Thể loại du ký hay còn gọi là thể tài du ký đã xuất hiện trong lịch sử văn học Việt Nam từ rất sớm.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XX, nền văn học dân tộc đã có những chuyển biến nhấtđịnh Văn học chuyển dịch theo hướng hiện đại hóa Đó là sự xuất hiện của cáctrào lưu văn học, các quan niệm thẩm mỹ, các hình tượng nghệ thuật, cũng nhưcác chủ đề, đề tài mới Và đặc biệt phải kể tới sự thay đổi của hệ thống thể loạivăn học trong giai đoạn giao thời này Sự phát triển của một nền văn học có thểđược nhìn nhận qua quá trình phát triển của các thể loại nên quá trình hiện đạihóa nền văn học cũng được xem xét thông qua sự thay đổi cơ cấu thể loại vànhững cách tân tìm tòi mới trong từng thể loại đó Trong quá trình hiện đại hóa,nền văn học Việt Nam đã xảy ra hiện tượng phá vỡ cơ cấu thể loại cũ Nhữngthể loại vùng ngoại biên dần đi vào trung tâm, đồng thời xuất hiện những thểloại mới du nhập từ nền văn học phương Tây Sự cách tân nền văn học được thểhiện rõ nhất qua sự phát triển và chiếm ưu thế của những thể loại văn xuôi cùngvới những đổi mới mạnh mẽ trong chính các thể loại đó
Thể loại du ký hay còn gọi là thể tài du ký đã xuất hiện trong lịch sử vănhọc Việt Nam từ rất sớm Ngay trong nền văn học trung đại, người ta đã thấyxuất hiện các bài thơ, bài phú, với nội dung ghi chép lại những sự kiện, cũngnhư những danh lam thắng cảnh trong các cuộc du hành của những người lữkhách Đặc biệt cuối thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện của một loạt các tác phẩm
như: Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ,
Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Dậu của Trương Vĩnh Ký…thể tài du ký mới dần
phát triển Nhưng phải tới mấy thập niên đầu của thế kỷ XX, thể tài du ký mớithực sự thành một dòng chảy liên tục, mà công đầu là của ông chủ bút báo NamPhong
Đầu thế kỷ XX, giao thông phát triển, việc giao lưu văn hóa được mởrộng… đã tạo điều kiện cho việc đi lại cho các nhà du ký Từ đây, hàng loạt các
Trang 2tác phẩm du ký đã được ra đời Trong mỗi tác phẩm du ký, đằng sau những bứctranh danh lam thắng cảnh, luôn chứa đựng những nỗi niềm ưu ái, những xúccảm chân thành nhất của người viết về quê hương đất nước, về cuộc sống Bởimong muốn đem những cái hay, cái đẹp trong từng dặm đường của đất nước sẻchia với người đọc; cũng như muốn lưu giữ lại những phong tục tập quán,những truyền thống văn hóa… cho các thế hệ sau, Phạm Quỳnh đã tạo một mục
du ký trên Nam Phong tạp chí Mục du ký đã liên tục được đăng tải với sự đóng
góp của nhiều cây bút nổi tiếng như: Nguyễn Bá Trác, Đông Hồ, Mộng Tuyết,Tùng Vân, Trần Trọng Kim… Trải qua 17 năm (1917 - 1934), đã có 62 tácphẩm du ký được in trên Nam Phong tạp chí với những nội dung phong phú,cũng như những đóng góp nghệ thuật mới mẻ
Với hi vọng đem lại cái nhìn khái quát về thể tài du ký trên Nam Phong tạpchí, cũng như những đóng góp của thể tài này trong quá trình hiện đại hóa nềnvăn học dân tộc, trong khóa luận nghiên cứu này chúng tôi xin chọn đề tài:
Khảo sát thể du ký trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934).
2 Lịch sử vấn đề
Thể tài du ký đã ra đời rất sớm trong nền văn học trung đại, nhưng với sốlượng không nhiều, và xét về mặt thể loại, thể tài trước đó du ký không đượcchú ý nhiều, nên việc nghiên cứu nhìn chung còn rất sơ lược Một số công trìnhnghiên cứu có nhắc tới thể tài du ký, nhưng phần lớn chỉ là điểm tên, hoặc nếukhông thì nói tới du ký trong khi bàn về thể ký nói chung
Trong năm 1950, trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng
Hàm có nói tới du ký với tính chất sơ lược
Năm 1989, trong tác phẩm Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nói sơ lược
về thể tài du ký khi nói tới nhóm nhà văn trong Nam Phong tạp chí, và ông cũng
có nhắc tới một số tác phẩm du ký như: chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của
Trương Vĩnh Ký
Trang 3Năm 1965, trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế
Ngũ có bàn tới thể tài du ký nhưng là du ký riêng trong sáng tác của PhạmQuỳnh Ông đã đưa ra những nhận xét: “Du ký Phạm Quỳnh thiên về biên khảo,văn nghị luận nhiều hơn văn cảm giác Như bài Trẩy chùa Hương mở đầu bằngmột khúc đại luận về tôn giáo, rồi dọc đường chi thấy những lời bình phẩm, suyxét về phong tục, tín ngưỡng của người mình( )Phạm Quỳnh đã biết thuậtchuyện có duyên, biết điểm vào những đoạn tả cảnh xinh tươi, nhất là khéo biết
sử dụng một lời văn thanh thoát trang nhã Nhưng từ 1925 trở đi, ngòi bút hướngvào giản dị và chuẩn xác hơn”
Năm 1967, Tạp chí văn học số 02, có bài Về thể ký của tác giả Tầm Dương.
Trong bài viết này tác giả đã phân loại thể ký, và du ký được cho là một phầncủa ký sự: “Du ký là “ký” lại các sự (những điều mắt thấy tai nghe) trong lúc
“du””
Cùng năm ấy, Tạp chí văn học số 06, tác giả Nam Mộc trong bài viết Thể
ký và vấn đề viết về người thật việc thật có viết: “Có thứ bút ký phản ánh người,
việc và cảm nghĩ diễn biến trong không gian theo bước đi của nhà văn đó là du
ký ”
Năm 1968, khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí,
1917 - 1934, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14
bộ môn và nêu nhận xét về thể tài du ký, còn được ông gọi là du hành trên Nam
Phong tạp chí: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang
sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn Thì đây,theo tờ Nam Phong chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất
cả các phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chíNam”
Trong cuốn Quá trình hiện đại hóa văn học, do nhà nghiên cứu Mã Giang
Lân chủ biên, cũng có nói tới thể tài du ký: “Thể loại văn học đầu tiên viết bằngchữ quốc ngữ phải kể đến du ký Đây là một hình thức bút ký văn học được ghilại bằng văn xuôi, thuật lại những chuyến đi của tác giả đến những vùng đất
Trang 4khác nhau…Nguồn gốc của du ký cần tìm trong những hình thức tùy bút, ký sựtruyền thống”.
Trong các công trình trên, du ký đã được nhắc tới sơ lược, nhưng chưa có
định nghĩa cụ thể nào về thể tài này Cho tới cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, do
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, du ký mới được địnhnghĩa một cách khá hoàn chỉnh: “Du ký - một thể loại văn học thuộc loại hình
ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân mình đi du lịch, ngoạn cảnh về nhữngđiều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ítngười có dịp đi đến…”
Các công trình trên tuy có nhắc tới thể du ký, nhưng chưa đi sâu tìm hiểu
về nó Thể du ký chỉ thực sự được chú ý về sau này Nhà nghiên cứu NguyễnHữu Sơn, đã dành nhiều chú ý nhất cho du ký, điều ấy được thấy rõ qua hàngloạt các bài nghiên cứu của ông
Báo Văn nghệ quân đội số 10 năm 2000, ông có bài: Thể tài du ký về Hà
nội nửa đầu thế kỷ XX.
Báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 06, năm 2000, có bài Phác thảo
Tạp chí Kiến thức ngày nay số 570 năm 2006 có bài: Thể tài du ký và các
tác gia Nam Bộ từ nửa cuối thế kỷ XIX đến 1945.
Tạp chí Nghiên cứu văn học số 04 năm 2007, có bài Thể tài du ký trên tạp
chí Nam Phong (1917 - 1934) Trong bài viết này, Nguyễn Hữu Sơn đã đi sâu
vào các đặc trưng của thể du ký
Trang 5Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 619, có bài viết Du ký về vùng văn hóa Sài
Gòn – Nam Bộ của Nguyễn Hữu Sơn, bàn về du ký Phạm Quỳnh qua tác phẩm Một tháng ở Nam Kỳ.
