Để góp phần xây dựng qui trình sản xuất giống cá kết thì đề tài: “Cơ sở khoa học của việc nuôi vỗ thành thục và kỹ thuật sản xuất giống cá kết Micronema bleekeri Gunther, 1864” được th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN VĂN TRIỀU
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NUÔI VỖ THÀNH THỤC VÀ
KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG
Trang 2Vào lúc: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Trung tâm học liệu – Đại học Cần Thơ
2 Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬN ÁN
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt là thế mạnh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với những đối tượng nuôi chủ yếu như cá tra, rô đồng, cá lóc,… Tuy nhiên, trong những năm gần đây nghề nuôi gặp nhiều khó khăn do giá cả những đối tượng trên thường xuyên không ổn định Vì vậy, người nuôi cá đã tìm một số đối tương mới để nuôi Theo đánh giá của nhiều người dân nuôi cá ở hai tỉnh
An Giang và Đồng Tháp thì cá kết có giá trị kinh tế cao, có triển vọng phát triển nuôi, đặc biệt là nuôi trong lồng, bè Hiện nay, nguồn giống cá kết chủ yếu dựa vào tự nhiên với chất lượng và số lượng không đảm bảo Những kết quả nghiên cứu về loài cá này chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp những số liệu cơ bản ban đầu về đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh sản nhân tạo Để góp phần xây dựng qui trình
sản xuất giống cá kết thì đề tài: “Cơ sở khoa học của việc nuôi vỗ
thành thục và kỹ thuật sản xuất giống cá kết (Micronema bleekeri
Gunther, 1864)” được thực hiện
2 Mục tiêu tổng quát của đề tài
Cung cấp những dẫn liệu khoa học về kỹ thuật nuôi vỗ thành thục sinh dục và kỹ thuật sản xuất giống cá kết, góp phần xây dựng hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá kết nhằm chủ động cung cấp cá giống đủ số lượng với chất lượng đảm bảo cho người nuôi, đa dạng hóa loài cá nuôi và phát triển bền vũng nghề nuôi thủy sản ở ĐBSCL
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, nghiên cứu này cung cấp những số liệu khoa học
về ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự thành thục sinh dục cá kết Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu ứng dụng khả năng kích thích sinh sản cá kết bằng các loại kích thích tố và kỹ thuật ương cá kết từ
cá bột lên cá giống
Trang 44 Kết quả mới của đề tài: Lần đầu tiên xác định được:
Cá kết được nuôi vỗ trong ao bằng tép tạp nước ngọt sẽ thành thục sinh dục vào tháng 5, 6 với hệ số thành thục (3,8 ± 0,08%) ở cá cái và sức sinh sản tương đối (110 ± 9,1 trứng/g cá cái) Trong quá trình nuôi vỗ thì hàm lượng Vitellogenin (Vg) trong huyết tương cá kết cái thay đổi tỷ lệ thuận với giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của cá Hàm lượng Vg tăng nhanh nhất khi tuyến sinh dục của cá kết chuyển
từ giai đoạn III sang giai đoạn IV và có sự tương quan chặt chẽ giữa hàm lượng Vg với sự phát triển đường kính trứng theo thời gian Kích thích sinh sản cá kết bằng não thùy với liều lượng 3,5 mg/kg cá cái; LRHa + Dom liều lượng 70 µg + 3,5 mg/kg cá cái; Ovaprim liều lượng 0,3 ml/kg cá cái cho tỷ lệ cá đẻ, sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh và
tỷ lệ nở cao Trong khi đó, kích thích cá kết bằng kích dục tố HCG ở liều 4.000 – 6.000 UI/kg cá cái thì 100% cá kết không rụng trứng
