việc nghiên cứu văn bản nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch là một nhu cầu khách quan mang tính điển hình về mặt văn bản học đối với di sản Hán Nôm.
Trang 1§¹i häc Quèc Gia Hµ Néi Trêng §¹i häc Khoa häc X· héi vÀ Nh©n v¨n
*****
NGUYỄN THỊ HOA LÊ
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI
VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM
MÃ SỐ: 60.22.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TRẦN NGHĨA
H À NỘI - 2007
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài:
Theo sách DSHNVN-TMĐY cho biết, hiện nay ở Viện nghiên cứu HánNôm có tới 9 tác phẩm chữ Hán mang tên tác giả Nguyễn Khắc Trạch, với đủcác thể loại như thơ, văn, trướng, đối…Ngoài số này ra, tác phẩm của NguyễnKhắc Trạch còn được chép lẫn trong không ít sách của người khác
Trong các tác phẩm đó, thơ chiếm phần chủ yếu Bản nhiều nhất có đến
422 bài (bản VHv.212), về văn, bản nhiều nhất có 54 bài Nếu tổng cộng các vănbản lại, có đến hơn một nghìn bài thơ và mấy trăm bài văn Số lượng thơ vănnhư thế quả là đồ sộ Nhưng đó mới chỉ là nhìn từ góc độ hình thức Còn khi đisâu vào nội dung cụ thể từng văn bản ta mới thấy chúng đang hàm chứa nhiều
ẩn số Các nhà văn bản học Hán Nôm cho biết kho thư tịch Hán Nôm của chúng
ta hiện nay, nhất là các văn bản viết tay, thường có nhiều vấn đề phức tạp, rốirắm về mặt văn bản Nào là “thật giả lẫn lộn, sao đi chép lại quá nhiều”; nào là
“khó đọc, khó hiểu”…Các văn bản của nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn KhắcTrạch hiện còn cũng không nằm ngoài tình trạng đó Khi xem cụ thể nội dungtrong từng tác phẩm, thấy sự tương đồng và dị biệt giữa các tác phẩm rất nhiều.Ngoài ra, có những bản còn có chép cả thơ văn của người khác Bởi vậy, việcnghiên cứu văn bản nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch là một nhucầu khách quan mang tính điển hình về mặt văn bản học đối với di sản HánNôm Đó là lí do đầu tiên thôi thúc tôi lựa chọn đề tài này
Lí do thứ hai, nhóm tác phẩm mang tên tác giả Nguyễn Khắc Trạch chủyếu ra đời vào thời Nguyễn Đây là thời kì khoa cử rất phát triển, người đỗ đạt
rất nhiều, vì vậy người trùng tên trùng họ cũng không ít Trong các sách như Cổ
kim trùng tính trùng danh khảo của Mai Phong - Đặng Xuân Khanh, sách Hán ra
đời vào khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, hay Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục, hoặc Trạng nguyên Tiến sĩ hương cống Việt Nam, và Những
ông nghè ông cống triều Nguyễn… đều cho biết thời Nguyễn có bốn người trùng
tên họ, đều đỗ Cử nhân tên là Nguyễn Khắc Trạch Vậy nhóm tác phẩm mangtên tác giả Nguyễn Khắc Trạch trên là thuộc về ai trong số bốn vị này? Học giả
Trần Văn Giáp trong sách Lược truyện các tác gia Việt Nam Nxb.KHXH, 1971
Trang 3đã cho rằng nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch hiện còn là củaNguyễn Khắc Trạch ở làng Bình Hồ, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện ChâuGiang, tỉnh Hải Hưng Gần đây, Nguyễn Khắc Chính, hậu duệ của họ Nguyễn
Khắc ở xã Bình Hồ, huyện Đông Yên này đã viết sách Danh nhân Nguyễn Khắc
Trạch thân thế và sự nghiệp, Nxb VHTT 2004 Sách giới thiệu về thân thế và sự
nghiệp của Nguyễn Khắc Trạch ở xã Bình Hồ, huyện Đông Yên, và sách này đãmặc nhiên coi nhóm tác phẩm mang tên tác giả Nguyễn Khắc Trạch là củaNguyễn Khắc Trạch làng Bình Hồ Phần Phụ lục trong sách có trích dịch khoảng
80 bài thơ trong nhóm các tác phẩm này Nhưng điểm mấu chốt khiến cho tôibăn khoăn trăn trở và dẫn dắt tôi thao thức với mỗi dòng chữ trong các văn bảncủa các phẩm, chính là lời của GS Trần Nghĩa người được tác giả Nguyễn KhắcChính mời viết “Lời giới thiệu” cho cuốn sách, GS viết rằng: “Nguyễn KhắcTrạch là quan chức thanh liêm, chính trực, được người đời ngưỡng mộ, quýmến, triều đình trọng dụng Ông đồng thời còn là một nhà văn hóa đa diện, cónhững đóng góp nhất định trong các lĩnh vực giáo dục, lịch sử, kiến trúc, xây
dựng và văn hóa Về sáng tác, sách Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập I, do
Trần Văn Giáp chủ biên, NXB KHXH, 1971, cho biết Nguyễn Khắc Trạch có
các tập thơ văn sau đây: Nhuế Xuyên bạch bút thi tập, Nhuế Xuyên tập, Nhuế
Xuyên thi tập, Nhuế Xuyên văn tập… Nhìn chung, đối với một số tác phẩm Hán
Nôm hiện nay, còn có điều chưa được rõ ràng, cần tiếp tục được nghiên cứu”
Ngay soạn giả Nguyễn Khắc Chính trong sách Danh nhân Nguyễn Khắc Trạch
(1797-1884), thân thế và sự nghiệp, trang 50, chú thích (32), sau khi liệt kê các
tác phẩm của Nguyễn Khắc Trạch, cũng cảm thấy băn khoăn: “Danh mục cáctác phẩm trên tập hợp từ nhiều sách, báo, tạp chí Tuy nhiên vẫn còn những điềuchưa được xác định rõ ràng, cần nghiên cứu thêm” Quả thực khi xem hết lượtcác tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch hiện còn, thấy nhận định của học
giả Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam về tác giả của nhóm
tác phẩm trên đã có chỗ không đúng Ông đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”.Bởi vậy tôi quyết định nghiên cứu văn bản những tác phẩm mang tên NguyễnKhắc Trạch hiện còn, nhằm làm sáng tỏ ai trong bốn vị Nguyễn Khắc Trạchcùng đỗ Cử nhân dưới triều Nguyễn là tác giả đích thực của nhóm tác phẩm này
2 Lịch sử vấn đề:
Trang 4Từ trước đến nay chưa có một chuyên khảo nào về văn bản những tác
phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch Chỉ có sách Danh nhân Nguyễn Khắc
Trạch – thân thế và sự nghiệp xuất bản năm 2004 của Nguyễn Khắc Chính nói
trên có đề cập đến một số khía cạnh nhỏ về nội dung nhóm tác phẩm mang tênNguyễn Khắc Trạch Như trong phần viết về tình hình văn học của tác giảNguyễn Khắc Trạch làng Bình Hồ, Nguyễn Khắc Chính đã giới thiệu tác phẩmcủa ông bao gồm những tác phẩm như LTCTGVN và sách DSHNVN-TMĐY đãthống kê Trong phần phụ lục sách này, tác giả Nguyễn Khắc Chính có giới
thiệu bản dịch và chú thích khoảng 80 bài thơ trích trong tác phẩm Nhuế Xuyên
tùy bút thi tập (VHv.212) và Nhuế Xuyên thi tập (A.444) Theo nguyên chú ở
trong sách, phần trích dịch này do GS.Trần Nghĩa và Thọ Nhân dịch Ngoài ra,trong sách này tác giả Nguyễn Khắc Chính còn trích rất nhiều những nhận định,nhận xét của các sách, các bài báo khác ở tỉnh Hưng Yên viết về sự nghiệp vănhọc của Nguyễn Khắc Trạch ở xã Bình Hồ Chẳng hạn như Nguyễn Phúc trong
sách Danh nhân Hưng Yên (Sở VHTT và Hội VHNT Hưng Yên, 1997) viết:
“Nói về văn chương Nguyễn Khắc Trạch thì thật là một điều khiến nhiều ngườisửng sốt, ông để lại trên một chục tác phẩm với hàng nghìn bài thơ, vài trăm bài
văn…” Còn Hai trăm năm nhớ về một con người (Báo Hưng Yên ngày 06-
12-1997) Thế Hải viết: “Ân Thi xưa sau Nguyễn Trung Ngạn (1298 - 1370) có tàihọc rộng, văn thơ hay phải kể đến Nguyễn Khắc Trạch (1797- 1884), ông đã đểlại hàng nghìn bài thơ và hàng trăm bài văn”
Tóm lại, cũng như Nguyễn Khắc Chính, các sách báo khác ở Hưng Yênkhi viết về Nguyễn Khắc Trạch ở xã Bình Hồ đều cho biết ông có những tácphẩm như Trần Văn Giáp đã cho biết trong LTCTGVN và DSHNVN-TMĐY đãlên thư mục Những nhận định, đánh giá về những tác phẩm của Nguyễn KhắcTrạch còn dừng lại ở mức chung chung, chưa thật cụ thể Bởi vậy, luận văn củatôi sẽ là cố gắng đầu tiên đi vào nghiên cứu văn bản những tác phẩm mang tênNguyễn Khắc Trạch hiện còn được lưu trữ ở thư viện Viện Nghiên cứu HánNôm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Văn bản nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn KhắcTrạch được viết bằng chữ Hán, hiện lưu giữ ở thư viện Viện nghiên cứu Hán
Trang 5Nôm Ngoài ra, những tài liệu liên quan đến các nhân vật mang tên NguyễnKhắc Trạch sống dưới triều Nguyễn cũng là đối tượng nghiên cứu của luận văn.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong điều kiện tư liệu hiện có, và với điều kiện khảnăng cho phép tiến hành việc khảo sát, so sánh, đối chiếu và làm thư mục của 7tác phẩm bao gồm cả thơ lẫn văn
4 Phương pháp tiến hành:
4.1 Phương pháp văn bản học:
Do yêu cầu nghiên cứu văn bản, luận văn sẽ vận dụng các phương pháp củavăn bản học, bắt đầu là việc thu thập đầy đủ văn bản nhóm tác phẩm mang tênNguyễn Khắc Trạch mà cuốn DSHNVN-TMĐY đã nêu trong thư mục Thứ đến,tiến hành mô tả vật lý, đọc văn bản, xử lí các nội dung chứa trong văn bản, làmthư mục các bài thơ bài văn để so sánh đối chiếu nhằm tìm ra bản tiêu biểu nhất,đáng tin cậy nhất Ngoài ra còn tìm hiểu về quá trình truyền bản, chữ kiêng húy
để xác định niên đại của văn bản
4.2 Phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu, phân tích chứng minh
Luận văn thống kê những cứ liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp củacác vị Cử nhân Nguyễn Khắc Trạch trong và ngoài tác phẩm (nội chứng, bàngchứng) để từ đó tiến hành so sánh đối chiếu, từ đó chứng minh ai là tác giả đíchthực của nhóm văn bản này
5 Đóng góp mới của luận văn.
Thứ nhất, trên cơ sở thu thập văn bản những tác phẩm mang tên NguyễnKhắc Trạch hiện còn, tiến hành nghiên cứu văn bản tìm ra bản đáng tin cậy nhất,đây là điều trước đây chưa ai làm Đồng thời, lập thư mục số lượng các bài trongcác dị bản, tiến hành so sánh đối chiếu sự tương đồng và dị biệt để đi đến xácđịnh số lượng các bài thơ, bài văn đích thực của tác giả là bao nhiêu
Thứ hai, từ các nội chứng trong tác phẩm, kết hợp với những bàng chứng
về thân thế và sự nghiệp của tác giả, luận văn đã chứng minh được ai là tác giảđích thực của nhóm tác phẩm này, nhằm đem lại quyền tác giả cho tác phẩm.Tránh tình trạng từ một ngộ nhận của một học giả đi trước mà kéo theo bao nhậnđịnh sai lầm khác của các thế hệ kế sau
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn có 3 chương như sau:
Trang 6Chương 1: Về văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch hiện còn.