Cùng năm đó, bộ Du ký Việt Nam, tạp chí Nam Phong (1917 - 1934) gồm 3 tập đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn dày công biên soạn và giới thiệu Sau khi bộ Du ký Việt Nam ra đời, đã có hàng loạt các bài viết bàn về thể
tài du ký trên Nam Phong tạp chí
Báo Doanh nghiệp ra ngày 13.05.2007, có bài viết của Trung Sơn với nhan
đề Viết của sự Đi Bài viết đã nêu lên một vài đặc điểm nổi bật của du ký trên
Nam Phong tạp chí, đó là điều kiện ra đời, những đặc trưng không gian - thời
gian… trong du ký Và cuối cùng tác giả nhận định: “Bộ du ký Việt Nam trên
Tạp chí Nam Phong là một kho tư liệu quý, một chứng tích của thời gian”.
Báo Tuổi trẻ ra ngày 23.03.2007, Phạm Xuân Nguyên có bài Đọc sách để
đi chơi Tác giả Xuân Nguyên cũng đã đưa ra ý kiến đánh giá của mình về du
ký: “Đọc du ký, để hiểu biết, có thêm thông tin tri thức là một lẽ Đọc những tácphẩm du ký này còn để hiểu thêm suy nghĩ, cảm xúc của những con người đứng
ở buổi đầu nền văn học hiện đại, muốn truyền tải và gửi gắm tới quốc dân trongmột nước đang tìm cách thoát lạc hậu đến văn minh”
Báo Văn hóa và Thể thao, ra ngày 27.04.2007, có bài viết Du ký như một
thể tài của tác giả Linh Lê Trong đó, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn khi trả
lời phỏng vấn của tác giả Linh Lê, đã khẳng định: “Du ký cần quan niệm như làmột thể tài Thể tài du ký cần phải hiểu là nhấn về phía đề tài, nội dung và cảmhứng nghệ thuật của người viết chứ không phải về phía thể loại”
Báo Người đại biểu nhân dân, ra ngày 01.04.2007, tác giả Phong Lê có bài viết Du ký trên tạp chí Nam Phong.
Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, ra ngày 10.04.2007, có bài viết Du
ký Việt Nam - một bộ sách quý của Trần Hữu Tá
Trang 6Báo An ninh thủ đô số ra ngày 15.04.2007, tác giả Thiên Lương có bài: Về
bộ sách Du ký Việt Nam - Nam Phong tạp chí, khát vọng chân thành của người trí thức….
Báo Thể thao và Văn Hóa số 49 ra ngày 21.04.2007, có bài Chuyện đi xứ
người của Nguyễn Vĩnh Nguyên…
Báo Văn hóa số 1355, số ra ngày 30.03.2007, có bài Đọc Du ký Việt Nam:
ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm, của Nguyễn Anh.
Như vậy, có thể nói vấn đề nghiên cứu về du ký trên Nam Phong tạp chí,
nhìn chung còn khá sơ lược Trước những giá trị và đóng góp của du ký đối vớinền văn học hiện đại Việt Nam, chúng tôi cho rằng cần có nhiều hơn nữa nhữngnghiên cứu đi sâu tìm hiểu vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu
Trong văn học trung đại, thể du ký đã xuất hiện với một số tác giả, tácphẩm, nhưng chỉ sang thế kỷ XX trong giai đoạn văn học giao thời (1900 -1930), du ký mới thực sự phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những thể
tài chiếm vị trí trung tâm của đời sống văn học Mục du ký trên Nam Phong tạp
chí đã phần nào chứng minh cho sự phát triển đó Tuy nhiên xung quanh vấn đề
du ký nói chung, du ký trên Nam Phong tạp chí nói riêng, nhìn chung chưa có
nhiều công trình nghiên cứu Nhận thấy đây còn là một vấn đề mới, chúng tôimuốn đi vào nghiên cứu với mục đích khảo sát du ký trên các phương diện chủyếu như: sự ra đời, các giá trị chính về nội dung và nghệ thuật, chỉ hi vọng đem
tới một cái nhìn khái quát về du ký trên Nam Phong tạp chí.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các tác phẩm du ký đăng trên Nam Phong tạp chí (1917 - 1934) Bao gồm
62 tác phẩm của 36 tác giả Trong đó, chúng tôi lần lượt đi vào nghiên cứu thểtài du ký dưới góc độ lí luận, các điều kiện ra đời và phát triển của thể loại du ký
trên Nam Phong tạp chí, và những giá trị chính về nội dung và nghệ thuật của du
ký
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mà chúng tôi sử dụng trong niên luận này là các phươngpháp sau: phương pháp phân tích thể loại Ngoài ra, khóa luận còn sử dụngphương pháp khác như: so sánh, phân tích tổng hợp
6 Cấu trúc khóa luận
Khóa luận chia thành 3 phần, ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nộidung cơ bản gồm 3 chương
Chương I: Thể du ký trên Nam Phong tạp chí
Chương II: Du ký trên Nam Phong tạp chí - Bức tranh hiện thực rộng lớn.
Chương III: Những đặc trưng nghệ thuật của thể loại du ký trên NamPhong tạp chí
Trang 8NỘI DUNG
Chương I: Thể du ký trên Nam Phong tạp chí (1917 - 1930)
1.1 Tạp chí Nam Phong
Nam Phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Việt Nam từ ngày 1
tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản, do Phạm Quỳnh làm chủbút, dưới sự bảo trợ của ông Louis Marty, trưởng phòng chính tại phủ toànquyền Pháp - Hà Nội Trong suốt 17 năm hoạt động, tạp chí đã đăng 210 số, với
sự góp mặt của nhiều cây bút nổi tiếng như: Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn BáHọc, Nguyễn Đôn Phục, Đông Hồ, Mai Khê, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Phục Ba,Nguyễn Đức Tánh, Nguyễn Thế Xương
Mục đích của Nam Phong là thể hiện chủ nghĩa khai hóa của nhà nướcmới, biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn, để giúp cho sự mởmang trí thức, giữ gìn đạo đức, bảo tồn quốc hồn quốc túy trong quốc dân ViệtNam và truyền bá các môn khoa học Tây phương, nhất là học thuật tư tưởng đạiPháp, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp, và người Nam trong trường kinh tế.Đặc biệt chú ý tới sự tập luyện, trau dồi văn quốc ngữ, để người Việt sớm cómột nền quốc văn riêng
Nam Phong tạp chí từ lúc ra đời tới khi đình bản đã trải qua 4 giai đoạnchính:
Giai đoạn 1917 - 1922: Thời kỳ thành lập và bành trướng của tờ báo
Giai đoạn 1922 - 1925: Thời kỳ đề cao mục đích giáo huấn, khai hóa quốcdân Tờ báo phát triển mạnh và truyền ra nước ngoài nhờ ảnh hưởng của PhạmQuỳnh
Giai đoạn 1925 - 1932: Đây là giai đoạn hoạt động chính trị mạnh nhất của
tờ báo
Giai đoạn 1932 - 1934: Giai đoạn suy yếu của báo, quyền chủ bút chuyểncho Nguyễn Trọng Thuật Tới tháng 12 năm 1932 thì tạp chí đình bản hẳn
Trang 9Về nội dung, Nam Phong tạp chí đã đề cập tới rất nhiều vấn đề của đờisống cũng như văn học, với nhiều chuyên mục khác nhau mà tập trung trong 9phần sau:
* Phần lược thuật: Bàn chung những vấn đề có liên hệ đến thời thế, nhất là
có những phần liên hệ đến riêng dân ta để cho độc giả trong nước có nhữngquan niệm minh chính về vấn đề này
* Phần văn học bình dân: Đề cập những vấn đề về văn chương lịch sử, đạithể là những môn tổng danh gọi là văn học
* Phần triết học bình dân: Luận thuyết tư tưởng từ xưa tới nay So sánh tưtưởng Âu - Á để giúp cho sự đề xướng một tư trào riêng cho nước ta Tôn chỉ làgiúp cho quân dân về trí thức và đạo đức
* Phần khoa học bình dân: Nói tới những vấn đề đại cương, nguyên lí, lịch
sử tiến hành của khoa học
* Phần văn uyển: Sưu tầm và biên soạn lại những tác phẩm thơ ca chữ Hán,chữ Nôm và đăng tải những bài thơ mới
* Phần tạp trở: Đăng những bài ký (du hành, du ký) trình bày các câuchuyên “mắt thấy tai nghe” dọc đường của một chuyến tham quan, công tác vànhững bài tựa, bài giới thiệu sách mới, những danh ngôn, trích lục các sách
* Phần thời đàm: Gồm các bài bàn về tình hình thế sự trong và ngoài nước.Những bài viết này thể hiện một thái độ khá bình tĩnh khi trình bày các sự việckhác nhau, song ý thức ca ngợi Pháp vẫn bộc lộ
* Phần tiểu thuyết: Dịch các tiểu thuyết cận, hiện đại của Trung Quốc vàPháp sang quốc văn, và đăng tải những tiểu thuyết mới
* Phần từ vựng: Gồm 3 phần (chữ quốc ngữ, chữ Nho và chữ Pháp) vớimục đích là giải thích những chữ mới
Đánh giá về của tạp chí Nam Phong đã có nhiều ý kiến khác nhau TheoDương Quảng Hàm (1), tạp chí Nam Phong đã có ảnh hưởng về hai phương diện:
Dương Quảng Hàm - Việt Nam văn học sử yếu - Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn 1950.
