1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gìn giữ nét đẹp lễ hội truyền thống thả diều làng Bá Giang

53 801 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Gìn giữ nét đẹp lễ hội truyền thống thả diều làng Bá Giang
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 266 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lễ hội thường được tổ chức gắn với tục lệ thờ cúng thần, thánh ở miếu, ở đình, ở chùa hoặc các nơi công cộng khác; công việc tổ chức cũng như nội dung cầu khấn của lễ hội cộng đồng lúc nào cũng vì sự ổn định làm ăn và làm ăn phát đạt của cả cộng đồng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang, xã Hồng Hà là một lễhội đặc sắc và độc đáo trong hệ thống lễ hội cổ truyền của Hà Tây, và củavùng đồng bằng Bắc Bộ Cho tới nay, việc sưu tầm và nghiên cứu về lễhội thả diều làng Bá Giang, xã Hồng Hà một cách thấu đáo, có hệ thống

và khoa học vẫn chưa được đề cập tới trong một công trình nào Chính vìthế chúng tôi đã chọn lễ hội thả diều làng Bá Giang làm đối tượng nghiêncứu nhảm làm sáng tỏ những giá trị văn hóa, tính độc đáo của nó trongkho tàng lễ hội cổ truyền dân tộc là rất cần thiết

Nghiên cứu các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng về lễ hội dân gian ởmột địa bàn cụ thể như làng Bá Giang sẽ góp phần vào việc xây dựng bứctranh toàn cảnh về văn hóa tín ngưỡng và lễ hội dân gian Việt Nam, đểgiúp chúng ta hiểu rõ hơn tâm thức của người xưa

Mặt khác, trong xu thế phát triển văn hóa du lịch, “làng diều”truyền thống Bá Giang có điều kiện trở thành một địa chỉ du lịch văn hóahấp dẫn khách quan trong tua du lịch làng nghề của Hà Tây và phía Bắccủa thủ đô Hà Nội

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Gìn giữ nét đẹp lễ hội truyền thống thả diều làng Bá Giang” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của

mình

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và làm rõ những giá trị văn hóa truyền thống của lễ hộithả diều làng Bá Dương trong cuộc sống đương đại để từ đó đề xuất cácbiện pháp tăng cường quản lý lễ hội phát huy giá trị văn hóa phi vật thểcủa lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khái lược lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang

- Lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang

Trang 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Không gian: Làng Bá Giang xã Hồng Hà - tỉnh Hà Tây

- Thời gian: Diễn trình lễ hội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một só vấn đề cơ sở lý luận gắn liền với đề tài

- Khảo sát, đánh giá thực trạng của lễ hội và vấn đề quản lý lễ hội

- Đề xuất biện pháp tăng cường quản lý lễ hội thả diều

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên lập trường quan điểm triết học Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích tổng hợp tài liệu, tra cứu hồ sơ, văn bản của Nhà nước,của thành phố Hà Nội, của ngành Văn hóa nhằm nghiên cứu cơ sở lý luậncủa đề tài

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Các phương pháp nghiên cứu khoa học văn hóa, văn hóa dân gian,phương pháp diễn tả, phương pháp nghiên cứu lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu dân tộc học, xã hội học, điều tra phỏngvấn

- Phương pháp điền dã nghiên cứu thực tiễn tại chỗ

6 Đóng góp của đề tài

- Tổng quát về lễ hội thả diều

- Khẳng định giá trị lễ hội thả diều

- Hệ thống hóa các tài liệu về lễ hội

- Vai trò của lễ hội đối với tinh thần của nhân dân trong đời sốngvăn hóa đương đại

- Khẳng định vai trò của người cán bộ văn hóa trong công tác quản

lý di tích đối với công cuộc phát huy giá trị văn hóa truyền thống

- Làm tư liệu tham khảo cho công tác quản lý lễ hội ở địa phương

7 Bố cục luận văn

Trang 4

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và các tài liệu thamkhảo, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng lễ hội tdi làng Bá Giang

Chương 3: Một số biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội thảdiều truyền thống làng Bá Giang trong thời đại mới

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm văn hóa và quản lý văn hóa

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng

có mặt và thấm sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con người

vì thế có rất nhiều định nghĩa, cach hiểu khác nhau về văn hóa

Theo Khổng Tử: Văn là những gì tốt đẹp của con người và cộngđồng Hóa là biến những gì bình thường của con người và cộng đồng trởnên tốt đẹp Heriot nói: “Văn hóa là cái còn lại, khi người ta đã quyên đitất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tốt cả”

Pufendorf - Nhà dân tộc học Đức, là người đầu tiên sử dụng từ vănhóa đã cho rằng “Văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động

xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên”

Năm 1871, E.B Tylor - Người góp phần khẳng định ngành văn hóahọc như một khoa học, đã đưa ra định nghĩa,“Văn hóa là phức thể baogồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, vàmọi khả năng, thói quen mà con người với tư cách là thành viên xã hội đạtđược”

Sau nhiều năm tìm tòi theo các hướng, cách tiếp cận khác nhau, đếnnhững năm 70 của thế kỷ XX, cách hiểu phổ biến và gặp nhau nhiều nhất

là ở quan niệm coi văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc nàyhay dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất đến tínngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Năm 1982, tại Mêhicô,Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa vì sự phát triển đã thông quatuyên bố Mihicô ngày 6-8 cho rằng “Theo nghĩa rộng ngày nay văn hóa

có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trítuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó khôngchỉ bao gồm nghệ thuật văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của

Trang 6

nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống tín ngưỡng” (xem “Xây dựng

và phát triển nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”).(NXB Chính trị Quốc gia, từ trang 14-16)

Như vậy theo nghĩa rộng lớn, vừa bản chất của no, văn hóa là toàn

bộ hoạt động tinh thần - sáng tạo và các giá trị vật chất và tinh thần ngàycàng cao hơn để vươn tới tự hoàn thiện theo khát vọng chân, thiện, mỹ vàgóp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển không ngừng của đời sống xã hội.Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộcsống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạođức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụcho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc và các phương tiện sử dụng Toàn bộnhững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh toàn tập,NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, trang 431)

Theo Viện sĩ Trần Ngọc Thêm thì “Văn hóa là một hệ thống hữu cơcác giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quátrình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môitrường tự nhiên và xã hội”

Tuy nhiên có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, nhưng nhìnchung các định nghĩa đều đề cập đến những đặc trưng

Văn hóa là hoạt động của con người, văn hóa là biểu hiện trình độnhận thức của con người (đây là yếu tố phân biệt giữa người và động vật)

Văn hóa là thể hiện khát vọng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ,

đó là sự vươn tới cái đẹp, cái hoàn thiện (Đây là cơ sở để phân biệt vănhóa và phản văn hóa)

Văn hóa là tổng hợp các giá trị được cộng đồng thừa nhận, tuân thủtrong một môi trường, một không gian cụ thể (đây là tiêu chí để xây dựngnhững giá trị văn hóa mới, không thể áp đặt tùy tiện)

1.1.2 Khái niệm quản lý văn hóa

Sự cộng sinh có tính liên ngành của khoa học quản lý và khoa họcvăn hóa, được thể hiện trong khái niệm quản lý văn hóa Quản lý văn hóa

Trang 7

vừa biểu thị sự lãnh đạo và điều hành những cơ sở đã được xã hội phâncông trong hệ thống nhà nước hoặc trong doanh nghiệp hoạt động vănhóa, vừa biểu đạt một ngành đại học đã được khẳng định về lý luận vànghiên cứu được định hướng về mặt thực tiễn.