Chương 2: Ai là tác giả đích thực của nhóm tác phẩm trên
Chương 3: Sơ bộ tìm hiều giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm.Cuối luận văn là phần Phụ lục (phần trích dịch những bài mà trong luận văn
đã đề cập đến trong Chương 2 và Chương 3)
Trang 7Chương 1
VỀ VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH
HIỆN CÒN 1.1 Tình trạng văn bản.
Sách Di sản Hán Nôm Việt Nam-Thư mục đề yếu (DSHNVN-TMĐY)cho biết văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch tại thư việnViện nghiên cứu Hán Nôm còn có 9 bản Tên gọi các tác phẩm phần lớn có hai
từ chung đứng đầu là “Nhuế Xuyên”, cũng có bản viết là “Nhuế Giang” hay
“Thuấn Nhuế” Theo nội dung bài thơ “Tân định danh hiệu trình Vĩnh Lăng nhị
thú đài” trong tác phẩm Nhuế Xuyên tùy bút thi tập, thì “Nhuế Xuyên” là tên
hiệu của Nguyễn Khắc Trạch tự đặt cho mình Vậy có thể tên gọi các tác phẩmnhư thế là do tác giả tự ghi, cũng có thể do người sưu tầm sao chép số thơ này tự
ý ghi vào Tên cụ thể của các văn bản là:
(1) Nhuế Xuyên thi tập Kí hiệu A.444
(2) Nhuế Xuyên thi tập Kí hiệu VHv.213
(3) Nhuế Xuyên tùy bút thi tập Kí hiệu VHv.212.
(4) Nhuế Xuyên bạch bút thi tập Kí hiệu A.517.
(5) Nhuế Xuyên văn tập Kí hiệu A.2169
(6) Nhuế Xuyên thặng bút văn tập Kí hiệu VHv.214
(7) Nhuế Xuyên trướng tập Kí hiệu VHv.215
(8) Thuấn Nhuế thi văn tập Kí hiệu A.2538
(9) Thọ tịch châu cơ Kí hiệu VHv.608
(10) Ngoài ra, thơ, phú của Nguyễn Khắc Trạch còn có chép trong nhiều
tác phẩm của người khác Như thơ của Nguyễn Khắc Trạch có chép trong Minh
đô thi tuyển Kí hiệu A.2171; Vi giang hiệu tần tập Kí hiệu VHv.216; Vũ trung tùy bút Kí hiệu A.2312 Phú có chép trong Tam đăng Hoàng Giáp trường phú.
Kí hiệu VHv.321
Ở đây chúng tôi chủ yếu chỉ đi vào mô tả tình trạng văn bản và đi sâu tìmhiểu các văn bản độc lập của Nguyễn Khắc Trạch, còn thơ văn trướng phú củaông chép ở tác phẩm của người khác thì chỉ tìm hiểu về phần của Nguyễn KhắcTrạch ở trong đó mà thôi Sau đây là tình trạng của từng loại văn bản
1.1.1 Tình trạng các văn bản thơ.
Trang 81 Bản Nhuế Xuyên tùy bút thi tập Kí hiệu VHv.212
Khổ 15 x 26 cm, viết tay trên giấy dó mỏng đã ố vàng Bìa có hai tờ: tờ bìachính ở ngoài làm bằng giấy các-tông, được quét sơn đen; tờ bìa phụ ở trongbằng giấy dó, quét sơn màu vàng đất Trên tờ bìa phụ thứ hai có tem của “Thưviện khoa học Trung ương” Sau hai tờ bìa chính và phụ, đến tờ ghi tên tácphẩm Tên tác phẩm viết dọc bằng bút lông mực tàu đen, cỡ chữ lớn hơn phầnchính văn Sau tờ này, còn có hai tờ giấy để trống, rồi mới đến phần chính văn
Mặt a tờ thứ nhất (trong hai tờ giấy để trống) có dòng chữ Hán “Sơn Tây Yên
Sơn Thuấn Nhuế nhân, Tự Đức tứ thập niên Tân Dậu khoa Cử nhân, quan sử quán biên tu” Dòng chữ này viết bằng bút mực xanh của thời nay, nên đây là
chữ của người thời nay mới viết vào Tiếp đến là phần chính văn Dòng đầu tiên
của phần chính văn “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất” Sau dòng này,
có một đoạn đề bạt (khoảng ba dòng), tiếp đến thơ
Phần gáy ở hai đầu quét sơn đỏ, để trống một khoảng để viết tên tác phẩm
“Nhuế Xuyên tùy bút thi tập” Bản này không thấy đánh số trang Phần chính
văn tổng cộng 189 trang, mỗi trang văn bản được chép 8 dòng, mỗi dòng cókhoảng 23 đến 24 chữ Cả bản đều chép thơ, tổng cộng 422 bài Tên các bài thơđều viết án xuống nên rất dễ nhận ra Thơ vừa có tứ tuyệt vừa có thất ngôn bát
cú, cũng có lẫn vài bài ngũ ngôn và thất ngôn trường thiên Riêng trong “Nhuế
Xuyên tùy bút quyển chi nhất” đều làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt; còn các
quyển sau thì chủ yếu là thơ thất ngôn bát cú Trong thơ có rất nhiều phụ chú vàcước chú, gần như bài nào cũng có Cước chú và phụ chú, cỡ chữ nhỏ hơn chínhvăn
Dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ gạch, viết bằngbút lông, dùng trong các trường hợp như ngắt câu, bổ sung chữ thiếu, xóa chữviết sai, đồng thời viết chữ đúng theo cách nhìn của người đọc duyệt văn bản.Nét bút duyệt này ở q1và q4 chỉ dùng để ngắt câu, không thấy có sửa chữa haythêm bớt gì Ở q2 và q3 việc thêm chữ, thêm câu chú, gạch bỏ sửa lại xuất hiệntương đối nhiều Tính ra có đến khoảng 45 chỗ Có những chỗ thêm cả câu chú
vào văn bản, như ở trên cùng d8 t77 thêm vào mấy chữ “Lê thần dĩ hạ”; bên phải d6 t80 thêm vào mấy chữ “Thiên cổ trung nhất can bút họa xuất”; bên phải d6 t104 thêm vào mấy chữ “Thiếu bảo Bùi Tuấn dã” vv Ngoài ra, dấu bút duyệt
Trang 9còn đánh dấu các danh từ riêng, địa danh, nhân danh, niên hiệu và khuyên trònbên cạnh một số câu chữ nào đó.
Về chữ húy, chữ “thời” trong toàn văn bản đều nhất quán viết kiêng húythành chữ “thìn” ví dụ ở d5 t20, d8 t167, d5 t167, d7 t171, d1 t174 …
Văn bản không có mục lục, nhưng xem hết lượt thấy cả bản chia làm bốnquyển cộng với một phần cuối chia tác phẩm theo thời gian sáng tác Thứ tự cácquyển và phần phụ thêm cụ thể như sau:
- “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất” từ t1 đến d7 t41.
- “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi tứ” từ d8 t41 đến hết t76
- “Nhuế Xuyên thi tập quyển chi nhị” từ t77 đến d1 t147, cộng với một
phần phụ thêm ở cuối quyển 3 từ t165 đến t170, phần phụ thêm chắc do ngườichép bổ sung
- “Dĩ hạ tại đệ tam quyển” từ d2 t147 đến t163 Giữa quyển ba và phần
chép thêm của quyển hai để trống một mặt giấy Tên quyển ba không trình bàynhư ba quyển trên, tức tên quyển không viết chữ to bằng chính văn và viết giống
quyển 1 và quyển 4 theo kiểu “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi…” mà viết
bằng cỡ chữ nhỏ như phụ chú dưới mục đề của một bài thơ, tức chỉ viết “dĩ hạ
tại đệ tam quyển”, sau bài cuối cùng quyển này còn chú cho rõ thêm “hữu tại đệ
tam quyển”.
- “Nhuế Xuyên thi tập, nc: Đinh Sửu dĩ hạ”, từ t171 đến t189 (đến hết).
Phần này không chia theo quyển mà chia theo trình tự thời gian sáng tác Nămsáng tác được ghi chú ngay dưới tên phần thơ đó
Như vậy bản này vừa chia theo quyển vừa chia theo trình tự thời gian sángtác Các quyển trong văn bản cũng không đặt theo trình tự, q4 lại đặt lên trướcq2 và q3, có lẽ khi sưu tập thơ của tác giả, người chép tìm thấy q4 trước
Trong cả bản, có ba loại chữ khác nhau Cụ thể là: q1 và q4 (t1 đến t53)viết cùng một loại chữ, chữ viết theo thể hành, có nhiều chữ viết theo giản thể,nhưng ít chữ viết ngoáy, nét viết hơi tròn Sang q2 và q3 (t74 đến t170) nét bútnhìn tổng thể khác với phần trên, cũng viết theo thể hành, có nhiều chữ viếtthảo, đá thảo, nét bút phóng khoáng hơn, thể hiện rõ nét thanh nét đậm, vuông
thành sắc cạnh hơn phần trước Phần “Nhuế Xuyên thi tập, Đinh sửu niên dĩ hạ”
Trang 10(t171 đến t189) nét chữ khác với hai phần trên, chữ viết theo thể hành, cũng cóchữ đá thảo Đơn cử ra đây cách viết chữ “聲 thanh” ở trong 3 loại chữ:
Ở q1 và q4, chữ này được viết theo dạng chữ giản thể của thời hiện đại 声,các nét rõ ràng như ở d6 t2, d7 t3, d2 t13, d3 t19, d4 t20, d5 t35, d5 t38, d2 t43,d1 t53, d2 t54, d6 t55, d4 t59, d6 t60, d7 t62, d4 d6 t63…tất cả các chữ “thanh”trong hai quyển này đều viết theo kiểu giản thể này
Ở q2 và q3, chữ “thanh” cũng có một số nơi viết theo giản thể nhưng phầnlớn đều viết theo phồn thể và viết thảo, các nét trong chữ gần như viết liền nhau,như ở: d1 t83, d5 t88, d5 t96, d3 t97, d8 t103, d8 t109, d6 t115, d6 d8 t121, d5t129, d4 t132, d8 t132, d2 t134, d4 t136, d1 t141, d1 t153, d8 t154, d4 t155, d4t156, d8 t157, d4 t159, d5 d7 t162…
Ở phần “Nhuế Xuyên thi tập Đinh Sửu niên dĩ hạ”, chữ “thanh” được viết
theo dạng phồn thể, các nét, các bộ phận trong chữ tương đối rõ ràng, chỉ có bộ
“nhĩ” viết tháu giống như con số 3 trong chữ quốc ngữ bây giờ, ví dụ ở: d8t172,d6t183, d3t185…
Với ba loại chữ khác nhau như thế, cho thấy văn bản này do nhiều ngườisao chép
Trong bản, đầu q1 có một đoạn đề tựa đặt sau dòng “Nhuế Xuyên tùy bút
thi tập quyển chi nhất ” như sau: “Dư nhân bình duyệt bản phủ Thái thú Nguyễn Phát Khoa, (nc: Thừa Thiên Thành Công) Lịch hoạn thi phổ, mỗi ngộ vị an xứ, tùy bút cải chính, cựu hủy tân thành, toại vi kỷ tác, hỗn nhập tập trung, chí dư thi dã Biệt cư tập thủ, minh phi dư đề dã Ngự sử cải thụ Thị lang Thuấn Nhuế Ngoại thôn Nguyễn tiên sinh cẩn thức.” (Ta nhân lúc bình duyệt ‘Lịch hoạn thi phổ’ của Nguyễn Phát Khoa người xã Thành Công, huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên là Thái thú ở phủ ta Mỗi khi gặp chỗ chưa ổn, tiện tay sửa đổi, bỏ
cũ thay mới, bỗng trở thành tác phẩm của ta, rồi chép chung vào trong tập thơcủa ta Nhưng số thơ này để riêng ở đầu tập, vì chúng nguyên chẳng phải là thơlàm theo đề của ta Ngự sử cải thụ Thị Lang Thuấn Nhuế Ngoại thôn Nguyễntiên sinh kính cẩn đề tựa) Theo đoạn đề tựa này, nhất là từ “đầu tập”, ở đây
chưa rõ ý của ông “đầu tập” là của “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất” hay “đầu tập” là phần đầu của tác phẩm “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập” tức cả văn
Trang 11bản, bởi q1 không thấy chia phần Q1 không chia ra từng phần, nhưng dựa vàonội dung các bài thơ trong q1 này, thấy có hai phần:
Phần đầu từ bài 1 đến bài 79, nội dung gồm các bài thơ vịnh về núi sôngphong cảnh nhân tài, tập tục, trường sở, lị quán, hàng phố…ở huyện Quảng
Xương và tỉnh thành Thanh Hóa Bài đầu tiên của phần này là “Quảng Xương
huyện đường” rồi bài “Quảng Xương học xá” vv Để sau đây cho tiện gọi xin đặt
cho phần này là “Thanh Hóa thi”
Phần sau, từ bài 80 đến bài 138, nội dung gồm các bài thơ vịnh về núi sông,cảnh vật, nhân tài, tập tục…ở phủ Quốc Oai Bài đầu tiên của phần này là
“Quốc Oai phủ thành” rồi bài “Quốc Oai phủ học xá” vv Để sau đây cho tiện gọi cũng xin đặt cho phần này là “Quốc Oai thi”
Dưới tiêu đề bài “Quốc Oai phủ thành” của phần “Quốc Oai thi” có cước
chú: “Tập trung đại thú khẩu vẫn” (trong tập này ta thay cho giọng điệu của tháithú) Nếu như dựa vào câu nói này thì phần này lại là thơ của Khắc Trạch ư? Ở
bản Nhuế Xuyên thi tập, Kí hiệu A.444 cũng có phần “Quốc Oai thi” Phần
“Quốc Oai thi” ở Nhuế Xuyên thi tập được mang tên “Nhuế Xuyên lịch hoạn thi
- Quốc Oai thi thảo”, không thấy viết lời tựa nói trên, không thấy chép phần đầu
(phần “Thanh Hóa thi”) Như thế tác phẩm Nhuế Xuyên thi tập A.444 đã công nhận phần “Quốc Oai thi” là của Nguyễn Khắc Trạch.
