- Thanh thông báo kéo từ trên xuống: Ngay từ ngày đầu tiên trình làng, Android đã được tích hợp một hệ thống cảnh báo vô cùng hữu dụng so với những đối thủ cạnhtranh thời bấy giờ mặc dù
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TPHCMTRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Báo Cáo Môn Học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Đề TàiNGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH ANDROID
GVHD : GS.TSKH Hoàng KiếmHọc Viên: Nguyễn Thành Quân
MSHV: CH1301032
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7 NGUYÊN LÝ SÁNG TẠO SCAMPER 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Phân Tích Scamper 7
1.2.1 Substitute (thay thế) 7
1.2.2 Combine (kết hợp) 8
1.2.3 Adapt (thích nghi) 8
1.2.4 Modify (điều chỉnh) 8
1.2.5 Put (thêm vào) 8
1.2.6 Eliminate (loại bỏ/đơn giản hóa) 8
1.2.7 Reverse (đảo ngược) 9
CHƯƠNG II ỨNG DỤNG CỦA SCAMPER VÀO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH ANDROID 10
2.1 Quá trình phát triển của hệ điều hành Android 10
2.1.1 Điểm khởi đầu của Android 10
2.1.2 Android 1.1 12
2.1.3 Android 1.5 Cupcake 12
2.1.4 Android 1.6 Donut 15
2.1.5 Android 2.0 và Android 2.1 Éclair 16
2.1.6 Android 2.2 Froyo 20
2.1.7 Android 2.3 Gingerbread 21
2.1.8 Android 3.x Honeycomb 25
2.1.9 Android 4.0 Ice Cream Sandwich 26
2.1.10 Android 4.1 Jelly Bean 27
2.1.11 Android 4.2 Jelly Bean 29
2.1.12 Android 4.3 Jelly Bean 31
Trang 32.1.13 Android 4.4 KitKat 33
2.2 Ứng dụng nguyên lý Scamper 33
2.2.1 Phép thay thế 34
2.2.2 Phép kết hợp 36
2.2.3 Phép thích ứng 37
2.2.4 Phép điều chỉnh 38
2.2.5 Phép thêm vào 39
2.2.6 Phép loại bỏ 41
2.2.7 Phép đảo ngược 42
CHƯƠNG III KẾT LUẬN 44
Tài liệu tham khảo: 45
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn GS – TSKH Hoàng Kiếm, về tất những bài giảng bổích của Thầy, cám ơn Thầy đã tận tâm chia sẻ những kinh nghiệm quý báu và truyền đạtnhững kiến thức qua những bài học từ thực tế một cách sâu sắc cho em thông qua mônhọc “Phương pháp nghiên cứu khoa học”
Nhờ những kiến thức quí báu mà thầy đã chia sẻ đó nó em có trong quá trình học
và nghiên cứu khoa học, em có thể nhìn nhận ra nhiều vấn đề về khoa học và tiếp cậnnghiên cứu khoa học nói chung và trong chuyên ngành công nghệ thông tin
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Từ xa xưa mọi hoạt động của con người đều mang trong mình những ý thức, đó
là sự khởi đầu của mọi tư duy sáng tạo Sáng tạo không thể tách rời khỏi tư duy - hoạtđộng bộ não của con người Chính quá trình tư duy sáng tạo với chủ thể là con người
đã tạo các giá trị vật chất, tinh thần, các thành tựu vĩ đại về mọi mặt trong cuộc sống
và tạo ra nền văn minh nhân loại
Tư duy sáng tạo nhằm tìm ra các phương án, biện pháp thích hợp để kích hoạtkhả năng sáng tạo và để tăng cường khả năng tư duy của một cá nhân hay một tập thểcộng đồng làm việc chung về một vấn đề hay lĩnh vực Việc thực hành tư duy sángtạo tìm ra các phương án, các lời giải từ một phần đến toàn bộ cho các vấn đề nangiải Các vấn đề này không chỉ giới hạn trong các ngành nghiên cứu về khoa học kỹthuật mà nó có thể thuộc lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội, nghệ thuật hoặc trong các phát minh, sáng chế
Việc áp dụng những trí tuệ của tư duy sáng tạo giúp con người ngày càng sángchế ra các thiết bị ngày càng thông minh và tiện dụng mà hiện nay được sử dụngnhiều nhất là điện thoại Để tạo ra 1 chiếc điện thoại thông minh yêu cầu tích hợpnhiều bộ phận lại với nhau, trong đó quan trọng nhất có thể kể đến là hệ điều hành, nó
là nền tảng và là một phần không thể thiếu của một thiết bị di động Sau đây e xintrình bày về quá trình phát triển của hệ điều hành Android thông qua việc áp dụng 7nguyên lý sáng tạo SCAMPER
Trang 6CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7 NGUYÊN LÝ SÁNG TẠO
SCAMPER
I.1 Khái niệm.