Trang 10- Về đường văn tự, Nam Phong đã sáp nhập vào tiếng Việt nhiều danh từtriết học, khoa học mới, và luyện cho chữ quốc ngữ có thể diễn dịch được các lýthuyết, các ý tưởng về triết học, kho học mới.
- Về đường học vấn, Nam Phong đã phổ thông những điều yếu lược củahọc thuật Âu - Tây, diễn giải những điều đại cương trong các học thuyết cũ của
Á Đông (Nho học, Phật học) và bảo tồn những điều cốt yếu trong văn hóa ViệtNam xưa (văn chương, phong tục, lễ nghi)
Như vậy, Nam Phong tạp chí tuy có hạn chế về mặt lịch sử, nhưng những
giá trị mà nó đem lại thì không thể phủ nhận Cho tới nay, những giá trị ấy vẫnđược công chúng nhìn nhận và đánh giá cao “Đây là tờ báo gần như duy nhấttrong những năm chuyển tiếp giữa thập kỷ 20 và 30 của thế kỷ này, cung cấpcho bạn đọc Việt Nam những kiến thức về văn chương, triết học, lịch sử, địalý…phương Đông và phương Tây, một cách hệ thống và liên tục Nam Phongcũng là nơi thử thách và rèn luyện ngòi bút viết văn xuôi quốc ngữ, văn xuôinghệ thuật và cao hơn là văn xuôi lý luận trong bước chuyển mình của vănxuôi quốc ngữ chúng ta” (Lại Văn Hùng)(1)
1.2 Đặc điểm thể du ký
Thể ký ra đời từ rất sớm, là một loại hình trung gian nằm giữa báo chí vàvăn học, bao gồm nhiều thể như: bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký,tùy bút… Ký cơ bản khác với truyện (truyện dài, truyện ngắn, truyện vừa, tiểuthuyết) ở chỗ trong tác phẩm ký không có một xung đột thống nhất Ký cũngkhông đi vào miêu tả quá trình hình thành tính cách của các cá nhân trong tươngquan với hoàn cảnh, mà là các vấn đề trạng thái dân sự như kinh tế - văn hóa -chính trị, và trạng thái tinh thần như phong hóa đạo đức của chính môi trường xãhội Khác với Thơ mới, kịch, tiểu thuyết… là những thể loại ra đời và phát triển
do ảnh hưởng mạnh của quá trình tiếp xúc văn học phương Tây, thể ký lại mangtính nội sinh hết sức rõ rệt Nó là sự kết hợp giữa cách viết, cách tư duy giữatruyền thống và hiện đại, giữa Đông và Tây Bởi lẽ, một trong những đặc trưng( ): Lại Văn Hùng – Truyện ngắn Nam Phong – NXB Khoa học xã hội, H., 1986.
Trang 11lớn nhất của ký là ghi chép, là phản ánh một cách trung thực, chính xác nhữngcon người, những sự kiện có thật trong đời sống, cho nên buộc nó phải lấynhững đề tài, những câu chuyện xảy ra ở chính Việt Nam Sáng tác văn họcdạng thể ký thường thịnh hành ở các giai đoạn văn học sử ứng với thời kỳ xã hội
có khủng hoảng của các quan hệ cũ, nảy sinh một nếp sống mới, làm tăng cườngchú ý đến sự miêu tả các thói tục
Tùy từng giai đoạn mà ký phát triển với những hình thức khác nhau Ở thờitrung đại, ký phát triển với các thể tài: ký sự, tiệp ký, tùy bút, tạp lục Đó là
những tác phẩm như: Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Vũ Trung tùy bút, Tang
thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ, Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Công
du tiệp ký của Vũ Phương Đề Những tác phẩm ký này thường viết về các sự
kiện, các vấn đề có tính chất lớn lao của quốc gia
Bước sang thế kỷ XX, ký mới thực sự chiếm được vị trí quan trọng trongđời sống văn học, nhờ sự ra đời của báo chí, các nhà xuất bản, sự phát triển củachữ Quốc ngữ và đặc biệt là nhờ điều kiện giao thông thuận lợi Người có côngđầu trong việc thúc đẩy thể ký phát triển lúc này chính là Tản Đà (1889 - 1939).Ông là người đã sáng lập ra mục “Việt Nam nhị thập kỷ - xã hội ba đào ký” trên
An Nam tạp chí Tiếp sau đó, với mục du ký trên Nam Phong tạp chí, Phạm
Quỳnh đã tiếp bước Tản Đà, cho đăng tải rất nhiều tác phẩm du ký: Mười ngày
ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký (Phạm Quỳnh), Cuộc đi chơi năm tầng núi
(Tùng Vân), Hương sơn du ký (Minh Phượng), Các nơi cổ tích đất nghệ tĩnh
(Nguyễn Đức Tánh)… những tác phẩm ký thời này được viết bởi nhiều kiểu tácgiả, với lối viết mang tính chất trữ tính, in dấu ấn cá nhân, bởi thế nó cũng đậmtính văn học hơn
Sang những năm 1930 - 1945, thể phóng sự phát triển mạnh mẽ với nộidung viết về các tệ nạn xã hội, tố cáo xã hội thực dân sâu sắc Các tác phẩm tiêu
biểu như: Việc làng, tập án cái đình của Ngô Tất Tố, Ngõ hẻm ngoại ô của Nguyễn Đình Lạp, Tôi kéo xe của Tam Lang, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng Sau
cách mạng tháng Tám, ký lại có một bước chuyển mình mới Các thể tài tùy bút,
Trang 12nhật ký, bút ký chiếm một vị trí lớn trong đời sống văn học bấy giờ Những tác
phẩm: Nhật ký ở rừng của Nam Cao, Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng,
Sống như anh của Trần Đình Vân, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Đình Thi, Đường lớn của Bùi Hiển… đã tái hiện một cách chân thực và sinh động một thời
kỳ lịch sử anh hùng của dân tộc, của thời đại
Trở lại với vấn đề mà khóa luận đang nghiên cứu, đó là thể du ký Trongnền văn học trung đại, du ký đã xuất hiện Mở đầu là các bài du ký bằng thơ ca
đề vịnh phong cảnh như: Vịnh Văn Yên tự phú của Huyền Quang Lý Đại Táo,
Bài ký Tháp Linh Tế Núi Dục Thúy của Trương Hán Siêu, Tịnh cư ninh thể phú
và Đại đồng phong cảnh phú của Nguyễn Hàng, Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Nhị Thanh động phú và Tây Hồ phong cảnh phú của Ngô Thì Sĩ Từ thế
kỷ XIX, các tác phẩm du ký trở nên phong phú hơn với những cuộc hành trìnhdài, nội dung những bài du ký không chỉ còn giới hạn về các vấn đề trong đất
nước, mà đã được mở rộng ra nước ngoài Các tác phẩm tiêu biểu như: Tây
hành nhật ký của Phạm Phú Thứ, Ghi về vương quốc Khơme, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Dậu của Trương Vĩnh Ký, Như Tây nhật trình, Chư quốc thạc hội của
Trương Minh Ký… Sang thế kỷ XX, với những tiền đề về lịch sử xã hội cũngnhư những tiền đề trong nội hàm văn học, thể du ký đã có điều kiện phát triểnmạnh Thể du ký phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều giá trị nhất vào ba thập
kỷ đầu của thế kỷ XX
Du ký là một thể đặc biệt của văn học Bởi một tác phẩm du ký không đơngiản chỉ là một tác phẩm văn học mà còn chứa đựng trong nó cả một kho kiếnthức lịch sử, địa lý, giáo dục, chính trị, giáo dục Du ký có thể là các sáng tácbằng thơ, phú, tụng hay những bài văn xuôi theo các phong cách ký như: ghichép, hồi ký, phóng sự, khảo cứu, hồi ức Du ký thường là miêu tả những sự mắtthấy tai nghe của người đi trên một hành trình, nó gần như một dạng nhật kýhành trình nhưng đậm chất văn học hơn Bàn về du ký, đã có không ít những ý
kiến, những cách định nghĩa khác nhau Trong đó Từ điển thuật ngữ văn học
định nghĩa như sau: “Du ký - một thể loại văn học thuộc loại hình ký mà cơ sở
Trang 13là sự ghi chép của bản thân mình đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấytai của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi có ít người đến Hìnhthức của du ký rất đa dạng, có thể là ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng,miễn là mang lại những thông tin, tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh,phong tục, dân tình của xứ sở ít người biết đến (…) Dạng đặc biệt của du kýphát huy cái chất ghi chép về miền xa lạ của nó là du ký về các xứ sở tưởngtượng, có tính chất không tưởng hay viễn tưởng khoa học (…) Dạng du ký khácđậm đà phong vị phương Đông là ghi chép cảm tưởng, nhận xét về những nơidanh lam thắng cảnh đất nước (…) Thể loại du ký có vai trò quan trọng đối vớivăn học thế kỷ XVIII – XIX trong việc mở rộng tầm nhìn và tưởng tượng củanhà văn Sang thế kỷ XX, du ký mang nhiều tính chất tư liệu khoa học do cácnhà địa chất, nhà dân tộc học viết Loại du ký khoa học cũng rất thịnh hành”[230, 2]
