản đồ vị trí địa lý làng nghề Bình Yên
Trang 32c Đặc điểm khí tượng – thủy văn
Làng nghề Bình Yên nói riêng cũng như tỉnh Nam Định nói chung nằm trong khu vực khí hậu phía Bắc Đây là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Thời tiết được chia làm bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông Lượng mưa chủ yếu tập chung vào mùa hè Mùa xuân độ ẩm tương đối lớn, có mưa nhỏ Mùa thu khí hậu mát mẻ Mùa đông thời tiết lạnh trung bình khoảng 15
- Chế độ bức xạ nhiệt:
Theo khí hậu miền Bắc thì trong năm từ tháng 5 – 9 có nắng nhiều nhất Tháng 12 – 1 có nắng ít nhất
Nhiệt độ trung bình khoảng 23 – 25
Tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ trung bình khoảng 15
Trang 3324
- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt:
Do khu vực làng nghề Bình Yên cách biển Giao Thủy khoảng 20 Km cho nên mỗi năm thường chịu ảnh hưởng của 5 – 7 cơn bão
Hàng năm khu vực có khoảng 65 – 70 ngày dông Mưa dông trùng với gió mùa hè Sau khi mưa dông không khí sẽ được làm sạch
Mưa phùn là hiện tượng thời tiết thường gặp vào nửa cuối mùa đông khoảng từ tháng 1 đến tháng 4 trong năm
d Thủy văn
Làng nghề Bình Yên xã Nam Thanh nằm trong lưu vực sông Hồng Đây
là con sông cung cấp nước chủ yếu cho toàn bộ tỉnh Nam Định Hệ thống sông bao quanh làng nghề như sông Cầu Thung, sông Nam Ninh Hải…cũng
là một yếu tố thuận lợi đảm bảo việc tưới tiêu cho thủy nông cũng như việc tiêu thoát nước thải
1.4 2 Đặc điểm kinh tế xã hội
a Đặc điểm kinh tế
Làng nghề Bình Yên với hoạt động chủ yếu là sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ nhôm phế liệu Qua khảo sát tình hình hoạt động sản xuất cho thấy làng nghề Bình Yên ngày càng được mở rộng cả về quy mô sản xuất và chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ trong vài năm trở lại đây
Các sản phẩm nhôm gia dụng cũng như nhôm tái chế được xuất đi nhiều tỉnh thành trên cả nước, xuất khẩu ra nước ngoài như Lào, Campuchia, châu Phi… Thực tế cho thấy làng nghề đang trên đà đẩy mạnh phát triển sản xuất
và ngày càng có nhiều lao động, hộ gia đình tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động sản xuất của làng nghề Thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng cao và hơn hẳn so với canh tác sản xuất thuần nông
b Đặc điểm xã hội
- Dân số và lao động:
Trang 3425
Tổng diện tích tự nhiên của làng nghề là khoảng 25 ha Toàn thôn có 600
hộ, dân số trên 2300 khẩu, mật độ bình quân 920 người/ha Hiện nay số hộ sản xuất làng nghề 300 hộ với 1250 lao động tại chỗ và thường xuyên có trên
750 lao động các thôn làng khác đến làm thuê Thu nhập bình quân hàng tháng từ 3 đến 4 triệu đồng/tháng/người [16]
đa trẻ em chưa đến độ tuổi lao động bỏ học làm nghề
Trình độ văn hóa của người lao động trên địa bàn làng nghề không cao, hơn 90% người lao động chưa học hết cấp 3 Đây là một trong những nguyên nhân góp phần ảnh hưởng đến tình trạng ô nhiễm môi trường trong thôn khi người dân có những nhận thức về môi trường rất kém [16]
- Y tế và sức khỏe cộng đồng:
Làng nghề Bình Yên có 1 trạm y tế với đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên môn, đảm bảo cho việc chăm sóc sức khỏe cơ bản cho người dân địa phương
- Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị sản xuất:
+ Giao thông: Làng nghề Bình Yên cách trục quốc lộ 21 khoảng 2 Km, thuận lợi cho việc liên kết, giao lưu kinh tế Đường vào thôn đã được xây dựng đảm bảo cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa được thuận lợi
+ Hệ thống cấp nước: Làng nghề Bình Yên được sử dụng nước máy từ nhà máy cấp nước của xã trong sinh hoạt và sản xuất
+ Hệ thống thoát nước: Không có hệ thống thoát nước mưa riêng, nước mưa và nước thải đều được đổ chung vào hệ thống cống, kênh mương lớn nhỏ
Trang 3526
trong làng nghề với tổng chiều dài 7000 m Các kênh mương xung quanh thôn ngày càng thu hẹp diện tích khiến cho việc tiêu thoát nước vào mùa mưa ngày càng khó khăn
+ Hệ thống xưởng sản xuất, trang thiết bị: Chủ yếu các hộ tận dụng khuôn viên sử dụng đất của gia đình để làm mặt bằng sản xuất, nhà xưởng chủ yếu là lán tạm và nhà cấp 4, thông khí kém và nằm xen kẽ trong khu dân
cư Phần lớn các hộ sản xuất kết hợp nhà ở sinh hoạt, mặt bằng chật chội vì để nguyên liệu và thành phẩm
Trang thiết bị sản xuất bao gồm các thiết bị cơ khí phục vụ cho sản xuất tái chế nhôm phế liệu như máy cán kéo, lò đúc nhôm thủ công, bể nhúng mạ, máy gia công kim loại và các thiết bị che chắn máy, quạt tại máy, quạt thông gió Hầu hết các thiết bị này đều đã xuống cấp vì thời gian sử dụng cao và vận hành liên tục Các thiết bị thông khí cũng như hệ thống bảo vệ an toàn điện còn ít, vận hành kém hiệu quả và ko đảm bảo an toàn lao động
1.4 3 Hiện trạng phát triển các ngành nghề và các lĩnh vực
a Sản xuất công nghiệp
Theo thống kê của Ủy Ban Nhân Dân xã Nam Thanh năm 2013, 50% các hộ gia đình trong làng nghề tham gia sản xuất công nghiệp với các lĩnh vực cụ thể như sau:
- Tạo hình, nhúng rửa (sản phẩm), tái chế : 147 hộ (chiếm 48%)
- Hộ máy cán, máy quai, máy vung : 86 hộ (chiếm 29%)
- Cô lon và cô đúc : 56 hộ (chiếm 19%)
- Sản xuất khác : 11 hộ (chiếm 4%)
Trang 36Tạo hình, nhúng rửa (sản phẩm), tái chế
Hộ máy cán, máy quai, máy vung
Cô lon và cô đúc Sản xuất vật dụng khác
Hình 1.4: Tỷ lệ các hộ gia đình tham gia sản xuất công nghiệp
Bình quân hàng năm, làng nghề tái chế khoảng 15.000 tấn nhôm phế liệu, với hiệu suất thu hồi khoảng 60%, đạt giá trị khoảng 50 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người khoảng 40 triệu đồng/năm [16]
b Sản xuất nông nghiệp
Thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi của làng nghề không cao, chủ yếu là trồng lúa và hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm với số lượng nhỏ Sản lượng nông nghiệp ngày càng giảm Hơn 10 ha đất hai vụ lúa bị bỏ hoang vì ô nhiễm Thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp thuần túy khoảng 12 triệu đồng/năm
1.4 4 Định hướng phát triển kinh tế xã hội