Hiện nay, có khá nhiều phương pháp sáng tạo khác nhau nhưng không có phươngpháp nào vượt trội trong mọi tình huống, trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên, phương phápsáng tạo SCAMPER tỏ ra có nhiều ưu điểm trong việc phát triển hoạt động kinh doanhcủa các doanh nghiệp Hai trọng tâm sáng tạo trong doanh nghiệp là sáng tạo trong pháttriển đổi mới sản phẩm và sáng tạo trong tiếp thị kinh doanh sản phẩm
Phương pháp sáng tạo SCAMPER được giáo sư Michael Mikalko phát triển Đó là
1 công cụ tư duy khá hiệu quả, trợ giúp đắc lực trong quá trình tìm ra các phát kiến nhằmthay đổi sản phẩm hoặc tiến trình công việc Kết quả mà phương pháp này mang lại cóthể áp dụng trực tiếp hoặc như điểm khởi đầu theo cách tư duy bên lề vấn đề SCAMPER
là ghép các chữ cái đầu của nhóm từ sau: Substitute (thay thế), Combine (kết hợp), Adapt(thích nghi), Modify (hiệu chỉnh), Put (thêm vào), Eliminate (loại bỏ) và Reverse (đảongược) Phương pháp sáng tạo SCAMPER dễ lĩnh hội, dễ vận dụng nhưng khá hữu hiệunên ngày càng được sử dụng phổ biến rộng rãi, nhất là trong các doanh nghiệp
Trang 7Hình 1.1: Phương pháp sáng tạo Scamper
1.2 Phân Tích Scamper
1.2.1 Substitute (thay thế).
Với 1 sản phẩm, bạn hãy quan sát thành phần tạo nên chúng và thử suy nghĩ xemliệu các thành phẩm này có thể được thay thế bằng nguyên vật liệu nào khác? Trong mộtquá trình làm việc, liệu vấn đề nhân lực thay thế sẽ là ai? Có nên thay địa điểm? Đốitượng? Các câu hỏi có thể đặt ra: Thay đổi cái gì để nâng cao chất lượng? Chuyện gìxảy ra nếu tôi thay cái này bằng cái khác? Làm cách nào để đổi địa điểm, thời gian,nguyên vật liệu, vấn đề nhân lực?
Trang 8Ví dụ: Trước đây ta không có món xúc xích hotdog chay nhưng giờ đã có, nó làm bằngchất liệu ra củ quả.
1.2.2 Combine (kết hợp)
Bạn hãy quan sát xem có thể biến tấu thêm gì, kết hợp thêm được gì để tạo ra 1sản phẩm mới, đề cao khả năng hợp lực của từng tính năng Các câu hỏi có thể đặt ra:Nguyên vật liệu cần là gì? Các tính năng? Quy trình? Nhân lực? Cái gì có thể kết hợplại? Sẽ kết hợp khâu nào? Ở đâu?
Ví dụ: Chúng ta cho ra loại bưu thiếp có nhạc, TV với đầu máy video
1.2.5 Put (thêm vào)
Có thể áp dụng cho cách dùng khác? Mục đích khác? Lĩnh vực khác? Các câu hỏiđặt ra: Tôi có thể lấn sân sang thị trường nào? Thị trường nào có thể tiêu thụ hàng củatôi?
Ví dụ: lốp xe có thể dùng làm hàng rào
1.2.6 Eliminate (loại bỏ/đơn giản hóa)
Loại bỏ và đơn giản hoá các thành phần, nghĩ xem chuyện gì xảy ra nếu bạn loại
đi hàng loạt các quy trình, sản phẩm, vấn đề và cơ hội(probortunity ), nghĩ xem bạn sẽlàm gì với tình huống này? Câu hỏi có thể đặt ra: : chuyện gì xảy ra nếu tôi loại bỏ 1 sốthành phần của sản phẩm? Hướng giải quyết không theo cách thông thường?