Cá kết bắt đầu ăn thức ăn ngoài lúc 02 ngày tuổi Từ 2 - 5 ngày tuổi
cá ăn luân trùng và ấu trùng giáp xác chân chèo, từ 06 - 30 ngày tuổi
cá ăn giáp xác râu ngành (Cladocera) và giáp xác chân chèo (Copepoda) Ương cá kết bằng trùn chỉ ở mật độ 3,5 con/lít đạt hiệu
quả cao với tốc độ tăng trưởng (20,2 ± 0,25 mg/ngày) và tỷ lệ sống (88,9 ± 3,2%)
Cá kết có thể sử dụng tốt thức ăn chế biến vào ngày tuổi thứ 7 Nhu cầu đạm của cá kết cỡ 269 mg là 43,2% Ương cá kết bằng thức ăn viên có hàm lượng đạm 36% ở mật độ 3,5 con/L trong 60 ngày đạt tỷ
lệ sống (81,2 ± 3,5%) và tăng trưởng (25,9 ± 0,25 mg/ngày) cao
–
Trang 5Micronema bleekeri
T
500 m2, sâu mực nước 1,2 - 1,5 m
Bảng 3.1: Thành phần thức ăn thí nghiệm nuôi vỗ
Trang 6
tuyến sinh dục (TSD) của cá ở giai đoạn IV
3.3.2 Ng
:
, từ 50 – 90 g/con
Cá cái: bụng to, mềm đều, lỗ sinh dục lõm Cá kết được chọn có
đường kính trứng ≥ 0,8 mm chiếm tỷ lệ lớn hơn 80%
Cá đực: chọn cá có thân thon, bụng nhỏ, gai sinh dục nhọn
40 + 3,5 0,3
2,5 5.000
70 + 3,5 0,4
3,5 6.000
100 + 3,5 0,5
Trang 73.3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng cá kết giai đoạn cá bột lên cá hương
a Ao thí nghiệm: Thí nghiệm được thực hiện trong ao đất có diện
tích 12m2 (3 x 4 m) có lót bạt xung quanh và lớp bùn đáy khoảng 25
cm, mức nước sâu 0,5 m
b Nguồn thức ăn cho cá: Trước khi thả cá, thức ăn tự nhiên được
gây nuôi bằng cách treo các túi vải (mắt lưới 25 µm) có chứa bột cá
để ở các góc ao nhằm duy trì thức ăn tự nhiên trong suốt thời gian thí nghiệm, tránh hiện tượng cá ăn trực tiếp bột cá
trung bình là 1,73 mg và 5,02 mm được bố trí vào ao với mật độ 600 con/m2 và thời gian thí nghiệm là 30 ngày
d Thu và phân tích mẫu
Thu mẫu: Thu mẫu thực vật, động vật thủy sinh và cá vào các ngày:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 15, 20, 25, 30 sau khi bố trí Mẫu cá được thu
ngẫu nhiên 30 con và bảo quản trong dung dịch formol 10%
Phân tích mẫu thực vật và động vật thủy sinh: phân tích định tính
theo tài liệu phân loại của Đặng Ngọc Thanh (1980), Han Maosen Shu Yunfang (1995); định lượng theo tài liệu Dương Trí Dũng (1996) và phương pháp Boyd và Tucker (1992)
Xác định đặc điểm dinh dưỡng của cá
(1) Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài chuẩn L i /L 0
(2) Xác định kích cỡ miệng cá
(3) Phân tích dạ dày
Phương pháp tần số xuất hiện: tần số xuất hiện của một loại thức
ăn là tỷ số giữa dạ dày chứa loại thức ăn đó và tổng số dạ dày được quan sát (Hynes, 1950)
Trang 8(4) Sự lựa chọn thức ăn của cá
Hệ số lựa chọn thức ăn được tính bằng chỉ số Ivlve’s Electivity theo công thức: E = (ri-pi)/(ri+pi)
Trong đó, ri là phần trăm loại thức ăn i được tìm thấy trong ruột cá tính trên tổng số loại thức ăn có trong ruột cá và pi là phần trăm loại thức ăn tương ứng được tìm thấy trong môi trường trên tổng số loại thức ăn có trong môi trường
3.3.3.2 Nghiên c từ cá bột lên cá giống
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ƣơng cá kết
tự nhiên
) Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức (NT) và được lặp lại 3 lần: NT1 cho
cá ăn hoàn toàn bằng trùn chỉ (Tubifex), NT2 cho cá động vật phiêu
sinh, NT3 cho cá ăn artemia, NT4 cho cá ăn kết hợp hai loại thức ăn trùn chỉ với động vật phiêu sinh với tỷ lệ bằng nhau