Du ký đầu thế kỷ XX đã phát triển mạnh mẽ và để lại nhiều giá trị nội dungcũng như những cách tân nghệ thuật độc đáo, cùng với những thể loại văn họckhác, du ký đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam
Trong giới hạn của một khóa luận, chúng tôi chỉ xin đi vào khảo sát thể du
ký trên tạp chí Nam Phong (1917 - 1934), với mục đích đem lại cái nhìn khái
quát về thể du ký trên các khía cạnh: sự ra đời, những giá trị chính về nội dung
và nghệ thuật; qua đó phần nào thấy được sự vận động và phát triển của du kýnói riêng, thể loại ký nói chung trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học dântộc
Trang 141.3 Thể du ký trên Nam Phong tạp chí
1.3.1 Những tiền đề ra đời của thể du ký trên Nam Phong tạp chí
1.3.1.1 Những tiền đề lịch sử - văn hóa
* Đô thị
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến Thế giới lần thứnhất, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa ở nước ta,tạo ra những biến đổi to lớn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.Một trong những hệ quả to lớn của quá trình thực dân hóa chính là việc thúc đẩy
sự phát triển mau chóng của đô thị ở Việt Nam Trước đó, trong thời đại phongkiến, dưới tác động của nền kinh tế hàng hóa tuy mới chỉ là manh nha, đô thịcũng đã sớm xuất hiện với sự ra đời của các phường thợ thủ công, những làngnghề, những cơ sở thương mại Nhưng phải tới thời kỳ Pháp thuộc đô thị mớithực sự được “tái sinh” theo dòng chảy hiện đại Đô thị là nơi tích tụ và phảnánh những chuyển biến của xã hội Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa, là nơicửa ngõ giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và thế giới, là nơi mà những ảnh hưởngphương Tây được thể hiện rõ nhất Ở đó, xuất hiện những tầng lớp mới của xãhội, những viên chức, những trí thức… với lối sống tư sản hóa đang mau chónghình thành Chính những tầng lớp xã hội ấy đã đem đến một luồng gió tinh thầnmới trong đời sống Những tập tục, thói quen, những trói buộc không còn phùhợp thậm chí là hà khắc của chế độ phong kiến đã dần bị họ đẩy lui Thay vào
đó là là những lối sống mới với những trạng huống tâm lý mới mẻ
Đô thị phát triển chính là một trong những tiền đề quan trọng cho quá trìnhhiện đại hóa nền văn học nước nhà Đô thị không chỉ tạo ra những tầng lớp mớitrong xã hội nói chung, mà đối với riêng lĩnh vực văn học nghệ thuật, đô thị đã
“đào tạo” ra một tầng lớp công chúng mới Họ bao gồm những học sinh, sinhviên, những trí thức, những người bình dân… Cho dù thành phần và xuất thâncủa lớp công chúng mới không giống nhau, nhưng tất cả đều có chung một thịhiếu, một đòi hỏi với văn học Văn học của thời đại mới phải thể hiện chân thực
Trang 15và sinh động nhất đời sống, con người hiện đại Độc giả được biết đến như lànhững người trực tiếp tiếp nhận tác phẩm văn học từ nhà văn Không có họ, câuhỏi “Viết cho ai?” sẽ trở nên vô nghĩa, và như vậy cũng có nghĩa là văn họckhông thể tồn tại Độc giả của thế kỷ XX là những con người mới, mang nhữngtri thức mới, đã không còn bằng lòng với kiểu văn chương đậm tính chất giáohuấn với muôn ngàn khuôn vàng thước ngọc, những quy phạm, những ước lệ,những phi ngã của nền văn học trung đại Thay vào đó, họ yêu cầu văn học nhưmột nhu cầu giải trí thiết yếu, phải luôn sáng tạo, luôn phục vụ kịp thời Trướcnhững đòi hỏi ấy của người đọc, lớp nhà văn mới đã phải không ngừng nâng caongòi bút, không ngừng cạnh tranh Văn chương thực sự trở thành một nghề kiếmsống Có thể nói cho tới lúc này - những thập niên đầu của thế kỷ XX, chưa baogiờ đời sống văn học lại trở nên sôi nổi, muôn sắc đến vậy.
* Báo chí và chữ quốc ngữ
Một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của nền văn học mới đầuthế kỷ XX nói chung, cho sự ra đời và phát triển của các thể loại văn xuôi quốcngữ nói riêng, phải kể tới sự xuất hiện của báo chí và chữ quốc ngữ Chữ quốcngữ xuất hiện ở nước ta từ trước thế kỷ XVII, là sáng kiến và cũng là nhu củacác nhà truyền giáo Âu châu khi sang giảng đạo Và tuy từ khi chiếm được Nam
Kỳ, Pháp đã chính thức hóa chữ quốc ngữ, đã xuất bản một vài tờ báo bằng chữquốc ngữ nhưng trong đời sống văn học, giữ địa vị thống trị vẫn là văn học nhànho và văn học truyền miệng của nhân dân Văn chương quốc ngữ tồn tại nhưnhững yếu tố xa lạ, không được kể là văn chương, chưa được công nhận vào đờisống văn học của dân tộc Sang thế kỷ XX, vấn đề văn chương quốc ngữ mớiđược đặt ra như một nhu cầu tất yếu, quan trọng cho quá trình hiện đại hóa nềnvăn học nước nhà Phạm Quỳnh, một nhà tân học, ngay trong số đầu tiên của tạpchí Nam Phong do ông chủ bút đã xác định mục tiêu số một của tạp chí là: “Vấn
đề quan trọng nhất trong nước ta lúc này là vấn đề văn quốc ngữ, vấn đề ấy cógiải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộctiến hóa sau này mới có thể mong đợi được Đến ngày chữ quốc ngữ dùng làm
Trang 16quốc văn được thì người nước Nam mới có thể thâu thái các khoa học mới, màgây thành một nền học thích hợp với thái độ, với tính cách dân ta Đến ngày ấythì người dân ta mới phát biểu được tinh thần cốt cách của mình… Nói rút lại,chữ quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, quân dân ta mớikhông đến nỗi chung kiếp đi học mướn viết nhờ như từ xưa đến nay”
Bên cạnh sự phát triển của chữ quốc ngữ, sự ra đời của báo chí đã tạo nênnhững môi sinh thuận lợi cho sự hiện diện và thăng hoa của nền văn học mới.Báo chí chỉ thực sự ra đời trong quá trình thực dân hóa Đông Dương của ngườiPháp Với mục đích “chinh phục tinh thần người bản xứ”, người Pháp đã dùngbáo chí như một công cụ hữu hiệu, là cầu nối giữa người đi chinh phục và người
bị chinh phục Vì thế, ngay năm 1865 Pháp đã cho xuất bản tờ Gia Định báo.
Sang thế kỷ XX, cùng với sự phổ biến của chữ quốc ngữ, báo chí phát triển nở
rộ Bằng chứng là nếu như năm 1865 cả nước ta chỉ có một tờ Gia Định báo
thì đến năm 1922 cả nước đã có 96 tờ báo, tạp chí, tập san Năm 1925 : 121
tờ; năm 1929: 153 tờ với các tên báo nổi tiếng như: Đông Dương tạp chí, An
Nam tạp chí, Hữu Thanh tạp chí, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ tan văn, Đông Pháp thời báo Thêm vào đó, đến đầu thế kỷ XX, nhờ sự trưởng thành nhanh
chóng của đội ngũ những người làm báo Việt Nam, hoạt động báo chí càngtrở nên sôi động hơn bao giờ hết Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nhà
báo Việt Nam, Nghiệp đoàn báo chí thuộc địa được thành lập (1919) với
những cương lĩnh tiến bộ như: đòi tự do ngôn luận, cấm xâm phạm thân thểnhà báo… Đồng thời với sự ra đời của báo chí là những tiến bộ về khoa học
kỹ thuật trong ngành in ấn Các phương tiện in ấn hiện đại được nhập từphương Tây đã thay thế lối khắc in bằng mộc bản thủ công Cuối thế kỷ XIX
ở Việt Nam đã có một hệ thống các nhà in hỗ trợ đắc lực cho các nhà xuấtbản thời ấy, góp phần thúc đẩy sự phát triển của báo chí nước nhà Với vănhọc Việt Nam buổi giao thời, báo chí là môi trường tồn tại lý tưởng của vănhọc nói chung, các thể loại văn học mới như du ký nói riêng Báo chí với tínhthời sự và đại chúng của nó, đã là phương tiện, là cầu nối đưa tác phẩm vănhọc tới tay độc giả một cách nhanh nhất, phổ biến nhất Ngoài ra, quá trình
Trang 17chuyển từ sáng tác bằng chữ Hán sang chữ quốc ngữ, bắt buộc tất cả cácnhóm nhà văn dù tân học hay cựu học đều phải trải qua một quá trình “tậplàm văn bằng tiếng mẹ đẻ”, đặt nền móng xây dựng một thứ ngôn ngữ vănhọc mới bằng Tiếng Việt Và báo chí là môi trường thuận lợi cho những thểnghiệm đó.