Trang 9Ví dụ: điện thoại không dây cố định ra đời điện thoại di động
1.2.7 Reverse (đảo ngược).
Bạn có thể lật ngược vấn đề? Cách suy nghĩ này sẽ giúp bạn nhìn rõ mọi góc cạnhcủa vấn đề cũng như như cơ hội thấy điểm mới cho vấn đề (tham khảo thêm nguyên tắc
tư duy Reversal) Câu hỏi có thể đặt ra: Chuyện gì xảy ra nếu tôi làm theo theo hướngkhác? Nếu tôi lật ngược trât tự cách làm cũng như cách sử dụng?
Ví dụ: Cho ra loại vải không phân biệt mặt phải hay trái
Trang 10CHƯƠNG II ỨNG DỤNG CỦA SCAMPER VÀO SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH ANDROID
2.1 Quá trình phát triển của hệ điều hành Android
2.1.1 Điểm khởi đầu của Android
Trang 11Hình 2.1: Android 1.0
Kỉ nguyên Android chính thức khởi động vào ngày 22/10/2008, khi mà chiếc điệnthoại T-Mobile G1 chính thức được bán ra ở Mỹ Ở giai đoạn này, rất nhiều những tínhnăng cơ bản cho một smartphone bị thiếu sót, chẳng hạn như bàn phím ảo, cảm ứng đađiểm hay khả năng mua ứng dụng Tuy nhiên, vai trò của phiên bản đầu tiên này vô cùngquan trọng Nó đã đặt nền móng cho các tính năng có thể xem là đặc điểm nhận dạng củaAndroid ngày nay
- Thanh thông báo kéo từ trên xuống: Ngay từ ngày đầu tiên trình làng, Android đã
được tích hợp một hệ thống cảnh báo vô cùng hữu dụng so với những đối thủ cạnhtranh thời bấy giờ mặc dù nó không được tốt như Notification Bar trên các thế hệAndroid mới
- Màn hình chính và widget: Nếu bạn muốn so sánh Android, iOS và Windows
Phone, điểm khác biệt lớn nhất đó là một màn hình chính Màn hình chính củaAndroid thật sự rất phong phú Bạn có thể thay đổi hình nền (Windows Phonekhông làm được điều này), đặt icon ra màn hình chính, sử dụng widget và hơn hết
là thay luôn cả cái màn hình chính nếu muốn Độ tùy biến của màn hình chính trênAndroid có thể xem là cao nhất trong các hệ điều hành di động hiện nay
- Tích hợp chặt chẽ với Gmail: Lúc chiếc G1 ra mắt, Gmail đã hỗ trợ giao thức POP
và IMAP để dùng được với các trình gửi nhận email trên thiết bị di động, nhưngvấn đề nằm ở chỗ không có giao thức nào được tận dụng tối đa để phục vụ nhữngtính năng độc đáo của Gmail (ví dụ như lưu trữ, đánh nhãn cho email) Android1.0 ra mắt đã khắc phục được vấn đề này và có thể nói chiếc G1 đã mang lại trảinghiệm Gmail tốt nhất trên thị trường vào thời điểm đó
- Về mặt giao diện: Google xây dựng giao diện của Android 1.0 với sự hợp tác của
một công ty thiết kế đến từ Thụy Điển với tên gọi The Astonishing Tribe (TAT)
Từ Android 1.0 đến 2.2, bạn có thể thấy sự xuất hiện của một widget đồng hồ
Trang 12quen thuộc, tuy đơn giản nhưng khá đẹp mắt, đó chính là dấu ấn của TAT Mộtthời gian sau, TAT bị RIM mua lại để tập trung phát triển cho nền tảngBlackBerry OS cũng như BBX Mối quan hệ của TAT với Google Android cũngchấm dứt ở đây.
