Tính cấp thiết của đề tài : Bảo hiểm Nhân thọ BHNT ra đời từ rất sớm và đ trở nên quen thuộc đối với người dân của các nước phát triển trên thế giới.. Tuy nhiên, ở Việt Nam loại hình bảo
Trang 1Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Bảo hiểm Nhân thọ (BHNT) ra đời từ rất sớm và đ trở nên quen thuộc đối với người dân của các nước phát triển trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam loại hình bảo hiểm này vẫn còn khá mới mẻ, tuy mới được triển khai ở Việt Nam hơn mười năm (1996) nhưng đ và đang phát triển nhanh chóng với mức tăng trưởng cao, có sự tham gia chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài trong thị trường (Bảo Minh- CMG (Dai - ichi Life), Manulife, Prudential Việt Nam, AIA, Prevoir Việt Nam và ACE Life), đáp ứng không chỉ nhu cầu bảo hiểm - tài chính của mỗi cá nhân, doanh nghiệp mà còn là một chế độ phúc lợi cho người lao động, giải quyết nhu cầu việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh sự liên kết của các doanh nghiệp kinh doanh tài chính khác (Ngân hàng, Bưu
điện, chứng khoán ), thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân
BHNT gắn chặt với sự phát triển của x hội công nghiệp, hiện đại Các doanh nghiệp BHNT, với tư cách là những trung gian tài chính- là một phần của ngành dịch
vụ tài chính trong nền kinh tế Trung gian tài chính một tổ chức đóng vai trò thúc đẩy
sự luân chuyển và vận hành tài chính tiền tệ trong nền kinh tế thông qua quá trình thu hút vốn nhàn rỗi của công chúng bằng phí bảo hiểm và cung cấp cho người cần vốn vay Vốn là một trong những nhu cầu quan trọng và không thể thiếu đối với sự phát triển của x hội công nghiệp, hiện đại
Hiện nay, Bảo hiểm Nhân thọ ở Việt Nam đ và đang phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, quy mô thị trường ngày càng mở rộng, mạng lưới hoạt động được triển khai hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước Tuy nhiên, thị trường Bảo hiểm Nhân thọ ở Việt Nam, với một lượng dân số trên 85 triệu người, là một thị trường đầy tiềm năng nhưng mức độ khai thác thị trường của Tổng Công Ty Bảo Việt Nhân Thọ (Bảo Việt Nhân Thọ) còn rất nhỏ bé chưa đáp ứng được nhu cầu về Bảo hiểm Nhân thọ của các tầng lớp dân cư trong x hội Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nhằm mở rộng thị phần của Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2015 là hết sức cần thiết có ý
Trang 2nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Do đó tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp mở rộng thị phần của Tổng Công ty Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2015” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính Ngân hàng
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài :
* Mục đích: Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm phát triển và mở rộng thị phần của Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2015
* Nhiệm vụ:
- Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về Bảo hiểm Nhân thọ và thị trường, thị phần Bảo hiểm Nhân thọ
- Thực trạng thị trường Bảo hiểm Nhân thọ của Việt Nam trong những năm qua
để từ đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại
- Những kết qủa và thị phần mà Bảo Việt Nhân Thọ đ đạt được trong những năm qua
- Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển và mở rộng thị phần của Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2015
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng thị trường, thị phần Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam trong những năm qua
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động của các doanh nghiệp Bảo hiểm Nhân thọ trên thị trường Việt Nam từ năm 1996 trở lại đây
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê – tập hợp và phân tích mô tả số liệu : dùng công cụ thống kê tập hợp tài liệu Đề tài còn vận dụng lý luận vào thực tiễn, sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, khái quát hoá, tổng hợp để nghiên cứu
5 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài :
Đề tài này là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển
và quản lý thị trường Bảo hiểm Nhân thọ ở Việt Nam, các doanh nghiệp kinh doanh Bảo hiểm Nhân thọ nói chung và Tổng Công Ty Bảo Việt Nhân thọ nói riêng
Trang 36 Kết cấu của luận văn :
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về : Bảo hiểm Nhân thọ, thị trường, thị phần Bảo hiểm Nhân thọ
Chương 2 : Thực trạng thị trường, thị phần Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam trong những năm vừa qua và của Tổng Công ty Bảo Việt Nhân Thọ (Bảo Việt Nhân Thọ)
Trang 4Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về Bảo hiểm Nhân thọ và thị
trường, thị phần Bảo hiểm Nhân thọ
1.1 Khái quát chung về Bảo hiểm Nhân thọ :
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm Nhân thọ :
ở mỗi quốc gia, trong mọi thời kỳ, con người luôn được coi là lực lượng sản xuất chủ yếu, là nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế x hội Song trong lao
