1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn phương pháp nghiên cứu khoa học phân tích quá trình phát triển của phần mềm internet explorer và đưa ra các nguyên lý sáng tạo

19 633 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 754,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Internet Explorer dành cho Pocket PC, sau đó được đổi tên thành Internet Explorer Mobile dành cho Windows Mobile cũng đã được phát triển, và vẫn tiếp tục phát triển cùng với các phiên bả

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

PHƯƠNG PHÁP

P H Â N T Í C H Q U Á T R Ì N H P H Á T

T R I Ể N C Ủ A P H Ầ N M Ề M

I N T E R N E T E X P L O R E R V À Đ Ư A

R A C Á C N G U Y Ê N L Ý S Á N G T Ạ O

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Đề tài:

GVHD: GS TSKH HOÀNG VĂN KIẾM

HVTH: VŨ QUỐC HƯNG



Trang 2

M c l c ục lục ục lục

Mở đầu 2

I Giới thiệu 3

II Phân tích quá trình phát triển 3

1 Internet Explorer 1 4

2 Internet Explorer 2 4

3 Internet Explorer 3 5

4 Internet Explorer 4 6

5 Internet Explorer 5 7

6 Internet Explorer 6 8

7 Internet Explorer 7 8

8 Internet Explorer 8 9

9 Internet Explorer 9 10

10 Internet Explorer 10 11

11 Internet Explorer 11 12

III Các nguyên tắc sáng tạo đã được áp dụng 14

IV.Hướng phát triển 16

V Kết luận 17

VI.Tài liệu tham khảo 18

Trang 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

M đ u ở đầu ầu

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động then chốt hàng đầu trong những ngành khoa học Kết quả từ Nghiên cứu khoa học là những phát hiện mới về kiến thức, về bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới có giá trị cao

Phải thừa nhận rằng nghiên cứu khoa học là công việc khó khăn, đòi hỏi sự đam mê và lòng quyết tâm Nghiên cứu khoa học là thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn Thông qua nghiên cứu khoa học giúp chúng ta

tự tin hơn, có bản lĩnh khi hội nhập với thực tế Nghiên cứu khoa học còn giúp chúng

ta hiểu rõ hơn lý thuyết, kiểm chứng những vấn đề của cuộc sống

Nội dung bài thu hoạch này chủ yếu đi vào tìm hiểu quá trình phát triển của một ứng dụng nào đó, cụ thể là chương trình internet explorer của Microsoft.Và từ đó rút ra những quy tắc sáng tạo dựa vào 40 nguyên tắc sáng tạo cơ bản của giáo sư Alshuller - người Nga là kỹ sư, nhà sáng chế, nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng

Trang 4

I Gi i thi u ới thiệu ệu

Chắc hẳn ai cũng biết đến phần mềm duyệt web nổi tiếng của Microssoft là Internet Explorer (IE) Tuy có trải qua nhiều sóng gió, gặt hái được cả thất bại lẫn thành công, nhưng đây từng là phần mềm duyệt web phổ biến nhất trên thế giới

IE được phát hành lần đầu tiên với vai trò là một gói bổ sung Plus! for Windows 95 vào năm 1995 Các phiên bản sau đó cho phép tải về miễn phí, hoặc nằm trong các bản service pack, và kèm trong các bản phát hành dịch vụ OEM của Windows 95 và các phiên bản Windows sau đó

Các phiên bản khác có mặt từ cuối thập niên 1990 bao gồm một phiên bản OEM nhúng có tên gọi Internet Explorer for Windows CE (IE CE) có trong các nền tảng trên WinCE và hiện dựa trên IE6 Internet Explorer dành cho Pocket PC, sau đó được đổi tên thành Internet Explorer Mobile dành cho Windows Mobile cũng đã được phát triển, và vẫn tiếp tục phát triển cùng với các phiên bản dành cho máy tính để bàn với nhiều chức năng hơn

IE đã gắn liền với Microsoft Windows từ khi mới chập chững những bước đầu tiên và cho đến tận bây giờ IE là một phần không thể thiếu trong bộ cài đặt Windows Ngoài chức năng duyệt web thông thường như các web browser khác, IE còn tích hợp

để người dúng có thể tùy chỉnh một số thành phần liên quan đến mạng trong chính nó