Theo PGS Nguyễn Tri Nguyên - Ông cho rằng: “Quản lý văn hóa làlập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo hoặc kiểm tra các thiết chế văn hóa củacác phạm vi lợi nhuận cũng như phạm vi không lợi nhuận và cùng vớiđiều đó liên kết các nhiệm vụ chiến lược và chiến dịch như marketing,giao thông liên lạc”

Trong thời đại ngày nay, với sự hiện diện của cơ chế thị trườngthìcông tác quản lý văn hóa là những vấn đề mới mẻ cần được nghiên cứuchu đáo và dưa ra một số phương thức như:

- Quản lý văn hóa bằng pháp luật

- Xây dựng các chương trình, kế hoạch quốc gia về phát triển vănhóa

- Đầu tư tài chính cho văn hóa

- Củng cố tổ chức, tăng cường đào tạo cán bộ, đổi mới hoạt độngcủa các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa

- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát của nhà nước trong lĩnh vực vănhóa

Như vậy, cũng theo PGS Nguyễn Tri Nguyên thì: “Quản lý văn hóavới tư cách là quản lý về nghệ thuật và văn hóa xác định tính cách đượcđịnh hướng về tính kinh tế, về tính kế hoạch, về tính công khai mà hoạtđộng này liên quan tới nội dung nghệ thuật và mục tiêu văn hóa được tậptrung lại nhằm kiến tạo hiện tại và tương lai”

1.1.3 Khái niệm về lễ hội

Lễ hội là thuật ngữ dân gian được dùng rộng rãi trong xã hội Khigiải thích thuật ngữ di sản văn hóa phi vật thể, Luật di sản văn hóa đã xácđịnh lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể

Trang 8

Lễ hội “ là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần củangười dân Việt”, đồng thời “ hội và lễ hội là một sinh hoạt văn hóa lâuđời của dân tộc Việt Nam chúng ta Hội và lễ hội có sức hấp dẫn, lôi cuốncác tầng lớp trong xã hội để trở thành một nhu cầu, một khát vọng củanhân dân trong nhiều thập kỷ”.

Lễ hội thường được tổ chức gắn với tục lệ thờ cúng thần, thánh ởmiếu, ở đình, ở chùa hoặc các nơi công cộng khác; công việc tổ chức cũngnhư nội dung cầu khấn của lễ hội cộng đồng lúc nào cũng vì sự ổn địnhlàm ăn và làm ăn phát đạt của cả cộng đồng

Lễ hội gồm hai phần: Phần lễ và phần hội Phần lễ là những nghithức, thủ tục mang tính chất trang nghiêm, trang trọng Phần hội trong lễhội lúc nào cũng tưng bừng, không khí hội lộ rõ, tâm trạng của người dựthoải mái, thăng hoa

1.1.4 Khái niệm quản lý lễ hội

Cây có cội, sông có nguồn, lễ hội dân gian có cội nguồn từ văn hóacộng đồng Lễ hội dân gian phản ánh nhiều giá trị văn hóa cần được quản

lý nhằm bảo tồn và phát huy trong cuộc sống hiện tại Song nội dung, kháiniệm quản lý lễ hội đang còn nhiều cách hiểu khác nhau Xuất phát từquan điểm của Đảng và Nhà nước có thể hiểu quản lý lễ hội là tạo điềukiện cho lễ hội phát triển theo định hướng phát triển của đất nước và phùhợp với quy luật của thời đại, đồng thời ngăn cản những hành vi lợi dụng

lễ hội để hoạt động tệ nạn xã hội

“Quản lý lễ hội là nhu cầu khách quan để lễ hội phát triển nhưngquản lý đòi hỏi cái nhìn tổng thể để đưa các phương thức và cơ chế quản

lý thích hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc vừa phù hợp với địnhhướng phát triển của địa phương nói riêng và yêu cầu phát triển của cảnước nói chung”

1.2 Các văn bản pháp quy về lễ hội và quản lý lễ hội

Nói đến quản lý, chúng ta phải căn cứ vào hiến pháp, pháp luật, cácvăn bản dưới luật để thực hiện quyền quản lý ở cơ sở

Trang 9

Liên quan đến lễ hội truyền thống cần khẳng định chủ trương củaĐảng và Nhà nước ta là “Tự do tín ngưỡng và bài trừ mê tín dị đoan” Vìvậy, để quản lý tốt lễ hội, trước tiên phải thực hiện tốt Nghị quyết số 24của Ban Bí thư TW Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo.

Tiếp theo đó là nghị định 69 - HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội đồng

bộ Trưởng qui định về các hoạt động tôn giáo “ Nhà nước bảo đảm quyền

tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của công dân; Nghiêmcấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo hoặc tín ngưỡng”

Ngày 23/7/1993, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 379/TTG về cáchoạt động tôn giáo, nhằm giúp các cấp chính quyền và Ban Tôn giáo cáccấp xử lý đúng đắn các vấn đề tín ngưỡng tôn giáo trong đời sống xãhội…

Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/9/2001 của Bộ Văn hóaThông tin về việc ban hành quy chế tổ chức lễ hội (thay thế cho quy chếban hành tháng 5/1994)

Nghị định 112/2005/NĐ-CP ngày 18/1/2006 của Chính phủ về banhành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa côngcộng

Nghị định 56/2006/NĐ-CP ngày 6/6/2006 của Chính phủ về xử phạthành chính trong lĩnh vực văn hóa thông tin

1.3 Vai trò của cán bộ văn hóa đối với công tác quản lý lễ hội

Người cán bộ quản lý văn hóa trên địa bàn đối với công tác quản lý

lễ hội phải hiểu và nắm vững các công tác sau:

Chú trọng công tác tuyên truyền các giá trị lịch sử văn hóa của ditích cũng như qui định của pháp luật có liên quan, để các thành viên tham

dự lễ hội có trách nhiệm cùng chính quyền, ban tổ chức thực hiện nghiêmcác quy định của lễ hội: Giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa và kinh

tế trong việc tổ chức lễ hội, quy hoạch, sắp xếp các hàng quán dịch vụ vàcác hoạt động vui chơi giải trí hợp lý, tạo điều kiện để nhân dân địaphương có thêm thu nhập, nhưng vẫn đảm bảo tính văn hóa trong hoạt

Trang 10

động dịch vụ, thực hiện việc xã hội hóa tổ chức lễ hội, khai thác nguồnlực từ các tổ chức cá nhân, đóng góp cho việc gìn giữ di sản văn hóa vậtthể và phi vật thể liên quan đến lễ hội.