động sản xuất cũng như trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, con người cũng không tránh khỏi những rủi ro như: Tai nạn, ốm đau, bệnh tật, mất việc làm, già yếu v.v và tác động đến nhiều mặt của đời sống x hội Vì vậy, vấn đề mà bất kỳ x hội nào cũng quan tâm là làm thế nào để khắc phục được hậu quả của rủi ro nhằm đảm bảo cho cuộc sống con người Thực tế, đ có nhiều biện pháp được áp dụng như: Phòng tránh, cứu trợ, tiết kiệm v.v…nhưng bảo hiểm luôn được đánh giá là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất
Thực chất Bảo hiểm X hội, Bảo hiểm Y tế cũng là bảo hiểm con người và đ xuất hiện từ lâu, song phạm vi đảm bảo cho các rủi ro vẫn còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho dân cư trong x hội Trong khi đó, con người vẫn còn quan tâm đến những vấn đề trong cuộc sống, chẳng hạn như :
Việc mất hoặc giảm thu nhập của những người trụ cột trong gia đình ảnh hưởng
đến cuộc sống con cái và người thân Có lẽ không một người trụ cột trong gia đình nào lại muốn những người đang sống nhờ vào thu nhập của họ phải chịu những khó khăn
về tài chính hoặc bị khánh kiệt khi họ gặp phải những rủi ro (tử vong, ốm đau…) nhất
là khi con cái chưa đến tuổi trưởng thành, nợ nần còn chồng chất Vì vậy, đối với mỗi cá nhân và gia đình, việc tiết kiệm chi tiêu hiện tại để chuẩn bị cho tương lai, cho việc giáo dục con cái, chuẩn bị hành trang cho con cái vào đời là biện pháp hết sức thiết thực và có
ý nghĩa
Bên cạnh đó, việc chăm lo cho tuổi già hoặc khi về hưu đang là vấn đề được x hội quan tâm và coi trọng Một số người khi hết tuổi lao động có thu nhập từ lương hưu, nhưng thực tế khó có thể đáp ứng đủ các nhu cầu chi tiêu trong cuộc sống Ngoài
ra, phần lớn những người già không có lương hưu phải sống nhờ vào con cái hay vẫn phải lao động vất vả để kiếm sống đang là vấn đề x hội bức xúc Chẳng ai muốn sống
Trang 5một tuổi già đau yếu bệnh tật, phụ thuộc hay là gánh nặng cho con cái Đặc biệt, tuổi thọ càng cao thì nguồn dự trữ tài chính lại dần dần bị cạn kiệt Vấn đề là phải tạo ra một công cụ để mọi người có thể đều đặn dành ra từ thu nhập và tiết kiệm chi tiêu hiện tại của mình những khoản tiền nhỏ mà vẫn đủ đảm bảo cuộc sống khi về già
X hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì người ta càng có điều kiện để chăm lo cho bản thân và gia đình Ngoài Bảo hiểm X hội, Bảo hiểm Y tế, các dịch vụ Bảo hiểm Nhân thọ ra đời là hết sức cần thiết nhằm
đáp ứng mọi nhu cầu của các tầng lớp dân cư trong x hội
Bảo hiểm Nhân thọ, nằm trong bảo hiểm con người và là loại hình của bảo hiểm thương mại, là hình thức bổ sung cho Bảo hiểm X hội và Bảo hiểm Y tế, nhằm bảo đảm ổn định đời sống cho mọi thành viên trong x hội trước những rủi ro tai nạn bất ngờ đối với thân thể, tính mạng, sự giảm sút hoặc mất thu nhập và đáp ứng một số nhu cầu khác của người tham gia bảo hiểm So với Bảo hiểm X hội, Bảo hiểm Y tế, Bảo hiểm Nhân thọ có đối tượng tham gia rộng hơn, quỹ bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ phí bảo hiểm do những người tham gia đóng góp, số tiền chi trả căn cứ vào
sự thỏa thuận và cam kết trong hợp đồng Hình thức bảo hiểm là tự nguyện Còn đối với Bảo hiểm X hội, phí bảo hiểm được xác định căn cứ vào tiền lương của người lao
động do Nhà nước quy định Ngoài ra, sự khác nhau còn được thể hiện ở cơ sở pháp lý của sự cam kết, cơ quan tổ chức thực hiện v.v…
Tuy nhiên sự khác nhau giữa hai hệ thống bảo hiểm này không tạo ra sự đối lập, mâu thuẫn, mà trái lại chúng bổ sung cho nhau Các sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ
có thể thay thế Bảo hiểm X hội trong những trường hợp, những khu vực của nền kinh
tế, những nơi mà Bảo hiểm X hội chưa được thực hiện hoặc có nhưng không đủ bù
đắp thu nhập của người lao động bị giảm sút Mặc dù người lao động làm công ăn lương được hưởng trợ cấp Bảo hiểm X hội, nhưng đôi khi có những rủi ro, những nhu cầu nằm ngoài phạm vi Bảo hiểm X hội hoặc các khoản trợ cấp Bảo hiểm X hội không đáp ứng được những nhu cầu khắc phục hậu quả rủi ro Phần chênh lệch và thiếu hụt về mặt tài chính sẽ được Bảo hiểm Nhân thọ bù đắp
Trang 61.1.2 Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm Nhân thọ :
1.1.2.1 Khái niệm : Bảo hiểm Nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đ định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm cho các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người
Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam thì: "Bảo hiểm Nhân thọ là hình thức bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết" Người được bảo hiểm và người tham gia BHNT rất rộng, có thể bao gồm mọi người ở các lứa tuổi khác nhau
1.1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm Nhân thọ :
a Bảo hiểm Nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính bảo vệ tài chính:
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm Phi nhân thọ Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi
là phí bảo hiểm) cho Công ty Bảo hiểm, ngược lại Công ty Bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm như đ thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Số tiền bảo hiểm (STBH) được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn
định trong hợp đồng Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người được bảo hiểm không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết, như: Thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái v.v Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính chất tiết kiệm, vừa mang tính bảo vệ tài chính cho người được bảo hiểm Tính chất tiết kiệm thể hiện ngay ở từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ Có nghĩa là, khi người
được bảo hiểm không may gặp rủi ro trong thời hạn bảo hiểm đ được ấn định, những
Trang 7người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay STBH từ Công ty Bảo hiểm
Điều đó thể hiện rõ tính chất bảo vệ tài chính cho người được bảo hiểm trước những rủi ro không mong đợi trong BHNT
b Bảo hiểm Nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau cho người tham gia bảo hiểm :
Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm Phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích
là góp phần khắc phục hậu quả rủi ro, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT ngoài mục đích đó còn đáp ứng nhiều mục đích khác Mỗi mục
đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) hưu trí sẽ đáp ứng nhu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ khi già yếu HĐBH tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một STBH khi họ bị tử vong Số tiền này
đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố, như: Trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già v.v HĐBH nhân thọ đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay
để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác v.v Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm
c Thời hạn Bảo hiểm Nhân thọ thường rất dài, quan hệ giữa các bên trong mỗi hợp đồng Bảo hiểm Nhân thọ lại rất đa dạng và phức tạp :
Thời hạn trong BHNT thường kéo dài từ 5 năm trở lên Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng 5 năm, 10 năm Mỗi hợp đồng lại có sự khác nhau về STBH, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp Khác với các bản HĐBH Phi nhân thọ, trong mỗi HĐBH nhân thọ
có thể có 4 người có liên quan: Người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Người bảo hiểm chính là các Công
ty BHNT, còn người được bảo hiểm là người mà tính mạng, tình trạng sức khỏe và những sự kiện có liên quan đến tuổi thọ của họ được bảo hiểm hoặc là người giao tên tuổi của mình cho người khác đi ký HĐBH Còn người tham gia BHNT thực chất là những người trực tiếp đứng ra ký kết hợp đồng và nộp phí bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm phải có đầy đủ năng lực pháp lý và hành vi Trong mỗi hợp đồng BHNT còn
Trang 8có người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Thông thường người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm do người tham gia chỉ định Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là người sẽ nhận được mọi quyền lợi từ người bảo hiểm chi trả
d Phí Bảo hiểm Nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp :
Theo tác giả Jean - Claude Harrari : "Sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ không gì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng" Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm, như: Chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng v.v Nhưng những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩm BHNT, một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào:
Độ tuổi của người được bảo hiểm;
Tuổi thọ bình quân của con người;
Số tiền bảo hiểm;
Thời hạn tham gia;
Phương thức thanh toán;
Li suất đầu tư;
Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền
Điều đó khác với việc định giá cả một chiếc ô tô Chiếc ô tô là sản phẩm của một dây chuyền sản xuất, để sản xuất ra nó, người ta phải chi ra rất nhiều khoản chi, như: Chi phí nguyên, nhiên, vật liệu; chi phí lao động sống; khấu hao tài sản cố định v.v Những khoản chi này là những chi phí thực tế phát sinh và thực chất chúng là những khoản chi phí "đầu vào" được hạch toán một cách chi tiết, đầy đủ và chính xác
để phục vụ cho quá trình định giá Thế nhưng, khi định giá phí BHNT, một số yếu tố nêu trên phải giả định, như: Tỷ lệ chết, tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng, li suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát v.v Vì thế, quá trình định phí ở đây rất phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường nói chung
e Bảo hiểm Nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xP hội nhất định :
ở các nước có nền kinh tế phát triển, BHNT đ ra đời và phát triển hàng trăm năm nay Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được