Nhưng riêng tôi thì không, tôi cho rằng nửa sau của quyển 1 (tức phần
“Quốc Oai thi” <t24b80 đến t41b138> vẫn là thơ của Nguyễn Phát Khoa Kết
luận này căn cứ vào: thứ nhất như lời của tác giả trong bài tựa đầu quyển 1 đãnói: “Nhưng số thơ này để riêng ở đầu tập, vì chúng nguyên chẳng phải là thơ
làm theo đề của ta” “Đầu tập” trong câu này chắc là đầu của “Nhuế Xuyên tùy
bút thi tập” tức đầu tác phẩm Thứ hai, ở trong phần này dưới nhiều bài thơ có
các cước chú ở cuối bài thơ kiểu như: “Nam kì nhân hữu bất tri loa giả, cựu
thường vấn dư, dư thư thử dĩ đáp chi” (Người ở Nam Kì không biết loa như thế
nào, trước đây hay hỏi ta, ta viết bài này để trả lời họ) <Phụ đáp vấn loa, t35 b116>; “Nam Kì vô thử thuế cố Thái thú dị nhi mệnh vi đề” (Nam Kì không có loại thuế này cho nên thái thú thấy lạ mà làm bài này) <Cước mễ thuế, t40b132>; “Nam vô đê bất tri tác pháp dị nhi mệnh chi” (Trong Nam không có
đê, nên không biết cách làm, thấy lạ nên làm bài này) <Đê tâm gia chử,
Trang 12t41b138>…> Nguyễn Phát Khoa là bạn thân với Nguyễn Khắc Trạch SáchNÔNÔCTN cho biết: “Nguyễn Phát Khoa trước có tên là Nguyễn Đôn Khiêmngười xã Thành Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế Thi Hươngkhoa Đinh Mão, Tự Đức thứ 20 (1967) tại trường Thừa Thiên Làm đến chức
Án sát” Theo bài văn “Tứ Quốc Oai phủ nha hạ bản quan trướng tự” (Trướng
trần bày cấp trên ban cho sở quan phủ Quốc Oai chúc mừng quan của bản phủ)
<VHv.214, t126b48>, Phát Khoa sau khi thi đỗ Cử Nhân chức giữ chức đầu tiên
là Án sát tỉnh Thanh Hóa, một thời gian làm Tri huyện huyện Hòa Vinh, phủĐiện Bàn, tỉnh Quảng Nam Sau đó lại cải bổ Thái thú phủ Quốc Oai Khôngnhững Nguyễn Khắc Trạch duyệt bình, nhuận sắc thơ của Nguyễn Phát Khoa
mà còn làm rất nhiều thơ tặng tiễn, chúc mừng ông, chẳng hạn như chùm thơ
“Tập Đường thập thủ tống song linh tân doãn Nguyễn Phát Khoa chi quan”
<A.515, t43>… Thứ ba, cũng theo bài văn “Tứ Quốc Oai phủ nha hạ bản quan
trướng tự” có những đoạn viết: “Tân thú doanh phủ Nguyễn công lai, nhi phụ mẫu ngã, thất nguyệt dĩ cập kim hĩ Mệnh thủy hạ, mạc hữu thức kì tường giả Chất chư Ngự sử Nhuế Xuyên Nguyễn đài, đài viết ‘ngô hữu dã, ngô tri chi, quốc sơ Thành Công tổng trấn quan’… Nhuế Xuyên thường tập Đường thi dĩ tiễn công khứ…Phục văn công hữu ‘Lịch hoạn thi phổ’, cận lai ngã phủ sơn xuyên, cảnh vật, nhân tài, phong tục, đương dĩ nhập vịnh.” (Thái thú mới ông
Nguyễn lớn lao thay đã đến, ông là quan phụ mẫu của bọn ta từ tháng 7 đến nay.Khi mới có lệnh ông đến phủ ta, không có ai biết tí gì về ông cả, bèn đến hỏiNgự sử Nhuế Xuyên Nguyễn đài, ông trả lời rằng ‘là bạn của ta, ta quen ông ấy,ông là quan ở tổng trấn Thành Công từ đầu thời Tự Đức…’ Ông Nhuế Xuyên
thường làm thơ tập Đường để tiễn ông đi…Còn nghe ông có ‘Lịch hoạn thi
phổ’ phong tục, nhân tài, cảnh vật, núi sông của phủ ta gần đây đã được ông vịnh vào trong thi phổ) Thứ tư, trong phần này có nhiều cước chú có khi
dưới câu thơ, có khi dưới tiêu đề: “nguyên, nhuận, tân” (để nguyên, sửa đổi, làmmới) bằng bút mực đen cùng màu với chính văn, nên có lẽ đó là lời chú củaKhắc Trạch khi nhuận sắc phần thơ này Qua đây chúng ta có thể khẳng định
rằng q1 (từ bài“Quốc Oai phủ thành”<b80t25> trở đi) do Nguyễn Phát Khoa
làm, nhưng chắc phần này được Nguyễn Khắc Trạch khi bình duyệt đã sửa đổinhiều, có những chỗ sửa chữa nhiều quá, trở thành như thơ của Khắc Trạch
Trang 132 Nhuế Xuyên thi tập Kí hiệu A.444
Khổ 23 x 32, sách chép tay trên giấy dó dày, giấy còn khá mới Bìa bằngmàu hồng, giống bìa vở học sinh thời nay Sau tờ bìa chính có tờ bìa phụ bằng
giấy dó, trên đó viết: “Nhuế Xuyên thi tập - Tốn Trai thi tập hợp đính” Dòng
này được viết bằng bút mực xanh của thời nay, nên đây là do người sau này mới
viết Sau tờ này đến tác phẩm Nhuế Xuyên thi tập Đây là bản hợp đính nên có hai tác phẩm, tác phẩm Nhuế Xuyên thi tập có kí hiệu A.444 ở nửa đầu văn bản, nửa sau là Tốn Trai thi tập kí hiệu A.445 Phần gáy quét sơn đỏ, trên đó viết tên
của tác phẩm nhưng do mối mọt ăn nên đã mất một số chữ chỉ còn “Xuyên thitập - Tốn Trai thi” Như vậy đã mất đi chữ “Nhuế” và “tập hợp đính”
Ở mỗi trang, mép bên ngoài đều ghi Nhuế Xuyên thi tập, phía dưới ghi số
thứ tự tờ Phần chính văn tổng cộng 246 trang, viết trên hai mặt giấy, mỗi trangvăn bản có 9 dòng, mỗi dòng có khoảng 19 chữ Dòng đầu tiên tờ 1 phần chínhvăn là “Nhuế Xuyên cử nhân Nguyễn Khắc Trạch thi tập”, ở đây chữ “Trạch”tên tác giả được viết bằng chữ (澤), nhưng ở các bản khác đều viết chữ (宅), cỡchữ dòng này bằng chính văn Từ đầu tác phẩm đến cuối tác phẩm được viếtcùng một loại chữ, chữ chân phương, rõ ràng, dễ đọc Các cước chú, phụ chúkhá nhiều, nhưng viết không nhất quán, có chỗ viết chữ nhỏ hơn phần chính văn(ví dụ: d4 t39; d1 t39; d2 t41), có chỗ lại viết chữ to bằng phần chính văn (d7,8t38; cả trang 49) Tiêu đề các bài thơ viết không đài lên hay án xuống nên rấtkhó nhận ra
Dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ hồng, bằng bútlông, dùng trong các trường hợp như ngắt câu, đánh dấu bên địa danh, nhưngkhông thấy sửa chữa, gạch xóa hay thêm bớt Cả bản đều nhất quán viết kiênghúy chữ “thời” thành chữ “thìn”
Văn bản không có bạt tựa gì, tên tác phẩm là “thi tập”, nhưng trong đó chéplẫn cả thơ, văn, phú và câu đối Cả bản tổng cộng có 331 bài thơ, 19 bài văn,hơn 100 cặp câu đối, câu đối chép xen lẫn trong phần văn Từ trang đầu đếntrang 159 chép thơ, sau trang 159 đến hết chép văn và câu đối
Mặc dầu không chia quyển nhưng có các phần đặt theo trình tự như sau:
- “Nhuế Xuyên Cử nhân Nguyễn Khắc Trạch thi tập” từ t1 đến t92,
Trang 14- “Hoàng triều ngự chế quan chức thi” từ d4 t92 đến hết t126 Trong phần này, cuối một số bài thơ, cuối một số tiêu đề có những cước chú như: “Giải
nguyên quan soạn” <d6 t94> gồm ba bài, “Hữu Sơn Lộc tú tài đệ họa” <d2
t108>; hoặc tiêu đề một số bài thơ kiểu như: “Ngự chế Hoài Như Thanh sứ
Phan Huy Vịnh đẳng tác” <b202 t109>, “Sơn Tây tổng đốc quan soạn chẩm thi nhị thủ” <b202 t109>, “Ngự chế khấp Nhạc Vũ Mục” <b206 t111>, “Sử cục biên tu Phạm Vũ Khải phụng họa” <b207 t111>, “Trường Xuân phủ doãn Lê Khắc Cẩn phụng họa” <b208 t112> vv Như vậy, theo như tên của phần thơ
“Hoàng triều ngự chế quan chức thi” nên trong phần này có thơ của nhiều khác.