Nắm vững các văn bản pháp quy về công tác quản lý lễ hội để thammưu cho cấp chính quyền và địa phương tổ chức tốt các đợt tuyên truyềngiáo dục quần chúng tham gia bảo vệ và gìn giữ lễ hội

Phối hợp với cán bộ quản lý di tích cấp trên biên tập thành tài liệutuyên truyền lễ hội, chống các hoạt động mê tín dị đoan

Phát hiện và tham mưu cho UBND các cấp chỉ đạo các cơ quan tưpháp, hành pháp xử lý các vụ việc xâm phạm di tích lễ hội theo đúng quyđịnh hiện hành của pháp luật

Tham mưu cho chính quyền địa phương thành lập ban quản lý lễ hộitrên cơ sở quy định rõ nhiệm vụ cụ thể của từng người trong lễ hội và cơquan quản lý di tích Vận động xã hội hóa bảo vệ, và phát huy lễ hội theo

kế hoạch dự án đã được cấp rên phê duyệt

Phối hợp với các đơn vị chức năng, ban tuyên huấn tổ chức thườngxuyên các đợt tuyên truyền về truyền thống tốt đẹp của địa phương nơi có

lễ hội

Rà soát phân loại lễ hội, tăng cường công tác quản lý, nghiên cứu đểviệc tổ chức lễ hội ngày càng khoa học, thể hiện đúng ý nghĩa bản sắc của

lễ hội Xây dựng nếp sống văn hóa, thực hiện, thông qua việc lồng ghép

và nội dung cụ thể của phong trào, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa”

Lễ hội là di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc cần được bảo tồn, pháthuy và phát triển theo qui chế để các giá trị văn hóa của lễ hội trở thànhnguồn lực to lớn tác động mạnh mẽ đời sống tinh thần của nhân dân

Trang 11

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG LỄ HỘI THẢ DIỀU LÀNG BÁ GIANG

2.1 Tổng quan về làng Bá Giang xã Hồng Hà - huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Tây

2.1.1 Vị trí địa lý

Làng Bá Giang nằm ven sông Hồng quanh năm nước chảy, phù sabồi đắp thường xuyên, làm cho đất đai ở nơi đây luôn mầu mỡ, cây cốixanh tươi Từ xưa nhân dân chủ yếu làm ruộng, hàng năm thường trồngnhững cây lương thực như: Lúa, ngô, khoai, lạc, đậu, và các loại cây côngnghiệp có các nghề như thợ mộc, thợ rèn, thêu, ren, đan lát, dệt vai lụa vàthao Nhân dân buôn bán chính là hàng xáo (xay, giã gạo) hoa quả và một

số ít người buôn chuyến ở các nẻo sông Một số người đi làm thuê, kiếm

ăn ở các tỉnh xa Làng có chợ Bá xưa tháng họp 6 phiên, hàng hóa phongphú nên có câu

“Bá Nội là đất thanh nhàn Thuyền em về Bá, lập đàng bán buôn”.

Bá Giang rất thuận tiện về giao thông thủy và bộ Từ Hà Nội đếnlàng Bá Giang có nhiều đường Ta có thể đi theo đê sông Hồng (nay đãđược dải nhựa), qua gầm cầu Thăng Long, qua Thượng Cát (Từ Liêm - HàNội), qua xã Liêm Trung, Liên Hà, Liên Hồng, đến làng Bá Giang Đây làtuyến đê bảo vệ kinh thành Thăng Long xưa, Thủ đô Hà Nội ngày nay,nên từ xưa được coi là rất quan trọng Đê đắp khá lớn, chạy vòng ôm ấplấy làng Bá Giang Đường thủy từ đây đi Hà Nội và ngược lên Việt Trì vàcác tỉnh phía Bắc Con đê sông Hồng còn kéo dài lên tới thị xã Sơn Tây.Đến trạm Tiên Tân rẽ trái vào đê sông Đáy và đến huyện Đan Phượng(qua các xã Hạ Mỗ, Thượng Mỗ, Đan Phượng)

Đầu làng Bá Giang (phía Bắc) có hệ thống điều tiết nước sông Hồng

tự chảy, xuyên qua đê sông Hồng, dẫn phù xa vào tưới cho đồng ruồngcủa làng xã Thời Pháp thuộc đã có cống tròn tự chảy xong lưu lượng nhỏ

Trang 12

Ngày nay một hệ thống dẫn thủy hiện tại đã hoàn thành cung cấp nướctưới cho cả hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức Khi mùa nước cạn củasông Hồng vẫn đảm bảo đủ nước tưới cho cây trồng, cả bốn mùa Với hệthống giao thông thủy, bộ như vậy, làng Bá Giang có một ưu thế thuận lợi

và vị trí quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Với vị thế “nhất cận thị, nhị cận giang”, do thiên nhiên ban tặng,môi trường sinh thái đặc thù ấy sẽ có ảnh hưởng lớn tới đời sống văn hóa

- xã hội của làng Bá Giang Sự lựa chọn thần linh và đời sống tín ngưỡng,

cả sự phát đạt về học hành, sự phong phú của đời sống tín ngưỡng, sựphát đạt về học hành sự phong phú của sử dụng tinh thần ở đây, cũng từ

vị thế ấy

2.1.2 Lịch sử hình thành

Ngược dòng sông Hồng, từ Thủ đô Hà Nội đi về phía Tây Bắckhoảng 15km, có một khu dân cư sầm uất, chợ họp đông vui, thuận đườngthủy- bộ; Đó là làng Bá Giang xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng - tỉnh HàTây

Làng Bá Giang còn có tên là Bá Dương Nội, xưa có tên nôm là Kẻ

Bá Đầu thế kỷ thứ XIX làng Bá Giang thuộc tổng Thượng Trì, huyện TừLiêm, thị trấn Sơn Tây Sau cách mạng tháng Tám (1945) đã nhiều lầnthay đổi Từ 1979 đến 1991 thuộc ngoại thành Hà Nội, từ năm 1992 đếnnay thuộc địa bàn Hà Tây

Bá Giang là một trong 4 làng của xã Hồng Hà: Bá Thị, Tiên Tân vàBồng Lai Bá Giang ở trung tâm của xã, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc,Đông Nam giáp xã Liên Hồng, Nam giáp xã Tân Hội, Tây Nam giáp Hạ

Mỗ Bá Giang nằm cạnh sông Hồng có con đê bao bọc Ngoài đê là GhềnhNguyệt Lão, xưa có câu cá “Miếu Đinh Nguyên, ông Diên Thành, GhềnhNguyên Lão”, là những địa danh quan trọng trong vùng

Bá Giang ngày nay thuộc vùng đất cổ xưa xứ Đoài Những năm

1975 - 1976 trong khi đào giếng nước ở Bá Giang đã đào được một sốhiện vật bằng đá và đồng của người xưa, giới nghiên cứu lịch sử Hà Nội

Trang 13

ghi nhận là một di chỉ khảo cổ học rất cần được nghiên cứu Chắc hẳndưới lòng đất nơi đây còn chứa đựng nhiều hiện vật báu có thể giúp chúng

ta xác minh thêm sự phong phú của nền văn minh sông Hồng - Con sông

mà xã Hồng Hà lấy làm tên gọi

Về mặt văn vật ngàn năm mà nói, nơi đây còn nhiều truyền thuyết

và di tích để chứng minh nơi đây là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa

Thời Hùng Định Vương, con gái thứ chín vua Hùng lấy con trai Lạctướng họ Hoàng ở Châu Ô (phải chăng là Ô Diên?), sinh ra được ngườicon trai là Hoàng Trụ, năm 12 tuổi, Trụ học ông Lỗ ở Kinh Đô (Bạch Hạc

