1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam 2005-2009.doc

61 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ Của Việt Nam 2005-2009
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 457,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam 2005-2009

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC………1

DANH MỤC BẢNG BIỂU……….4

LỜI MỞ ĐẦU……… 5

Chương 1 Tổng quan về nguồn vốn FDI và lĩnh vực phân phối bán lẻ…….7

1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài……….7

1.1.1 Khái niệm……….7

1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài……… 8

1.1.2.1 Phân theo hình thức đầu tư……….8

1.1.2.2 Phân theo bản chất đầu tư……….9

1.1.2.3 Phân theo tính chất dòng vốn……… 9

1.1.2.4 Phân theo động cơ của nhà đầu tư……… 10

1.1.3 Lợi ích của việc thu hút đầu tư nước ngoài……… 10

1.2 Tổng quan về lĩnh vực phân phối bán lể……… 12

1.2.1 Định nghĩa……… 12

1.2.2 Những kiểu tổ chức phân phối bán lẻ chính……… 12

1.2.3 Vai trò của phân phối bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân……… 14

1.2.3.1 Cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng…………14

1.2.3.2Thu thập thông tin thị trường , phản ánh trở lại nhà sản xuất 14

1.2.3.3 Thúc đẩy sản xuất phát triển………15

1.2.3.4 Tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp…….15

Chương 2 Hệ thống phân phối bán lẻ và thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài lĩnh vực này tại Việt Nam……… 17

2.1 Tổng quan về hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam……….17

2.1.1 Chủ thể tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ………17

2.1.1.1 Các công ty phân phối trong nước (bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài nhà nước)……… 17

2.1.1.2 Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam… 18

2.1.1.3 Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ trong nước………… 19

Trang 2

2.1.2 Hàng hóa lưu thông trên thị trường………20

2.1.3 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng………20

2.1.4 Các hệ thống phân phối bán lẻ……… 21

2.1.4.1 Hệ thống chợ truyền thống………21

2.1.4.2 Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại……… 23

2.1.4.3 Hệ thống cửa hàng bán lẻ tự chọn………24

2.1.4.4 Hệ thống các hộ kinh doanh nhỏ lẻ……… 25

2.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam……… 26

2.2.1 Quy mô vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ……… 26

2.2.2 Cơ cấu vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ Việt Nam 29

2.2.2.1 Xét theo đối tác đầu tư 29

2.2.2.2 Xét theo địa bàn đầu tư……….31

2.3 Tác động của hoạt động FDI vào linh vực bán lẻ Việt Nam………….32

2.3.1 Tác động tích cực………32

2.3.1.1 Tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực phân phối bán lẻ thay đổi… 32

2.3.1.2 Việt Nam tiếp cận được những phương thức quản lý và trình dộ tổ chức kinh doanh hiện đại 33

2.3.1.3 Thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh 34

2.3.1.4 Phục vụ người tiêu dùng tốt hơn ………36

2.3.1.4.1 Về giá cả………36

2.3.1.4.2 Về số lượng………36

2.3.1.4.3 Về chất lượng 37

2.3.1.4.4 Về những dịch vụ chăm sóc khách hàng 37

2.3.1.5 Hỗ trợ nông dân và các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa ……

38 3.1.2 Tác động tiêu cực……….39

Trang 3

3.1.2.2 Biến đổi trong tình trạng thu nhập xã hội ………

40 3.1.2.3 Các doanh nghiệp FDI tạo ra sự lũng đoạn thị trường …… 41

Chương 3 Giải pháp nhằm tận dụng tốt nhất nguồn vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ Việt Nam 43

3.1 Thời cơ và thách thức trong việc thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ Việt Nam……… 43

3.1.1 Thời cơ………43

3.1.1.1 Xu hướng đầu tư của thế giới ……… 43

3.1.1.2 Xu hướng chi tiêu cá nhân của người tiêu dùng Việt Nam ….44 3.1.1.3 Thực hiện các cam kết với quốc tế ………

45 3.1.2 Thách thức……… 47

3.1.2.1 Cơ sơ hạ tầng yếu kém 47

3.1.2.2 Phong cách tiêu dùng của người dân vẫn mang nặng tính truyền thống 47

3.1.2.3 Mâu thuẫn giữa các nhà sản xuất trong nước và bán lẻ nước ngoài……… 48

3.1.2.4Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trong nước còn hạn chế 48