* Tiếp xúc văn hóa Đông - Tây
Đầu thế kỷ XX, quá trình tiếp xúc văn hóa Đông Tây diễn ra mạnh mẽ.Trước hết, đó là do hệ thống giáo dục Pháp - Việt mà Pháp thiết lập đã tạomôi trường thuận lợi cho cơn gió văn hóa Tây Âu tràn vào nước ta Cùng với
đó, là sự phát triển của phong trào dịch thuật Kết quả là hàng loạt các tácphẩm văn hóa văn học nước ngoài mà chủ yếu là tác phẩm của người Phápđược độc giả trong nước tiếp nhận Tư tưởng Tây phương tràn vào đem lạicho chúng ta những quan niệm mới về vũ trụ và nhân sinh Trong quá trìnhgiao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây ấy, nền văn học Việt Nam đã có nhữngảnh hưởng mang tính tích cực Dễ nhận thấy, nền văn học ấy không ra đờitheo con đường phủ định bên trong từng bước văn học truyền thống mà bằngcon đường chuyển những thể loại bên rìa của văn học chính thống thời phongkiến vào trung tâm văn học Song song với việc làm đó, các nhà văn đã lấy hệthống thể loại văn học cận hiện đại của châu Âu để phản ánh những vấn đềđời sống buổi đương thời Cơn gió văn học Tây Âu không chỉ đem tới chonền văn học nước nhà hệ thống thể loại, chủ đề, đề tài mới mà nó còn cungcấp cho các nhà văn không ít những sáng tạo nghệ thuật đưa văn học ViệtNam tiến vào con đường hiện đại hóa
* Điều kiện giao thông thuận lợi
Sau khi chiếm được nước ta, nhằm đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộcđịa, thực dân Pháp đã cho xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất, giao thôngliên lạc hiện đại Giao thông thuận lợi, việc đi lại được mở rộng chính là mộttrong những tiền đề thúc đẩy sự phát triển của thể du ký trong giai đoạn vănhọc giao thời này Du ký đúng như tên gọi của nó, là “cái Viết của sự Đi”, vì
Trang 18thế để viết được những trang du ký chân thực và sinh động, bắt buộc ngườiviết phải có những chuyến đi, bất kể là ngắn hay dài, có giới hạn rộng hayhẹp Có như vậy, họ mới có thể thâu tóm và tái hiện những điều mắt thấy tainghe, cũng như những xúc cảm thành thực của cá nhân trong các tác phẩm du
ký Đầu thế kỷ XX, nhờ các phương tiện đi lại hiện đại như: máy bay, tàuhỏa, tàu thủy, xe hơi, mà bao giấc mộng tang bồng của những người nghệ sĩ
có cơ hội được thực hiện
Như vậy, sự xuất hiện và phát triển của đô thị, báo chí, nhà in, chữ quốcngữ, và sự tiếp xúc văn hóa Đông - Tây, điều kiện giao thông thuận lợi lànhững tiền đề lịch sử, văn hóa quan trọng cho việc ra đời của nền văn hóamới của Việt Nam Trong nền văn học mới ấy, nhiều thể văn xuôi nghệ thuậtnhư du ký đã có điều kiện phát triển và đã tạo được nhiều giá trị độc đáo.1.3.1.2 Cơ sở văn học
* Đội ngũ sáng tác và các quan niệm mới về văn học
Ở mỗi thời kỳ văn học luôn có những thế hệ nhà văn riêng Nền văn họctrung đại Việt Nam từ thế kỷ XV tới thế kỷ XIX, là nền văn học nhà nho Bởi
lẽ nhà nho chính là đội ngũ sáng tác văn học chính Họ là những người concủa “cửa Khổng sân Trình”, tiến thân lập danh bằng con đường khoa cử Theoquan niệm Nho giáo, văn học nghệ thuật là phương tiện để giáo hóa chính tâm,chế dục, là công cụ chính trị động viên, tổ chức xã hội Văn học phải hướng vàoĐạo, có quan hệ đến nhân tâm, có tác dụng di dưỡng tính tình Quan niệm vănhọc nghệ thuật của Nho gia, được chính quyền chuyên chế coi là chính thống,được đơn giản hóa cho thích hợp với nhu cầu nhà nước Và các văn sĩ nghệ sĩđược đào tạo theo quan niệm đó Chế độ thi cử nghiêm khắc đã xác định ranhững người có tài Nhà nước lấy văn chương chọn quan lại Sĩ tử muốn cócông danh chỉ có con đường duy nhất là học chữ, thi đỗ, và ra làm quan Cũng vì
lí do ấy mà văn chương cử tử được coi là thứ văn chương chính thống, chínhđạo và cao quý nhất Từ giữa thế kỷ XVIII, cùng với những biến đổi to lớn vềcác mặt của đời sống từ chính trị - xã hội, tư tưởng, đã dần xuất hiện một loại
Trang 19hình nhà nho mới: nhà nho tài tử Nhìn chung, nhà nho tài tử vẫn lấy Nho giáolàm ý thức hệ chính thống, vẫn vận động trong khuôn khổ của một thể chế xãhội truyền thống, nhưng ở họ đã bắt đầu nảy sinh những định hướng nhằm phá
* Sự phát triển của thể loại văn xuôi nói chung, thể du ký nói riêng
Trang 20Thể loại là dạng thức tồn tại của chỉnh thể tác phẩm văn học Trong quátrình hình thành, tồn tại và phát triển, thể loại văn học vừa ổn định vừa biến đổi.