Tính ra có 17 bài có chú hoặc tiêu đề dạng như vậy
-“Nhuế Xuyên lịch hoạn thi - Quốc oai thi thảo” từ t126 đến t146, có 57 bài
thơ, toàn thơ làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt 57 bài thơ phần này tương đồng
với phần “Quốc Oai thi” ở nửa sau q1 của bản VHv.212 nói trên Như đã chứng
minh, nhận định trong phần tình trạng bản VHv.212, đó là thơ của Nguyễn PhátKhoa
- Cuối t146 sau phần thơ “Nhuế Xuyên lịch hoạn thi-Quốc Oai thi thảo” códòng cước chú “Thượng chư thi Lê triều Trần tiến sĩ cảm tác” (Trên đây là cảmtác của Tiến sĩ Trần triều Lê) Nếu theo ý câu chú này, phần “Nhuế Xuyên lịchhoạn thi - Quốc Oai thi thảo” là cảm tác của Tiến sĩ Trần triều Lê Nhưng theobài tựa ở bản VHv.212, đó là thơ của Nguyễn Phát Khoa, được Nguyễn KhắcTrạch bình duyệt và nhuận sắc Vậy có lẽ người sao chép đã viết nhầm chăng?Quả đúng như lời phỏng đoán, bởi sau dòng chú “Thượng chư thi Lê triều Trầntiến sĩ cảm tác” có 31 bài thơ Đến cuối bài thứ 26 trong 31 bài này (t157) lại códòng cước dưới một bài thơ: “Hữu chư vịnh Lê triều Trần tiến sĩ cảm tác” (Phầnbài vịnh ở trên là cảm tác của Trần tiến sĩ triều Lê) Như vậy chữ “thượng” trong
“Thượng chư thi Lê triều Trần tiến sĩ cảm tác” ở trang 146 phải đổi là “hạ” mới
ăn khớp với chú ở t157, như thế người sao chép đã viết nhầm Vậy 26 bài trongphần này là của Tiến sĩ Trần triều Lê
- Tiếp đó (t158 và t159), còn có 4 bài thơ, không thấy chú thích gì, nêncũng chưa biết có phải thơ của Nguyễn Khắc Trạch không?
- Từ trang 160 đến hết chép câu đối lẫn văn, phần văn này chép rất tùytiện, nhiều bài không có tiêu đề Nói chung phần văn và câu đối trong bản này
Trang 15chủ yếu là của người khác, văn chỉ có bài “Sơn Tây thị độc Nguyễn Khắc Trạchđại lục bộ vãn hiển điện đại học sĩ tướng công Nguyễn Tri Phương văn” có chú
do Nguyễn Khắc Trạch soạn Riêng câu đối phần lớn là của người khác phúngviếng, mừng tặng Nguyễn Khắc Trạch
3 Nhuế Xuyên bạch bút thi tập Kí hiệu A.517
Khổ 22 x 32, viết trên giấy dó dày Bìa bằng giấy các tông màu vàng đóngđôi, phần gáy phía sau đã sờn rách Khoảng 1/3 nửa trên của gáy phía sau đề tên
tác phẩm “Nhuế giang bạch bút thi” Văn bản có đánh số trên tất cả các trang ở
mép ngoài
Trừ tờ bìa chính và tờ bìa phụ, tổng cộng có 142 trang chính văn, chép trênhai mặt giấy, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 20 chữ Cả bản viết cùng một loại chữ,chữ viết rõ ràng chân phương, dễ đọc, không có chữ viết tháu hay thảo Cả tácphẩm có 306 bài thơ, chép liền mạch không chia quyển hay phần
Trang đầu, dòng đầu viết “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập”, dòng thứ hai “Ngự
sử An Chi Nguyễn Khắc Trạch” Trong dòng thứ hai chữ “Trạch” tên tác giả cóhai chữ, chữ trên viết 澤, bên phải chữ này có dấu gạch bỏ, phía dưới viết lạibằng chữ 宅
Trong văn bản không có dấu tích đọc duyệt văn bản, rất ít cước chú, phụchú Cỡ chữ của phần phụ chú, cước chú hầu như viết bằng chính văn nên rấtkhó phân biệt, ví dụ ở d 7,8,9 t1; d1,2,6,7,8 t4; d4 t6…Về tình hình kiêng húy,chữ “thời” trong toàn văn bản đều viết kiêng húy thành chữ “thìn”
4 Nhuế Xuyên thi tập Kí hiệu VHv.213.
Khổ 20 x 18, viết tay trên giấy dó dày Bìa chính bằng giấy xi-măng quétsơn đen, sau đó có hai tờ bìa phụ bằng giấy dó Phần gáy ở hai đầu quét sơn đỏ,
có để một khoảng trống viết tên tác phẩm Sách được kẻ khung bằng mực đỏnhạt để viết cho ngay Mép ngoài giữa hai trang có chữ “Tường Thái tạo”, cũngbằng mực đỏ Chứng tỏ giấy này do nhà sách Tường Thái làm Sách không đánh
số trang, tính tổng cộng cả bản gồm 72 trang Đầu tác phẩm viết “Nhuế Xuyên
thi tập”, nhưng dòng 7 trang 42 chép một tập thơ của người khác tên là “Duệ Khê thi tập” Như vậy, từ trang đầu đến d6 t42 thuộc tập thơ “Nhuế Xuyên thi tập”, từ d7 t42 đến hết thuộc “Duệ Khê thi tập”
Trang 16Trang 1, dòng đầu tiên viết “Nhuế Xuyên thi tập”, tiếp sau đến chính văn.Tổng cộng 42 trang, mỗi trang văn bản có 11 dòng, mỗi dòng có khoảng 15 chữ,chữ viết thảo, khó đọc Cả tác phẩm có tổng cộng 90 bài thơ.
Trong bản không có dấu tích đọc duyệt văn bản Các chữ “thì” trong vănbản đều được viết kiêng húy thành chữ “thìn”
5 Thơ của Nguyễn Khắc Trạch chép trong tác phẩm của người khác.
- Phần “Nhuế Xuyên bạch bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” trong
tác phẩm Vũ trung tùy bút Kí hiệu A.2312
Phần “Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” chép trong tác phẩm của người khác Chép bắt đầu từ tờ 32a của tác phẩm Vũ trung tùy bút.
Phần thơ của Nguyễn Khắc Trạch ở tác phẩm này tổng cộng 26 tờ Tờ đầu, dòng
đầu tiên viết: “Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” Dưới dòng này có dòng chữ nhỏ hơn: “Nguyễn Khắc Trạch An Chi cẩn sao thủ bút” Song song với dòng chữ nhỏ này có dòng: “Đồng phủ thời dã Cát Đình Hoàng thị
phẩm bình”, dòng này viết bằng bút đỏ gạch Như vậy, phần thơ của Nguyễn
Khắc Trạch trong tác này là thủ bút của chính tác giả, được họ Hoàng Cát Đìnhphẩm bình Phần này tổng cộng có 84 bài thơ
Trong bản, dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ gạchcủa bút lông, dùng trong các trường hợp như: phẩm bình, ngắt câu, khuyên trònbên các câu chữ nào đó, gạch bên những từ chỉ địa danh…Các chữ “thì” kiênghúy thời Tự Đức đều được viết bằng chữ “thìn”
- Phần thơ trong Minh đô thi tuyển Kí hiệu A.2171.
Trong tác phẩm này, phần thơ của Nguyễn Khắc Trạch từ tờ 86a Có tổngcộng 39 bài Đây là tác phẩm “thi tuyển” nên phần thơ của Nguyễn Khắc Trạchtrong tác phẩm này được tuyển từ nhiều nguồn, trong đó tuyển cả những bài ởnửa đầu quyển 1 bản VHv.212 (phần “Thanh Hóa thi” và “Quảng Xương thi”,tức phần chúng tôi đã nhận định là thơ của Nguyễn Phát Khoa do Khắc Trạchbình duyệt và nhuận sắc) Nói chung, thơ trong phần ít, nhưng tương đồngnhiều, chỉ có 5 bài dị biệt
- Phần thơ trong Vi giang hiệu tần tập Kí hiệu Vhv.216.
Trong tác phẩm này, phần thơ của Nguyễn Khắc Trạch từ tờ 69a đến tờ74b, chữ in rõ ràng Tờ đầu, dòng đầu phần thơ Nguyễn Khắc Trạch có dòng:
Trang 17“Nhuế Xuyên Nguyễn An Chi thi tập, Sơn Tây Thuấn Nhuế nhân, tự Khắc Trạch,
Tân Dậu cử nhân” Tổng cộng có 37 bài thơ, trong đó có 10 bài dị biệt với các
Bảng I: Bảng tổng hợp số lượng thơ trong các tác phẩm trước và sau
khi khấu trừ những bài được nhận định của người khác.
Số thơ khi chưa khấu trừ trong các tác phẩm
Số thơ xác định của người khác
Số thơ khi đã khấu trừ trong các tác phẩm
1.1.2 Đối chiếu văn bản và một vài nhận định bước đầu
So sánh đối chiếu văn bản để chọn ra bản có niên đại tương đối sớm và tốt,đồng thời tìm ra bản có nội dung khá hoàn chỉnh để làm bản nền “để bản”
Qua bảng I, cho thấy số tổng lượng thơ của Nguyễn Khắc Trạch hiện còntrong các tác phẩm độc lập và các phần chép trong tác phẩm của người khác là
1071 bài Song, trong số 1071 bài này tương đồng và dị biệt rất nhiều Bởi vậychúng tôi lập bảng đối chiếu dị bản, để tìm ra số lượng thơ đích thực của tác giả.Thứ đến, tìm ra “để bản” trong rất nhiều bản và phần nói trên Nhưng số văn bảnnhiều, số lượng thơ trong các bản không ít, cộng thêm nhiều tiêu đề bài thơ rấtdài Nếu làm thư mục so sánh tất cả các bản và các phần trong các tác phẩm củangười khác nữa sẽ gây “đa thư loạn mục” Thế nên, luận văn chỉ so sánh thơ của
Trang 184 bản độc lập: VHv.212, VHv.213, A.444, A.517 Ngoài ra từ bài 131 đến 306của bản A.517 xét thấy các bài trong phần này không có sự tương đồng với bảnhay phần nào, khi so sánh cũng mạn phép trừ ra để giảm bớt sự rắc rối trong khi
so sánh So sánh xong chúng tôi sẽ tổng hợp lại sau Phần thơ chép trong tácphẩm của người khác cũng có sự tương đồng dị biệt, nhưng số lượng thơ ở cácphần này ít, chúng tôi cũng mạn phép so sánh nháp ở ngoài, rồi tổng hợp lại sau
Sự so sánh về tương đồng và dị biệt các bài thơ được thể hiện trong bảng II Cònsau đây là so sánh để tìm ra để bản
- Bản VHv.212, như tình trạng văn bản đã mô tả, trong một bản có ba loại
chữ, nên bản này do ba người sao chép Hiện chỉ còn thủ cảo của tác giả ỏ phần
“Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” chép ở tác phẩm Vũ trung
tùy bút Chúng tôi đã so sánh nét chữ ở phần này với ba loại chữ trong VHv.212,
không có loại chữ nào giống nhau, vậy có thể kết luận bản VHv.212 này không
phải thủ cảo của tác giả Trong bản này cũng có “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập
quyển chi nhị” nhưng số lượng bài nhiều gần gấp đôi phần “Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” trong tác phẩm Vũ trung tùy bút (VHv.212 có
143 bài, VTTB có 84 bài) Như vậy, qua đây cho thấy q2 của VHv.212 sưu tậpđầy đủ hơn
Đem VHv.212 so với ba bản độc lập VHv.213, A.444, A.517 có một sốđiểm vượt trội như sau: Thứ nhất giấy dó bản này mỏng và cũ hơn các bản Sáchmang kí hiệu VHv, có dấu triện của Thư viện KHTƯ, theo nhận định về cácphông sách của DSHNVN-TMĐY, sách ở Thư viện KHTƯ, chủ yếu sách sưutầm từ các thư viện thời trước, nên bản này là sách sưu tầm Trong tác phẩm cònlưu dấu tích bình duyệt và nhuận sắc, điều mà các bản còn lại không có nên nógần với thủ cảo hơn Thứ hai, tác phẩm chia quyển và phần rõ ràng, trong cácquyển và phần đó thời gian sáng tác hầu như chưa bị xáo trộn trình tự vốn có Ví