Dựa vào hiện trạng kinh tế xã hội, xã Nam Thanh đã định hướng phát triển xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2015 như sau:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 8 - 8,2%; trong đó: Nông nghiệp và thuỷ sản 2,7%, Công nghiệp TTCN - Xây dựng 21% ; Dịch vụ 9,5 %;
- Cơ cấu kinh tế:
+ Công nghiệp,TTCN - Xây dựng chiếm : 37%
+ Nông nghiệp, thuỷ sản chiếm : 35%;
+ Dịch vụ chiếm : 28%
Trang 37Hình 1.5 : Cơ cấu định hướng phát triển của xã Nam Thanh 2010 - 2015
Sản lượng lương thực quy thóc đạt 5450 tấn
Giá trị sản phẩm nông nghiệp trên /ha canh tác đạt 90 - 95 triệu đồng Giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từ 80 triệu đồng
- Vệ sinh môi trường
+ Cung cấp nước hợp vệ sinh đạt 85 - 90 % dân số
+ Thực hiện đề án thu gom rác thải ở 23 đơn vị thôn, xóm
+ Xây dựng chợ và bãi đỗ xe với tổng diện tích là 6000 m2
+ Xây máng tiêu nước thải quanh làng để thu về hồ sinh thái
+ Xây hồ sinh thái để đảm bảo giữ nước thải tránh nước sút tràn vào ruộng Thống nhất đắp đường ở phía đông làng và sau làng rộng 4m để xe lưu thông chở hàng hoá
Xây dựng cụm công nghiệp tại cánh đồng sau làng quy mô 10 ha
1.4.5 N guyên liệu, nhiên liệu, hóa chất và quy trình tái chế nhôm tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên
a Nguyên liệu
Làng nghề tái chế nhôm Bình Yên hầu hết sử dụng nguyên liệu chính là nhôm phế liệu Tùy theo nhu cầu của thị trường và các thời vụ trong năm mà
Trang 3829
lượng nhôm phế liệu được thu mua, tập kết về làng để sản xuất Quá trình sản xuất còn đòi hỏi phải sử dụng nguồn nước sạch, vì vậy gần như toàn bộ các khâu làng nghề phải sử dụng nước cấp, nguồn nước ngầm bị ô nhiễm chỉ được sử dụng rất hạn chế Theo điều tra khảo sát có được số lượng nguyên liệu ước tính bình quân một tháng sử dụng cho việc tái chế nhôm như sau:
Bảng 1.2: Khối lượng nguyên liệu sản xuất bình quân hàng tháng.[2]
Nhôm phế liệu (lon bia, xoong, nồi chảo cũ ) 1400 Tấn
Hình 1.6 : Đồ nhôm phế liệu làm nguyên liệu tái chế
Trang 39Hình 1.7 : Nhiên liệu sản xuất chủ yếu than đá
c Hóa chất
Quy trình chế tạo một sản phẩm nhôm hoàn thiện không thể thiếu việc
sử dụng các hóa chất nhằm tẩy dầu mỡ, cặn bám, nhúng rửa làm bóng sản phẩm… Vì vậy hầu như toàn bộ các hộ gia đình đều sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất đã được thống kê như sau:
Trang 4031
Bảng 1.3: Khối lượng hóa chất sử dụng bình quân hàng tháng[2]
d Quy trình tái chế nhôm
Gần một nửa các hộ sản xuất tái chế nhôm tại làng nghề Bình Yên thực hiện quy trình sản xuất khép kín từ khâu cô đúc nguyên liệu thô (nấu các loại nhôm, đồng cũ nát và nguyên liệu vụn sau khi định hình sản phẩm), đến định dạng nguyên liệu rồi định hình sản phẩm Tùy thuộc vào nguyên liệu và mặt hàng sản xuất mà các hộ gia đình sử dụng các quy trình khác nhau Có thể chia các quy trình được sử dụng trong làng nghề thành các nhóm như sau: d1 Quy trình cô lon, cô nhôm, cô bã
Hình 1.8: Quy trình cô lon, cô nhôm, cô bã
b
Bã nhôm (20~30%
nhôm phế liệu)
Nấu chảy
Rót khuôn
Nhôm nguyên liệu
Hóa chất (H2SO4)
Nấu chảy
Lọc thu
Nhôm nguyên liệu