II Phân tích quá trình phát tri n ển

Dự án Internet Explorer được bắt đầu vào mùa hè năm 1994 bởi Thomas Reardon và sau đó do Benjamin Slivka làm trưởng nhóm, lấy ý tưởng mã nguồn từ Spyglass, Inc Mosaic, một trình duyệt web thương mại có mặt từ sớm với hình thức gắn liền với trình duyệt tiên phong Mosaic của NCSA Vào cuối năm 1994, Microsoft

đã xin được phép từ Spyglass Mosaic với sự hỗ trợ chi phí hàng quý cùng với một số phần trăm trong lợi nhuận thu được từ các sản phẩm không phải Windows của Microsoft để đổi lấy phần mềm Mặc dù có tên tương tự như Mosaic của NCSA, Spyglass Mosaic dùng không nhiều mã nguồn của NCSA Mosaic

Trang 5

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1 Internet Explorer 1

Ra mắt vào tháng 8 năm 1995 Nó là phiên bản chỉnh sửa của Spyglass Mosaic

mà Microsoft đã có phép, giống như nhiều công ty khác bắt đầu việc phát triển trình duyệt cho riêng mình, từ Spyglass Inc Nó đi kèm với Microsoft Plus! for Windows 95

và bản phát hành OEM của Windows 95 Phiên bản này được cài đặt thành một phần của Internet Jumpstart Kit trong Plus! Nhóm Internet Explorer bắt đầu khoảng sáu người trong giai đoạn phát triển đầu tiên Internet Explorer 1.5 được phát hành vài tháng sau đó dành cho Windows NT và bổ sung tính năng hỗ trợ hiển thị bảng biểu cơ bản Tuy nhiên, với việc đưa kèm miễn phí nó vào hệ điều hành, họ không phải trả tiền bản quyền cho Spyglass Inc., dẫn đến kiện cáo làm tiêu tốn hàng triệu đô la Mỹ

2 Internet Explorer 2

Được phát hành dành cho Windows 95, Windows NT 3.5, và NT 4.0 vào tháng

11 năm 1995 (sau bản 2.0 beta vào tháng 10) Nó hỗ trợ SSL, cookie, VRML, RSA,

và nhóm tin Internet Phiên bản 2 cũng là bản phát hành đầu tiên dành cho Windows

Trang 6

3.1 và Macintosh System 7.0.1 (PPC hay 68k), mặc dù phiên bản Mac không được phát hành cho đến tháng 1 năm 1996 dành cho PPC, và tháng 4 dành cho 68k Phiên bản 2.1 dành cho Mac ra mắt vào tháng 8 năm 1996, mặc dù vào thời điểm đó Windows đã lên đến phiên bản 3.0 Phiên bản 2 được kèm trong Windows 95 OSR 1

và Internet Starter Kit for Windows 95 của Microsoft vào đầu năm 1996 Phần mềm phát hành với 12 ngôn ngữ trong đó có tiếng Anh nhưng nó mở rộng ra đến 24, 20, và

9 lần lượt cho các phiên bản dành cho Win 95, Win 3.1 và Mac vào tháng 4 năm

1996 Bản 2.0i hỗ trợ bộ ký tự byte kép

3 Internet Explorer 3

Phát hành vào tháng 8 năm 1996, và tiếp tục nổi tiếng hơn người tiền nhiệm

Nó được phát triển mà không dùng mã nguồn Spyglass, mặc dù vẫn ghi công cho

"công nghệ" Spyglass trong tài liệu của chương trình Internet Explorer 3 là trình duyệt lớn đầu tiên có hỗ trợ CSS, mặc dù còn hạn chế Được phát hành vào ngày 13 tháng 8 năm 1996, nó cũng cho ra mắt tính năng hỗ trợ ActiveX controls, Java applet,

đa phương tiện nhúng, và hệ thống PICS dành cho nội dung siêu dữ liệu (metadata) Phiên bản 3 cũng được đóng gói chung với Internet Mail and News, NetMeeting, và phiên bản đầu tiên của Windows Address Book, và nó cũng kèm trong Windows 95 OSR 2 Phiên bản 3 đã chứng tỏ mình là phiên bản nổi tiếng hơn của Internet Explorer, nhờ sự chăm chút kỹ lưỡng cho nó Trong nhiều tháng sau khi ra mắt, một

số lỗ hổng bảo mật và riêng tư được các nhà nghiên cứu và hacker tìm thấy Phiên bản này của Internet Explorer là phiên bản đầu tiên có logo "chữ e màu xanh" Nhóm Internet Explorer bao gồm 100 người trong suốt quá trình 3 tháng phát triển Lỗ hổng bảo mật IE lớn đầu tiên, Princeton Word Macro Virus Loophole, được khám phá vào ngày 22 tháng 8 năm 1996 trong IE3 Tính năng tương thích ngược xử lý bằng cách cho phép những người nào nâng cấp lên IE3 vẫn có thể sử dụng IE trước đó, vì quá trình cài đặt đã chuyển phiên bản trước vào thư mục riêng rẽ