1,8 mg,
Trang 9: Cá thí nghiệm (2 ngày tuổi)
: Thí nghiệm được tiến hành trong các xô nhựa
có thể tích 35 lít ) Cá kết (2 ngày tuổi) được bố trí vào xô với mật độ 2,5 con/lít Thí nghiệm được thực hiện trong 30 ngày gồm 6 NT được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại Các NT là cho cá ăn hoàn toàn bằng thức ăn chế biến ở các ngày thứ
1, 3, 5, 7, 9, 11 sau khi bố trí thí nghiệm
Bảng 3.5: Thành phần dinh dƣỡng của thức ăn chế biến
: Thành phần thức ăn chế biến: cá xay (100g),
sữa không béo (100g), lòng đỏ trứng gà (10 cái), dầu mực (3%) Các nguyên liệu được xay đều, hấp chín, ép sợi, phơi khô và trữ trong tủ đông cho cá ăn
Thí nghiệm 4: Ƣ
nhau
Trang 10:
(nghiê
: Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
(tương đương 900 con/bể, 2.100 con/bể, 3.300 con/bể, 4.500 con
3.3.3.3 Xác định nhu cầu đạm trong thức ăn cá kết giai đoạn giống
a Hệ thống thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên hệ thống bể
composite (20 lít/bể), được bố trí trong nhà và có sục khí liên tục
b Bố trí thí nghiệm: Cá thí nghiệm có khối lượng 269 mg/con đã
được tập cho ăn thức ăn chế biến (bằng phương ở thí nghiệm 3) Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 07 nghiệm thức, lặp lại 03 lần, với mật độ 2,5 con/L (30 con/bể) trong thời gian 06 tuần Các nghiệm thức có mức protein lần lượt là: 24%, 29%, 34%, 39%, 44%, 49% và 54%
Trang 11c Thức ăn thí nghiệm: Thức ăn thí nghiệm có cùng mức năng
lượng (4,36 Kcal/g) và chất béo (10%) Nguyên liệu của thức ăn là bột cá, bột đậu nành, bột mì tinh, dầu cá, dầu thực vật, vitamin –
khoáng, gelatin và chất độn
Bảng 3.6 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn
Thành phần NT 1 NT 2 NT 3 NT 4 NT 5 NT 6 NT 7 Đạm (%) 23,94 28,78 33,76 38,94 43,45 48,47 53,73 Béo (%) 9,38 9,87 9,67 9,63 9,56 9,76 9,84 Bột đường (%) 49,0 42,3 35,6 28,8 22,1 15,4 8,72
d Chăm sóc và quản lý: Khẩu phần cho ăn khoảng 3 – 7%
khối lượng thân (tính theo nhu cầu và theo khối lượng khô) và mỗi ngày cho cá ăn 04 lần vào các mốc thời gian 7h
, 10h30, 14h
và 17h30
e Ghi nhận các kết quả: Để xác định nhu cầu đạm của cá kết giống
các kết quả ghi nhận gồm: tăng trọng của cá; nhu cầu đạm; hệ số tiêu tốn thức ăn, hiệu quả sử dụng protein và tỷ lệ sống; mức độ phân đàn
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích ANOVA một nhân tố để so sánh sự khác biệt giữa các trung bình các nghiệm thức bằng phép thử DUNCAN sử dụng phần mềm Statistica 5.0
4.1 Kết quả nuôi vỗ thành thục sinh dục cá kết
4.1.2 Sự thành thục sinh dục của cá kết
4.1.2.1 Biến động tỷ lệ đường kính trứng trong quá trình nuôi vỗ
Trang 12<=0,2 0,3-0,4 0,5-0,7 >=0,8 Đường kính trứng (mm)
<=0,2 0,3-0,4 0,5-0,7 >=0,8 Đường kính trứng (mm)
<=0,2 0,3-0,4 0,5-0,7 >=0,8 Đường kính trứng (mm)
Trang 1383,3% và 66,7% (Hình 4.1) Tỷ lệ này đạt cao nhất ở nghiệm thức I (93,3%) và cao hơn có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại (P < 0,05) Ngoài ra, trứng cá kết ở nghiệm thức I có đường kính ≥ 0,8
mm chiếm tỷ lệ cao (93,3%) chứng tỏ cá thành thục sớm và tốt hơn ở các nghiệm thức còn lại Điều này cho thấy, tép tạp nước ngọt là thức
ăn phù hợp nhất cho quá trình nuôi vỗ thành thục sinh dục cá kết Cá kết được nuôi vỗ trong ao sẽ thành thục sinh dục vào tháng 5 và 6