dụ quyển hai chép các bài làm bắt đầu từ năm Tân Dậu (1861), tiếp đến nămNhâm Tuất (1862), năm Đinh Mão (1867), rồi Mậu Thìn (1868); quyển 3 gồmcác bài làm trong năm Giáp Tuất (1874); quyển 4 gồm các bài làm năm Ất Hợi(1875) và Bính Tí (1876)… Thứ ba, cước chú và phụ chú trong bản này nhiềuhơn đầy đủ hơn so với các bản khác Luận văn đã thống kê về cước chú và phụchú của 10 bài trong chùm thơ “Thống trung thiềm phát thập thủ” và 10 bài
Trang 19trong chùm thơ “Nhâm Tuất niên kinh hành khán cố Lê tiết nghĩa truyện…” làmđại diện Kết quả được tổng hợp trong bảng sau:
Nhâm tuất niên kinh hành khán cố Lê
tiết nghĩa truyện, mỗi đáo nhất công
lược vịnh nhất thi dĩ tiện kí ức
Qua bảng trên, cho thấy bản VHv.212 có số lượng cước chú nhiều nhất.Không những thế, câu chữ trong từng chỗ cước chú ở bản này cũng đầy đủ hơn,mang khẩu khí bạch thoại hơn các bản khác Ví dụ có những chỗ bản này chép:
“giả hạn nhị cá nguyệt” (d8t120), “giáo thụ thất niên cửu hĩ” (d7t122), bản A.444 chép: “hạn nhị cá nguyệt” (d6t70), “thất niên giáo thụ” (d4t72) Thứ tư,
qua so sánh đối chiếu ở bảng II về các bài tương đồng và dị biệt Bản này có sốlượng bài thơ tương đồng với các bản khác rất nhiều (169 bài) trong tổng số 284,
số lượng dị biệt cũng nhiều (115 bài), chứng tỏ bản này sưu tập được đầy đủhơn Qua đây có thể nhận định bản này gần với thủ cảo nhất, và đầy đủ hơn cả.Với những ưu thế vượt trội như vậy, trong khi phân tích chứng minh ở chương
II, chúng tôi chủ yếu căn cứ vào bản này, tức sẽ lấy bản này làm “để bản Nhưngcũng có những phần bản này không có, khi cần chúng tôi sẽ lấy thêm ở bảnkhác
- Về bản A.444, thứ nhất sách này mang kí hiệu A Theo nhận định về các
kho sách của sách DSHNVN-TMĐY, phông sách mang kí hiệu A là sách cónguồn gốc từ Thư viện Trường Viễn đông bác cổ Lại theo lời ông Dương TháiMinh (Viện nghiên cứu Hán Nôm) cho biết về tình hình các kí lục Thư viện
Trường Viễn đông bác cổ như sau: “Theo lời các cụ làm việc hồi đó, Thư Viện
của trường thường có khoảng từ 10 đến 20 nhân viên ký lục suốt năm suốt tháng thực hiện công việc sao chép Do không có máy Fotocopi nên để tránh tình trạng nhầm lẫn giữa các bản gốc và bản sao chép, học viên cũng đưa ra một số quy định như, khổ sách (thường là khổ sách to, 31 x 21 cm); cách ghi không đầy đủ: thiếu lạc khoản, có thể thiếu cả Tựa, Bạt; hoặc cách ghi tổng hợp
Trang 20từ nhiều nguồn do được sao chép về sau…” Bản này cũng gặp phải các tình
trạng như lời ông Dương Thái Minh nói Thứ nhất, văn bản mang kí hiệu A Thứhai, bản này giấy dó dày, đang mới, lại có khổ giấy 32 x 23 Vì vậy đây là bản
có nguồn gốc từ Thư viện Trường Viễn đông bác cổ, có lẽ do các kí lục củatrường sao chép lại
Không những bản này không có Tự, Bạt gì mà khi chép còn rất tùy tiện Têntác phẩm là “thi tập” nhưng trong đó lại chép lẫn cả văn và câu đối, thậm chícòn chép rất nhiều văn thơ của người khác vào Chép thiếu, chép sai, ví dụ: bài
“Ngâm kí Vĩnh Tường phủ thái thú” <t101b185> không có câu thơ đầu, nhưng ởVHv.211 <t72b199> có câu này Chép sai, chép nhầm cũng rất nhiều, như cướcchú ở bài cuối trong chùm thơ “Tống Song Linh doãn tập Đường thập thủ”, bản
này viết “thập thủ hạo cú hựu thị tương phùng dự vi nhị nhân tác sám ngữ”
(câu đầy hạo khí của 10 bài, dự định làm sấm ngữ cho hai chúng tôi gặp nhau)
Bản VHv.212 viết: “thập đề kết cú hựu thị tương phùng dự vi ngô nhị nhân tác
sám ngữ” (Câu kết của mười bài lại là gặp nhau, vì dự định làm sấm ngữ cho hai
chúng tôi gặp nhau) Câu kết của 10 bài này là Bích sơn như họa hựu phùng
quân (Non xanh như tạc, lại gặp ông) Năm 1874 khi vào kinh, qua huyện Minh
Linh (tỉnh Quảng Trị) lại nghe tin Song Linh Nguyễn Phát Khoa cũng vào kinhnhận lệnh cải bổ, ông đã vui mừng nhắc lại câu hẹn ước năm xưa trong một bài
tứ tuyệt: Nhất cú tập Đường ưng thị sấm Bích sơn như họa hựu phùng quân
(Một câu thơ Tập Đường đáng làm lời sấm, Non xanh như tạc, lại gặp ông)
<VHv.212, t158b363> Như vậy, liên kết với ý của câu thơ cuối ở bài thứ 10,dùng chữ “kết” mới đúng, có lẽ tự dạng chữ 结 khi viết đá thảo ở bản VHv.212
có tự dạng gần giống chữ 浩 nên bản này đã chép nhầm
Sau khi so sánh sự tương đồng và dị biệt trong bảng II, kết quả 162 bàigiống với các bản khác, còn lại 69 bài dị biệt Trong 162 bài giống với các bảnkhác có 134 bài giống với bản VHv.212 ở trên Tiêu đề của 134 bài giống nhaugiữa hai bản chỉ bị sửa đổi khoảng 20 tiêu đề, tức có 114 tiêu đề vẫn để nguyênnhư VHv.212 Qua đây có thể nhận định rằng có những phần của của bản nàysao lại từ bản VHv.212, hoặc có thể hai bản cùng sao lại từ những phần nào đó
đã mất
Trang 21Trong bản này cũng có đến 69 bài dị biệt, vì vậy khi chứng minh ở chươngsau, nếu cần đến chúng tôi cũng phải lấy dẫn chứng trong bản này.
- Về bản A.517, sách mang kí hiệu A nên bản này cũng có nguồn gốc từ
Thư viện Trường Viễn đông bác cổ Bản này chép cũng rất tùy tiện, cả bản chépmột mạch, không chia quyển, phần, không có tựa bạt gì, cước chú phụ chú rất ít.Chỉ tính riêng 10 bài của chùm thơ “Thống trung thiềm phát thập thủ”, ở bảnVHv.212 có 38 chỗ cước chú mà bản này chỉ có 1 chỗ Các cước chú còn viếttùy tiện, chỗ thì viết cỡ chữ nhỏ hơn chính văn, chỗ thì viết bằng chính văn Có
những chỗ chép sai Ví dụ bản này có tiêu đề “Nhâm Tuất xuân đán Quảng
Xương huyện đường thí bút” <t1b1>, nhưng các bản khác đều chép “Giáp Tuất xuân đán Quảng Xương huyện đường thí bút” <VHv.212, t147b342>, đúng ra
phải là năm Giáp Tuất (1874), vì năm Nhâm Tuất (1862) ông chưa ra làm quan.Vậy bản này đã chép sai
Về tiêu đề bài thơ, bản này soạn lại rất ngắn Qua so sánh tương đồng và dịbiệt ở bảng II, có 96 bài giống với bản VHv.212, nhưng trong đó chỉ có 16 tiêu
đề giống với bản Vhv.212, còn lại 80 tiêu đề đều viết gọn lại Ngoài ra câu chữtrong thơ ở bản này có nhiều chỗ thay đổi khác với các bản Vì đây là công việc
so sánh tỉ mỉ mất nhiều thời gian nên chúng tôi không lập bảng so sánh hếtđược, ở đây so sánh một bài vịnh về Nguyễn Đình Viện trong chùm thơ “NhâmTuất niên kinh hành khán….” để chứng minh:
(Quy t c trình b y: nh ng t ng ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ững từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ừ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ững từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so được gạch chân thể hiện sự thay đổi soc g ch chân th hi n s thay ạch chân thể hiện sự thay đổi so ể hiện sự thay đổi so ện sự thay đổi so ự thay đổi so đổi soi so
Tâm dị nan bằng ngụy Tây tướng, Thế cô phiên tác Nhật Nam thành.
Nhất môn ủy mệnh
Nguyễn Đình Viện
(Nc: Nghệ An nhân)
Tự tu chiến cụ kết hương binh, Mưu sự an tri sự bất thành.
Tâm dị nan bằng ngụy Tây tướng, Thế cô phiên thất Nhật Nam thành.
Nghệ An Nguyễn Viện
Tự tu chiến cụ kết hương binh, Mưu sự an tri sự bất thành.
Tâm dị nan bằng ngụy Tây tướng, Thế cô phiên thất Nhật Nam thành Nhất môn ủy mệnh
Trang 22Mai tiên gia chỉ sinh đào mãng, Hải đảo nhân chung tử bào hoành.
Hảo thiếp hảo nhi hảo đồ bộc
Nhất môn hiếu nghĩa nhất phương danh
trung kiêm hiếu, Thiên cổ lưu phương tử diệc sinh.
Huống thị nghĩa cao năng đắc sĩ.
Đảo trung nhân chỉ thức Điền Hoành.
Nhìn vào bảng trên cho thấy bản này thay đổi nhiều nhất, thay đổi nguyên cảbốn câu cuối, rồi cước chú, phụ chú cũng bị cắt Việc thay đổi tiêu đề, viết tiêu
đề cho gọn lại, rồi từ ngữ, thậm chí cả câu thơ trong bài được sửa đổi nhiều nhưthế chứng tỏ bản này được soạn lại theo ý đồ của người soạn sách Thậm chí tên
tác phẩm cũng không nhất quán, phần gáy sách viết “Nhuế Giang thi tập”, nhưng trang đầu dòng đầu phần chính văn lại viết “Nhuế Xuyên bạch bút thi
tập”
Bản này còn có số lượng thơ khá nhiều, tổng cộng 306 bài Có nguyên mộtphần từ bài bài 131 đến bài 306 không tương đồng với bản hay phần khác Cácbài thuộc phần này không thấy xuất hiện thời gian hay sự kiện như phần đầu.Nội dung phần này chủ yếu vịnh về các nhân vật lịch sử, thần tiên, các điển tích,điển cố trong sử sách, hoặc lấy các câu thành ngữ, cách ngôn, điển tích, điển cốlàm tiêu đề, chủ đề cho bài thơ Bởi vậy, phần này cũng là tư liệu đáng quý đểnghiên cứu về nội dung và nghệ thuật thơ của Nguyễn Khắc Trạch
- Về bản Vhv.213, số lượng bài thơ ít hơn so với 3 bản trên (90 bài) Bản
này chép cũng rất tùy tiện, tên tác phẩm là “Nhuế Xuyên thi tập” nhưng nửa sau sách lại có chép tập thơ khác “Duệ Khê thi tập” Chưa biết Duệ Khê là ai nhưng
đây có lẽ không phải thơ của Nguyễn Khắc Trạch
Trong bản này có nhiều bài thơ tiêu đề được đặt lại khác hẳn các bản khác
Ví dụ: VHv.212 có tiêu đề “Đinh Sửu chí niên tịnh tự tính thể dương lịch nhị
thiên”, ở bản này chia ra hai tiêu đề cho hai bài, b1: “Chí niên quan mê”(Ghi lại
sự mê muội trong khi làm quan), b2:“Chí niên quan bình sinh” (Ghi lại đời làm
quan) Trong bản tổng cộng có 90 bài, có 57 bài giống với ba bản trên, còn 33
Trang 23bài dị biệt, như vậy bản này có số lượng thơ ít nhưng số lượng bài giống với bảnkhác tương đối nhiều, chứng tỏ đây không phải là một phần riêng mà tổng hợp
từ nhiều nguồn, và có nguồn các bản trên không có
Qua so sánh về sự tương đồng và dị biệt của bốn bản độc lập trong bảng
II dưới đây, luận văn tính ra được một số kết quả như sau:
11bài (cùng xuất hiện trong 4 bản), nên chỉ tính: 11 bài
95 bài (cùng xuất hiện trong 3 bản), nên chỉ tính: 95 bài
89 bài (cùng xuất hiện trong 2 bản), nên chỉ tính: 89 bài
229 bài (dị biệt, tức xuất hiện trong 1bản) nên tính: 229 bài
Vậy tổng cộng các bài thơ trong bốn tác phẩm khi đã trừ bài tương đồng là:
11 + 95 + 89 + 229 = 423 bài.
