Vận tải biển từ xưa đến nay luôn được coi là một phương thức vận chuyển mang lại hiệu quả cao hơn so với các loại phương thức vận chuyển khác
Trang 1PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Vận tải biển từ xưa đến nay luôn được coi là một phương thức vậnchuyển mang lại hiệu quả cao hơn so với các loại phương thức vận chuyểnkhác Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình mở cửa, hội nhập khu vực vàthế giới thì vận tải biển lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Tuynhiên, vận tải biển lại thường gặp nhiều rủi ro như: bão, sóng thần, chìm, đắmtàu và khi gặp rủi ro như vậy thường bị tổn thất rất lớn Để cho các chủhàng có thể đảm bảo được hoạt động kinh doanh của mình khi vận chuyểnhàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển thì nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoáxuất nhập khẩu vận chyển bằng đường biển ra đời Đối với mỗi công ty bảohiểm thì đây chính là một mảng kinh doanh mang lại hiệu quả khá cao.Nhưng làm thế nào để nâng cao hiệu quả khai thác đối với nghiệp vụ bảohiểm cũng là vấn đề mà mỗi công ty bảo hiểm đều phải quan tâm (công ty Cổphần bảo hiểm PJICO cũng nằm trong số đó), vì vậy mà em chọn đề tài nàylàm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình
Nghiên cứu và phân tích đề tài này nhằm đưa ra một số giải pháp, kiếnnghị nhằm nâng cao hơn hiệu quả khâu khai thác tại công ty Cổ phần bảohiểm PJICO
Đề tài này ngoài Lời mở đầu và phần Kết luận gồm 3 chương:
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT
NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.
Chương II: TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM
HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PJICO
Trang 2Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở PJICO TRONG NHỮNG NĂM TỚI
Do thời gian thực tập không nhiều, kiến thức thực tiễn về nghiệp vụ còn rất ít nên chuyên đề còn nhiều hạn chế Rất mong sự đóng góp ý kiến bổ sungcủa thầy giáo và các bạn Qua đây em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáotrong bộ môn bảo hiểm, thầy giáo PGS TS HỒ SỸ SÀ, cùng toàn thể các anh chị là cán bộ, nhân viên Phòng bảo hiểm Khu vực V công ty bảo hiểm PJICO đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà nội, ngày 25 tháng 4 năm 2007
Trang 3PHẦN II : NỘI DUNG CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU
VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1.1.Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá trong nền KTQD và
sự cần thiết phải bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
1.1.1.Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá trong nền KTQD.
Hoạt động xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nướcthông qua hành vi mua bán Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ
xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sảnxuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới
Một quốc gia cũng như một cá nhân không thể sống riêng rẽ mà có đầy
đủ mọi thứ hàng hoá Hoạt động xuất nhập khẩu có vai trò rất lớn trong nềnKTQD, bởi vì hoạt động xuất nhập khẩu giúp mở rộng khả năng tiêu dùngcủa một nước, nó cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với
số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của đường khả năngsản xuất trong nước đó (nếu thực hiện chế độ tự cung, tự cấp, không có quan
hệ buôn bán) Để thấy rõ được lợi ích của hoạt động xuất nhập khẩu, cần xemxét đồ thị lợi ích của hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 4Đồ thị biểu diễn lợi ích của kinh doanh xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu dẫn đến sự tăng lên của những loại hàng hoá
có thể tiêu dùng được trong nền KTQD:
Cho phép khối lượng hàng hoá tiêu dùng khác với số hàng sản xuất
Cho phép một sự thay đổi có lợi phù hợp với đặc điểm của sản xuấttrong nước
1.1.2.Vai trò của vận tải biển trong xuất nhập khẩu hàng hoá và sự cần thiết phải bảo hiểm cho hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển.
Vai trò của vận tải biển trong xuất nhập khẩu hàng hoá
Dịch vụ vận chuyển nói chung và vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩubằng đường biển nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thương
Đường giới hạn khả năng sản xuất
Trang 5mại quốc tế Có thể nói “không có thương mại nếu không có vận chuyển”.Hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng nhiều phương tiện khácnhau nhưng vận chuyển bằng dường biển là thông dụng nhất, nó chiếm 90%tổng khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của thế giới Có nhiều nước không
ở vị trí tiếp giáp với biển nhưng vẫn phải thông qua các cảng biển của nướckhác để vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu Vận chuyển bằng đường biển
có rất nhiều ưu diểm:
Vận tải biển có khả năng vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hoávới khối lượng lớn mà các phương tiện vận tải khác không thể đảm nhậnđược, chẳng hạn như các loại hàng hoá siêu dài và siêu nặng
Tuyến đường biển rộng lớn nên có thể có nhiều chuyến tàu cùng đi mộtlúc cho cả hai chiều
Không cần phải đầu tư nhiều vốn, nguyên vật liệu, sức lao động choviệc xây dựng các tuyến đường biển vì nó được xây dựng dựa trên cơ sở lợidụng các điều kiện của thiên nhiên.Và đây chính là một nguyên nhân làm chogiá thành vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác
vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh
tế với các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước; gópphần tăng thu ngoại tệ
Như vậy chúng ta có thể thấy được rằng vận tải biển đã mang lại rấtnhiều thuận lợi cho quá trình mở cửa, phát triển kinh tế ra khu vực và thếgiới
Sự cần thiết phải bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển
Có thể nói chưa bao giờ xu thế toàn cầu hoá lại diễn ra mạnh mẽ nhưgiai đoạn hiện nay, và như đã phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy được vaitrò vô cùng quan trọng của dịch vụ vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bằng
Trang 6đường biển Theo thống kê có khoảng hơn 90% khối lượng hàng hoá xuấtnhập khẩu của thế giới bằng đường biển, bởi vì vận chuyển bằng đường biển
có những ưu điểm mà các dịch vụ vận chuyển khác không có được như: vậnchuyển được nhiều chủng loại hàng hoá, lợi dụng được các điều kiện củathiên nhiên để làm giảm chi phí về vốn, nguyên vật liệu, sức lao động ; cóthể tổ chức được nhiều tuyến tàu trong cùng một lúc, trên cùng một tuyến;góp phần phát triển mối quan hệ kinh tế giữa các nước trong khu vực cũngnhư trên toàn thế giới
Tuy nhiên bên cạch những mặt tích cực đó thì vận chuyển bằng đườngbiển cũng có một số nhược điểm sau:
Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều rủi ro do các yếu tố tựnhiên, yếu tố kỹ thuật, yêu tố xã hội hoặc con người
Do yếu tố tự nhiên: quá trình vận chuyển hàng hoá trên biển phụthuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như thời tiết khí hậu mặc dù hiện naykhoa học kỹ thuật rất phát triển chúng ta có thể dự báo được thời tiết, cảnhbáo được động đất sóng thần Nhưng các yếu tố tự nhiên luôn xẩy ra bất cứlúc nào và không theo một quy luật nhất định Vì vậy những thiên tai như:Bão, sóng thần, lốc, vòi rồng khi xẩy ra có thể gây thiện hại vô cùng to lớn
về người và của
Do yếu tố kỹ thuật: Ngày nay con người ngày càng sử dụng nhiềuhơn các phượng tiện khoa học hiện đại, những dù máy móc có hiện đại đếnđâu thì cũng không thể tránh khỏi những sai sót, trục trặc về mặt kỹ thuật Đó
có thể là trục trặc của chính bản thân con tàu, kỹ thuật dự báo, các tín hiệuđiều khiển từ đát liền hoặc vệ tinh từ đó đã gây ra tổn thất cho hàng hoátrong quá trình vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu
Do yếu tố xã hội con người: hàng hoá có thể bị mất trộm mất cắp,
bị cướp hoặc bị thiệt hại do chiến tranh
Trang 7 Tốc độ tàu biển thường chậm, hành trình trên biển thường có thới giandài nên xác suất rủi ro xẩy ra trên biển là rất cao Hơn nữa việc ứng cứu rủi
ro tai nạn gặp rất nhiều khó khăn
Ngày nay, khi nên kinh tế-xã hội ngày càng phát triển mỡi chuyến hàngđều có giá trị rất lớn, bao gồm giá trị tàu và hàng hoá chở trên tàu nên khi tổnthất xẩy ra sẽ gây tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người
Trong quá trình vận chuyển hàng hoá chủ phươngtiện sẽ là người chịu trách nhiệm chính nhưng trách nhiệm này rất hạn chế vềthời gian, phạm vi và mức độ tuỳ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng bảohiểm
Để phát huy tối đa những mặt tích cực đồng thời hạn chế những mặttiêu cực trong vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, thì nghiệp vụ bảo hiểmhàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đã ra đời Từ khinghiệp vụ bảo hiểm này ra đời đã làm cho các doanh nghiệp yên tâm sảnxuất, ổn định kinh doanh giúp nền kinh tế phát triển, tăng nguồn thu cho ngânsách nhà nước Nghiệp vụ bảo hiểm này cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩyhoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá phát triển nhanh chóng như ngày hômnay Chính vì lẽ đó, tầmquan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm này ngày càngđược nhiều nước trên thế giới thừa nhận cho nên các điều khoản thương mạiquôc tế quy định bắt buộc phải tham gia bảo hiểm đối với hàng hoá xuất nhậpkhẩu
1.2.Những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
1.2.1.Đối tượng và các nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
1.2.1.1.Đối tượng
Trang 8Đối tượng chung của ngành bảo hiểm thương mại là trách nhiệm, conngười và tài sản với nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển thì đối tượng bảo hiểm là tài sản – giá trị của hànghoá mà chủ hàng yêu cầu bảo hiểm
1.2.1.2.Một số nguyên tắc cơ bản.
Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đườngbiển cũng tuân thủ các nguyên tắc chung trong bảo hiểm thương mại như:
Nguyên tắc số đông bù số ít
Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm
Nguyên tắc phân tán rủi ro
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm
Bên cạnh đó bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đườngbiển còn áp dụng các nguyên tắc bảo hiểm khác, bao gồm: “nguyên tắc bồithường”; “nguyên tắc bảo hiểm trùng”
Nguyên tắc bồi thường (khi thanh toán, chi trả bảo hiểm): Số tiền bồithường(STBT) mà người được bảo hiểm nhận được không vượt quá thiệt hạithực tế trong sự cố bảo hiểm Ví dụ, khi lô hàng được bảo hiểm bị tổn thất
800 triệu thì STBT mà chủ hàng nhận được không quá 800 triệu
Nguyên tắc bảo hiểm trùng: Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩuvận chuyển bằng đường biển , nếu chủ hàng tham gia bảo hiểm cho lô hàngcủa mình cùng lúc với nhiều HĐBH cho cùng một rủi ro với nhiều công tybảo hiểm khác nhau , những HĐBH này có điều kiện bảo hiểm giống nhau,thời hạn bảo hiểm trùng nhau và tổng STBT từ tất cả những hợp đồng này lớnhơn giá trị của lô hàng đó thì gọi là bảo hiểm trùng
Trang 9Trong trường hợp co bảo hiểm trùng , tuỳ thuộc vào nguyên nhân xảy ra
để giải quyết thông thường, bảo hiểm trùng liên quan đến sựgian lận củangười tham gia bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm Do đó, về nguyên tắc công
ty bảo hiểm có thể huỷ bỏ HĐBH nếu phát hiện thấy bảo hiểm trùng có gianlận Nếu các công ty bảo hiểm chấp nhận bồi thường thì trách nhiệm của mỗicông ty sẽ được chia theo tỷ lệ trách nhiệm mà họ đảm nhận Cụ thể:
Trên thực tế, một trong số các công ty bảo hiểm đã cấp hợp đồng cho đốitượng được bảo hiểm trùng này có thể đứng ra bồi thường theo số thiệt hạithực tế, sau đó sẽ đòi lại các công ty khác phần trách nhiệm của họ
1.2.2.Rủi ro hàng hải và những tổn thất thường gặp phải.
1.2.2.1.Rủi ro hàng hải.
Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây
ra làm hư hỏng hàng hoá và phương tiện chuyên chở Rủi ro Hàng hải cónhiều loại:
Theo nguyên nhân, rủi ro hàng hải bao gồm: rủi ro do thiên tai, rủi ro
do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người
Thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra, như biển độngbão, lốc, sét, thời tiết quá xấu…mà con người không chống lại được
Tai nạn bất ngờ trên biển: mắc cạn, đắm, bị phá huỷ, cháy, nổ, mất tích,đâm va với tàu hoặc một vật thể cố định hay di động khác không phải lànước, phá hoại của thuyền trưởng và thủy thủ trên tàu…
Hành động của con người: ăn trộm ăn cắp hàng, mất cướp, chiến tranh,đình công, bắt giữ, tịch thu…
Số tiền bồi thường
của từng hợp đồng
Giá trị thiệt hại thực tế
STBT của từng hợp đồng
Tổng số tiền bảo hiểm
Trang 10Ngoài ra còn một số rủi ro khác như rủi ro lúc xếp dỡ hàng, hàng bịnhiễm mùi lây bẩn…
Theo nghiệp vụ Bảo hiểm có 3 loại rủi ro là rủi ro thông thường đượcbảo hiểm, rủi ro không đuợc bảo hiểm và rủi ro được bảo hiểm trong trườnghợp đặc biệt
Rủi ro thông thường được bảo hiểm: bão, lốc, sóng thần, mắc cạn đâm va…
Rủi ro không đuợc bảo hiểm (còn gọi là rủi ro loại trừ): các hành vi sailầm cố ý của người được bảo hiểm, bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể
lệ Xuất nhập khẩu hoặc vận chuyển chậm trễ làm mất thị trường, sụt giá… Rủi ro được Bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt: rủi ro do chiếntranh, đình công, bạo loạn…(gọi chung là rủi ro chiến tranh) thường khôngđược nhận bảo hiểm Trong trường hợp chủ hàng yêu cầu, rủi ro chiến tranh
sẽ được nhận bảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với diềukiện trả thêm phụ phí đặc biệt
Các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất
TTTB là toàn bộ đối tượngđược bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm
bị hư hỏng mất mát, thiệt hại
Có hai loại TTTB là TTTB thực tế và TTTB ước tính:
TTTB thực tế là toàn bộ đối tượng đuợc bảo hiểm theo một hợp đồng
Trang 11Bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc biến chất, biến dạng không nhưlúc mới được bảo hiểm hay vị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa.Chỉ có TTTB thực tế trong 4 trường hợp sau:
Hàng hoá bị hư hỏng hoàn toàn;
Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại đựơc;
Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm;
Hàng hoá ở trên tàu mà tàu được tuyên bố là mất tích
TTTB ước tính là trường hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt hạimất mát chưa tới mức độ TTTB thực tế, nhưng không thể tránh khỏi TTTBthực tế, hoặc nếu bỏ thêm cho phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữacó thểbằng hoặc lớn hơn GTBH
Nếu phân loại theo trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất bao gồm Tổnthất riêng(TTR) và Tổn thất chung (TTC)
TTR là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số quyền lợicảu các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu Như vậy TTR chỉ liên quan đếntừng quyền lợi riêng biệt Trong TTR, ngoài thiệt hại vật chất, còn phát sinhnhững chi phí liên quan đến TTR nhằm hạn chế những hư hại khi tổn thất xẩy
ra, gọi là tổn thất chi phí riêng
Tổn thất chi phí riêng là nhũng chi phí bảo quản hàng hoá để giảmbớt hư hại hoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp dỡ, gửi hàng, đónggói lại, thay thế bao bì…ở bến khởi hàng và dọc đường Có tổn thất chi phíriêng sẽ làm hạn chế và giảm bớt TTR
TTR có thể là TTBP hoặc TTTB
TTC là nhưng hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hàng một cách
cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏimột sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng
Trang 12Các thiệt hại, chi phí hoặc hành động được coi là tổn thất chung khi cĩnhững đặc điểm sau:
Hành động tổn thất chung phải là hành động tự nguyện, hữu ý củanhững người trên tàu theo lệch cuả thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyềntrưởng;
Hy sinh hoặc chi phí đặc biệt, bất thường;
Hy sinh, hoặc chi phí phải hợp lý và vì an tồn chung cho tất cả cácquyền lợi trong hành trình;
Nguy cơ đe doạ tồn bộ hành trình phải nghiêm trọng và thực tế;
Mất mát thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hànhđộng TTC;
TTC phải xẩy ra trên biển
TTC bao gồm hai bộ phận chủ yếu đĩ là hy sinh TTC và chi phí TTC
Hy sinh TTC là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực tiếp củamột hành động TTC
Chi phí TTC là những chi phí phải trả cho người thứ 3 trong việc cứutá và hàng thốt nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình
Chi phí TTC bao gồm: chi phí cứu nạn, chi phí làm nổi tàu khi bị mắccạn, chi phí thuê kéo, lai, dắt tàu khi bị nạn, chi phí tại cảng lánh nạn
1.2.3.Phạm vi bảo hiểm.(các điều kiện bảo hiểm theo ICC /1/1982)
1.2.3.1.Điều kiện bảo hiểm C.(ICC C)
Phạm vi bảo hiểm theo điều kiện này bao gồm:
Tổn thất hay tổn hại của hàng hố được bảo hiểm cĩ nguyên nhân hợp
lý do cháy hoặc nổ; tàu bị mắc cạn, chìm đắm, bị lật;đâm va; dỡ hàng tại cảnglánh nạn
Tổn thất chung
Trang 13 Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoảnhai tàu đâm va nhau dều có lỗi.
Các rủi ro loại trừ bao gồm:
Tổn thất hay tổn hại do hành vi xấu, cố ý của người được bảo hiểm
Rò rỉ, hao hụt thông thườngvề trọng lượng, khối lượng hoặc hao mòn tựnhiêncủa đối tượng được bảo hiểm
Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hoá
tổn thất hoặc tổn hại do đóng gói bao bì không đủ điều kiện, khôngthích hợp
Tổn thất hoặc tổn hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ
Tổn thất hoặc tổn hại do không trả được nợ hoặc thiếu thốn về tài chínhcủa chủ tàu, người quản ly, người thuê tàu hoặc người khai thác tàu
Tổn thất hoặc tổn hại do việc sử dụng bất kỳ mộ loại vũ khí chiến tranhnào đó có dùng phản ứng hạt nhân, phản ứng hoá học, chất phóng xạ…
Thiệt hại cố ý hoặc sự phá hoại cố ý đối tượng được bảo hiểm do hànhđộng phạm pháp của bất kỳ người nào
Do tàu không đủ khả năng đi biển hoặc không thích hợp cho việc vậnchuyển hàng hoá mà người được bảo hiểm đã biết tình trạng đó vào lúc hànghoá được xếp lên phương tiện vận tải
Tổn thât xẩy ra do chiến tranh, nội chiến bạo loạn, hành động thù địch,tịch thu, bắt giữ, quản chế giam cầm
Tổn thất do mìn, thuỷ lôi, bom và các loại vũ khí chiến tranh
Tổn thất được gây ra bởi người đình công, công nhân bị cấm xưởnghoặc những người tham gia gây rối loạn lao động, bạo động, nổi loạn
Tổn thất xẩy ra do bạo động chính trị, động cơ chính trị
Trách nhiệm chứng minh tổn thất thuộc về người được bảo hiểm(chủ hàng)
1.2.3.2 Điều kiện bảo hiểm B.(ICC B)
Trang 14Theo điều kiện này, ngoài các rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện C,công ty bảo hiểm còn bồi thường tổn thất hay tổn hại đối với hàng hoá đượcbảo hiểm do động đất, núi lửa, sét đánh; bị nước biển cuốn khỏi tàu;nướcbiển, nước sông, hồ xâm nhập vào hầm tàu, vào côngtennơ hoặc nơi để hàng,tỏn thất nguyên kiện hàng trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải.
Người bảo hiểm có áp dụng mức miễn thường
1.2.3.3.Điều kiện bảo hiểm A.(ICC A)
Đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi rộng nhất, bảo hiểm tất cả những
hư hỏng, mất mát của hàng hoá, kể cả rủi ro cướp biển, chỉ trừ những rủi roloại trừ theo quy định và không áp dụng mức miễn thường
Trong điều kiện bảo hiểm A, rủi ro cướp biển là phạm vi bảo hiểm rộnghơn điều kiện bảo hiểm AR(ICC1963)
1.2.3.4.Điều kiện bảo hiểm chiến tranh.
Theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm phải bồi thường nhữngmất mát, hư hỏng của hàng hoá do:
Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung độtdân sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địch nào
Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc cầm giữ
Mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các vũ khí chiến tranh khác
TTC và chi phí cứu nạn
Phạm vi không gian và thời gian bảo hiểm đối với chiến tranh hẹp hơncác rủi ro thông thường Bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực khi hàng hoá được xếplên tàu biển và kết thúc khi được dỡ khỏi tàu tại cảng cuối cùng hoặc khi hếthạn 15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng dỡ cuối cùng, tuỳ theo điều nàoxảy ra trước Nếu có chuyển tải, bảo hiểm vẫn có hiệu lực cho đến khi hết hạn
15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng chuyển tải
1.2.3.5.Điều kiện bảo hiểm đình công.
Trang 15Theo điều kiện bảo hiểm này, chỉ bảo hiểm cho những mất mát, hư hỏngcủa hàng hoá được bảo hiểm do:
Người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặc những người thamgia gây rối loạn lao động, bạo động hoặc nổi loạn
Hành động khủng bố hoặc vì mục đích chính trị
TTC và chi phí cứu nạn
Người bảo hiểm chỉ bồi thường những tổn thất do hành động trực tiếpcủa người đình công mà không chịu trách nhiệm về những thiệt hại do hậuquả của đình công
Tuy nhiên, ở Việt Nam mới chỉ có các điều kiện A, B, C mà không cóđiều kiện bảo hiểm chiến tranh và đình công
1.2.4.Hợp đồng bảo hiểm.
HĐBH hàng hoá Xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là mộtvăn bản trong đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho ngưòi tham giabảo hiểm những tổn thất của hàng hoá theo các điều kiện được bảo hiểm đã kíkết, còn người tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm
1.2.4.1.Các loại hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
Có hai loại:
HĐBH chuyến:
HĐBH chuyến là HĐBH cho một chuyến hàng chuyên chở từ địa điểmnày đến địa điểm khác ghi trong HĐBH Công ty bảo hiểm chỉ chịu tráchnhiệm về hàng hoá trong phạm vi một chuyến
HĐBH chuyến thường được trình bày dưới hình thức đơn bảo hiểm haygiấy chứng nhận bảo hiểm do công ty bảo hiểm cấp Nôi dung của HĐBHgồm hai phần mặt trước và mặt sau Mặt trước thường ghi những chi tiết về
Trang 16hàng, tàu, hành trình Mặt sau thường ghi các điều lệ hay quy tắc bảo hiểmcủa công ty bảo hiểm Nội dung HĐBH chủ yếu bao gồm:
Ngày cấp đơn bảo hiểm
Nơi kí kết hợp đồng
Tên và địa chỉ của người mua bảo hiểm
Tên hàng được bảo hiểm
Quy cách đóng gói, loại bao bì và kí mã hiệu của hàng
Số lượng, trọng lượng của hàng
Tên tàu hoặc phương tiện vận chuyển
Cách xếp hàng trên tàu
Cảng khởi hành, cảng chuyển tải và cảng cuối Trong trường hợp nơiđến của hàng ghi trong đơn bảo hiểm là một điểm nằm sau trong nội địa,nghĩa là sau khi đến cảng cuối, phải chuyển tiếp hàng bằng phương tiện khácđến địa điểm đã định và đến đây mới hết trách nhiệm của công ty bảo hiểm,thì phải tăng thêm phụ phí bảo hiểm vì ngoài rủi ro bảo hiểm hàng hải còn cóthêm rủi ro trên đoạn đường phụ trong toàn bộ hành trình được bảo hiểm
Ngày tàu khởi hành
Gía trị bảo hiểm(GTBH) và số tiền bảo hiểm (STBH)
Điều kiện bảo hiểm
Phí bảo hiểm
Địa chỉ của giám định viên bảo hiểm
Phương thức và địa điểm trả tiền bồi thường do người được bảo hiểm chọn
Số bản đơn bảo hiểm được phát hành
HĐBH bao(HĐBH mở)
HĐBH bao là HĐBH cho một khối lượng hàng vận chuyển trong nhiềuchuyến kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định(thường là một năm) hoặcnhận bảo hiểm cho một khối lượng hàng vận chuyển nhất định
Trang 17Nội dung HĐBH bao bao gồm: nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm,tên hàng được bảo hiểm, việc đóng gói hàng, loại phương tiện vận chuyển,cách tính GTBH và STBH tối đa cho mỗi chuyến hàng, điều kiện bảo hiểm,
tỷ lệ phí bảo hiểm và thanh toán phí bảo hiểm, giám định, khiếu nại đòi bồithường, hiệu lực của hợp đồng, xử lý tranh chấp Trong hợp đồng phải có 3điều kiện cơ bản sau:
Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chuyên chở hàng hoá sẽ đựơc bảohiểm :
Tàu phải có cấp hạng cao và nếu do 10 hãng đăng kiểmnổi tiếng trên thếgiới cấp mới được chấp nhận một cách tuyệt đối
Tàu phải có khả năng đi biển bình thường và tuổi tàu thấp(dưới 15 năm)
Điều kiện về GTBH: Người được bảo hiểm phải kê khai giá trị hàngtheo từng chuyến về số kiện, giá CIF hoặc giá FOB, số hợp đồng mua bán, sốthư tín dụng(L/C), ngày mở và giá trị L/C, số vận đơnB/L
Điều kiện về quan hệ trên tinh thần thiện chí: Nghĩa là đã mua bảo hiểmbao của người bảo hiểm nào thì thì trong thời gian đó ngườ được bảo hiểmkhông dược phép mua bảo hiểm hàng hoá của người bảo hiểm khác
Trong thời gian có hiệu lực của HĐBH bao, mỗi lần vận chuyển hànghoá, người tham gia bảo hiểm phải gửi giấy báo vận chuyển cho người bảohiểm Nếu có thay đổi đặc biệt về số lượng, giá trị hàng phải ký kết HĐBHkhác
Sau khi đã cấp đơn bảo hiểm mà người được bảo hiểm muốn thay đổihay bổ sungmột số điều và được công ty bảo hiểm chấp nhận thì công ty bảohiểm sẽ cấp giấy bảo hiểm bổ sung Giấy này luôn phải đi kèm với đơn bảohiểm ban đầu
Ngoài ra, đơn bảo hiểm có thể chuyển nhượng cho người khác
1.2.4.2.Giá trị bảo hiểm,số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm
Trang 18 Giá trị bảo hiểm
Gía trị bảo hiểm là giá trị thực tế của lô hàng, thường là giá CIF, baogồm: giá hàng hoá ,cước phí vận chuyển,phí bảo hiểm và các chi phí liênquan
Đê thoả mãn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, Công ty bảo hiểmcòn nhận bảo hiểm cho cả phần lãi dự tính đối với hàng thương mại.Đây làphần chênh lệch giữa giá mua ở cảng đi với giá bán ở cảng đến, nó khônghoàn toàn là giá trị của lô hàng được bảo hiểm
Trường hợp GTBH tibhs theo giá CIF và có thêm phần lãi dự tính(tối đa10%), khi đó GTBH của hàng lớn nhất bằng 110% giá CIF
Công thức tính giá CIF:
CIF C R F
1
Trong đó:
C (Cost) – Gía hàng được tính bằng giá FOB ở cảng đi;
F (Freight) - cước phí vận chuyển;
R (Rate) - tỷ lệ phí bảo hiểm
GTBH được xác định theo công thức:
R
F C V
1
) 1 )(
Trang 19Số tiền bảo hiểm (STBH) là số tiền được đăng ký bảo hiểm , ghi trongHĐBH.