2.1.2 Android 1.1
Tháng 2/2009, bản nâng cấp đầu tiên của Android được trình làng, khoảng batháng sau khi G1 được bán ra Phiên bản 1.1 không phải là một cuộc cách mạng gì to lớnbởi tính năng chính của nó là sửa một danh sách lỗi khá dài Tuy nhiên, nó đã cho thấykhả năng nâng cấp thiết bị di động qua phương pháp Over-The-Air (tức tải về và cài đặtbản cập nhật ngay trên thiết bị, không cần kết nối với máy tính) Ở thời điểm đó, rất ít hệđiều hành di động có thể làm được việc này, hầu hết đều phải nhờ đến một phần mềmchuyên dùng nào đó trên PC Trước đó, ở Mỹ có dòng máy Danger Hiptop (được biếtnhiều hơn với tên Sidekick) đã có cập nhật dạng gần giống over the air theo từng giaiđoạn, và chính Andy Rubin, người sáng lập công ty Android Inc (sau đó Google mua lại)cũng chính là nhà đồng sáng lập hãng Danger
Hình 2.2: Android 1.1
Trang 132.1.3 Android 1.5 Cupcake
Android 1.5 có lẽ có vai trò cực kì quan trọng trong quá trình trưởng thành củaAndroid khi nó bổ sung cho hệ điều hành này những tính năng nổi bật giúp nó cạnh tranhvới các nền tảng đối thủ khác Đây cũng là bản Android đầu tiên được Google gọi têntheo các món đồ ăn với chữ cái bắt đầu được xếp theo thứ tự alphabet Cupcake là mộtloại bánh nhỏ, hơi giống bánh bông lan và có kem bên trên Sau này ta cóthêm Donut, Eclair (bánh su kem nhưng dài, nhân chocolate), FroYo (ya-uađá), Gingerbread (bánh gừng), Honeycomb (một loại bánh có hình tổ ong), Ice CreamSandwich (bánh sandwich kem) và mới đây nhất là Jelly Bean (một loại kẹo dẻo viênnhỏ, hình hạt đậu)
Hình 2.3: Android 1.2
Quay trở lại vấn đề chính nào các bạn Về mặt giao diện, Android 1.5 không cónhiều điểm thay đổi so với người tiền nhiệm của mình Google chỉ điểm thêm vài điểm
để làm giao diện trông bóng bẩy, mượt mà hơn một tí, chẳng hạn như widget tìm kiếm có
độ trong suốt nhẹ, biểu tượng app drawer có một số hoa văn nhỏ mới, v.v Nói chung,giao diện không phải là một điểm nhấn của Android 1.5 mà người ta quan tâm nhiều hơnđến các tính năng mới mà nó mang lại, chẳng hạn như:
Trang 14- Bàn phím ảo: Nhiều bạn sẽ ngạc nhiên vì tại sao Google không cho những bản
Android đầu tiên bàn phím mềm? Đâu phải là họ không có khả năng làm đâu?Thực chất, mục tiêu ban đầu của Android là cạnh tranh với BlackBerry Vâng, thời
đó BlackBerry đang rất nổi và được nhiều người dùng quan tâm, nhất là ở Mỹ, bởichính bàn phím vật lí của nó Bởi vậy mà G1 có một bàn phím QWERTY trượtngang Mãi đến bản Cupcake này mới có một chiếc điện thoại Android thuần cảmứng là HTC Magic được giới thiệu (vào tháng 4/2009, xấp xỉ nửa năm sau khi G1được công bố)
- Cùng với đó, Google tích hợp vào Cupcake những "cái móc", dân lập trình gọi
là hook, để họ có thể tự do viết phần mềm bàn phím của riêng mình cho Android.