Còn có phần ở bản A.517 (từ bài 131 đến bài 306 ) tức 176 bài khôngtương đồng với bản nào, đã xin trừ ra ở trong phần nhận định về bản này, bâygiờ xin tổng hợp lại Lại còn số bài dị biệt của các phần chép trong tác phẩm
người khác đã được so sánh nháp ngoài bây giờ xin cộng vào: Vi giang hiệu tần
tập có 10 bài dị biệt; Minh đô thi tuyển có 4 bài dị biệt
Vậy con số tổng hợp cuối cùng về thơ của tác giả trong tất cả các bản
và các phần khi đã trừ bài tương đồng là:
423 + 176 + 10 + 4 = 613 (bài)
1.2.1 Tình trạng văn bản văn, phú, trướng văn, và bản tổng hợp.
Về văn bản văn, phú, trướng văn và bản tổng hợp nhiều thể loại hiện còn 5bản và một phần chép trong tác phẩm của nhiều người là VHv.214, Vhv.215,A.2169, A.2538, VHv.608 Phú trong VHv.321 Sau đây là tình trạng các vănbản:
1 Nhuế Xuyên thặng bút văn tập Kí hiệu VHv.214.
Khổ 15,5 x 26,5 gồm 147 trang viết tay trên hai mặt, giấy dó mỏng Bìabằng giấy các-tông dày, mặt ngoài quét sơn đen Sau tờ bìa chính, có một tờ bìa
phụ bằng giấy dó, trên đó viết tên tác phẩm “Nhuế Xuyên Thặng bút văn tập”, cỡ
chữ của dòng này lớn khoảng 1cm Phần gáy hai đầu quét sơn đỏ, có để trốngmột khoảng viết tên văn bản Sau tờ bìa phụ, đến phần chính văn Trang một,
dòng đầu tiên phần chính văn ghi lại tên tác phẩm “Nhuế Xuyên thặng bút văn
Trang 24tập”, sau đó mới đến tiêu đề bài văn Cả tác phẩm tổng cộng có 55 bài văn, mỗi
trang văn bản 8 dòng, mỗi dòng có khoảng 25
Trong văn bản có hai loại chữ, từ đầu đến trang 138 chữ viết rõ ràng, nét bútthẳng Phần từ trang 139 đến hết (trang 149) chữ viết theo thể hành, có nhiều bộviết theo giản thể Lấy chữ “hữu: có” ở trong hai phần làm ví dụ Lối viết chữ
“hữu” phần trang 1 đến trang 138 viết rõ ràng, nét thứ hai của chữ này là nétphẩy kéo dài ra như ở d2 t51, d5 t51, d3 t53, d3 t55, d1 t60, d1 t64, d1 t67, d1t69,d2 t99,d1 t113…Còn chữ “hữu” ở trang 139 đến trang 149 có cách viếtngoáy, các nét liền nhau, vì không phải dân chuyên về văn bản nên khi mới gặpchữ này chưa nhận ra chữ gì, qua mấy lần gặp lại, mới nhận ra Như ở d8 t139,d4 t140, d4 d5 t144, d4 t149
Loại chữ ở phần sau (trang 139 đến trang 149) giống với loại chữ ở phần
“Nhuế Xuyên thi tập Nc: Đinh Sửu đông dĩ hạ” <t171 đến trang cuối 189> củabản VHv 212 Như chữ “hữu” ở VHv.212 trong các dòng và các trang: d6 t173,d3 t176, d5 d6 t177, d8 t182, d5 t187…Qua đây cho thấy phần cuối của bản vănnày và phần cuối của VHv.212 và bản này do một người chép
Dấu tích đọc duyệt văn bản thể hiện qua màu mực đỏ, dùng trong các trườnghợp như ngắt câu, sửa sai, xóa chữ viết sai, bổ sung chữ thiếu
Về chữ húy, văn bản nhất quán viết kiêng húy “thời” dưới dạng chữ “thìn”.Khi đi sâu vào nội dung các bài, có sự tương đồng và dị biệt với bản VHv.215nên đã lập thư mục so sánh trong bảng III
2 Nhuế Xuyên trướng tập Kí hiệu VHv.215.
Khổ 18 x 25, viết tay trên cả hai mặt, tổng cộng 71 trang giấy dó dày Bìabằng giấy xi-măng, phía ngoài quét sơn đen Hai đầu mép sách viết tên văn bản
“Nhuế Xuyên trướng tập” Sau tờ bìa chính có hai tờ bìa phụ bằng giấy dó, trên
mặt a tờ bìa phụ thứ nhất có dấu triện vuông của Thư viện khoa học Trungương Văn bản được kẻ khung và dòng bằng mực đỏ hồng Mép ngoài cùng trêntất cả các tờ của mặt a in chữ “祥 泰 ”造” , như vậy giấy viết của bản này cónguồn gốc từ hiệu Tường Thái, điều này cũng giống với bản thơ VHv.213
Mỗi trang viết 6 dòng, mỗi dòng có 16 chữ Cả bản viết cùng một loạichữ, nhưng nhiều trang, nhiều chữ viết thảo, rất khó đọc, như từ tờ 1 đến tờ 23
có nhiều chữ viết thảo, sau trang 23 có đỡ hơn Cả bản có 29 bài văn, khi đi sâu
Trang 25vào nội dung các bài này, có sự tương đồng dị biệt với bản VHv.214 nên đượclập thư mục so sánh trong bảng III.
Trong bản này, dưới tiêu đề của một số bài có cước chú như “Phạm ChiHương soạn” <d3 t47>, “Thượng Hiệp tú tài soạn” <d9 t49>, như vậy trong bảnnày có chép cả văn của người khác
Cả bản không có dấu tích duyệt văn bản hay sửa chữa gì, về chữ húy vănbản nhất quán viết khiêng húy chữ “thời” dưới dạng chữ “thìn”
3 Nhuế Xuyên văn tập Kí hiệu A.2169.
Khổ 14 x 26, tổng cộng 74 trang, viết tay trên giấy dó dày Bìa bằng giấyxi-măng, mặt ngoài được quét sơn đen, sau tờ bìa chính có 1 tờ bìa phụ, tiếp đến
là tờ viết tên văn bản Tên văn bản “Nhuế Xuyên văn tập”được viết bằng cỡ chữ
to Các mép văn bản đều được quét sơn đỏ
Dấu tích đọc duyệt văn bản thể hiện qua màu mực đỏ của bút lông, dùngtrong các trường hợp chủ yếu như ngắt câu, khuyên tròn, không thấy có dấu sữachữa hay gạch xóa Về chữ húy văn bản nhất quán viết kiêng húy chữ “thời”dưới dạng chữ “thìn”
C b n có 30 b i v n, m i trang v n b n ản khác.) ản khác.) ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ăn, mỗi trang văn bản được viết 10 dòng, mỗi dòng ỗi trang văn bản được viết 10 dòng, mỗi dòng ăn, mỗi trang văn bản được viết 10 dòng, mỗi dòng ản khác.) được gạch chân thể hiện sự thay đổi soc vi t 10 dòng, m i dòngết 10 dòng, mỗi dòng ỗi trang văn bản được viết 10 dòng, mỗi dòng
25 ch , ch vi t h i á th o Các b i trong b n n y ph n l n l nh ng b iững từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ững từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ết 10 dòng, mỗi dòng ơi đá thảo Các bài trong bản này phần lớn là những bài đ ản khác.) ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ản khác.) ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ần lớn là những bài ới các bản khác.) ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ững từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so
l m thay ngày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ười khác Xét thấy không có sự tương đồng với các bản khác nêni khác Xét th y không có s tấy không có sự tương đồng với các bản khác nên ự thay đổi so ươi đá thảo Các bài trong bản này phần lớn là những bàing đồng với các bản khác nênng v i các b n khác nênới các bản khác.) ản khác.)
đư ư ục tiêu đề các bài văn vào dưới đây Sau đây là mục lục các bài đề các bài văn vào dưới đây Sau đây là mục lục các bài ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ăn, mỗi trang văn bản được viết 10 dòng, mỗi dòng ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ưới các bản khác.) đ đ ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ục tiêu đề các bài văn vào dưới đây Sau đây là mục lục các bài ục tiêu đề các bài văn vào dưới đây Sau đây là mục lục các bài ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so
v n ăn, mỗi trang văn bản được viết 10 dòng, mỗi dòng được gạch chân thể hiện sự thay đổi soc s p x p theo A-B-C, cu i tiêu ết 10 dòng, mỗi dòng ối tiêu đề, ở trong dấu lớn bé là số trang đề các bài văn vào dưới đây Sau đây là mục lục các bài ở trong dấu lớn bé là số trang, trong d u l n bé l s trangấy không có sự tương đồng với các bản khác nên ới các bản khác.) ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ối tiêu đề, ở trong dấu lớn bé là số trang
v trình t b i trong v n b n:ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ự thay đổi so ày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so ở trong dấu lớn bé là số trang ăn, mỗi trang văn bản được viết 10 dòng, mỗi dòng ản khác.)
1.Cố Bình Phú tổng đốc Bùi Công hành trạng <t54b29>
2.Đông Ngạn tráng liệt phiên tu gia phả tự <t49b26>
3.Hạ bản triều thỉnh Quảng phúc án sát Nguyễn thọ ông văn <t36b20>
4.Hà Nội phiên niết hạ đốc bộ đường thực thụ khải <t15b9>
5.Hà Nội văn thân vãn Ninh Bình đốc học Hoàng Liên Đình trướng văn <t5b4>
6.Hà Tĩnh kinh ngoại văn thân hạ định nghiệt phụ mẫu phong tặng <t17b10>
7.Nghĩ Bắc Ninh học đồ hạ nghiệp sư Hoàng tiên sinh thọ khải <t14b8>
8.Nghĩ Bắc Ninh quân thứ thân biện hạ tổng thống đại thần thăng thụ ….đại học sĩ trướng văn <t28b16>