- Việt Trì), vì ông thông minh học một biết mười nên ai cũng mến phục.Năm 17 tuổi, cha mẹ mất cả Trụ đến học thêm rồi dạy học ở bãi TăngTang (bãi dâu), biết thêm cả nghề thuốc, sẵn sàng trừ bệnh dịch cho dâncứu sống được nhiều người Ba năm sau nhà vua cầm quân mời ông rađánh giặc Ông đánh thắng, chém đầu tướng giặc Ông đánh thắng, chémđầu tướng giặc là Thiết Sả từ Trung Quốc tràn sang Khi ông mất, nhândân Bồng Lai (cùng xã) dựng ngôi đền thờ ngay trên nền trường học cũ ởbái Tang Tang, ngàn năm hương khói thờ phụng ông

Người đời sau đã có thơ ca ngợi rằng:

“Danh thơm ngàn thủa non sông tỏĐền miếu nguy nga mãi vẻ vang”

Xã Hồng Hà, làng Bá Giang còn rạng rỡ trong trang sử anh dũngchống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ cứu nước, góp phần giànhđộc lập tự do cho Tổ quốc Trong cuốn “Truyền thống cách mạng xã HồngHà”, ấn hành năm 1985 có đoạn ghi: “Thôn Bá Giang dưới sự chỉ huy của

cụ Phạm Văn Thiều, Phạm Văn Tỉnh , Phạm Văn Thêm (thường gọi làquận Thêm), đã cùng dân làng cương quyết đánh giặc bằng nhiều hìnhthức: Đánh lẻ, diệt gọn, nếu cứ năm bẩy thằng giặc qua đường làng là các

cụ tiêu diệt gọn Xác chúng được chôn ngay ở đầu làng, ý muốn giáo dụccho con cháu đời sau là: “Giặc đến đây là không có đường về Với kiểuđánh này lực lượng địch bị hao hụt dần, địch khó đối phó, khó tìm ra tung

Trang 14

tích của ta Cuộc chiến đấu này kéo dài hơn 3 tháng gây cho giặc nhiềuthiệt hại” Hưởng ứng phong trào toàn dân chống Pháp của Hoàng HoaThám, cụ Lang Sáng - gây dựng cơ sở ở Bồng Lai, Bá Giang Cụ đượcgiao trách nhiệm cắm cờ lên cột cờ thành Hà Nội Chủ trương bị bại lộ, cụ

bị bắt ngay trong thành Địch tra tấn hết sức dã man nhưng cụ vẫn biểu thịtinh thần bất khuất, dẫu chết cũng không hề cung khai Nhờ vậy mà cơ sởkhông bị bại lộ, dân làng không bị triệt phá

Trong kháng chiến chống Pháp rồi kháng chiến chống Mỹ cứu nước,thanh niên làng Bá Giang xã Hồng Hà hăng hái lên đường nhập ngũ bảo

vệ Tổ quốc Nhiều người đã hi sinh anh dũng góp phần tô thắm trang sửtruyền thống của quê hương, giành lại độc lập tự do cho đất nước

Với truyền thống lịch sử lâu đời của quê hương là nền tảng vữngchắc, hun đúc lên tính cách anh dũng của người dân Kẻ Bá Những địadanh, nhân vật và công tích của cổ nhân là cơ sở cội nguồn các sinh hoạtvăn hóa truyền thống đặc sắc của vùng quê dân dã nơi đây

2.1.3 Đặc điểm đời sống văn hóa - kinh tế - chính trị - xã hội Đặc điểm đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội

Đất đai của làng Bá Giang ở ven sông Hồng hình thành hai khuđồng và khu bãi Ngoài bãi sông phù sa màu mỡ rất thuận tiện cho việctrồng màu, ngô, khoai, đâu Nhưng không chắc ăn vì hàng năm lũ sôngHồng lên to, có năm thất bát cả Ngược lại, có năm mưa thuận gió hòa thìmùa màng tốt tươi, được mùa to Khu vực trong đồng, diện tích cấy lúakhông nhiều, song ổn định Giữa làng là chợ Bá, xưa một tháng họp sáuphiên Một số gia đình buôn bán nhỏ, làm nghề thủ công như nấu rượu,một thời rượu bá nổi tiếng khắp vùng Ngày nay, ngày nào chợ Bá cũngđông người mua và bán Các sản vật mua và bán nơi đây rất phong phúphục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người

Dưới thời phong kiến đế quốc, cuộc sống của người dân nơi đây khổcực, nghèo nàn, lạc hậu Vì ven sông Hồng, nên hàng năm luôn bị lũ lụt

Trang 15

đe dọa, có năm lũ cướp đi cả ruộng vườn, nhà cửa và cây trồng Ca dao cũ

ở làng có câu:

“Vùng bãi ăn những dải khoai Mong cho đến vụ được vài bữa cơm Chưa và thì đã vội đơm…”

Xưa kia ở vùng này đói kém, người dân chỉ chưng cơm bằng cáiniêu bé con, cơm dành cho người già, người ốm và trẻ con, còn người lớnthì ăn khoai, ngô làm bữa hàng ngày

Tình trạng đói khổ ấy đã chấm dứt sau những năm 1954, hòa bìnhlập lại Vốn bản tính cần cù lao động, chịu khó làm ăn trồng trọt, chănnuôi, phát triển nghề phụ: Nấu rượu, làm đậu phụ, bánh gio, bánh tẻ… vàcác dịch vụ khác Đời sống kinh tế ở làng Bá Giang thay đổi dần và trởnên khá giả Nhiều nhà ngói, nhà tầng mọc lên san sát, cảnh vật làng quêđẹp tươi, sầm uất hai bên bờ đê sông Hồng Nhất là những năm đổi mớigần đây, đời sống kinh tế của làng Bá Giang cũng như xã hồng Hà vượtlên nhanh chóng, nhân dân tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vàosản xuất nông nghiệp, chăn nuôi với quy mô lớn Dịch vụ buôn bán pháttriển, ngành nghề lâm sản, thủ công phong phú

Những năm gần đây, đời sống nhân dân ổn định và phát triển hệthống thủy nông Đan hoài bắt nguồn nước từ sông Hồng, mang phù samàu mỡ tưới mát cho cánh đồng, một năm hai vụ lúa, một vụ màu năngsuất bội thu Đường giao thông xuôi ngược Người dân mang sản phẩm ra

Hà Nội bán, mua về những hàng tiêu dùng, tiện nghi cần thiết… Bộ mặtkinh tế - xã hội làng Bá Giang xã Hồng Hà hoàn toàn đổi khác

Trên mảnh đất đầu làng Bá Giang đã có một ngôi trường phổ thôngtrung học khang trang mang tên Hồng Thái (là một trong 3 trường PTTHcủa huyện), đón nhận học sinh quanh vùng đến học

Ở đâu cũng vậy, khi đời sống kinh tế được phát triển và nâng caothì các sinh hoạt văn hóa xã hội của nhân dân cũng phát triển theo tỷ lệthuận Các di tích lịch sử văn hóa được tu bổ, công trình phúc lợi mở

Trang 16

mang, hoạt động văn hóa tinh thần càng phong phú Nhân dân phấn khởitin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ Nhìn lại từ xa xưa, tathấy: Cư dân làng Bá Giang làm nông nghiệp là chính, nên đòi hỏi hai yếu

tố đất và nước thuận hòa Qua đó tạo tâm lý ứng xử có văn hóa với môitrường tự nhiên của con người thể hiện trong các sinh hoạt cộng đồngmang đặc trưng của một nền văn minh nông nghiệp Hơn thế, làng BáGiang lại ở vị trí “Nhất cận thị, nhị cận giang”, nhờ con sông - huyếtmạch của giao thông đường thủy, xuôi xuống kinh đô Có chợ Bá là nơigiao lưu trao đổi hàng hóa Đó là những thế mạnh để khai thác toàn diện

về kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Vì vậy đã chiphối đến đời sống vật chất và có vai trò trọng yếu trong đời sống tinh thầncủa cư dân làng Bá Giang