Lại thêm một điểm nữa khiến cho Android trở nên khác biệt với các hệ điều hànhđối thủ khác Lúc Cupcake xuất hiện, bàn phím ảo mặc định rất chậm và khôngchính xác khi so sánh với iOS, chính vì thế mà những hãng sản xuất phần cứngnhư HTC đã phát triển riêng một biện pháp khắc phục, cũng may là có hook doGoogle mở ra
- Mở rộng khả năng cho widget: Android 1.0 và 1.1 có tích hợp widget, nhưng tiềm
năng của nó chưa được khai thác hết vì Google chưa đưa bộ phát triển phần mềmcho lập trình viên từ Android 1.5 trở đi thì chuyện đã thay đổi, và đến thời điểmhiện tại, kho widget của Android đã rất phong phú, đó là chưa kể đến những ứngdụng của bên thứ ba cũng mang sẵn trong mình widget nữa Nhờ có khả năng này
mà việc tùy biến giao diện của Android càng được đẩy mạnh hơn nữa
- Cải tiến clipboard: Thật ra Android đã hỗ trợ việc copy và paste ngay từ những
ngày đầu tiên rồi, nhưng nó bị giới hạn lại ở textbox (là những chỗ nào chúng ta cóthể gõ chữ được) và sao chép các đường link mà thôi Ví dụ bạn đang đọc mailhay đang duyệt web thì chịu, chúng ta không cách gì sao chép được Với Cupcakethì Google cho phép sao chép nội dung của web, một cải tiến được đánh giá là tốt.Còn với Gmail thì phải đến vài bản nâng cấp sau mới có được tính năng này
- Khả năng quay phim: Thật khó mà tưởng tượng được chiếc smartphone xịn lại bán
ra mà không hề có tính năng quay phim, nhưng đó là những gì mà chiếc T-Mobile
Trang 15G1 phải "hứng chịu" (cũng hơi giống iPhone những đời đầu) Mãi đến Android 1.5thì Android mới quay phim được Nhưng cũng giống với bàn phím, trình cameramặc định của Android không tốt nên các hãng phần cứng phải nhanh chóng thay
nó với ứng dụng của riêng mình với các chế độ quay theo cảnh, chạm để lấy nét,tùy chỉnh thông số video
2.1.4 Android 1.6 Donut
Phiên bản bánh Donut này, mặc dù chỉ thêm có 0.1 vào mã số của Android 1.5nhưng nó cũng mang lại nhiều cải tiến đáng giá Một vài điểm trong giao diện được cảithiện, vài tính năng nhỏ được thêm vào, cuối cùng là hỗ trợ cho mạng CDMA Động tháinày cho phép nhiều nhà mạng hơn có thể sử dụng với Android, giúp cho Android có thêmmột số lượng lớn người dùng ở Mỹ và ở cả Châu Á nữa Nhưng có lẽ điểm thú vị nhấtcủa Donut đó là hỗ trợ các thành phần đồ họa độc lập với độ phân giải Lần đầu tiên,Android có thể chạy trên nhiều độ phân giải và tỉ lệ màn hình khá nhau, cho phép nhữngthiết bị có nhiều độ phân giải hơn là 320 x 480 Hiện nay, chúng ta có những chiếcsmartphone Android chạy ở độ phân giải QVGA, HVGA, WVGA, FWVGA, qHD, và720p Vài chiếc máy tính bảng còn đạt mức 1920 x 1080 nữa
Trang 16Hình 2.4: Android 1.6
Tính năng Quick Search Box, được biết nhiều hơn trong thế giới điện thoại với cáitên Universal Search, cũng là một điểm mà Android nhận được nhiều lời khen Bạn cóthể tìm kiếm danh bạ, ứng dụng, nhạc, tin nhắn,…, tất cả đều chỉ thao tác trong một hộptìm kiếm mà thôi Trước Donut, khi nhấn nút Search trên máy Android thì bạn chỉ có thểtìm kiếm thông qua google.com mà thôi Google cũng cho phép những lập trình viên tíchhợp tính năng tìm kiếm mới này vào ứng dụng của mình để mở rộng thêm khả năng củaQuick Search Box
Android 1.6 còn có gì mới? Đó là một Android Market với thiết kế mang tôngmàu xanh trắng đặc trưng của Android, có thể hiển thị các ứng dụng free và trả phí hàngđầu Những ứng dụng bên thứ ba cũng bắt đầu xuất hiện nhiều hơn Giao diện cameramới, tíhc hợp với trình xem ảnh tốt hơn, giảm thời gian chờ giữa hai lần chụp ảnh Nhưngcũng thường thì các nhà sản xuất cũng thay thế bằng ứng dụng của riêng mình
2.1.5 Android 2.0 và Android 2.1 Éclair
Đầu tháng 9 năm 2009, một năm sau khi G1 chào đời, Android 2.0 đã được ra mắt.Thật sự không ngoa khi mô tả Android 2.1 bằng một chữ "lớn" Một cơ hội lớn chonhững nhà phát triển, một tiềm năng lớn cho Android về sau, những chiếc điện thoại