9.Nghĩ Hà Ninh tổng đốc Khoái Châu bá Nguyễn Tự Châm tính tự <t47b25>
10 Nghĩ Hà Nội kinh ngoại văn thân vãn Vĩnh Thuận Nguyễn đại phu trướngvăn.
<t2b2>
11 Nghĩ Hà Nội văn thân vãn thái bộc tự khanh Trần tiên sinh <t1b1>
Trang 2612 Nghĩ hạ Sơn Tây tổng thống Nguyễn Sư Phần tân thọ bình văn <t33b18>
13 Nghĩ Hà Tĩnh kinh ngoại văn thân vãn Bắc Ninh tổng đốc Bùi Công Khắc văn.<t7b5>
14 Nghĩ Hà Tĩnh niết ty hạ niết lão nghiêm đường ân phong <t19b11>
15 Nghĩ Hà Tĩnh văn thân hạ chế lão Đào thất thập thọ văn <t38b21>
16 Nghĩ Hà Tĩnh văn thân hạ sơn phiên Nguyễn Thành Chi lưỡng đường phong tặng.<t11b7>
17 Nghĩ Hà Tĩnh văn thân vãn cố sơn phiên Nguyễn Thành văn <t10b6>
18 Nghĩ Hải Dương phủ huyện hạ tân tổng thống đại thần trướng văn <t30b17>
19 Nghĩ Hưng Yên liêu thuộc hạ Hoàng bố chánh thăng ….tiểu khải <t24b14>
20 Nghĩ Hưng Yên liêu thuộc hạ y tỉnh lĩnh án sát thăng thị giảng học sĩ Đặng Đình tiểu khải <t27b45>
21 Nghĩ Kim Cổ tiến sĩ Vũ tử song đường chúc thọ văn <t41b22>
22 Nghĩ Sài Sơn Phan tộc tử tôn … hạ khải <t22b13>
23 Nghĩ Sơn phiên phụ mẫu phong tặng tự thuật chung văn <t45b24>
24 Nghĩ Sơn Tây viên thuộc hạ chế đài Nguyễn Sư Phần thăng hiệp biện đại học sĩ tự.<t35b19>
25 Nghĩ tham biện đề chánh Nguyễn hạ sinh mẫu tiến phong khải văn <t43b23>
26 Nghĩ Thịnh Liệt Bùi tộc hạ tộc thúc bát thập thọ khải <t20b12>
27 Nghĩ Yên Lãng phân phủ Lương Huy Nhất <t3b3>
28 Thái bộc tự khanh Trần tiên sinh hành trạng <t65b30>
29 Thanh Sơn Thanh Thủy chi huyện văn chỉ bi kí <t52b28>
30 Thượng Phúc Tử Dương chưởng ấn Nguyễn phủ gia phả tự <t50b27>
4 Phú trong (Tam đăng Hoàng giáp trường phú Kí hiệu: VHv.321)
Phú không có văn bản riêng nhưng được chép thành một phần trong “Tam
đăng Hoàng giáp trường phú” Văn bản này có khổ 16,5 x 30,5, không đánh số
trang nhưng tính cả bản có 236 trang, viết trên chất giấy dó mỏng Trong bản chépnhiều tác phẩm của nhiều tác giả, chia thành từng phần, mỗi phần được viết bằngmột loại chữ khác nhau, nên bản này do nhiều người sao chép Phú của NguyễnKhắc Trạch trong bản này từ trang 117 đến 161, tổng cộng có 44 trang, mỗi trangviết 10 dòng, mỗi dòng khoảng 31- 32 chữ, cỡ chữ nhỏ Có rất nhiều phụ chú,cước chú, cỡ chữ của các cước chú, phụ chú này viết nhỏ hơn phần chính văn, vìquá nhỏ nên rất khó đọc
Trang 27Đầu phần phú của Nguyễn Khắc Trạch (tức đầu trang 117), dòng đều tiên
viết “Văn hội hữu đức thành lân phú”, dưới dòng này có chú “Dĩ đề vi vận, Thuấn
Nhuế Thị độc Nguyễn Khắc Trạch soạn dĩ hạ”, tiếp đến là chính văn Như vậy
dòng “Văn hội hữu đức thành lân phú” là tên của bài phú, tổng cộng có 22 bài.
Phần này cũng có dấu duyệt văn bản thể hiện qua màu mực đỏ, dùng chủyếu trong các trường hợp như ngắt câu, khuyên tròn, sửa chữa, gạch chữ sai, viếtchữ thiếu
Sau đây là Mục lục tiêu đề các bài phú được trình bày theo trình tự ở trongvăn bản, (số thứ tự đặt đầu, số trang để trong dấu lớn bé đặt ở cuối tên bài phú)
1 Văn hội hữu đức thành lân phú <t117>
2 Mạch hoạt từ thanh quan nhân đa thiểu bút lộ (Nguyễn Kế bình) <t118>
3 Bộ khúc chỉnh trai kì cổ sâm diệc nhất ngạn (Nguyễn Tiểu Chi bình) <t120>
4 Lão Bạng sinh châu phú <t122>
5 Châu hoàn hợp phố phú <t124>
6 Bôi tửu thích binh quyền phú <t127>
7 Tiên thụ sinh đồ hậu liệt nữ lạc phú <t128>
8 Quân tử bất khí phú <t130>
9 Tứ hải giai đồng vạn dân khang thái phú <t131>
10 Trung Quý Ưng quy Ngô quận phú <t133>
16 Minh nguyệt hợp bích ngũ tinh tiêm châu phú <t146>
17 Phần hương cáo thiên phú <t149>
18 Thụy tại đắc hiền phú <t150>
19 Chức nữ hoài khiên ngưu phú <t152>
20 Vọng phu thạch phú <t154>
21 Xuân vũ như cao phú <t157>
22 Liên bích phú <t158>
5 Bản Thuấn Nhuế thi văn tập Kí hiệu A.2538
Khổ 17 x 28, tổng cộng có 70 trang, viết cả hai mặt, trên giấy dó dày Bìagiống giấy vở học sinh ngày nay Sau tờ bìa, đến chính văn Chữ trong bản này
Trang 28viết thảo, khó đọc Dòng đầu tiên phần chính văn viết tên tác phẩm “Thuấn
Nhuế thi văn tập”, cỡ chữ dòng này to, tiếp sau dòng này đến chính văn
Trong tác phẩm chỉ có một bài văn có cước chú do Nguyễn Khắc Trạch
soạn, bài này đặt đầu tác phẩm: “Thuấn Nhuế cử nhân Nguyễn Khắc Trạch
phụng soạn trướng văn kì đổng sức đại thần Nguyễn Tri Phương” Các bài sau
đó đều có chú tên người khác soạn, ví dụ: trang 3 có chùm thơ “Ngự chế thi:Vịnh mai; Vịnh lan; Vịnh cúc; Vịnh trúc”, trang 4 “Mậu Tí khoa Cần chánhNguyễn Hữu Độ hạ Hà Nam nhị trường đối liên”…Như vậy, tác phẩm này chépthơ, văn, câu đối của nhiều người, chỉ có một bài văn của Nguyễn Khắc Trạch,bài này tương đồng với bài 20 trang 51 bản VHv.215, nên không lên thư mụctiêu đề các bài trong bản này
6 Bản Thọ tịch châu cơ Kí hiệu VHv.608
Khổ 25 x 19, tổng cộng 68 trang, sách chép tay trên hai mặt, giấy dó mỏng.Bìa bằng giấy xi-măng gấp đôi, không quét sơn Phần gáy phía sau viết tên tác
phẩm: “Thọ tịch châu cơ” Sau tờ bìa chính có hai tờ bìa phụ bằng giấy dó đã
mủn rách Sách có kẻ khung màu hồng để viết cho ngay Chữ rõ ràng, chânphương, dễ đọc
Dòng đầu, trang đầu phần chính văn viết lại tên tác phẩm “Thọ tịch châu
cơ”, sang dòng hai có lưỡng cước chú (cỡ chữ nhỏ hơn) “Hưng Yên Bình Hồ Hàn Lâm viện trực học sĩ Vĩnh Trai Nguyễn thất thập thọ Kinh thân đầu tặng thi văn như tả, Tự Đức Bính Dần” (Nguyễn Vĩnh Trai Hàn lâm viện trực học sĩ
người làng Bình Hồ thọ 70 tuổi, các quan trong kinh tặng thơ văn như sau NămBính Dần thời Tự Đức {1866}) Đi sâu vào nội dung bên trong tác phẩm, thấybản này chép xen lẫn thơ, văn, trướng, đối Về nội dung tác phẩm này, luận văn
sẽ đề cập lại trong chương II dưới đây
1.2.2 So sánh sự tương đồng và dị biệt cùng một vài nhận định bước đầu
Qua việc mô tả về tình trạng các bản văn, cho thấy có hai bản có tươngđồng và dị biệt là VHv.214 và VHv.215 Sự tương đồng dị biệt được so sánhtrong bảng III dưới đây Qua bảng III chúng tôi có một số kết quả như sau:
15 bài (xuất hiện hai lần trong hai bản)
54 bài (xuất hiện một lần)
2 bài (có chú do người khác soạn )
Trang 29Như vậy hai bản khi trừ đi bài tương đồng và của người khác còn lại là :
Nhưng nói chung phần văn ít dị bản nên các bản đều là những tài liệu quý
để chúng tôi tìm hiểu về tác giả cũng như nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.Riêng bản VHv.608 là bản tổng hợp thơ văn của người khác chúc mừngNguyễn Vĩnh Trai Về nội dung tác phẩm này, chúng tôi sẽ đề cập lại trongChương II
1.3 Tiểu kết chương 1.
Khảo cứu văn bản là việc làm không thể thiếu trong quá trình nghiên cứuvăn bản Theo thống kê, nhóm văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn KhắcTrạch hiện còn 9 bản trong đó có bốn 4 bản thơ, 3 bản văn và 2 bản tổng hợpnhiều thể loại Khi đi sâu khảo sát về hình thức và nội dung của nhóm tác phẩmnày, nhận thấy văn bản hết hết sức đa dạng và phức tạp, nhất là các văn bản thơ Khi mới tổng hợp thơ lần đầu qua đánh số thứ thự bài trong các tác phẩm,thấy con số thơ quả là chóng mặt (1309 bài) Bởi vậy mà một số bài báo, chuyênsan ở Hưng Yên khi nhận định thơ của Nguyễn Khắc Trạch đã từng nói ông cóhơn một nghìn bài thơ Quả thực nếu ngồi “trỏ đầu đen” mà tính thì số lượng thơông đã ngang tầm với “Đỗ Phủ nhà thơ Thánh với hơn một ngàn bài thơ” (PhanNgọc) Nhưng qua quá trình khảo sát bước đầu qua bài Tựa và các phụ chú,cước chú, thấy 238 bài của người khác chép lẫn vào Thêm một bước so sánhđối chiếu về dị bản nữa, số thơ còn lại chưa đầy một nửa của tổng số trên (còn
613 bài) Con số thực của bài thơ đã rút xuống như thế này là vì dị bản quá
nhiều Chỉ tính riêng mấy chùm thơ như “Nhâm Tuất niên kinh hành…” (gồm
Trang 3011 bài nhưng có bản chép 11, có bản chép 9, cũng có bản chép 10 nên cứ quy
tròn để tính cho dễ là 10 bài), “Thống trung thiềm phát thập thủ”(10b), “Tập
Đường thập thủ tống Song Linh doãn Nguyễn Phát Khoa chi kinh”(10b) đã xuất
hiện 5 lần trong 6 văn bản (VHv.212, A.444, A.517, trong Minh đô thi tuyển, Vi
Giang hiệu tần tập, Vũ trung tùy bút.) Như vậy, nhẩm tính qua ba chùm thơ này
đã tạo ra 300 bài trong các tác phẩm đó Có những bài thơ, những chùm thơđược xuất hiện trong nhiều tác phẩm như thế, điều đó chứng tỏ thơ của tác giảcũng rất được người đời coi trọng, và thơ phải hay mới được người đời coi trọngnhư thế
Về việc so sánh để tìm ra để bản, luận án đã chứng minh được bản VHv.212
là bản có chia quyển duy nhất và vẫn còn giữ được trình tự thời gian sáng tácvốn có, nên lấy bản này làm để bản cho phần thơ, còn phần văn thì sự tươngđồng ít nhưng cũng xét thấy VHv.214 là bản có số lượng bài văn nhiều nhất, lại
có một phần chữ viết giống với để bản thơ (VHv.212) vì vậy phần văn chọn bảnnày làm để bản
Các tiêu đề của các bài có dị bản phần lớn lại đều có sự thay đổi, vừa có bớt
đi, vừa có thêm vào, vừa có xáo trộn khiến cho chúng tôi gặp rất nhiều khó khăntrong việc so sánh dị bản Vì số lượng thơ nhiều, không thể làm thư mục đốichiếu thủ công mà phải nhờ vào máy, luận văn buộc phải đánh câu thơ đầu tiêncủa bài vào trước tiêu đề rồi sắp xếp theo A-B-C để tìm ra bài giống nhau Khilàm thư mục so sánh theo cách này đã phát hiện rất nhiều từ, ngữ, thậm chí cảcâu trong bài thơ bị sửa đổi, nhưng vì số lượng thơ nhiều, dị bản cũng nhiều, vớicấp độ của luận văn này, chúng tôi chưa đủ thời gian để so sánh tình tiết sửa đổicâu, từ của dị bản Chúng tôi chỉ so sánh đại diện một bài, kết quả như trongbảng ở phần nhận định về bản A517 phía trên
Sau khi đã so sánh dị bản, số lượng trang quá nhiều nên chúng tôi lại cắt cáccâu thơ đó Bởi vậy mà trong bảng II các tiêu đề không sắp xếp theo thứ tự nào.Qua điều này cho thấy phần nào sự tùy tiện của người làm công việc sao chép vàhiệu chỉnh các sách vở cổ, đồng thời cho thấy các văn bản Hán Nôm chép tayhết sức phức tạp Nhưng chúng ta cũng phải cảm ơn cổ nhân đã có ý thức trongviệc lưu giữ vốn văn hóa thành văn của ông cha ta Như thế, ngày nay chúng tôi
Trang 31mới có hơn sáu trăm bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khắc Trạch để tìm hiểu về conngười và sự nghiệp của ông.