Với tinh thần cộng cảm, giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt, các tổ chức

xã hội trong làng tạo nên sức ạnh gắn kết chặt chẽ, tuân thủ chính sáchpháp luật của nhà nước, thực hiện đúng với quy ước xây dựng làng vănhóa Đó cũng là những đơn vị chính và lực lượng tham gia lễ hội truyềnthống của làng

2.2 Diễn trình phát triển xây dựng và quá trình tồn tại miếu Châu Trần, Đình Bá Giang - Thành Hoàng Làng - xã Hồng Hà

2.2.1 Lịch sử xây dựng miếu Châu Trần và quá trình tồn tại

Để có được một lễ hội truyền thống tồn tại đến ngày nay, nhát thiết

đã có một không gian văn hóa diễn ra lễ hội ấy Không gian lễ hội baogồm cả hai không gian thực và không gian huyền thoại Nói như thuật ngữ

di sản văn hóa hiện nay là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể

Không gian chính của lễ hội thả diều làng Bá Giang là Đình BáGiang và miếu Châu Trần Đình là nơi lễ trình thành Hoàng Làng, Miếu lànơi trình diều, diều thì không gian mở rộng ra cả hai khu vực xung quanh:Đồng lúa, bãi đê, đường làng từ đình đến chùa và các đường xóm, bếnsông

Trang 17

Miếu Châu Trần thờ bản thổ có một vị trí rất quan trọng nằm ở giữalàng cách Đình Bá Giang khoảng 300m thuộc xóm đất Cầu Gạch Ngàyxưa, miếu ở ngoài đê gần với chùa Già Lê còn có tên là Miếu Ngoại, xungquanh cây cỏ mọc xanh rờn Do bị ngập lụt, nhân dân di chuyển miếu vàodựng ở đây Về tín ngưỡng, miếu thờ vị thổ công của xóm, phụ cận vớiđình, vị thần linh được nhân dân tôn kính Đối với hội diều, sân miếu lànơi tập kết diều, trình diều, chấm diều và trao giải thưởng của hội diềuhàng năm, là nơi lưu giữ những cánh diều đạt giải cao.

Miếu Châu Trần kiến trúc chữ đinh (T), phía ngoài là ngôi nhà 5gian dài 9m, tường hồi bít đốc, mặt trước hướng phía Tây (cùng hướngvới Đình), phía trong là nhà hậu cung Hoành phi ghi 3 chữ: “Trung - Tú -Khí” nghĩa là khí thiêng hun đúc Phía trong có long ngai bài vị có 4 chữ:

“Thổ - Hữu- Tai - Kính” nghĩa là: Kính trọng thay vị thổ công nơi này(Xem ảnh ở phần phụ lục)

Trong Miếu Châu Trần còn có hương án thờ được làm vào thế kỷXIX, hai bộ bát tửu và binh khí như quả chùy, thanh kiếm… được nghệnhân chạm khắc tinh xảo

Miếu Châu Trần thờ bản thổ tuy không lớn nhưng cúng hội đủ cácyếu tố của một di tích cổ Có hậu cung thâm nghiêm với đủ đồ thờ tự.Long ngai bài vị còn nguyên vẹn của nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷXIX Hoành phi câu đối có nội dung sâu sắc ngợi ca công trạng của vịthần được nhân hóa từ thần châu thổ 5 gian nhà phía ngoài như một tòađại bái đường cao rão, sáng sủa rất thuận tiện cho việc hành lễ Đồng thời

là nơi làm các thủ tục tâm linh của hội thi thả diều như trình diều, khámdiều, trao giải thưởng và lễ tạ của những người được giải thưởng và lễ tạcủa những người được giải thưởng hội diều

Trước cửa Miếu là sân rộng rãi có tường bao xung quanh Xa làcánh đồng lúa với không gian, cây xanh, cảnh trí của thôn làng Khi lễ hộithả diều, khu vực miếu trở nên nhộn nhịp và vui thú Có thể ghi nhận vịtrí cảnh quan của Miếu Châu Trần nằm trong tổng thể của khu vực thả

Trang 18

diều nhất thiết phải có không gian rộng thoáng, liên kết để diều lên xuống

dễ dàng, thuận tiện Mặt khác, yếu tố tâm linh phù trợ của tướng quânNguyễn Cả và thần bản thổ cùng với khí thiêng của trời đất làm cho lòngngười thêm thành kính, ngưỡng mộ

2.3 Những giá trị văn hóa nghệ thuật của di lích

2.3.1 Giá trị về kiến trúc

Đình Bá giang tọa lạc trên một khu đất đẹp ở rìa làng Phía trướcmặt là ruộng lúa, bờ mương, thoáng đãng, một hồ nước rộng phía tay phảicửa đình, phía trái cách một xóm là Miếu Châu Trần bản thỏ Đườngchính của làng rộng rãi vòng qua cửa đình Rất thuận tiện cho việc đi lạisinh hoạt cộng đồng và mở hội truyền thống hàng năm Xung quanh lànglại có con đê sông Hồng bao bọc phía Đông và phía Bắc, là điều kiện đểhội thả diều dễ thực hiện

Trước hết, đình làng Bá Giang là một công trình kiến trúc tôn giáotín ngưỡng của một làng quê cổ Nằm trên một vùng đất có bề dày lịch sửhàng ngàn năm Ngôi đình trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa tínngưỡng, nơi cộng cảm của một cộng đồng cư dân từ bao đời nay Ngôiđình ngày nay là nơi duy nhất tưởng niệm, nơi tôn thờ một nhân vật lịch

sử - Một khai quốc công thần thời nhà Đinh, một vị tướng kiệt xuất cónhiều công lao đóng góp giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân mở ramột kỷ nguyên mới cho dân tộc - Kỷ nguyên độc lập thống nhất Nguyễn

Cả còn là người có nhiều đóng góp, gắn bó với nhân dân địa phương Ông

đã trở thành vị thần thành Hoàng của làng - Vị thần bảo hộ cho cuộc sốngthanh bình ấm no hạnh phúc của nhân dân địa phương

Cũng vì những giá trị văn hóa truyền thống ấy, Đình Bá Giang làkhông gian lý tưởng cho sự tồn tại và phát triển nét đẹp của lễ hội thảdiều gắn chặt với lao động của ngôi đình

2.3.2 Giá trị về đời sống tín ngưỡng

Trong đời sống tín ngưỡng phong tục ở Bá Giang phải kể đến mộtmảng quan trọng của dân làng đó là tục thờ cúng tổ tiên ở các gia đình,