STBH được xác định dựa trên cơ sở GTBH, và GTBH của hàng hoádược xác định thông qua hoá đơn mua bán hàng hoá đó
Nếu STBH bằng GTBH, đó gọi là “bảo hiểm ngang giá trị”,còn gọi là
“bảo hiểm toàn phần”
Nếu STBH lớn hơn GTBH, đó gọi là “bảo hiểm trên giá trị”, còn gọi là
“bảo hiểm vượt mức”
Nếu STBH nhỏ hơn GTBH, đó gọi là “bảo hiểm dưới giá trị”, còn gọi
là “bảo hiểm dưới mức”
Trong thực tế các chủ hàng thường tham gia bảo hiểm ngang giá trị
P = CIF * R (nếu không bảo hiểm lãi dự tính)
hoặc: P = CIF (a+1)* R (nếu bảo hiểm thêm lãi dự tính a)
Tỷ lệ phí bảo hiểm được ghi trong HĐBH theo thoả thuận giữa ngườibảo hiểm và người tham gia bảo hiểm
Tỷ lệ phí bảo hiểm chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:
Trang 20 Loại hàng hoá: đối với những loại hàng hoá dễ bị tổn thất như dễ vỡ, dễ
bị mất cắp thì tỷ lệ phí sẽ cao hơn những loại hàng hoá khác
Loại bao bì: với những loại bao bì càng chắc chắn thì mức phi càng thấp
Phương tiện vận chuyển: Hàng được chở trên tàu trẻ sẽ có tỷ lệ phí thấphơn hàng hoá được chở trên những tàu đã sử dụng lâu năm
Hành trình: Tỷ lệ phí sẽ tăng lên nếu hành trình đó có nhiều rủi ro hoặchành trình qua các vùng có xung đột vũ trang
Điều kiện bảo hiểm : điều kiện bảo hiểm có phạm vi bảo hiểm càng hẹpthì tỷ lệ phí càng thấp
Các bộ luật và các quy tắc bảo hiểm hàng hải đều lưu ý HĐBH chỉ cóhiệu lực ngay sau khi phí bảo hiểm được trả, công ty bảo hiểm có quyền huỷHĐBH nếu người được bảo hiểm không thực hiện đúng nghĩa vụ trả phí bảohiểm hoặc có quyền từ chối bồi thường khi rủi ro xảy ra
1.2.5.Hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
Để đánh giá hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhậpkhẩu vận chuyển bằng đường biển ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu này cho ta biết trong 1 đồng doanh thu phí thì có bao nhiêuđồng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí :
H2 =
C P
Trang 21Chỉ tiêu này cho ta biết khi bỏ ra 1 đồng chi phí thì thu được bao nhiêuđồng lợi nhuận
Tỷ suất doanh thu trên chi phí :
H3 =
C D
Chỉ tiêu này cho ta biết 1 đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồngdoanh thu
Với : + D là tổng doanh thu phí
+ C là tổng chi phí (chi bồi thường)
+ P là tổng lợi nhuận
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI
PJICO 2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm PETROLIMEX(PJICO).
Loại hình doanh nghiệp : Công ty cổ phần
Tổng Giám đốc : Ông Nguyễn Anh Dũng
Trụ sở chính : 532 Đường Láng, Quận Đống Đa, Tp Hà Nội Điện thoại : 04-7760867, 7769865; Fax: 04-7760868 2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty.
Xuất phát từ chủ trương phát triển nền kinh tế đa thành phần vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, trong đó nổi bật là chủtrương cổ phần hoá và phát triển các công ty cổ phần theo luật công ty banhành năm 1990, đồng thời xuất phát từ chính sách mở cửa, phát triển thịtrường bảo hiểm Việt nam - một thị trường mà cho tới trước năm 1994 còn donhà nước độc quyền và chưa phát triển, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cóthêm một số doanh nghiệp bảo hiểm mới Ngoài tổng công ty bảo hiểm Việt
Trang 22nam ( Bảo Việt) còn có nhiều công ty bảo hiểm khác như: Công ty bảo hiểm
TP HCM(Bảo Minh); công ty bảo hiểm Nhà Rồng(Bảo Long) ; công ty bảohiểm Dầu khí Việt nam(PVIC); Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện(PTI) Năm 1995,Công ty cổ phần bảo hiểm PETROLIMEX, tên giao dịch làPJICO (Tên gọi tiếng anh là: PETROLIMEX JOIN – STOCK INSURANCECOMPANY) đã được thành lập theo NĐ100/CP ngày 18/12/1995 của Chínhphủ, theo giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện kinh doanh bảo hiểm số
06 - TC/GCN ngày 17/5/1995 của Bộ Tài Chính, giấy phép thành lập số1873/GP-UB ngày 18/6/1995 của UBND thành phố Hà Nội và giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh số 060256 ngày 15/6/1995 của Uỷ Ban Kế Hoạch(nay là Sở Kế Hoạch đầu tư) thành phố Hà Nội
Công ty cũng đã đề ra mục tiêu kinh doanh của mình như sau:
Kinh doanh hiệu quả theo đúng Luật kinh doanh bảo hiểm của ViệtNam để thu được lợi nhuận cao nhất có thể;
Đa dạng hoá các loại hình bảo hiểm để đáp ứng nhu cầu bảo hiểm ngàycàng tăng và đa dạng hoá của nền kinh tế;
Tăng cường khả năng bảo hiểm, đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm trongnước, hạn chế việc tái bảo hiểm ra nước ngoài;
Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, liên doanh liên kết với các công tynước ngoài;
Góp phần chia sẻ rủi ro với các công ty, xí nghiệp, tập thể và cá nhânlàm cho họ ổn định sản xuất kinh doanh, bảo toàn vốn ổn định đời sống chongười tham gia bảo hiểm và đóng góp vào ngân sách nhà nước
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty
PJICO có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và tuân thủ theo cơ cấu của một công ty
cổ phần Các phòng ban đều có chức năng, nhiệm vụ cụ thể Công ty PJICO
Trang 23hoàn toàn ổn định về mặt tổ chức quản lý, có điều kiện thuận lợi để công typhát triển ngày càng vững mạnh.