Thứ hai là vấn đề thời điểm sáng tác Trong tác phẩm xuất hiện rất nhiều bài
có ghi thời gian, như năm Tân Dậu, năm Nhâm Tuất, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ
Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý,Đinh Sửu, Mậu Dần Đây là thời gian trình tự xuất hiện ở tiêu đề các bài thơtrong bản VH.v212 và rải rác trong các bản khác Các năm này không đi liền vớiniên hiệu Song, căn cứ vào các sự kiện như vịnh tiết liệt triều Lê thì gọi là “cố
Lê tiết nghĩa” (tiết nghĩa triều Lê cũ), “Thập thất nhật đồ trung văn Tấn Mai tìnhtrạng” (Ngày 17 trên đường đi nghe ngóng tình hình của Trần Tấn và Đặng NhưMai), <VHv.212, t155b357>, “Thập nguyệt sơ nhị nhật văn Dương nhân chiếmngã Long Thành” <VHv.212, t169b382> Hay căn cứ vào những nhân vật cótiếng đương thời như: Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Bùi Thức Kiên, Hộ đốcSơn Hưng Tuyên Vũ Trọng Bình…là những danh nhân sống dưới thời Tự Đức.Hay căn cứ vào cuối bài “Nghĩ Thượng Hiệp Thượng thôn văn từ bi kí” có ghi:
“Tự Đức tam thập niên Đinh Sửu quý xuân thượng hoán dã” (những ngày
thượng hoán cuối xuân năm Đinh Sửu Tự Đức thứ 30) Ngoài ra các văn bảntrên đều nhất quán viết kiêng húy chữ “thì” là tên chính thức của vua Tự Đức(Nguyễn Phúc Thì) Như vậy các tác phẩm này chủ yếu ra đời vào thời Nguyễn
mà cụ thể hơn là vào khoảng mấy chục năm đầu của nửa sau thế kỉ 19
Bảng II: Bảng đối chiếu sự tương đồng và dị biệt của các bài thơ trong bốn
bản thơ độc lập.
Quy tắc trình bày:
- Mỗi một cột là tiêu đề của các bài thơ trong từng bản.
- Các bài giống nhau trong các bản được đặt ngang hàng nhau và gạch châncâu dòng đầu của tiêu đề
- Đầu tiêu đề là số thứ tự
Trang 32Nhuế Xuyên tùy bút thi tập.
Đinh Mão Nam trường phúc viện ngâm
trình phó chủ khảo Nguyễn Giám sát
Tỉnh quan trách bồi điền thổ quyên tiền
lưu hầu phiên đường hí ngâm <t133b318>
10.
Phục y tiền vận cầu tá Hoàng Giám sát
Nam du tập <t83b222>
11.
Khảo Hạch nhật (tứ nguyệt vọng) hội
điểm hạt nội văn thân, tiếu đàm nhàn
1 Tiễn Nhiếp thú Nguyễn đài hồi Tiên Du nhị thủ <t15b27>
2 Ngâm thương Triều Dương đặc lậu chiêu khấu <t66b116>
3 Đương đình quả phụ bái họa phó thi
6 Tặng Sơn Tây bố chánh quan <t82b146>
7 Phó Ngọc Trà xã quả phụ khất tái giá
3 Nam trường phúc viện ngâm trình phó chủ khảo giám sát Hoàng <t21 b37>
4 Tứ nguyệt tỉnh hạt thời phương nhiệt kham dao niệm trường sĩ đặc hình chư thi <t38b72>
Trang 33tưởng cập trường trung sĩ tử Hà đẳng lao
nhiệt ái thuỳ dĩ trợ, đặc hình chư thi, quan
Tặng Quảng Xương huyện môn sinh tú
tài sĩ nhân bái hạ.<t100b255>
23 Dần niên nguyên đán tự thuật
trường trung sĩ tử Hà đẳng lao nhiệt, ái vô dĩ trợ, đặc hình chư thi tịnh thị tại toạ chư quân
7 Đại nghĩ sơn nghiệt hạ Tả
Thanh Oai xã nguyên Bắc Ninh đốc học Đoàn tiên sinh thất thập thọ (công đồng xã dã) <Quy muội chiêm thành cổ sự tân>
8 Đại nghĩ tùy hầu đội trưởng
Bỉnh hạ huynh tân cai tổng tân gia (Gia tại Bất Bạt Thạch Uyên sơn) <Bất văn vưu thất hưu vưu huynh>
9 Đại nghĩ Xuân Giang tú tài hạ
tiểu muội tân hôn tân cử nhân
<Quy muội chiêm thành kết…>
Trang 3424.
Lưu giản phủ thú Phú Diễn thủ khoa
Nguyễn Tiểu Chi nhị thủ <t94b242>
25.
Mậu Thìn khoa sung Nam trường phúc
khảo, trường trung tặng đồng viện Lê
công Doãn Thành nhất thủ, <t87b228>
26 Nhật tương trung đáo Châu thị ngâm kí
hành cảnh <t156b360>
27.
Ám văn hữu mệnh cảm quy kì vô nhật
phục y tiền đề nhi phú chi <t148b344>
28.
Thập nguyệt sơ nhị nhật văn Dương
nhân chiếm ngã Long Thành <t169b382>
29 Tĩnh toạ đối tiết tức sự <t175b393>
30 Sơ hạ chu dạ ngẫu vũ.<t50b155>
31 Thị nhật dữ lại bộ thượng thư Nguyễn,
Hình bộ tham tri Nguyễn, Nội các Trần
12 Ám văn hữu sự phục y tiền đề nhi phú chi <t2 b3>
13 Nghĩ Triều Dương Từ khư hỉ kíên phụ họa thi úy giải <t39b76>
14 Nhân nhật lập xuân đề <t35b66>
10.
Mậu Thìn khoa Nam Định trường tặng đồng viện phó bảng Lê Doãn Thành (Quảng Bình nhân)
Trang 35Nghĩ Triều Dương thiếu phụ ô tặc chu
trung tư phu <t110b273>
Sơ văn tân mệnh ngâm thị tại tọa thân
hào nhân dĩ vi giản.<t149b346>
Kí trình Vĩnh phủ tú tài liệt đài
hí tặng dĩ thi, nhân thư hoạ phúc <t34b63>
34 Bát nguyệt thập tứ nhật, nhật trung lãnh binh Hoàng công tử trận khấp tống dư hồi
<t64b112>
35 Nghĩ Triều Dương thiếu phụ ô tặc chu trung ức cố phu <t67b117>
36 Giáo thụ huấn đạo <t92b164>
37 Đại Quảng Xương nha lại hạ tân sắc
44 Ngâm kí Vĩnh Tường phủ tú tài
15 Hoàng phó lĩnh tử trận ngâm tống dư hồi <t63b124>
16 Nghĩ Triều Dương thiếu phụ ô tặc chu trung tư phu (y thị phu danh Từ Duyên)
Trang 3656 Thuộc phiên tiểu lí diệc hoa đội trưởng
dẫn ngã thứ chi nhân thành tam tuyệt
Nghĩ tiểu muội văn tỷ xuất liễu ô chu
bất tri hà thác, hí ngâm nhất luật
61 Tiễn tân thăng Viên ngoại lang Sơn Tây
thông Phán Nam hồi <t56 b168>
Tân Mùi đông tam thập nhật tảo tiếp tự
cải thụ đồng tri phủ lĩnh Quảng Xương
Trang 37huyện tri huyện Nhâm Thân xuân thủ tự
68 Hạ Sơn Tây niết ty thông phán thăng
Viên ngoại lang sung Quảng Nam bản xứ
hải phòng <t56b167>
69.
Vấn Xuân Độ sương phụ hoành dâm
sinh tử tụng duyên tình thứ tội, nhân thị dĩ
thi <t113b279>
70 Luận chính thu Hồ phu phụ <t61 b177>
71.
Lưu giản phủ thú (Phú Diễn thủ khoa
Nguyên Tiểu Chi) nhị thủ <t94b241>
72 Phù dã hí vịnh hùng thư nhị vũ (Thử
thiên vịnh hùng vũ) <t44b143>
73 Tiễn Quảng Yên tuần phủ, phó đô ngự
sử Sơn Tây lặc phái chi quan <t184b411>
56 Tái ngâm thị chư sinh <t102b186>
57 Thính kĩ lân ca tì bà khúc, ngâm thị dĩ thi
<t78b137>
58 Liên đình hoàng chưởng lại trị thê tang
thuật <t97b176>
59 Vấn Độ Xuân (xã danh) dâm phụ sương
cư, hoành dâm sinh tử, tụng duyên tình thứ tội, nhân thị dĩ thi <t57b100>
60 Lưu giản phủ Phú Diễn thủ khoa Nguyễn Tiểu Chi nhị thủ.<t18b32>
61 Tặng Phù Ninh huyện doãn (Nc: do cai kính lộc nhục dữ liên tâm trà) <T83B147>
30 Lưu giản đồng thành Nguyễn thái thú.
(Giải nguyên Phú Diễn nhân) <t29b56>
Trang 38Văn Giang huấn đạo cấn ông thăng Mĩ
Lộc doãn, Bắc Ninh học nha hạ dĩ thi
Phúc Đan Phượng doãn Nguyễn Toán
Biện trần ngôn thư phụ thi <t131b314>
83.
Phúc Đan Phượng doãn Nguyễn Toán
Biện trần ngôn thư phụ thi <t130b313>
Tân Dậu <1861> lĩnh Hương tiến, đại
Tam Gia tiên sinh nghĩ hạ, (Nc: công hậu
thăng Thanh Hoá đốc học, ngô thúc hữu
78 Tiễn Yên Phong doãn thăng phụ dực đồng phủ <t3b6>
Trang 3993 Hí phát Hồ phụ bản ý <t60b176>
94 Đại Nguyễn Phạm ông gia điệt kiêm
sinh nghĩ hạ thọ thi nhất luật <t48b150>
98 Thuộc phiên tiểu lí diệc hoa đội trưởng
dẫn ngã thứ chi nhân thành tam
106 Đại Sơn nghiệt nghĩ hạ đồn điền phó sứ
81 Quân trung tạ Vân Đằng tịch, trình quốc
86 Khấp trưởng tử thẩm hành <t103b189>
87 Tiễn Nhiếp thú Nguyễn đài hồi Tiên D u nhị thủ <t14b26>
88 Quân trung tạ trà thướng Hà niết
37 Mậu thìn (1868) xuân Đa Phúc thục đường tự thuật nhị thủ <t22 b39>
38 Đại quản viện Phó đô ngự sử Phan đại nhân (húy Khiêm, Thanh Hóa nhân) <t10 b18>
39 Nhâm Tuất xuân đán Quảng Xương huyện đường thí bút <t1 b1>
40 Khải hồi truy tưởng tiễu phỉ sự thực chi dĩ thi nhị thủ<t65b128>
41 Tiễn Đa Phúc phủ nhiếp thú hồi Tiên
Du nguyên lị <t20 b35>
Nam Định dĩ thứ thất thủ độc Sơn Tây….
21.
Mậu thìn xuân Đa Phúc thục đường tự thuật nhị thủ
22 Yên Trường hành thứ ngâm kí
sơn phòng công lĩnh Mĩ Lương
huyện doãn tông thất công
23.
Tạ Hà Nội Nguyễn án sát Quỳnh quân trung trí mính chi huệ
Trang 40quản dũng sĩ quan Quách Văn Chính
118 Nghĩ Triều Dương phụ tiểu muội ô tặc
chu trung muộn ngâm.<t111b276>
119 Thang nghiệt đại nhân thăng lĩnh Ninh
Bình Kì tứ đại Phiên ty bát cửu phẩm
42 Tặng công bộ chưởng ấn Lê Cát (Thừa Thiên nhân) <t11b19>{có ở VG}
43 Nghĩ sương phụ luy trung bão tử sầu ngâm <t42b81>
44 Bộ Hoàng giám sát nguyên vận nhân
28.
Tặng thôn ông ngũ thập ngũ thọ.