Trang 19

rồi đến các dòng họ, rộng ra là thờ thần đất, thần sông Đối với tổ tiên,người dân ở đây nhà nào cũng dành vị trí quan trọng nhất ở gian giữa củangôi nhà ba gian hoặc vị trí đẹp của ngôi nhà nhỏ để lập bàn thờ tổ tiên.trong làng còn có một số ngôi nhà đại khoa có niên đại từ đầu thế kỷtrước, (thế kỷ 20) khoảng trên dưới 100 năm như nhà ông Phạm Văn Đạt,Phạm Đức Chính, Phạm Văn Hiền… kiến trúc nhà được làm bằng gỗ quí

có bức bàn Bàn thờ tổ tiên có bài vị, hương án, hoành phi câu đối Nhữnggia đình bình thường thì lập bàn thờ phía trong, ngoài đặt tủ chè trang trí.Bát hương chính thờ tổ tiên được đặt ở trong nhà hoặc có gia đình xây câyhương riêng ở ngoài sân

Tín ngưỡng phong tục và lễ hội dân gian truyền thống ở làng BáGiang thật đa dạng nó cũng mang đậm nét đặc trưng chung của tínngưỡng dân gian người Việt, đó là sự hòa đồng giữa tín ngưỡng bản địa

và tín ngưỡng tôn giáo xâm nhập từ bên ngoài, tạo nên một nét đẹp củavăn hóa tín ngưỡng ở đây Dù là thờ tổ tiên, thờ người có công với làng,thờ thành Hoàng làng hay thờ Phật… mọi người đều có một niềm tinchung là có một mối liên hệ giữa con người và các nhân vật được thờ, vớicác thần linh luôn hiện diện ở đâu đó bên cạnh con người, số phận conngười tùy thuộc vào sự chi phối đó, bởi vậy họ thờ cũng và thực hiện cácnghi lễ một cách rất thành kính Cùng với hệ tư tưởng của các dòng họNho - Phật - Lão tạo nên một nét đẹp của văn hóa tín ngưỡng tôn giáo dângian ở đây Hội làng rước lễ, rước mã lên chầu vừa lễ Phật vừa lễ thần(Phối thờ) Người làng vừa đi lễ chùa, lễ phật vừa lễ thành Hoàng làng.Rồi lễ tổ tiên, tưởng nhớ người có công với làng, với nước Họ có mộtniềm tin tưởng, thành kính giữa mối quan hệ của con người hiện tại và cácthần linh được thờ Từ tín ngưỡng tạo thành các phong tục tốt đẹp mà tiêubiểu là sự đoàn kết cộng đồng, tục rước nước, rước bánh dày đều đặnhàng năm đến đỉnh cao là Hội thả diều dân gian truyền thống, duy trì từnhiều đời nay - Một lễ hội đặc sắc của cư dân nông nghiệp của đồng bằngBắc bộ

Trang 20

2.4 Lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang xã Hồng Hà huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Tây

2.4.1 Lịch sử và truyền thuyết của lễ hội thả diều làng Bá Giang

Để hiểu biết thấu đáo một lễ hội đặc sắc đã trở thành phong tụctruyền thống, hấp dẫn được nhiều thế hệ duy trì và phát triển như hội thảdiều làng Bá Giang, trước hết phải tìm hiểu kỹ về nguồn gốc tạo thành từ

xa xưa theo các truyền thuyết lưu truyền trong dân gian

Truyền thuyết thứ nhất: Tưởng nhớ công trạng của vị Thành Hoàng

làng được thờ ở Đình Bá Giang: Vị Thành Hoàng làng là đại tướng quânNguyễn Cả là người con sinh ra từ quê hương ấp Bá Ông sinh ra từ mộtcuộc giao hoan giữa bà mẹ và Hầu Công (con khỉ), ở một hòn đá xanhtrên gò đất đầu làng Lớn lên ông chiêu mộ quân sĩ theo Đinh thiên Hoàngthu phục 12 xứ quân, thu giang sơn về một mối Rồi ông được trọng dụnglàm quan ở triều nhà Đinh Triều nhà Đinh suy thoái, tiếp tục xây dựng ấp

Bá thịnh giầu Khi rảnh rỗi, ông bày trò chơi thả diều cùng trẻ mục đồngvui thú cảnh điền viên thôn dã Rồi một ngày kia, bỗng nhiên trời đất nổiphong ba bão táp, mưa gióa mịt mùng, ông đứng trên hòn đá phẳng nhưsàn gỗ, hòn đá từ từ nâng ông lên không trung bay về trời Dân làng Bákéo ra nhớ tiếc ông ngóng lên trời cao, nhìn hòn đá nhỏ dần như một cánhdiều lơ lửng rồi biến mất giữa tầng không Xung quanh tỏa ra muôn ánhsao vàng rực rỡ

Từ đây, nhân dân trong làng hình dung ra những cánh diều bay lơlửng giữa trời mây như hình ảnh thiêng liêng của vị phúc thần Nguyên Cả.Bởi thế hàng năm cứ đến ngày hóa của ông (15 tháng 3 âm lịch), là lànglại mở hội thả diều để tưởng nhớ đến ông Sau phần lễ trang nghiêm, thảdiều hầu thánh đã trở thành tâm thức của mọi người

Truyền thuyết thứ 2: Gắn với sự tích của ngôi Miếu Châu Trần, thờ

thần bản thổ theo nội dung bảng thần tích do Hàn Lâm Viện đại học sĩNguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), còn lưu giữ trong

Trang 21

đình bản dịch do ông Nguyễn Văng Lãng Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm

1986 Truyện kể rằng:

Làng Bá Giang xưa có tới 21 xóm nhỏ Ở ngoài đê có 11 xóm làxóm Ghềnh, xóm Chòi, xóm Cõi, xóm Sung, xóm Dần, xóm Miếu, xómChùa, xóm Nhị, xóm Bọ Hột, xóm Đồng Đò, xóm Cổng Ty Phía trong đê

có 10 xóm: xóm Bờ Hồ, xóm Sòi, xóm Bảo Quang, xóm Thạch Kiều, xóm

Bà Vãi, xóm Cổng Đông, xóm Cổng Tây, xóm Cầu Gạch, xóm Cổng Nam

và xóm Mán Già Trên vùng đất bãi sa bồi của dòng sông Nhị Hà, nhândân cần cù làm ăn, sinh sống Ngày nay người lớn ra đồng cấy lúa, trồngmàu, trẻ con lùa trâu bò sang bãi chăn thả Buổi trưa chúng quây quầndưới các gốc cây to, mang cơm nắm ra ăn, chiều tối mới dong trâu vềlàng Ngày lại ngày, khi đàn trâu ung dung gặm cỏ, thì bọn trẻ bày các tròchơi như đánh vật, kéo co hoặc bơi lội Rồi một hôm bọn trẻ mải mê ngắmnhìn những đàn chim bay lượn trên trời thật đẹp mắt Con diều hâu giangđôi cánh rộng chao liệng, có lúc đứng im giữa bầu trời… Bọn trẻ liêntưởng tới một trò chơi mới Chúng tìm tre uốn thành đôi cánh chim, ởgiữa có một thanh tre, hình tượng như một con chim Chúng lấy giấy bảndán vào khung tre ấy, lấy dây nối vào thân chim tre Chờ khi có gió làtrung nó lên trời Không ngờ những con chim giấy ấy lại bay được trênbầu trời lộng gió, cũng chao liệng như con chim thật Rồi chúng nối dàidây cho chim giấy bao cao, bay xa Từ con chim diều hâu đã thành tròchơi thả diều bằng nan tre dán giấy Trò chơi thả diều có thể bắt nguồn từ

đó chăng? Trò chơi thả diều được trẻ con nhanh chóng bắt chước làmtheo Thời gian qua đi, năm này sang năm khác, diều được cải tiến thànhnhiều kiểu đáng khác nhau Một số loại diều được đeo thêm sáo ống, sáovằng, tạo thành tiếng kêu vi vu trên bầu trời xanh lộng gió Thế là hàngloạt sáo diều lại ra đời Sáo làm bằng ống tre, hai đầu có nắp gỗ khoét lỗcho gió thổi vào, tạo thành những âm thanh kỳ thú, văng vẳng suốt ngàyđêm Tiếng kêu trầm bổng theo từng loại sáo Trò chơi thả diều càng thêm

Trang 22

hấp dẫn Không những trẻ con mà cả người lớn tuổi cũng say mê với thúchơi thả diều.