Là công ty cổ phần đầu tiên trong lĩnh vực bảo hiểm , PJICO đã trải quakhông ít khó khăn trong những ngày đầu hoạt động, đặc biệt khi mà điều kiện,
cơ chê pháp luật còn chưa đầy đủ, khách hàng còn ít lòng tin.Tuy nhiên, với sựchỉ đạo của Hội đồng Quản trị các cơ quan ban ngành có liên quan, sự ủng hộgiúp đỡ nhiệt tình của các cổ đông sáng lập, khách hàng, cũng như sự nỗ lựcphấn đấu làm việc của toàn bộ cán bộ, nhân viên, công ty đã từng bước trưởngthành và tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của PJICO
Trang 24Nguồn: Phòng tổ chức tổng hợp
HĐQT
Phòng BH phi hàng hải
Phòng BH
xe cơ giới
Phòng BH tài sản hoả hoạn
Phòng tái BH
Phòng BH
Hàng hoá
Phó Tổng GĐ
Phó Tổng GĐ
Tổng GĐ
Phòng Thị trường&quả
n lý nghiệp vụ
Phòng QLĐL
Phòng đào tạo
Phòng Tổ chức tổng hợp
Trang 252.2 Tình hình khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
2.2.1 Tình hình Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001- 2005.
Để xác định về tình hình bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằngdường biển, trước hết chúng ta phải xem xét qua về tình hình xuất nhập khẩu
ở nước ta Sau đây là bảng số liệu phản ánh tình hình xuất nhập khẩu ở nước
ta trong giai đoạn 2001 – 2005
Bảng1 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và tốc độ tăng theo năm
Năm
Xuấtkhẩu(tr.USD)
Nhậpkhẩu(tr.USD)
Tổng kimngạch(tr USD)
tốc độtăng xk(%)
tốc độtăng nk(%)
tốc độtăng tổng
Nguồn: Bộ thương mại
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy:
Năm 2001: tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 31,247 triệu USD,trong đó giá trị xuất khẩu đạt 15,029 triệu USD, giá trị nhập khẩu là 16,218triệu USD Như vậy, giữa giá trị hàng xuất khẩu với giá trị hàng nhập khẩu có
sự chênh lệch không đáng kể, giá trị nhập siêu là 1,189 triệu USD, bằng7,91% giá trị xuất khẩu
Năm 2002: tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu là 36,452 triệuUSD(tăng 16,66% so với năm 2001), trong đó giá trị xuất khẩu là 16,706triệu USD( tăng 11,16% so với năm 2001 ), giá trị nhập khẩu tăng mạnh hơn
Trang 26so với giá trị xuất khẩu( tăng 21,75% so với năm 2001); ttrong năm này giá trịnhập siêu tăng lên khá nhiều (3.04 triệu USD, tương ứng với 18,20% giá trịxuất khẩu)
Năm 2003: Đây là năm mà cả giá trị xuất khẩu và nhập khẩu đều tăngkhá nhiều so với năm trước: giá trị xuất khẩu tăng 20,64% so với năm 2002,đạt 20,149 triệu USD; giá trị nhập khẩu đạt 25,256 triệu USD, tăng 27,9% sovới năm 2002 và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 24,56%, đạt 45,405triệu USD Gía trị nhập siêu vẫn tăng lên với trị giá là 5,107triệu, bằng25,35% giá trị xuất khẩu
Năm 2004: Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2004 tăng khá sovới năm 2003, tổng trị giá xuất, nhập khẩu cả năm ước tính đạt 58,578 tỷUSD, tăng 29,01% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 31,54% vànhập khẩu tăng 27% Do xuất khẩu tăng nhanh hơn nhập khẩu nên đã giảmđược khoảng chênh lệch xuất khẩu và nhập khẩu Nhập siêu cả năm 2004 là5,572 tỷ USD, bằng 21,02% kim ngạch xuất khẩu (tỷ lệ này năm 2003 là25.35%)
Năm 2005:Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2005 ước tính đạt69,104 tỷ USD, tăng 17,97% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩutăng 21,58% và nhập khẩu tăng 14,98% Trong năm 2005 tốc độ tăng xuấtkhẩu cao hơn tốc độ tăng nhập nhẩu (xuất khẩu tăng nhanh hơn 6,2 điểmphần trăm), do vậy nhập siêu cả năm nay giảm cả về số tuyệt đối và tỷ lệ sovới trị giá xuất khẩu: nhập siêu cả năm chỉ còn 4,65 tỷ USD (năm 2004 là5,45 tỷ), bằng 14,4% kim ngạch xuất khẩu, giảm 6,2 điểm phần trăm so với tỷ
lệ 20,6% trong năm 2004
Trang 272.2.2 Tình hình khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty Bảo hiểm PJICO giai đoạn 2001-2005.
2.2.2.1.Một số thuận lợi và khó khăn
Thuận lợi
Yếu tố khách quan
Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng qua các năm do sự mở cửa, hộinhập kinh tế của Việt Nam Các nhà đầu tư nước ngoài có rất nhiều dự án đầu
tư ở Việt Nam
Nước ta được đánh giá là một trong ba nước có tốc độ phát triển cao nhấtkhu vực châu Á Thái Bình Dương, hơn nữa chính trị nước ta luôn ổn định tạođiều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, đặc điệt là sự phát triển đối vớingành kinh doanh dịch vụ như bảo hiểm
Việt nam có điều kiện thiên nhiên ưu đãi với hơn 3200 km đường biển, rấtthuận lợi để xây dựng các cảng biển hoặc có thể làm cảng chuyển giao
Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 ra đời đã tạo ra hành lang pháp lýcho các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động và phát triển Đây cũng là mốcđánh giá sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam cả về lượng và chất,làm tăng tính chuyên nghiệp của thị trường , thúc đẩy các doanh nghiệp cốgắng hhết mình và cạnh tranh lành mạnh hơn
Nhu cầu về vốn, công nghệ, nguyên vật liệu để phục vụ cho quá trìnhCNH – HĐH làm cho kim ngạch xuất nhập khẩu trong thời gian tới nhất định
sẽ tăng lên Hơn nữa, theo các điều khoản quốc tế thì tất cả các lượng hànghoá xuất nhập khẩu thì đều phải mua bảo hiểm Nghị định 42/2001/NĐ – CPban hành ngày 7/8/2001 đã quy định tất cả những hàng hoá nhập khẩu vàoViệt Nam đều bắt buộc phải tham gia bảo hiểm tại các doanh nghiệp bảohiểm có trụ sở trong nước ( trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm có trụ sở
Trang 28trong nước không thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm theo yêu cầu của kháchhàng)
Một yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng tích cực đối với các doanh nghiệpbảo hiểm đó là đời sống người dân ngày càng được nâng cao và khi đó thì ýthức của họ về bảo hiểm cũng được nâng lên rõ rệt, họ có thể nhìn thấy lợi íchlâu dài của bảo hiểm (nếu xét về mặt kinh tế thì bảo hiểm sẽ giúp cho họ ổnđịnh trong sản xuất, yên tâm trong kinh doanh, họ vẫn có thể đảm bảo chohoạt động sản xuất, kinh doanh của mình nếu rủi ro xảy ra.)