Trang 7

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

4 Internet Explorer 4

Phát hành vào tháng 9 năm 1997 đào sâu hơn mức độ tích hợp giữa trình duyệt web và hệ điều hành phía dưới Việc cài đặt phiên bản 4 trên máy Windows 95 và Windows NT 4 và chọn Windows Desktop Update có thể dẫn đến việc Windows Explorer truyền thống bị thay bằng một phiên bản trông giao diện như trình duyệt web, cũng như màn hình nền Windows cũng trở thành web được thông qua Active Desktop Tuy nhiên, sự tích hợp với Windows là chủ đề của rất nhiều những chỉ trích

về đóng gói Tùy chọn này không còn tồn tại với các bản cài đặt dành cho các phiên bản sau của Internet Explorer nhưng vẫn không bỏ ra khỏi hệ thống được nếu đã cài đặt rồi Internet Explorer 4 ra mắt sự hỗ trợ Group Policy, cho phép các công ty cấu hình và khóa nhiều chức năng cấu hình của trình duyệt Internet Mail and News được thay bằng Outlook Express, và Microsoft Chat và một phiên bản NetMeeting cải tiến cũng được đính kèm Phiên bản này cũng kèm trong Windows 98 Các tính năng mới được thêm vào cho phép người dùng lưu và truy xuất các nội dung đăng trong các mẫu bình luận mà đến nay vẫn không được sử dụng Internet Explorer 4.5 có thêm các tính năng mới như mã hóa 128-bit dễ dàng hơn Nó cũng có sự phát triển vượt bậc về

độ ổn định so với các phiên bản trước, đặc biệt là phiên bản 68k hoàn toàn không bị treo

Trang 8

5 Internet Explorer 5

Phát hành vào ngày 18 tháng 3 năm 1999, và sau đó được kèm trong Windows

98 Second Edition và đóng gói chung với Office 2000, là một phiên bản nổi bật khác

có hỗ trợ văn bản hai hướng, ký tự ruby, XML, XSLT và khả năng lưu trang web dưới định dạng MHTML IE5 được đóng gói với Outlook Express 5 Ngoài ra, với việc phát hành Internet Explorer 5.0, Microsoft cũng phát hành phiên bản XMLHttpRequest đầu tiên, khai sinh ra Ajax (mặc dù thuật ngữ "Ajax" vẫn không xuất hiện cho đến vài năm sau) Nó là phiên bản cuối cùng ở dạng 16-bit Internet Explorer 5.01, một phiên bản sửa lỗi, được phát hành vào tháng 12 năm 1999 Windows 2000 có phiên bản này Internet Explorer 5.5 tiếp nối vào tháng 7 năm 2000, tăng cường khả năng xem thử trước khi in, hỗ trợ chuẩn CSS và HTML, và API cho lập trình viên; phiên bản này đi cùng với Windows Me Phiên bản 5.5 cũng hỗ trợ mã hóa 128-bit Tuy nhiên, phiên bản 5 là phiên bản cuối cùng dành cho Mac và UNIX Phiên bản 5.5 là phiên bản cuối cùng có Chế độ Tương thích, cho phép Internet Explorer 4 có thể chạy song song với 5.x Nhóm IE lúc này đã lên đến hơn 1000 người vào năm 1999, tiêu tốn 100 triệu USD mỗi năm