Ổn định không phải là sự đứng yên, khô cứng mà chỉ ở dạng định hình, khẳngđịnh thành tựu Còn biến đổi là liên tục, là động lực của sự phát triển, đổi mớivăn học Do đó, thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa cũ M Bakhtin chorằng, thể loại chứ không phải phương pháp hoặc trường phái sáng tác là nhữngnhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học Và thể loại còn được coi là mộttrong những tiêu chí, thậm chí là quan trọng nhất trong việc phân kỳ lịch sử vănhọc Nói như nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân: “Lịch sử văn học là lịch sử pháttriển của thể loại văn học”
Để tìm hiểu sự phát triển của thể loại văn xuôi ở Việt Nam giai đoạngiao thời, trước hết chúng tôi muốn chỉ ra đặc trưng cơ cấu thể loại của vănhọc truyền thống phương Đông và phương Tây Văn học phương Tây từ thời
cổ đại, Aristote trong tác phẩm Nghệ thuật thi ca đã quan niệm văn chương là
những gì gắn với thơ Những sáng tác văn học được đồng nhất với thơ và hầuhết những sáng tác văn học nghệ thuật đều được diễn đạt bằng thơ, vì thế mà cóanh hùng ca bằng thơ, kịch thơ, thơ tế thần… Chỉ những sáng tác có giá trị môphỏng – tái tạo, hư cấu mới được coi là thơ ca Các văn bản hành chính, các ghichép lịch sử đều nằm ngoài phạm vi văn chương Aristote cũng đưa ra các tiêuchí để phân biệt các thể loại văn học, đó là: 1 Mô phỏng bằng cái gì? (phươngtiện) 2 Mô phỏng cái gì? (đối tượng) 3 Mô phỏng như thế nào? (phươngthức) Sau này đến Heghen nhà lí luận phương Tây, ông chia văn học thành baphương thức chính: Tự sự, trữ tình và kịch dựa trên các tiêu chí: 1 Nội dungphản ánh cái gì? 2 Phương thức điển hình hóa như thế nào? 3 Ngôn ngữ biểuđạt ra sao? Ba phương thức trên chia nhỏ thành các thể loại khác nhau, cáchphân chia này gần như được thống nhất từ xưa tới nay Trong hệ thống thể loạivăn học truyền thống phương Tây thì những sáng tác viết bằng hình thức vănxuôi không được coi trọng Họ cho rằng những sáng tác ấy viết bởi ngôn ngữđời sống hàng ngày không thiêng liêng, trang trọng nên bị hạ thấp so với thể loạithơ ca
Trang 21Tương tự như vậy, văn học phương Đông cũng đề cao thơ ca Văn họctruyền thống phương Đông mà tiêu biểu là nền văn học Trung Quốc đặc biệt coitrọng giá trị của thơ ca, vì chúng vừa mang tính thẩm mỹ vừa chứa đựng nộidung sâu sắc “thâm tư hàn táo” (Tiêu Thống) Các nhà lí luận cổ điển TrungQuốc đưa ra nhiều cách phân loại các thể loại Lưu Hiệp phân chia văn thành 20loại, Tiêu Thống chia thành 39 loại, Diêu Huyền chia thành 22 loại…Dù cáchphân chia nào thì trong đó, các thể loại truyện, ký, truyền kỳ, tiểu thuyết cũng bị
hạ thấp, thậm chí đặt ra ngoài phạm vi văn chương
Văn học phương Đông và phương Tây đều coi trọng thơ ca là thiêng liêng,cao quý, là cái đẹp Tuy nhiên cái đẹp theo quan niệm phương Tây nghiêng vềcác giá trị thẩm mỹ còn cái đẹp của phương Đông lại được đánh giá thông quacác giá trị đạo đức
Văn học truyền thống phương Đông và phương Tây đều quan niệm giốngnhau như vậy về vị trí của thể loại văn xuôi Song trên con đường phát triển hiệnđại hóa văn học, thể văn xuôi ngày một lớn mạnh và khẳng định được vị thế caohơn Ngôn ngữ văn học dần đến gần hơn với ngôn ngữ bình dị của đời sống.Ngôn ngữ chính là một tiêu chí quan trọng đánh dấu bước chuyển của nền vănhọc trung đại sang nền văn học hiện đại Sự chiếm ưu thế dần của ngôn ngữ vănxuôi cũng kéo theo sự phát triển ngày càng mở rộng của các thể loại văn xuôi Ởphương Tây sự phát triển của tiểu thuyết đánh dấu sự ra đời của nền văn học cậnđại và hiện đại Tiểu thuyết trở thành thể loại trung tâm của văn học, tiểu thuyết
là của thời đại tiểu tư sản Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ của “thời đanghoàn thành” Quá trình phát triển của tiểu thuyết đồng thời với quá trình pháttriển hiện đại hóa văn học diễn ra từ thế kỷ XV, XVI, kéo dài tới hết thế kỷ XX
Ở phương Đông, đại diện là Trung Quốc, quá trình hiện đại hóa diễn ra muộnhơn Trong sự phát triển của nền văn học ở phương Đông, các thể loại văn xuôinhư tiểu thuyết, truyện ký cũng khẳng định vị trí của mình ngày càng mạnh mẽhơn Ở văn học Việt Nam cho tới cuối thời kỳ trung đại, các thể loại như tiểuthuyết, ký…cũng dần đi vào trung tâm của văn học Sang thế kỷ XX, với những
Trang 22tiền đề quan trọng của lịch sử - văn hóa, cũng như trong chính nội hàm văn học,các thể văn xuôi nói chung, thể du ký nói riêng đã thực sự có điều kiện để pháttriển một cách mạnh mẽ
1.3.2 Du ký trên Nam Phong tạp chí
Trong công trính Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí (1917 - 1943)(1),nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14 bộ môn vànêu nhận xét về thể tài du ký (còn được ông gọi là du hành): “Nhiều khi chúng
ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biếttới những cảnh gấm vóc giang sơn Thì đây, theo tờ Nam Phong, chúng ta có thểlàm lại phần nào cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp
đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn tới đảoPhú Quốc, từ núi Tiên Du tới cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, HạLong tới Huế thơ mộng…”
Mục du ký trên Nam Phong tạp chí trong suốt 17 năm hoạt động của báo đãtập hợp được 62 tác phẩm của gần 40 tác giả Những tác giả ở đây có người làchuyên nghiệp, có người chỉ là những cây bút nghiệp dư Họ có thể là người nhohọc, người tây học, là nhà báo, nhà văn, nhà khảo cứu… Có người đi vì sự vụ,công vụ, có người đi chỉ là sở thích du lịch mà thôi Chính những mục đích, tưtưởng khác nhau đó của mỗi người đi đã tạo ra sự phong phú, độc đáo cho cáctác phẩm du ký Có thể nói, mỗi tác phẩm là một bức tranh hiện thực tươi mới,trong đó còn đong đầy dấu ấn, những tình cảm cá nhân chân thành và xúc độngcủa người đi - người viết
Thể du ký trên Nam Phong tạp chí là sự tổng hợp của nhiều tác giả, nhiềumảng chủ đề, đề tài, phản ánh những hiện thực khác nhau Người đọc có thểphân loại các tác phẩm này theo chủ thể sáng tác, theo các vùng văn hóa đượcgiới thiệu trong tác phẩm… Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn trong tác phẩm
Du ký Việt Nam(2) đã phân loại du ký thành 5 dòng chính,
1 (1) Nguyễn Khắc Xuyên – Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí (1917 - 1934), Trung tâm
Học liệu ấn hành, Sài Gòn 1968
Nguyễn Hữu Sơn – Du ký Việt Nam, tạp chí Nam Phong (1917 - 1934), NXB Trẻ 2007
Trang 23- Dòng du ký mang tính quan phương, sự vụ, công vụ Kiểu du ký này
thường do các trí thức, ký giả quan lại ghi chép như: Một tháng ở Nam kỳ, Mười
ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký (Phạm Quỳnh); Tổng thuật về việc phái
bộ Bắc kỳ đi quan sát đường xe lửa Vinh – Đông Hà (Song Cử); Lược ký đi đường bộ từ Hà Nội vào Sài Gòn (Mẫu Sơn Mục N.X.H).
- Dòng du ký viễn du, những chuyến du hành vượt biên giới Đó là những
du ký dài hơi, phong phú, hấp dẫn như: Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác), Du
hành xứ Lào (Phạm Quỳnh), Ai Lao hành trình (Trần Quang Huyến)…
- Dòng du ký hướng tới khảo sát, giới thiệu cả một vùng văn hóa rộng lớn:
Hành trình mạn ngược từ Cao Bằng xuống Phú Thọ (Thái Phong Vũ Khắc
Tiệp), Bài ký phong thổ tỉnh Tuyên Quang (Nguyễn Văn Bân)…
- Dòng du ký thiên về khảo cứu danh nhân lịch sử, truyền thuyết và sự tích
liên quan tới một địa danh cụ thể: Ba nà du ký (Huỳnh Bảo Hòa), Bài ký chơi
Cổ Loa, Cuộc đi chơi năm tầng núi (Tùng Vân)…
- Dòng du ký mà yếu tố “vị nghệ thuật” chiếm quan trọng như: Trẩy chùa
Hương (Thượng Chi), Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Mai Khê)…
Như vậy, với 62 bài du ký đã cho thấy rõ diện mạo của một thể tài vănchương xuất hiện trên báo chí quốc ngữ đầu thế kỷ XX Ngoài nội dung hiệnthực phản ánh rộng lớn, mới mẻ, thể du ký trên Nam Phong tạp chí còn ghi dấu
sự tìm tòi, thử nghiệm của các tác giả trước lối viết theo hướng hiện đại Ở mức
độ nào đó, ta có thể khẳng định sự phát triển của thể du ký trên tạp chí NamPhong đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam Trảiqua hơn 70 năm, đến nay bộ dy ký trên Nam Phong tạp chí vẫn là một kho tưliệu quý, một chứng tích của thời gian “Bộ du ký này là một sự tập hợp một lúcnhiều giá trị: văn học sử, xã hội học, văn hóa học, dân tộc học, địa lý, phongtục… Và tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước thể hiện một cách hồn nhiên nhất.Người xưa viết du ký trước hết là một cách cảm nhận không gian, còn người nayđọc du ký sẽ ám ảnh hơn về cảm giác thời gian” (Vũ Tuấn Anh)
Trang 25Chương II: Du ký trên Nam Phong tạp chí - Bức tranh hiện
Tác giả Nguyễn Bá Trác trong Hạn mạn du ký, khi giới thiệu về thành Bắc
Kinh của Trung Quốc đã miêu tả một cách, chi tiết cụ thể: “Kinh thành chu vi có
40 dặm, thành cao 35 thước rưỡi Chia ra làm 9 cửa Chính nam là cửa ChínhDương, nam chi tả là cửa Sùng Văn, nam chi hữu là cửa Tuyên Vũ Đông là cửaTriêu Dương và cửa Đông Trực, Chính tây là cửa Phụ Thành và cửa TâyTrực…”[29,235]
Phạm Quỳnh trong Du lịch xứ Lào cũng không quên ghi lại những dữ liệu
địa lý của nước bạn láng giềng như: Diện tích Ai Lao là 214.000 km2, tổng sốdân Ai Lao khoảng 875.000 người, khí hậu thì tùy nơi thung lũng hay caonguyên mà khác nhau, cả nước Ai Lao có con sông lớn nhất chảy qua là một bộphận của sông Cửu Long dài 1.300 cây
Hay khi nói về người Khách trên nước mình, Phạm Quỳnh đã dẫn ra nhữngcon số cụ thể, để cho thấy, sự bành trướng, xâm chiếm của người Khách đối vớidân ta: “Hải Phòng tức là chợ Lớn Bắc Kỳ có 8.991 người khách, mà Chợ LớnNam Kỳ có những 75.000 khách với 4.873 người Minh Hương! Hà Nội có 3.377người khách với 825 người Minh Hương, và Sài Gòn có những 22.079 người
khách với 677 người Minh Hương” [30,151] (Một tháng ở Nam Kỳ).