Trang 29 Khó khăn
Luật bảo hiểm mới ra đời, quy định việc tham gia bảo hiểm hàng hoá xuấtnhập khẩu tại các doanh nghiệp có trụ sở tại Việt Nam chưa có tính bắt buộccao, chưa có mức xử phạt cụ thể đối với những chủ hàng tham gia bảo hiểmtại công ty bảo hiểm ở nước ngoài
Thủ tục hải quan ruờm rà, gây nhiều khó khăn cho chủ hàng làm thủ tụcxuất nhập khẩu hàng hoá
trong thời gian dài chủ hàng xuất nhập khẩu thường bán với giá FOP hoặcgiá CF nhập với giá CIF nên điều này đã ăn sâu vào ý thức của họ, sau này họnhận ra rằng nếu họ tự đứng ra mua bảo hiểm cho lô hàng của mình thì họ sẽnhận đựơc rất nhiều lợi ích dặc biệt khi tham gia bảo hiểm tại các công ty bảohiểm có trụ sở tại Việt Nam, thì suy nghĩ của họ bắt đầu thay đổi, tuy nhiên,các công ty nước ngoài thường tìm mọi cách để ép buộc các chủ hàng phảitham gia bảo hiểm tại công ty của họ
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có hơn 10 công ty đang triển khainghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biểnnhư Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO, Viễn Đông làm cho sự cạnh tranh trên thịtrường quyết liệt hơn Vẫn nhiều doanh nghiệp áp dụng những biện phápcạnh tranh không lành mạnh như: giảm phí, mở rộng điều khoản bảo hiểm,khiến cho công ty gặp rất nhiều khó khăn
Tình hình trục lợi bảo hiểm ngày càng tinh vi hơn mà vẫn chưa có cách khắcphục hiệu quả, đặc biệt là bây giờ lại có sự tham gia của hải quan, công an
Mặc dù trong thời gian qua công ty đã có những bước phát triển vượt bậc,những so với Bảo Việt thị phần của PJICO còn quá nhỏ bé Các khách hàng ởcác tỉnh còn ít biết đến PJICO và điều đó làm ảnh hưởng rất nhiều đến khâukhai thác
Trang 302.2.2.2 Thực trạng triển khai nghiệp vụ
Nguồn nhân lực
Trong thời đại kinh tế thị trường cạnh tranh diễn ra vô cùng khốc liệt, thìcon người là nhân tố giúp cho công ty có thể tồn tại và phát triển Nhận thứcđược rõ điều này nên công ty đã làm tốt từ khâu tuyển chọn, đào tạo cho đếnviệc tạo điều kiện cho các cán bộ phát huy đựơc hết khả năng của mình Quahơn 10 năm hình thành và phát triển cho đến nay đội ngũ công nhân viên củacông ty đã tăng lên cả về số lượng và chất lượng So với thời gian đầu khimới thành lập có khoảng vài chục người, thì đến nay tổng số cán bộ, nhânviên của công ty là 694 người với 92 % có trình độ đại học và trên đại học,ngoài ra công ty còn có đội ngũ đại lý, cộng tác viên khá đông đảo.Vớiphương châm “tạo điều kiện tốt nhất cho các cán bộ có năng lực và trình độphát huy hết khả năng” hàng năm công ty luôn xem xét, đánh giá khả năngcủa cán bộ thông qua hiệu quả công việc và sàng lọc những lao động làm việckhông hiệu quả
Công tác hỗ trợ khai thác
Công tác khai thác thị trường trong thời gian qua đã đạt được nhiều thànhcông, đó là do công ty đã áp dụng nhiều biện pháp giúp đỡ, hỗ trợ khai thác.Sau đây là những biện pháp chính đã được công ty thực hiện:
Đối với đại lý
Ngoài khoản hoa hồng do Bộ tài chính quy định,công ty còn hỡ trợ thêmcho đại lý khoản chi phí khai thác
Chế độ khen thưởng được thực hiện tốt Đại lý thực sự có năng lực sẽ đượcxem xét để làm cán bộ cho công ty
Các đại lý được quyền tham gia các lớp đào tạo nâng cao nghiệp vụ do cơquan tổ chức
Trang 31 Với cơ sở vật chất làm việc
Công ty đã mở rộng địa bàn hoạt động trên hầu hết các tỉnh thành trên cảnước Trong thời đại cạnh tranh bằng công nghệ, PJICO quyết tâm trở thànhmột công ty có hệ thống quản lý tiên tiến bằng cách trang bị những công nghệquản lý tiên tiến cảu nước ngoài Từ một doanh nghiệp lac hậu về công nghệthì trong một thời gian ngắn (từ giữa năm 2002 đến nay) công ty đã hiện đạihóa toàn bộ hệ thống thông tin cuả mình Khách hành có thể giao dich,ký kếthợp đồng qua Internet một cách nhanh chóng đơn giản Nhờ trang bị nhữngcông nghệ tiên tiến này mà chất lượng của công tác giám định bồi thường đãđạt được hiệu quả cao như ngày hôm nay
Công ty cũng rất chú ý đến khâu đào tạo và tổ chức đào tạo để nhân viêntrong công ty có thể sử dụng các công nghệ này một cách có hiệu quả nhất
Đầu tư cho quảng cáo
Trong giai đoạn trước, quảng cáo chưa được chú trọng nên hiệu quả khaithác chưa cao, nhưng hiện nay công ty đã bỏ ra chi phí khá lớn để quảng cáocho thương hiệu PJICO Sau đây là số liệu về chi phí quảng cáo qua 5 năm(từ 2001-2005)
Trang 32Bảng 2: Chi phí quảng cáo của công ty bảo hiểm PJICO 2001-2005
CPQC (Triệu đồng) 1030 1150 1380 1520 1735
<Nguồn: phòng tổ chức tổng hợp>
Như vậy, chi phí dành cho quảng cáo liên tục tăng qua các năm So với
năm 2001 chi phí giành cho quảng cáo của năm 2005 đã tăng 705 triệu đồng(tăng 1,68 lần) Để nâng cao hiệu quả quảng cáo PJICO đã đa dạng hóa cácloại hình quảng cáo như quảng cáo trên báo chí, tờ rơi, truyền hình …vàbằng hình thức tài trợ (ví dụ như tài trợ cho đội bóng đá ) Nhờ có hoạt độngtuyên truyền quảng cáo mà rất nhiều đối tượng khách hàng đã biết đến thươnghiệu PJICO, làm nâng cao hiệu quả hoạt động Kinh doanh của công ty
2.3 Kết quả khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO giai đoạn 2001- 2005
2.3.1 Quy trình khai thác
2.3.1.1 Điều tra, nghiên cứu và tiếp cận khách hàng
Để khai thác có hiệu quả bất cứ một nghiệp vụ bảo hiểm nào thì côngviệc đầu tiên mà chúng ta cần phải làm là điều tra, nghiên cứu thị trường vàtiếp cận được với khách hàng Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển thì công ty bảo hiểm phải nắm bắt, cập nhật cácthông tin về kim ngạch các mặt hàng và số lượng nhập khẩu hàng năm từcác nguồn vốn xuất nhập khẩu của các đơn vị xuất nhập khẩu (nguồn vốn từTrung ương, địa phương, viện trợ, tự có, đi vay, ) để từ đó có kế hoạch khaithác cụ thể Chẳng hạn đầu năm có thể thông qua các đơn vị xuất nhập khẩucủa từng đơn vị, sau đó tách riêng kim ngạch của khu vực theo giá CIF,CF
Trang 33và FOB để có kế hoạch khai thác phù hợp Cần chú ý tới các mặt hàng có tỷtrọng lớn trong kim ngạch nhập khẩu, qua đó phân tích ảnh hưởng của cácnhân tố đó tới phí thu.