Trang 9

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

6 Internet Explorer 6

Phát hành vào ngày 27 tháng 8 năm 2001, một vài tháng trước khi Windows

XP ra mắt Phiên bản này bao gồm cải tiến DHTML, các khung chứa nội dung, và hỗ trợ một phần CSS cấp 1, DOM cấp 1 và SMIL 2.0 Bộ máy MSXML cũng được cập nhật lên phiên bản 3.0 Các tính năng mới khác bao gồm một phiên bản mới của Internet Explorer Administration Kit (IEAK), thanh Trình diễn, tích hợp Windows Messenger, thu thập lỗi, tự thay đổi kích thước hình ảnh, P3P, và trải nghiệm giao diện mới giống như phong cách hình ảnh Luna của Windows XP, khi dùng trong Windows XP Internet Explorer 6.0 SP1 có thêm những cải tiến bảo mật và phát hành cùng lúc với phiên bản vá XP SP1 Vào năm 2002, giao thức Gopher đã bị tắt và không còn được hỗ trợ trong Internet Explorer 7 Internet Explorer 6.0 SP1 phát hành vào ngày 6 tháng 8 năm 2004 dành cho Windows XP SP2 và đưa nhiều cải tiến bảo mật và các nút có màu mới trên giao diện IE6 đã cập nhật biểu trưng "chữ e màu xanh" sang màu xanh nhạt hơn và có hình dáng 3 chiều hơn

7 Internet Explorer 7

Trang 10

Phát hành vào ngày 18 tháng 10 năm 2006 Nó gồm các sửa lỗi, cải tiến hỗ trợ các tiêu chuẩn web, duyệt theo thẻ với tính năng xem trước và quản lý thẻ, một hộp tìm kiếm tích hợp nhiều bộ máy, bộ đọc mẩu tin mạng, hỗ trợ Tên miền quốc tế hóa (IDN), và bộ lọc chống lừa đảo Với IE7, Internet Explorer đã được tách ra khỏi Windows Shell - không như các phiên bản khác, Internet Explorer ActiveX control không còn đặt trên tiến trình của Windows Explorer, mà chạy trên một tính trình Internet Explorer riêng biệt Nó được kèm trong Windows Vista và Windows Server

2008, và có thể tải về cho Windows XP Service Pack 2 trở về sau, và Windows Server

2003 Service Pack 1 trở về sau Bản phát hành nguyên thủy của Internet Explorer 7 đòi hỏi máy tính phải vượt qua quy trình kiểm tra Windows Genuine Advantage trước khi cài đặt, nhưng vào ngày 5 tháng 10 năm 2007, Microsoft đã bỏ yêu cầu này Theo như một số thống kê cho thấy, đến giữa năm 2008, Internet Explorer 7 đã vượt qua Internet Explorer 6 về số người sử dụng

8 Internet Explorer 8

Phát hành vào ngày 19 tháng 3 năm 2009 Nó đã được phát triển trễ nhất là từ tháng 8 năm 2007 Vào ngày 5 tháng 3 năm 2008, bản beta công cộng đầu tiên (Beta 1) được phát hành cho công chúng Vào ngày 27 tháng 8 năm 2008, bản beta công cộng thứ hai (Beta 2) được phát hành Nó hỗ trợ Windows XP SP2 và SP3, Windows Server 2003 SP2, Windows Vista và Windows Server 2008 trên cả kiến trúc 32-bit lẫn 64-bit Internet Explorer 8 (IE8) RC1 được phát hành vào ngày 26 tháng 1 năm 2009 Bảo mật, dễ dùng, và những cải tiến về RSS, CSS, và hỗ trợ Ajax là những ưu tiên của Microsoft dành cho IE8 Nó tương thích chặt hơn với các tiêu chuẩn web, gồm có tương thích đầy đủ với Cascading Style Sheets 2.1 Tất cả các thay đổi này cho phép Internet Explorer 8 vượt qua kiểm tra Acid2 Tuy nhiên, để ngăn ngừa các vấn đề về tương thích, IE8 cũng kèm cả khả năng hiển thị kiểu IE7 Các trang không muốn chuyển đổi giao diện theo IE8 có thể tắt sự thay đổi này bằng cách thêm một thẻ vào

Trang 11

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

như tăng cường hiệu năng, mặc dù nó vẫn chưa vượt qua được kiểm tra Acid3, với phiên bản 8.0 RC1 ghi được 20/100 điểm Nó bao gồm sự hỗ trợ Accelerators - cho phép hỗ trợ ứng dụng web được kích hoạt mà không cần gọi tường minh - và WebSlices - cho phép các thành phần trang được đăng ký và theo dõi từ một Favorites Bar có sẵn Các tính năng khác gồm có tính năng duyệt riêng tư InPrivate, và bộ lọc lừa đảo SmartScreen