"lớn" được ra mắt và phân phối bởi các nhà mạng lớn Eclair, tên gọi của Android 2.0,lúc mới ra mắt chỉ được dùng độc nhất cho chiếc Motorola Droid của nhà mạng Verizon,một trong những chiếc điện thoại đã kích hoạt cho một kỉ nguyên Android lớn mạnh nhưngày hôm nay Motorola Droid còn được biết đến với tên gọi Motorola Milestone khi nóxuất hiện ở Việt Nam Đây là một sản phẩm rất thành công của Motorola và cả Googlekhi mang đến cho người dùng những trải nghiệm cực kì tốt với Android
Trang 17Hình 2.5: Android 2.0
Vậy những gì làm cho Eclair quan trọng? Nó là bản nâng cấp và làm mới lớn nhất
mà Android từng có kể từ khi hệ điều hành này được giới thiệu, cả về ngoại hình lẫn kiếntrúc bên trong Vào thời điểm Motorola Milestone ra mắt, độ phân giải cao và lạ 854 x
480 cùng nhiều yếu tố phần cứng khác đã làm cho sản phẩm này đứng đầu thế giớiAndroid về cấu hình, nhưng quan trọng hơn là Android 2.0 có những tính năng khiến cho
nó dễ bán hơn, chẳng hạn như:
Trang 18 Hỗ trợ nhiều tài khoản người dùng: lần đầu tiên, nhiều tài khoản Google có thể
được đăng nhập trên cùng một thiết bị chạy Android Tài khoản MicrosoftExchange cũng được hỗ trợ trong Eclair Người dùng có thể duyệt qua danh bạ,email của từng tài khoản Google giờ đây cho phép những nhà phát triển bên thứ
ba tích hợp dịch vụ của họ vào trong mục Account này, đồng thời hỗ trợ tự độngđồng bộ hóa
Quick Contact: khi chạm vào một số liên lạc nào đó, có một menu nhỏ sẽ xuất
hiện để bạn tương tác theo nhiều cách: gửi email, gọi điện, nhắn tin và hơn thếnữa Miễn là nơi nào có biểu tượng contact xuất hiện là nơi đó có thể dùng QuickContact Sau này có thêm Twitter, Facebook và nhiều dịch vụ đồng bộ khác cũngtích hợp tính năng riêng của mình vào Quick Contact
Cải tiến bàn phím ảo: Giống với chiếc G1, Droid/Milestone có một bàn phím
QWERTY đầy đủ dạng trượt ngang nhưng Google cho phép người dùng sử dụngthêm bàn phím ảo mà hãng đã thiết kế lại Mặc dù tính năng cảm ứng vẫn còn mộtđiều xa vời với Android vào lúc đó (trình duyệt, bản đồ và cả các phần mềm kháckhông hề dùng được tính năng hai ngón tay để phóng to, thu nhỏ,…) nhưng Eclairlại sử dụng dữ liệu multitouch từ bàn phím để xác định điểm chạm thứ hai tronglúc người dùng gõ nhanh Độ chính xác của bàn phím ảo trên Android 2.0 nhờ đó
đã được cải tiến đáng kể
Trình duyệt mới: Mặc dù chưa hỗ trợ cảm ứng đa điểm nhưng trình duyệt trên
Android 2.0 cũng có nhiều điểm nâng cấp đáng khen Google đã hỗ trợ HTML5,bao gồm luôn khả năng phát video ở chế độ toàn màn hình Hộp địa chỉ kết hợpvới thanh tìm kiếm (giống với trình duyệt Chrome) cũng lần đầu xuất hiện trênAndroid Để bù lại cho tính năng cảm ứng đa điểm, trình duyệt mới hỗ trợ chạmhai lần để phóng to nội dung trên màn hình, kèm theo đó là hai nút Zoom in, Zoomout
Giao diện mới: các biểu tượng giờ đây đã đẹp hơn, sang trọng hơn, gọn gàng hơn
nhiều so với trước Widget cũng được thiết kế mới để tương thích với độ phân giảicao trên Droid Giao diện menu cũng đẹp hơn nữa
Trang 19Về phần Android 2.1, mặc dù không "lớn" như Android 2.0 vì nó chủ yếu ra mắt
để sửa lỗi và thêm hàm API để lập trình viên can thiệp sâu hơn vào hệ thống nhưng nó đã
hỗ trợ thêm vài tính năng lý thú như Live Wallpaper, chuyển giọng nói thành văn bản vàmột màn hình khóa mới
Hình 2.6: Sự khác biệt giữa các phiên bản Android
Android 2.1 cũng có rất nhiều ý nghĩa về việc thay đổi chiến lược của Google.Nhận thấy rằng các hãng phần cứng thường thay đổi giao diện gốc của Android theo ý
họ, Google đã chọn HTC để làm việc trực tiếp và tạo ra Nexus One, chiếc điện thoại đầu
Trang 20không hề bị chỉnh sửa gì cả Không chỉ nổi bật về mặt phần mềm, Nexus One còn cóphần cứng mạnh mẽ thời bấy giờ Nó là một trong những smartphone đầu tiên chạy trênCPU Snapdragon 1GHZ của Qualcomm, đồng thời sở hữu màn hình AMOLED độ phângiải WVGA Thực ra, Google đã tiến hành việc này kể từ chiếc Droid với Android 2.0.Google và Motorola đã làm việc chặt chẽ để cùng phát triển một mẫu điện thoại tốt,nhưng Eclair trong Droid vẫn có vài sự tinh chỉnh Và tất nhiên là Google chưa bao giờtrực tiếp bán Droid cả.