Trên vùng đất bãi Sông Bá Giang xưa, có một hôm, bọn trẻ bàn vớinhau rằng: Diều thả tản mạn khắp nơi trên bãi, muốn biết diều nào lên caonhất, hay nhất cũng khó phân biệt Rồi chúng bảo nhau kéo diều về xungquanh cái gò cao ở đầu bãi, trên gò có cây cổ thụ lớn Diều kéo về đó tiệnquan sát và có thể chấm thi được Ngày hôm sau, chúng đua nhau đi lấycây que, dựng tạm trên gò một ngôi miếu nhỏ Chúng ý thức rằng ngôimiếu này, mỗi khi thả diều lên, làm lễ trình trong miếu, cầu mong thầnlinh bản thổ phù hộ cho diều của mình được nhất Lạ thay, tâm nguyệncủa bọn trẻ như động đến thần linh bản thổ thật Từ hôm có ngôi miếuchiều nào cũng có gió nồm nam thổi nhẹ Một vùng sông nước mênhmông, hàng chục cánh diều to nhỏ, đủ màu sắc bay lượn trên bầu trời

Một vùng sông nước mênh mông, hàng chục cánh diều to nhỏ, đủmàu sắc bay lượn trên bầu trời Tiếng sao vi vu trầm bổng, cảnh thanhbình yên ả của một vùng quê thật tươi đẹp Cũng từ đấy, năm nào gió cả,diều lên thì dân làng làm ăn thịnh vượng, mưa thuận gió hòa Những khidiều không gặp gió là đời sống nhân dân vật chất, gian nan Rồi đến mộtnăm, dân làng Bá Giang đã nhất tâm xây cất ngôi miếu thờ thần linh bản

tổ to đẹp hơn Trong miếu xây gạch, mái lợp ngói mũi, mở mang sân trìnhlát gạch, đủ chỗ cho dân làng tế lễ mở hội thả diều

Kỳ lạ thay ngôi miếu vừa được hoàn thành ngày 15 tháng 3 âm lịch.Một cụ già làng đặt mâm lễ khấn vái thần linh Lời khấn vừa dứt, bỗngnhiên trời đất tối đen mịt mùng, gió mưa gầm rít, cát bụi bay mù mịt Mọingười sợ hãi van lạy thần linh Nhưng rồi chỉ trong chốc lát gió ngừngthổi, mây tan dần, bầu trời lại sáng sủa Trước mắt mọi người, một ngôimiếu thờ thần bản thổ xinh xắn, đẹp hơn Mọi người vui sướng cảm nhậnrằng: Thần linh đã ứng nghiệm về ngự giá Đó là một điểm tốt lành choquê hương Mọi người bắt tay mở hội, tế lễ cầu mong hạnh phúc, bình yênmưa gió thuận hòa, mùa màng tươi tốt Buổi chiều dân làng mở hội thả

Trang 23

diều thì xung quanh miếu thờ thần linh bản thổ, đặt tên là Miếu ChâuTrần Từ đó, hàng năm cứ đến rằm tháng 3 âm lịch là dân làng nghỉ ngơi,cúng giỗ thần linh và mở hội thi thả diều truyền thống (Theo lời kể củacác cụ Nguyễn Ngọc Hợi 80 tuổi, ông Hà Huy Tiệp, giáo viên trườngTHCS nguyễn Ngọc Vũ, đài truyền thanh xã Hồng Hà).

Hội diều ở Bá Giang diễn ra vào giữa tháng 3 Âm lịch, là thời kỳcây lúa chiêm ngày xưa đang thì con gái, đua nhau đẻ nhánh; Câu ca daocổ:

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”

Tháng ba âm lịch, cây lúa nước và hoa màu nông nghiệp rất cầnnắng ấm để quang hợp Gió nồm Nam làm cho không khí trong lành, xua

đi những ảm đạm Ca dao xưa có câu:

“Gió nam trong buổi thanh minhĐược mùa màng, thỏa tâm tình nhà nông”

Bởi vậy, ở hội diều làng Bá Giang bao giờ cũng có lẽ cầu phong(cầu gió), người được nổi trống cầu phong thường là ông chủ tế của lễ hộinăm ấy đảm nhiệm Người mà được dân làng tín nhiệm bình bầu theonhững tiêu chí riêng của làng Người được coi là “con trưởng” của Hoànglàng, được dân tin cậy, mến phục Hơn nữa, thả diều là thú chơi thanh tao,cao thượng Thể hiện tư chất của người nông dân quanh năm lao động cựcnhọc “Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, thế nhưng, tâm hồn họ lại rấttrong sáng giản dị, luôn mơ ước cao đẹp chiếm lĩnh tầm cao phúc thượng.Tính cách bản lĩnh không chịu thấp hèn Diều cao, sáo hay là những phútthăng hoa của người lao động

Nhìn lại các truyền thuyết minh chứng cho nguồn gốc của lễ hội thảdiều ở đây vừa mang yếu tố tâm linh giao cảm giữa thiên nhiên và conngười, giữa người có công với dân với nước, với quê hương Vừa mangyếu tố khoa học tự nhiên có tính quy luật âm dương của vũ trụ Vừa là mơ

Trang 24

ước cao sang của người lao động là lý do khách quan và hợp với lòng dân,nhất là nông dân thuần túy Do vậy hội diều tồn tại và phát triển bền lâu.

2.4.2 Lễ hội thả diều xưa

a Công tác chuẩn bị lễ hội

Lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang diễn ra trong 3 ngày,công việc chuẩn bị rất công phu từ mấy tháng trước Việc quan trọng làcác nghệ nhân chơi diều trong làng tự nguyện làm diều, sắm dây diều, vàlàm sáo Sao cho diều đẹp, sáo kêu vang, trước ngày thì thả thử nhiều lần

để điều chỉnh, sửa sang cho được những con diều ưng ý Ai cũng mongchiếm được giải cao hơn nam trước Quá trình chuẩn bị cho hội diều rấthào hứng, say mê vì mọi người quan niệm trong tâm thức thả diều là côngviệc có ý nghĩa thờ thánh, hầu thánh, sẽ được bản phúc lộc cho mọingười, mọi nhà Cho nên họ hoàn toàn tự nguyện với niềm đam mê chứkhông tiếc công, tiếc của, không đòi hỏi quyền lợi vật chất… Mặt khác,cũng là một thú chơi tao nhã sau những giờ lao động cực nhọc của nhànông Mong sao có những giờ phút thư thái, thăng hoa, tâm hồn bay bổng,thơ mộng Thể hiện bản chất văn hóa cao thượng của người Việt trướcnhững khắc nghiệt của tự nhiên