4.1.2.2 Sự tương quan giữa kích thước đường kính tế bào trứng (giai đoạn thành thục sinh dục) với hàm lượng Vitellogenin (Vg)
Vào tháng 3, trước khi bố trí thí nghiệm cá kết có đường kính trứng trung bình (0,23 ± 0,08 mm) tương đương với tuyến sinh dục ở giai đoạn II thì hàm lượng Vg trong huyết tương của cá là 0,21 ± 0,02 µg ALP/mg protein Đến đầu tháng 5 (10/5), đồng thời với quá trình tăng nhanh kích thước đường kính trứng (0,5 – 0,52 mm) thì hàm lượng Vg trong huyết tương (0,83 -1,03 µg ALP/mg protein) cũng tăng nhanh Đặc biệt hàm lượng Vg đã tăng lên đột biến (2,46 – 2,65
µg ALP/mg protein) ở thời điểm 15 ngày sau đó (25/5) Điều này cho thấy, ở cá kết khi tuyến sinh dục phát triển từ giai đoạn III (đường kính trứng < 0,4 mm) đến giai đoạn IV (đường kính trứng từ 0,5 – 0,7 mm) thì hàm lượng Vg cũng tăng lên rất nhanh Hàm lượng này ở các nghiệm thức khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Đến tháng 6, đường kính trứng cá kết ở tất cả các nghiệm thức đều
≥0,8 mm Hàm lượng Vg dao động trong khoảng 2,94 – 3,28 µg ALP/mg protein Đến tháng 7 thì cả hai chỉ tiêu đường kính trứng và hàm lượng Vg đều giảm xuống rất nhanh và giữa các nghiệm thức khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) (Hình 4.2)
Trang 14Hình 4.2: Biến động hàm lượng Vg và trung bình đường kính trứng 4.1.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn nuôi vỗ đến hệ số thành thục, sức sinh sản và hàm lượng Vg của cá kết
Các chữ cái trên cùng một cột giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Trước khi tiến hành bố trí thí nghiệm, hệ số thành thục sinh dục và hàm lượng Vg của cá kết cái đạt lần lượt là 0,23 % và 0,21 µg ALP/mg protein và khác nhau không có ý nghĩa (P > 0,05) ở các nghiệm thức Hệ số thành thục của cá kết đực là 0,04 – 0,05 % Đến tháng 6, hệ số thành thục và hàm lượng Vg của cá kết cái ở tất cả các nghiệm thức đều cao hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với tháng
Trang 153 Hệ số thành thục của cá cái khác nhau (P < 0,05) giữa các nghiệm thức, trong khi đó hàm lượng Vg khác nhau không có ý nghĩa thống
kê (P > 0,05) giữa các nghiệm thức (Bảng 4.4) Ở nghiệm thức 1, cá
có hệ số thành thục đạt cao nhất (3,8 ± 0,08%), kế đến là nghiệm thức 2 (3,27 ± 0,29%), cao hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với nghiệm thức 3 (Bảng 4.4) Điều này chứng tỏ, tép tạp nước ngọt là thức ăn thích hợp trong quá trình nuôi vỗ cá kết Vào tháng 6, hệ số thành thục của cá đực dao động (0,79 – 0,98 %) khác nhau không có
ý nghĩa (P > 0,05) giữa các nghiệm thức Kiểm tra cho thấy, ở thời điểm này tất cả cá đực đều thành thục tốt (buồng tinh màu trắng sữa, căng, chứa đầy tinh dịch)
Bảng 4.5 Sức sinh sản của cá kết ở thời điểm 10/6/2010
Vào tháng 6, sức sinh sản của cá ở nghiệm thức I đạt cao nhất (110 ± 9,1 trứng/g cá cái) và giữa các nghiệm thức khác nhau có ý nghĩa (P
< 0,05) (Bảng 4.5) Như vậy, tép tạp nước ngọt là thức ăn thích hợp cho quá trình nuôi vỗ cá kết
4.2 Ảnh hưởng của loại và liều lượng hormone đến sinh sản nhân tạo cá kết
4.2.1 Ảnh hưởng liều lượng não thùy đến kết quả sinh sản cá kết
Kích thích sinh sản cá kết với liều lượng 3,5 mg não thùy/kg cá cái (NT III) cho sức sinh sản đạt 115.388 ± 13.487 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh 73,3 ± 6,1% và tỷ lệ nở 85,4 ± 10,1% cao hơn có ý nghĩa (P