Trang 26Theo chân tác giả Nguyễn Văn Bân tới tỉnh Tuyên Quang, người đọckhông chỉ được chiêm ngưỡng những danh lam thắng cảnh, mà còn ít nhiều biếtđược những đặc điểm địa lý nơi đây: “Hiện nay tỉnh Tuyên Quang còn có nămphủ, huyện, châu là: Yên Bình, Yên Sơn, Hàm yên, Chiêm Hóa và Sơn Dương;
số dân đinh 8.591 người, số điền thổ 42.149 mẫu; số dân Mán là 1.532 nhà, số
thuế chính cung cộng được 31.7900$99…”[31,333] (Bài ký phong thổ tỉnh
Tuyên Quang).
Tác giả Trần Trọng Kim trong bài du ký Sự du lịch đất Hải Ninh nhằm cho
người đọc thấy rõ vị trí, địa thế tỉnh Hải Ninh nên đã ghi chú một cách cụ thể:
“Tỉnh Hải Ninh phía bắc và phía tây thì giáp tỉnh Quảng Đông và Quảng Tâybên Tàu, và tỉnh Lạng Sơn bên ta; phía nam và phía đông thì giáp tỉnh QuảngYên và giáp bể” [q2 26]
Như vậy du ký là một thể tài đặc biệt vì ở nó ngoài giá trị văn học còn cónhững giá trị khác Đọc du ký, người đọc còn có thể tìm thấy không ít những tưliệu mang giá trị địa lý Để có được những tư liệu địa lý cụ thể như vậy, chứng
tỏ những nhà du ký đã phải tìm hiểu kỹ lưỡng những nơi mình đi qua, cũng nhưphải viết những điều ấy sao cho khách quan nhất, chính xác nhất
2.1.1.2 Giá trị lịch sử
Du ký, ngoài giá trị văn chương, giá trị địa lý còn là một kho tư liệu quý vềlịch sử Các tác giả du ký không chỉ quan tâm đến hiện tại mà còn xúc độngdựng lại truyền thống bất khuất của cha ông Những danh nhân lịch sử, những
truyền thuyết, sự tích được tái hiện lại trong hàng loạt các tác phẩm như: Một
buổi đi xem đền Lý Bát Đế (Phạm Văn Thư), Bài ký chơi Cổ Loa (Tùng Vân), Mười ngày ở Huế (Phạm Quỳnh), Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh (Nguyễn Đức
Tánh), Thăm lăng Sĩ Vương, Nam du đến Ngũ Hành Sơn (Nguyễn Trọng Thuật)
… Những truyện lịch sử, những truyền thuyết ấy có khi được các tác giả trựctiếp kể lại, cũng có khi nó được gợi lên một cách gián tiếp trong câu chuyện vềmột danh thắng, một vùng miền khi “mắt đã được trông, tai đã được nghe, tinh
Trang 27thần đã cảm cái hồn xưa của loài giống, thân thể đã gội cái khí thiêng của núisông” [29,25].
Viết về lịch sử, có những tác giả đi vào việc kể lại truyện các danh nhân,các nhân vật anh hùng, với một thái độ ngợi ca, trân trọng sâu sắc Trong bài du
ký Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh, tác giả Nguyễn Đức Tánh đã dành nhiều trang
văn viết về lịch sử ông Nguyễn Xí, ông Nguyễn Đình Đắc vốn là những ngườicon của đất xứ Nghệ, là những bậc anh hùng của dân tộc
Tác giả Đông Châu trong Qua chơi mấy nơi cổ tích đất Ninh Bình, khi viết
về đỗng Hoa Lư đã nhắc tới vị tướng Đinh Bộ Lĩnh - con người đã “ ứng thờivận mà sinh ra lúc bấy giờ, lập ngay nên được cơ đồ thống nhất” [30,128] Đặtchân lên mảnh đất Ninh Bình, tác giả đã có ngay những cảm tưởng, suy nghĩ vềlịch sử, về truyền thống cha ông: “Ấy cuộc đi chơi này chúng ta đối về phươngdiện lịch sử thì ai là chẳng cảm tưởng đến sự nghiệp vua Đinh, vua Lê; mà đối
về phương diện cổ tích thì chúng ta hãy còn trông thấy có cổ miếu, có sơn lăng,
ai là chẳng nức lòng kính ngưỡng” [30,130]
Tác giả Phạm Quỳnh qua du ký Mười ngày ở Huế, cũng đã lần lượt giới
thiệu với bạn đọc câu chuyên các vị vua triều Nguyễn trong khi thuật chuyện đithăm các lăng tẩm
Ngoài các danh nhân văn hóa, các nhân vật anh hùng, thì những truyềnthuyết về các đền miếu, các địa danh, các vùng miền cũng được nhiều tác giảquan tâm Viết về vùng đất Quảng Xương, ngay phần mở đầu bài du ký, tác giảThiện Đình đã nói về sự tích đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, là những di tíchcủa mảnh đất này: “Tục truyền đời xưa, xã Tường Lệ đêm hôm mồng bảy thángGiêng Mưa to gió lớn, nước ở ngoài bể dâng lên ngập ngang núi, chung quanhnúi bao nhiêu cây cối đổ dập cả xuống đất, dân cư chỗ ấy lấy làm kinh sợ, hômsau có người trèo lên đỉnh núi xem, thấy có dấu chân rất lớn in trên hòn đá, dàihơn một thước, dân cư không ai hiểu vết chân ấy có tự bao giờ, và không biếtdấu chân đức thần nào mới hiện ra đó Đến ngày mười bảy tháng ba năm ấy,bỗng có một trăm cây gỗ lim tự ngoài bể trôi vào đến chân núi, dân cư chỗ ấy
Trang 28mới nhân gỗ ấy lập đền thờ ở chỗ vết chân ấy gọi là đền Thượng, giữa lại làmmột cái đền gọi là đền Trung, dưới chân lập một cái đền nữa gọi là đền Hạ”[31,73-74]
Giống như tác giả Thiện Đình, tác giả Nguyễn Đức Tánh khi dừng lại ở
mỗi một địa danh, cũng không quên ghi lại sự tích về nơi ấy Trong bài ký Các
nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh, tác giả đã kể lại sự tích đình làng Hoành Sơn, sự tích
Ngũ Long (tục gọi là đền Thánh Mẫu), sự tích chùa Diên Quang là những nơitác giả đi qua
Viết về lịch sử, cũng đôi khi chỉ là những truyền thuyết xưa, nhưng được
các tác giả kể lại, nhìn nhận và đánh giá với những quan niệm riêng Đọc Bài ký
chơi Cổ Loa của Tùng Vân, độc giả không chỉ được nghe lại những câu chuyện
xung quanh truyền thuyết An Dương Vương, mà còn được nghe những lời luậnbàn của người viết: “Oan có thể giải được, cái oan ấy không kỳ, oan mà không
có thể giải được, cái oan ấy mới kỳ” [29, 498] Nói về nỗi oan của Mỵ Châu,dẫn giải nhiều lý lẽ, cuối cùng tác giả kết luận: “Lịch sử nàng hình như có thắt
mà không có cởi Cho nên khi luận đến lịch sử nàng, mực với nước mắt cũngkhá dồi dào, duy đến triết lý thì khô khan Rút lại chỉ phê vào lịch sử nàng được
có một câu rằng “Đau đớn thay phận đàn bà” mà thôi” [ 29,499]
Qua các trang du ký, từ những cổ tích, truyền thuyết, tới những câu chuyện
có thực trong lịch sử về các nhân vật anh hùng, các triều đại, các di tích… đãđược tái hiện một cách phong phú, sinh động Những câu chuyện lịch sử vốn
“khô khan” thì nay, được kể lại dưới con mắt của những nhà văn, nhà báo, nhàkhảo cứu; được kể lồng ghép giữa các câu chuyện về thiên nhiên, phong tục tậpquán, bỗng trở nên hấp dẫn, cuốn hút Để viết được những câu chuyện lịch sửnhư vậy, chứng tỏ những nhà du ký phải rất am hiểu lịch sử, cũng như có mộttấm lòng yêu nước chân thành, sâu sắc
Nhắc lại, ngợi ca lịch sử dân tộc, các tác phẩm du ký đã góp phần lưu giữ
và truyền lại truyền thống anh hùng, cũng như khơi thêm tinh thần yêu nướcthương nòi trong mỗi thế hệ những người dân đất Việt Những tác phẩm du ký
Trang 29đậm chất lịch sử ấy, đặc biệt có giá trị trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, khi đấtnước đang bị thực dân Pháp ngoại xâm, khi niềm niềm tự tôn dân tộc hơn baogiờ hết cần được khẳng định và nâng cao.