Sau khi đã điều tra, nghiên cứu và thu thập được các thông tin về thịtrường và các đối tượng khách hàng thì công ty (cán bộ, đại lý) phải cónhững biện pháp tiếp cận với khách hàng để quảng cáo, giới thiệu về công
vụ chăm sóc khách hàng của công ty để làm sao cho khách hàng tin tưởngkhi tham gia bảo hiểm tại công ty mình.Tuyệt đối không được nói xấu công tykhi chào bán sản phẩm tới khách hàng mà chỉ được phép nêu những mặt tíchcực hơn so với đối thủ cạnh tranh
Đối với những khách hàng đã tham gia bảo hiểm tại công ty thì dịch
vụ chăm sóc khách hàng là rất quan trọng bởi vì khi họ đã hài lòng và tintưởng vào công ty thì họ sẽ trở thành khách hàng truyền thống của công tytrong thời gian tới.Vì vậy, để có thể giữ được những khách hàng này chỉ cóbằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ
Phải thường xuyên quan hệ tốt với những khách hàng bởi đây cũng làmột kênh để có thể khai thác được những khách hàng mới
Việc biết được những thông tin về phía đối thủ cạnh tranh như phí bảohiểm , chất lượng dịch vụ cũng rất quan trọng.Nếu công ty không những
Trang 34cung cấp chất lượng dịch vụ tốt mà còn có thể đưa ra mức phí cạnh tranh thìchắc chắn sẽ giành được khách hàng
2.3.1.2 Đánh giá rủi ro và chào phí
Sau khi đã xác định được đối tượng khách hàng thì công ty phải đánhgiá rủi ro của đối tượng này nhằm mục đích xác định được những thiệt hại màcông ty có thể sẽ phải chấp nhận khi đưa ra phương thức bảo hiểm cho nhómđối tượng này.Từ việc đánh giá đó sẽ giúp cho công ty có thể đưa ra đượcmức phí bảo hiểm phù hợp với yêu cầu của khách hàng Một mặt được kháchhàng chấp nhận mặt khác vẫn đem lại hiệu quả kinh doanh cho công ty Trênthực tế mức chào phí ban đầu là rất khó xác định vì nó chịu ảnh hưởng của rấtnhiều yếu tố trong đó việc đánh giá rủi ro là yếu tố quan trọng, nó giúp công
ty đưa ra được quyết định chính xác hơn.Vì tính phức tạp đó nên mức chàophí cần được xem xét một cách kĩ lưỡng tránh sự phản hồi không tốt từ phíakhách hàng ;công ty cần phải lấy ý kiến từ các chuyên gia trong vấn đề nàycũng như phải thực hiện một cách bài bản ngay từ khâu đánh giá rủi ro
2.3.1.3 Cấp đơn
Khi đã thuyết phục được khách hàng tham gia bảo hiểm tại công ty thìcán bộ khai thác yêu cầu khách hàng làm giấy yêu cầu bảo hiểm để xem xétcấp đơn bảo hiểm.Quá trình cấp đơn bảo hiểm bao gồm bốn bước:
Bước 1: Kiểm tra chứng từ
Sau khi nhận dược giấy yêu cầu bảo hiểm (đã kê khai rõ tất cả các đềmục đã in sẵn trên đơn) cán bộ bảo hiểm phải kiểm tra xem chứng từ đó cóhợp lệ không ? Trường hợp thiếu những đề mục như: Số B/L mã kí hiệu,trọng lượng, số kiện thì vẫn có thể chấp nhận đơn nhưng phải yêu cầu kháchhàng bổ sung ngay sau khi nhận được thông báo.Nếu thiếu một trong cácthông tin cơ bản như STBT (trị giá FOB hoặc C&F), tên tàu vận chuyển,ngày khởi hành, cảng đi và điều kiện bảo hiểm thì giấy yêu cầu bảo hiểm
Trang 35đóđược xem như không hợp lệ cần phải trả lại cho khách hàng đồng thời phảihướng dẫn họ khai đủ mới được cấp đơn.
Phải xem xét kỹ tính chất và phương thức xếp hàng của từng mặt hàng có phùhợp với điều kiện bảo hiểm mà khách hàng lựa chọn hay không để yêu cầu vàgiải thích để khách hàng điều chỉnh lại cho thích hợp với mặt hàng đó
Lưu ý: + Giấy yêu cầu bảo hiểm thì phải có đầy đủ tên,dấu, chữ kí của
khách hàng , giấy chứng nhận bảo hiểm phải đánh đủ 8 bản
+ Cần xem xét kĩ tàu vận chuyển (nếu là tàu chuyến) phải yêu cầukhách hàng kê khai rõ quốc tịch tàu, tuổi tàu.Nếu là tàu già phải thu thêmphí căn cứ theo biểu tính phí bảo hiểm
+ Trường hợp giá trị hàng hoá bảo hiểm cao trên mức quy định phâncấp của công ty trước khi cấp đơn cần trao đổi ý kiến với phòng tái bảo hiểm
để có kế hoạch phân tán rủi ro
Bước 2: Vào sổ cấp đơn, lấy số đơn và xếp theo chuyến tàu
Sau khi kiểm tra đơn xong thì vào sổ cấp đơn theo từng danh mục ghitrong sổ
Số đơn bảo hiểm lấy theo số thứ tự trong sổ cấp đơn
Xếp chuyến tàu theo thứ tự trong đăng ký số chuyến tàu
Bước 3: Tính phí bảo hiểm,sửa đổi và huỷ đơn bảo hiểm
Trước khi tính phí bảo hiểm ta phải xác định được GTBH, GTBH đượctính theo công thức sau:
CIF
R
F C
1
Trong đó: C là giá trị của hàng (tức giá FOB)