- Cách làm diều: Làm diều để thả chơi và dự thi là cả một quy trìnhđược đầu tư kỹ lưỡng, công phu từ nguyên vật liệu đến kỹ thuật chế tạo cótính thẩm mỹ và có giá trị hiệu quả để chiếm được giải cao Hơn nữa diềuphải cõng sáo cùng bay cao, bay chuẩn và sáo kêu hay Như vậy là cả mộthoạt động kiên kết cần mẫn, điêu luyện và cảm hứng sáng tạo của ngườilàm diều, chơi diều và thi thả sáo diều

- Nguyên vật liệu để làm diều:

Một chiếc diều có cấu tạo bởi khung diều (lưng diều và bụng diều)

và lớp áo diều cần có các vật liệu sau:

+ Tre: Cây tre đực già, mộc ở giữa bụi, là loại tre có gióng dài, dầy

và có độ dẻo cao, không có vết xước, thân tra ấy sử dụng làm khung diều

Trang 25

+ Dây gai: Xưa dây gai được chế tác từ vỏ cây gai để quấn vớikhung diều tạo thành lớp đỡ thuận lợi cho việc bồi giấy khi dá diều thêmbền chắc.

+ Giấy dán diều: Ngày xưa diều được phất bằng giấy đó (còn gọi làgiấy Nam), ngày nay diều được phất bằng loại giấy như: Giấy xi măng, nilông…

+ Chất kết dính: Xưa kia họ dùng một nếp có pha nước vôi tronghoặc nhựa cây để dán diều Sau khi diều khô người ta dùng quả cây cậyhoặc quả hồng non, cho vào cối giã nhuyễn tạo thành chất kết dính sền sệtnhư nước cháo để quét lên áo diều và phơi nắng khi khô lại tiếp tục quét

từ 2 đến 3 lần áo diều sẽ ngả sang màu nâu, bền chắc và không bị ngấmnước Ngày nay, có nhiều loại keo dán bằng chất hóa học hoặc khâu bằngchỉ bền chặt cánh diều

+ Khung diều: Thân cây tre được chẻ ra theo kích cỡ của người có ý

đồ làm diều to hoặc nhỏ Những thanh tre được vót nhẵn, bỏ ruột lấy cậttre đem phơi từ 2 đến 3 năng, tre chuyển màu vàng ngà, họ cho vào thùngvôi đang tôi hoặc đem cuộn tròn luộc trong nước vôi trong hay nướcmuối Luộc tre như vậy có tác dụng làm tre không bị mối mọt, dẻo dễ uốncong và không bị ẩm khi mà độ ẩm thời tiết cao Bộ khung diều gồm cókhung cái là hai thanh tre ngang nối hai đầu diều và một thanh dọc ở giữadiều Khung cái ngang tạo thành lưng diều và uốn theo các hình diều như:Cánh muỗm, cánh chanh, cánh tiên v.v… Ngoài ra, diều to uốn các thanhtre tạo thành khung con buộc ngang, dọc khuôn diều, tạo cho diều cân đối,tạo thành bụng diều để chứa gió Tất cả các chi tiết khung cần chuẩn bị kỹthuật cộng với kỹ thuật phất giấy theo kinh nghiệm và tài nghệ của mỗingười tạo cho cáh diều gặp gió bay lên cao, ít chao đảo và đạt hiệu quảcao

+ Dây lèo diều: Khi buộc dây lèo diều, đo bề ngang của diều, gấpđôi lấy một phần tư trục xương chính tác ra hai bên để buộc lèo con Đochiều dài của diều, gấp đôi lấy một nửa buộc làm lèo cái Có thể chơi diều

Trang 26

là một nghệ thuật tính xảo với nhiều yếu tố tạo thành, mà việc làm diều làkhâu quan trọng.

+ Phất mành diều: Khi có khung diều, việc phất mành diều là đandây gai theo kiểu mắt cáo, làm cho khung diều chắc chắn thêm, cũng là đỡcho áo diều khi phất giấy dễ dàng Khi phất giấy hoặc ni lông để làm áodiều, yêu cầu không làm quá chức năng hoặc quá chùng sẽ ảnh hưởng đến

sự cân bằng của con diều khi đem thả

+ Sơn áo diều: Ngày xưa, kinh nghiệm dân gian họ lấy quả hồngnon, hoặc quả cậy dập lấy nước quét lên áo diều 2, 3 lần cho diều có cánhmàu gián rất đẹp mắt Đó cũng là màu của đất (tượng trưng cho âm), diềubay lên bầu trời (tượng trưng cho dương) Âm dương gặp nhau hòa hợpcàng làm cho ý nghĩa của tục thả diều mang giá trị văn hóa Mặt khác khidiều được phủ lên lớp nhựa của quả cây, khi bay lên không trung có gặphơi nước, độ ẩm cao vẫn khô ráo, diều vẫn bay cao Khi chẳng may, diều

bị đứt dây rơi xuống ao, hồ cũng không bị ngấm nước Ngày nay, áo diềuđược dùng bằng nhiều loại vải, nilông đủ màu sắc, nhưng họ không dùngmàu trắng để khi lên cao, hòa với màu mây trời, khó cho việc quan sát vàchấm thi diều

+ Dây diều: Muốn được thả diều, tất phải có dây, dây diều có nhiềuloại, tùy theo diều lớn hay diều nhỏ Diều lớn thì dây phải lớn, dài và bềnchắc Ngày trước, những người chơi diều sành điệu thường dùng loại dâytre Loại tre dùng làm dây diều thường lấy vào tháng 4-5 âm lịch, chọncây tre bánh tẻ, mỏng mình, thưa đốt Những thanh tre được vót nắn nótthành sợi nguyên cật đều tăm tắp suốt từ gốc tới ngọn Vót tre xongkhoanh tròn lại rồi bỏ vào nồi luộc trong nước pha muối và hạt cây thầudầu giã nhỏ Đun sôi sùng sục như luộc bánh chưng độ 7 - 8 giờ đồng hồ.Vớt dây ra nối lại với nhau bằng kỹ thuật khéo léo đặc biệt sao cho cácmối đều nhẵn Sau đó vuốt một lớp sáp bóng rồi mới cuộn vào cái lồng.Cái lồng bằng tre đan có gờ rất nhẹ, lại bền đẹp, gặp mưa nắng cũngkhông bị ải mục Có thể chơi 5 - 7 năm Diều chơi bằng dây tre khi bay

Ngày đăng: 08/04/2013, 13:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan ánh (1991), Hội hè đình đám (Quyển thượng, quyển hạ) (tái bản), NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội hè đình đám (
Tác giả: Toan ánh
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1991
2. Hồng Châu (2002). “Ngân nga sáo diều”, Báo Giáo dục và Thời đại số 60 (Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân nga sáo diều
Tác giả: Hồng Châu
Năm: 2002
3. Nguyễn Từ Chi (2000). Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, NXB Văn hóa thông tin và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội Khác
4. Phan Đại Doãn (1992), Làng Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế - xã hội , NXB Khoa học xã hội và NXB Mũi Cà Mau- Hà Nội Khác
5. Nguyễn Đăng Duy (2001), các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội Khác
5. Phạm Văn Dũng (1992), Tâm lý con người trong lễ hội. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật 6/1992 Khác
6. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội Khác
7. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
8. Trần Quốc Vương (1996), Văn hóa học đại cương và cơ sở Văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội- Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w