2.1.2 Phong cảnh, danh thắng
Du ký là những trang viết khi đi đường, ghi lại những nơi, những việc màchính người đi mắt thấy tai nghe Đọc du ký, trước tiên độc giả sẽ được thưởngngoạn muôn vàn cảnh trí, sẽ được mở rộng tầm mắt rộng khắp đất nước và trảidài ra cả ngoài nước Với 62 tác phẩm du ký, các tác giả đã cho người đọc thấynon sông đất nước Việt Nam từ Bắc chí Nam, suốt một dải chữ S, nơi đâu cũngđẹp cũng diệu kỳ Các danh lam, thắng cảnh, từ Tuyên Quang, Cao Bằng tới HàTĩnh, Sài Gòn, từ vùng núi tới hải đảo, từ miền ngược tới miền xuôi, đều được tảlại một cách tỉ mỉ, sinh động trong những trang văn của những nhà văn, nhà báo,nhà khảo cứu Nếu trước đó, người dân ta vốn chỉ quen cuộc sống trong lũy trelàng, nơi này không biết nơi kia, thì nay nhờ du ký họ có thể “ngồi một chỗ màthấy ngoài muôn dặm”
Đó là cảnh biển nên thơ trong Chơi Phú Quốc của tác giả Mộng Tuyết:
“Bãi cát trắng phau, chạy dài hàng mấy nghìn thước Ngoài khơi xa, lác đác mấychiếc thuyền đánh cá, cánh buồm trắng in vào đám mây hồng Bên rặng núi mờxanh, nhởn nhơ đàn nhạn lạc, tạo thành một bức tranh ảnh khổng lồ tuyệt đẹp(…) Cảnh đêm ở giữa biển thật có vẻ thần bí lạ Mấy chòm cù lao nằm êm lặngtrên mặt nước âm thầm Thỉnh thoảng một con cá lội qua làm xao động mặtnước hiện ra một vệt sáng trắng lòe, rồi lại tan ngay” [29,392]
Là cảnh đẹp của động đá được tác giả Đông Hồ ghi lại trong bài du ký
Cảnh vật Hà Tiên: “… Đến cây cột trụ này thì lại càng qúy lạ lắm Suốt từ trên
chí dưới trên mặt cột như cẩn muôn ngàn hột ngọc kim cương măng mẩn Cóbóng đèn rọi vào, ánh sáng lại càng tôn, muôn điểm ngàn người lấp la lấp lánhbày ra một cái vẻ đẹp truyệt trần…từ cây cột kim cương ấy vô nữa thì đá bắcliền nhau, nghiêng nghiêng trông như một cây thang bắc trong một nơi cungđiện nào” [29,631]
Trang 30Theo chân tác giả Đặng Xuân Viện, người đọc có thể tham gia vào cuộc
Định Hóa châu du ký, để thấy được vẻ đẹp của những danh thắng như sông
Hương, cửa Hàn, Ngũ Hành sơn: “Sông Hương là một cảnh danh thắng tronghai mươi cảnh ở kinh thành, đã từng liệt vào đồ họa và phẩm đề từ thuở tiềntriều, gọi là “Hương giang vãn phiếm” Tác giả không chỉ giới thiệu cảnh màcòn đưa ra những nhận xét và cảm nhận của riêng mình, khiến cho cảnh vật càngtrở nên sinh động và gần gũi: “Ngày nay bức họa phong cảnh ấy lại nhuận sắcthêm vào những nét mới, lại càng thêm hoạt động Một dải tràng giang phân đôithành thị, hai bên bờ san sát thành quách, lâu đài, phố xá, chợ búa, hoa cỏ inxuống mặt nước long lanh” [30,217-218] Hay đây là cảnh Ngũ Hành Sơn đượctác giả miêu tả chi tiết, từ lịch sử tên gọi của nó: “Ngũ Hành Sơn là một chòmnúi bằng đá hoa lô nhô ở xã Du Xuyến, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia tỉnhQuảng Nam Chòm núi ấy có năm quả lớn gần nhau, người ta lấy tên năm vịsao kinh tinh là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ đặt tên cho từng quả một mà tómgọn là Ngũ Hành Sơn”[31,227]
Nếu như cảnh Ngũ Hành sơn hùng vĩ, uy nghi thì tới với cảnh Bà nà, trong
Bà nà du ký của nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa, độc giả có thể đứng trên đỉnh núi
cao, mà phóng tầm mắt bao quát cả một khung cảnh nên thơ: “Phong cảnh thì tứ
bề non cao chồng chất, chớn chở như thành lũy pháo đài, dưới thì làng mọiruộng nương lúa bắp xanh tốt như chàm…trông ra cửa biển mênh mông bátngát, ngó xuống bình nguyên giang sơn gấm vóc, phô bày giữa quảng trờiNam”[30,64]
Các danh thắng của đất nước, mỗi nơi mang một vẻ đẹp, một bản sắc riêng
Đó có thể là cảnh núi non, cảnh biển mênh mông hay chỉ là một dòng sông trongđêm trăng, một miền quê trù phú… nhưng tất cả đã hiện lên chân thực và sinhđộng dưới những trang du ký Viết về những danh lam thắng cảnh của đất nước,các tác giả đã thể hiện rõ một thái độ ngợi ca, một tình yêu tha thiết dành choquê hương, cho dân tộc mình Và tình yêu ấy, dường như còn truyền sang cả baothế hệ những người đọc du ký
Trang 31Không chỉ miêu tả, ngợi ca những cảnh đẹp của đất nước, mà trong nhữngchuyến hành trình vượt ra ngoài biên giới, các tác giả còn giới thiệu cho bạn đọc
biết bao địa danh, phong cảnh trên thế giới Trong những tác phẩm như: Hạn
mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Pháp du hành trình nhật ký, Du lịch xứ Lào của
Phạm Quỳnh, Ai Lao hành trình của Trần Quang Huyến, hay Trên đường Nam
Pháp của Tùng Hương, những xứ sở xa xôi, đã được các tác giả nhìn nhận và
đánh giá một cách khá tinh tế và sâu sắc Đây là quang cảnh Nam Vang(Phnompenh), kinh đô Cao Miên dưới con mắt của tác giả Trần Quang Huyến:
“Dinh vua lộng lẫy, cung điện oai nghi Ở gần đấy có chùa Vàng, chùa Bạc,cảnh đẹp có tiếng; trong có tượng tuyền bằng vàng, bằng bạc, lại lắp mặt kimcương lóng lánh, còn lắm đồ kim ngân châu báu, coi rất kỳ lạ Ở bến tàu trônglên, tháp cao mấy từng, lầu cao mấy mái, chót vót lưng trời, ánh lồng đáynước Suốt một dọc sông, lâu đài quang cảnh, thiệt là ngoạn mục”[31,261] Khi đứng trước những danh thắng, những cảnh vật của nước bạn, các tácgiả thường không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, mà còn luôn đưa ra những nhậnxét, đặc biệt là những đánh giá, so sánh cho thấy sự am hiểu sâu sắc của người
viết Trong Du lịch xứ Lào, Phạm Quỳnh đã dành những trang viết về tín
ngưỡng Phật giáo, về chùa chiền của nước bạn: “Ở Sisaket có một cái chùa lớn ởgiữa, chung quanh là các tăng xá cho các sư ở Bao nhiêu tượng Phật bằng đồng,bằng đá, bằng gỗ, lớn nhỏ các hạng, sưu tập ở các nơi chùa cổ am xưa ở các nơi
đổ nát, đều đem họp cả lại về đây Tượng đủ các hình, nào tượng Phật ngồi tòasen, nào Phật thề với đất, Phật nguyện chúng sinh, Phật dẹp song dục, toàn lànhững kiểu phổ thông bên Lào, bên Xiêm, các tượng Phật bên ta không có đủnhư thế, ở một chùa Sisaket này tượng Phật tính cả thảy được ba bốn nghìn pho”[29,434]
Trong các tác phẩm viết về những cuộc hành trình vượt ra ngoài biên giới,
phải kể tới tác phẩm Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác Bài viết đã ghi lại một
hành trình dài của nhà văn qua các đất nước như: Nhật Bản, Triều Tiên, TrungQuốc… Khi dừng chân ở vùng đất nào, tác giả cũng ghi lại những phong cảnh,
Trang 32những vẻ đẹp mang tính đặc thù của đất nước ấy, giúp cho người đọc có sự hìnhdung một cách cụ thể, rõ nét về các nước bạn.