< 0,05) so với các nghiệm thức còn lại (Bảng 4.7)
Trang 16Bảng 4.7: Kết quả sinh sản nhân tạo cá Kết bằng não thùy
Các chữ cái trên cùng một cột giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
4.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng HCG đến sinh sản cá kết
Kết quả sinh sản cá kết bằng HCG cho thấy, ở tất cả các nghiệm thức
cá đều không rụng trứng Sau khi được tiêm HCG 6 – 8 giờ, trứng cá kết được tiến hành kiểm tra và đo đường kính Đường kính trứng cá hầu như không tăng kích thước hoặc tăng rất ít
4.2.3 Ảnh hưởng liều lượng LRHa + Dom đến sinh sản cá kết Bảng 4.8: Kết quả sinh sản cá Kết bằng LRHa + Dom
Tỷ lệ thụ tinh (%)
Tỷ lệ nở (%)
I 100 81.053 ± 14.050a 61,7 ± 6,94a 82,3 ± 11,8a
II 100 188.365 ± 27.843b 77,7 ± 6,23b 92,2 ± 4,32bIII 100 155.934 ± 28.933b 74,7 ± 6,43b 73,3 ± 15,1a
Các chữ cái trên cùng một cột giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Bảng 4.8 cho thấy, ở cả 3 nghiệm thức tỷ lệ cá rụng trứng đều là 100% với sức sinh sản tương đối đạt 81.053 – 188.365 trứng/kg cá cái Ở nghiệm thức II, sức sinh sản đạt cao nhất (188.365 trứng/kg cá cái) khác nhau không có ý nghĩa (P > 0,05) so với nghiệm thức III và cao hơn có ý nghĩa (P < 0,05) so với nghiệm thức I Tỷ lệ thụ tinh và
tỷ lệ nở của trứng cá kết ở nghiệm thức II cũng đạt cao nhất và cao hơn có ý nghĩa (P < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại (Bảng 4.8)
Tỷ lệ thụ tinh (%)
Tỷ lệ nở (%)
I 11,1a±9,2 22.786 ± 9.467a 17,3 ± 5,8a 23,7 ± 4,1a
II 44,5b±8,5 65.201 ± 6.799b 59,3 ± 4,6b 52,4 ± 7,8bIII 88,9c±9,2 115.388 ± 13.487c 73,3 ± 6,1c 85,4 ± 10,1c
Trang 17Như vậy, kích thích sinh sản cá Kết bằng LRHa + Dom với liều 70µg + 3,5mg Dom có hiệu quả cao nhất
4.2.4 Ảnh hưởng liều lượng Ovaprim đến sinh sản cá kết
Bảng 4.9: Kết quả sinh sản nhân tạo cá Kết bằng Ovaprim
Tỷ lệ thụ tinh (%)
Tỷ lệ nở (%)
I 100 161.773 ± 81.677a 73,0 ± 5,00a 91,3 ± 4,08 a
II 100 162.029 ± 72.306a 71,0 ± 5,29a 93,8 ± 1,86aIII 100 160.441 ± 77.937a 71,0 ± 4,58a 93,9 ± 5,43a
Các chữ cái trên cùng một cột giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Qua bảng 4.9 cho thấy, ở cả 3 mức liều lượng (0,3 ml; 0,4 ml; 0,5 ml/kg cá cái) đều cho tỷ lệ cá rụng trứng là 100% Sức sinh sản tương đối của cá dao động từ 160.441 – 162.029 trứng/kg cá cái Sức sinh sản của cá kết ở nghiệm thức II đạt được cao nhất (162.029 trứng/kg
cá cái), khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) so với các nghiệm thức còn lại Tương tự, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở ở cả 3 nghiệm thức đều đạt cao và khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P
> 0,05) Như vậy, kích thích sinh sản cá kết bằng Ovaprim ở liều lượng 0,3 ml/kg cá cái cho hiệu quả sinh sản cao
4.3.1 Đặc điểm dinh dưỡng của cá kết giai đoạn cá bột lên cá hương
Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài chuẩn: Ống tiêu hóa cá kết giai
đoạn từ 2 – 30 ngày tuổi có chiều dài tăng rất ít Tỷ lệ chiều dài ruột
và chiều dài chuẩn dao động từ 0,311 - 0,361, tỷ lệ này nhỏ hơn 1 Như vậy, ở giai đoạn này cá kết ăn động vật
Phân tích thức ăn trong ruột cá: Ở 02 ngày tuổi cá kết đã bắt đầu ăn
thức ăn bên ngoài và thức ăn của chúng là động vật phiêu sinh với tần số