9 Internet Explorer 9

Phát hành vào ngày 14 tháng ba năm 2011 VIệc phát triển Internet Explorer 9 bắt đầu ngay sau khi phát hành Internet Explorer 8 Microsoft lần đầu tiên công bố Internet Explorer 9 tại PDC 2009, và chủ yếu là nói về lợi thế tăng tốc phần cứng trong DirectX để cải thiện hiệu suất của các ứng dụng web và chất lượng của web typography Tại MIX 10, Microsoft đã công khai phát hành các Platform Preview đầu tiên cho Internet Explorer 9 (một khung cho IE9 mà không chứa bất kỳ giao diện người dùng nào) Việc phát hành của bản trình duyệt cuối cùng, Microsoft phát hành trước bản cập nhật nền tảng , để cải thiện tính năng biên dịch JavaScript (phiên bản 32-bit) Các phiên bản beta công khai đầu tiên được phát hành tại một sự kiện đặc biệt ở San Francisco Được phát hành vào ngày 10 tháng 2 năm 2011 , với các tính năng cải thiện hiệu suất, cải tiến giao diện người dùng, và thêm các tiêu chuẩn hỗ trợ Phiên bản cuối cùng đã được phát hành ngày 14 tháng Ba năm 2011

IE9 chỉ hỗ trợ trên Windows Vista SP2 , Windows 7 và Windows Server 2008

Nó hỗ trợ một số CSS 3, và hỗ trợ ICC v2 hoặc color v4 thông qua hệ thống Windows Color Phiên bản 32-bit có hiệu suất xử lý JavaScript nhanh hơn, do một công cụ JavaScript mới có tên là "Chakra" xử lý Nó cũng có tính năng tăng tốc phần cứng đồ họa sử dụng Direct2D, DirectWrite, media Foundation, Windows Imaging Component, XPS print IE9 cũng hỗ trợ video HTML5 và các thẻ âm thanh và các định dạng Web Open Font IE9 ban đầu được 95/100 điểm trên hệ thống thử nghiệm Acid3 , nhưng đã ghi được 100/100 điểm kể từ bản cập nhật vào tháng 09/2011

Trang 12

IE đã được loại bỏ khỏi Windows 7 và Windows Server 2008 R2 ở châu Âu, nhưng Microsoft vẫn hỗ trợ đóng gói nó, với một màn hình cho phép người dùng lựa chọn số trình duyệt web (kể cả IE)

Hiện tại IE đã có trên Xbox 360 với sự hỗ trợ Kinect, tính đến tháng 10/2012

10 Internet Explorer 10

Sau gần 2 năm ra mắt bản thử nghiệm sơ khai đầu tiên, Microsoft đã chính thức phát hành trình duyệt web Internet Explorer 10 phiên bản mới nhất dành cho hệ điều hành Windows 7, với sự cải tiến đáng kể về hiệu suất và mức độ an toàn

Với phiên bản mới nhất Internet Explorer 10, Microsoft đã làm thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của người dùng khi đã có một sự nâng cấp ấn tượng cho trình duyệt web của mình Đây cũng là trình duyệt web mặc định cho hệ điều hành Windows 8 mới nhất

Microsoft cũng đã không bỏ rơi người dùng Windows 7 khi vừa chính thức ra mắt bản chính thức của trình duyệt web IE10 trên hệ điều hành cũ này Đây được xem

là một động thái của Microsoft để cạnh tranh với các đối thủ như Firefox hay Chrome

để chiếm lĩnh thị phần trình duyệt web, đặc biệt khi mà hiện nay Windows 7 vẫn chiếm một lượng người dùng rất lớn trên toàn cầu

Về mặt giao diện, IE10 trên Windows 7 hầu như không có sự thay đổi nào so với giao diện IE9 trước đây, ngoại trừ việc các tab được thiết kế có phần trong suốt hơn và đơn giản hơn, tạo phong cách như trên Windows 8

Điểm thay đổi đáng chú ý nhất trên IE10 so với phiên bản cũ là đã được cải thiện đáng kể về tốc độ Microsoft cho biết phiên bản IE mới của mình đã nhanh hơn phiên bản cũ đến 20% và hỗ trợ nhiều chuẩn web mới Có được điều này là nhờ IE10 trên Windows 7 (cũng như trên Windows 8) được trang bị bộ xử lý Trident hoàn toàn mới để thay thế cho bộ xử lý Charke cũ trước đây

Ngày đăng: 22/05/2015, 00:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w