Trang 21Hình 2.7: Android 2.1
2.1.6 Android 2.2 Froyo
Android 2.2 được ra mắt trong năm 2010 và mục tiêu của chương trình Nexus đãxuất hiện rõ hơn bao giờ hết: Nexus One là chiếc điện thoại đầu tiên được nâng cấp lênAndroid 2.2, sớm hơn nhiều so với tất cả các hãng khác Giao diện màn hình chính đãđược thay đổi, từ 3 màn hình chính tăng lên thành 5 màn hình Dãy nút kích hoạt nhanhchế độ gọi điện, web và App Drawer cũng đã xuất hiện Những chấm nhỏ ở góc trái, phảibên dưới của màn hình giúp người dùng biết mình đang xem đến màn hình nào Google
đã có nhiều cố gắng để giao diện Android được vui và đẹp hơn, dễ dùng hơn, bắt kịpphần nào với giao diện của bên thứ ba như HTC Sense chẳng hạn
Hình 2.8: Android 2.2
FroYo còn có một trình xem ảnh mới với khả năng hiển thị hình ảnh 3D: nghiêngmáy thì dãy ảnh sẽ nghiên theo, đồng thời nó mang trong mình nhiều hiệu ứng chuyểnđộng đẹp mắt khác Đây cũng là dấu mốc về việc Google đã đi thuê ngoài nhằm pháttriển Android mà Gallery trên FroYo là một ví dụ Tính năng trạm phát Wifi cũng xuất
Trang 22hiện, cách copy, paste mới tốt hơn Nhiều tính năng bảo mật mới cũng xuất hiện Tuynhiên, với người dùng thông thường thì việc Android 2.2 FroYo có hỗ trợ duyệt web vớiFlash là điểm đáng quan tâm nhất Hầu như người ta muốn lên FroYo là để tận hưởngđược cảm giác duyệt web với Flash đầy đủ trên thiết bị di động Android 2.2 bổ sungthêm tính năng di chuyển một phần ứng dụng từ bộ nhớ máy sang thẻ nhớ, giúp tiết kiệmdung lượng cho các điện thoại thời bấy giờ.
2.1.7 Android 2.3 Gingerbread
Khoảng nửa năm sau khi FroYo xuất hiện, Google đã trở lại với bản Android 2.3.Google giới thiệu nó với nhiều tính năng mới, tập trung vào việc phát triển game, đaphương tiện và phương thức truyền thông mới Android 2.3 có tên mã là Gingerbread,hiện bộ SDK Android 2.3 dành cho các nhà phát triển cũng đã được Google phát hành.Bên cạnh đó, chiếc Nexus S do Samsung sản xuất cũng xuất hiện với vai trò là người kếnhiệm cho Nexus One Nexus S có vài thay đổi nhỏ so với người anh em Galaxy S
Trang 23Hình 2.9: Android 2.3Android 2.3 thật ra không phải là một bản nâng cấp lớn nhưng những ảnh hướng
mà nó mang lại thì không nhỏ chút nào Lần đầu tiên Android khoác lên mình một giaodiện đen, trông ngầu và chuyên nghiệp hơn Các thành phần trên màn hình chính có thêmtông màu xanh lá đậm Bên cạnh đó, việc sử dụng màu đen còn là ý định của Google đểgiúp các máy dùng màn hình AMOLED tiết kiệm pin hơn Vài tính năng mới trênAndroid 2.3:
- Hai thanh chặn khi chọn văn bản: Hồi Android 2.2, việc chọn văn bản khi đang
soạn thảo hoặc khi đang duyệt web rất cực khổ Nhờ có thanh chặn này mà ngườidùng có thể chọn từng kí tự một, tiện lợi hơn rất nhiều