3.2 Gỉải pháp……… 49

3.2.1 Bài học từ nước ngoài………49

3.3.1.1 Hàn Quốc……… 49

3.3.1.2 Trung Quốc………52

3.2.2 Gỉải pháp……….54

3.2.2.1 Về phía Nhà Nước ……….54

3.2.2.2 Về phía doanh nghiệp ………

57

Trang 4

KÊT LUẬN……….60

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 : Doanh thu và tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2000-2009

Bảng 2 : Hệ thống chợ truyền thống phân bổ theo vùng

Bảng 3 : Hệ thống siêu thị phân bổ theo loại hình đầu tư

Bảng 4 : Hệ thống trung tâm thương mại phân bổ theo loại hình đầu tư

Bảng 5: Quy mô vốn FDI vào thị trường bán lẻ VN giai đoạn2006- 2010

Bảng 6 : Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụgiai đoạn 2006-2009Bảng 7 : Số của hàng của các doanh nghiệp bán lẻ

Bảng 8: FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu tính đến tháng 3/2008

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Với hơn 86 triệu dân, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập vàđời sống của người dân ngày càng được cải thiện, tiêu dùng cá nhân tăng ngaycả trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu…, các chuyên gia nhận định, thịtrường phân phối bán lẻ của Việt Nam đang phát triển nhanh nhất trong khu vựcchâu Á.Bên cạnh đó, theo đung cam kết khi gia nhập WTO, ngày 01/01/2009,Chính phủ Việt Nam đã chính thức mở cửa ngành bán lẻ cho các công ty nướcngoài Việc này khiến ngành kinh doanh bán lẻ Việt Nam đứng trước nhữngthách thức to lớn bởi sự cạnh tranh của các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giớinhư Metro Cash & Carry, Big C, Dairy Farm, Wal-Mart và Carrefour Tuy vậy,các tập đoàn phân phối này cũng sẽ gặp không ít khó khăn khi thâm nhập thịtrường Việt Nam và họ sẽ còn mất nhiều thời gian để lấy được niềm tin của đại

đa số người tiêu dùng Thế nhưng không phải vì thế mà các doanh nghiệp bán lẻtrong nước có thể yên tâm bởi điểm mạnh của các doanh nghiệp bán lẻ nướcngoài là họ có tiềm lực tài chính mạnh, trình độ quản lý chuyên nghiệp, và việcnắm bắt thị trường Việt Nam một cách nhanh chóng là không quá khó.Trong khi

đó, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam vẫn “giậm chân tại chỗ” Có thể thấytrong một tương lai không xa, việc doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam bị chi phối vàmất dần thị phần về tay các nhà bán lẻ nước ngoài là điều có thể xảy ra. Nhiềungười am hiểu đã nhận xét rằng những nhà đầu tư khôn ngoan với tiềm lực tài

Trang 6

ở những năm sau Cuộc đổ bộ của những nhà bán lẻ nước ngoài vào Việt Namtrong thời gian tới cũng sẽ có quá trình mà trước mắt những nhà bán lẻ ở thế yếu

có thể tính toán lại phương án liên kết, chuyển nhượng quyền kinh doanh, hoặcthuê các chuyên gia nước ngoài điều hành hoạt động kinh doanh Dù vớiphương án nào thì các nhà bán lẻ của Việt Nam cũng cần phải nhanh chóng khắcphục những điểm yếu của mình để “giữ giá”

Mở cửa thị trường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một việc rất cần thiếttrong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta Tuy nhiên, lĩnh vực phânphối bán lẻ được coi là huyết mạch của nền kinh tế do nó liên quan đến cả sảnxuất và tiêu dùng Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻkhông chỉ tác động về mặt kinh tế mà còn tạo ra không ít những tác động về mặt

xã hội ở Việt Nam Làm thế nào để vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài vàolĩnh vực này để tận dụng được những ảnh hưởng tích cực lại vừa hạn chế nhữngảnh hưởng tiêu cực của dòng vốn ấy chính là chìa khóa cho sự phát triển kinh tếnước ta

Trước câu hỏi đó, chúng em xin chọn đề tài “Thực trạng đầu tư trực

tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam” làm đề tài thảo

luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tiêu luận gồm ba chương là:

Chương 1: Tổng quan về nguồn vốn FDI và lĩnh vực phân phối bán lẻ củaChương 2: Hệ thống phân phối bán lẻ và thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài lĩnh vào vực này tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nhằm tận dụng tốt nhất dòng vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN FDI VÀ

LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ

1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

1.1.1 Khái niệm

 Theo Tổ Chức Thương Mại Thế giới ( WTO) thì:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreign Direct Investment) xảy ra khimột nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nướckhác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quảnlý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trườnghợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sởkinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là

"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"

 Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế () lại có một định nghĩa khác về FDI:Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (foreign direct investment) là một côngcuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp ( directinvestor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sỡ hữu lâu dài một doanh nghiệpđầu tư trực tiếp ( direct investment enterprise) trong một quốc gia khác Quyền

sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI

Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng chung quy lại có thể hiểu: Đầu

tư trực tiếp nước ngoài(FDI)xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư)

Trang 8

hay nước nhận đầu tư).Trong khái niệm này,thật sự không có sự đầu tư gia tăng

về kinh tế hay một sự chuyển giao ròng giữa các quốc gia mà đơn thuần chỉ làmột sự di chuyển tư bản từ quốc gia này sang quốc gia khác.Các công ty nắmquyền kiểm soát hoạt động ở nhiều quốc gia được xem như các công ty đa quốcgia, các công ty xuyên quốc gia hay các công ty toàn cầu.Sự phát triền hoạt độngcủa các công ty này chính là động lực thúc đầy sự phát triển trong thương mạiquốc tế thông qua hình thức đầu tư trực tiếp vào các quốc gia khác trên thế giới

1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:

1.1.2.1 Phân theo hình thức đầu tư:

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết

giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầutư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhàtrên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà khôngthành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mớinào.Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài này có đặc điểm

 Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã kýkết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ

 Không thành lập một pháp nhân mới,tức là không cho ra đời một công tymới

 Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận, phùhợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thànhmục tiêu của hợp đồng

 Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thuyết phải được đề cập trong vănbản hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: Xí nghiệp hay công ty liên

doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầy tư vàmột bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia một xí nghiệp liên doanh có thểgồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh đặc điểm của hình thức liên doanh

Trang 9

 Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhânmới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.

 Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp liêndoanh được quy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước

 Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh,đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ra theo tỉ lệ góp vốn

Hình thức công ty hay xí nghiệp 100%vốn từ nước ngoài: Đây là hình

thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cánhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toànchịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Đặc điểm của các công ty này là:

 Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là mộtpháp nhân mới ở nước nhận đầu tư

 Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầu tư

Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế,

thực hiện những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T) Những

dự án B.O.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiệnthuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế

1.1.2.2 Phân theo bản chất đầu tư:

Đầu tư phương tiện hoạt động: là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu

tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư.Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào

Mua lại và sáp nhập: là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanhnghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệpnày (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại mộtdoanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư Hình thức này không nhất thiếtdẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào

1.1.2.3 Phân theo tính chất dòng vốn

Trang 10

Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do mộtcông ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào cácquyết định quản lý của công ty.

Vốn tái đầu tư:Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu đượctừ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm

Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công tycon trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua

cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau

1.1.2.4 Phân theo động cơ của nhà đầu tư

Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tàinguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động cóthể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồidào Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thươnghiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng) Nó cũng còn nhằm khaithác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức vốn này cònnhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủcạnh tranh

Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầuvào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ,giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vậntải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v

Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thịtrường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất Ngoài ra, hìnhthức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếpnhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâmnhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu

1.1.3 Lợi ích của việc thu hút đầu tư nước ngoài

Trang 11

Bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh

tế, nhân tố vốn luôn được đề cập Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanhhơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này

sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI, từ đó tạo kiều kiện thuậnlợi để đạt được nhưng mục tiêu đã đề ra của nền kinh tế

Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốncho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sáchthắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể cóđược bằng chính sách đó Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp mộtnước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công

ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn.Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thuhút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước

Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đaquốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cảcác xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ thamgia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ

có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuấtkhẩu

Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mụcđích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xínghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Thunhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cựcvào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạocác kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở cácnước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp Điều này tạo ramột đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI Không chỉ có lao độngthông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc

và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 12

Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đốivới nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp lànguồn thu ngân sách quan trọng Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từcông ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnhnăm 2006.

1.2 Tổng quan về lĩnh vực phân phối bán lể

1.2.1 Định nghĩa

Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120(W/120) của vòng đám phán Uruguay của tổ chức thương mại thế giới (WTO)

và danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (CPC) định nghĩa:

Dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán các hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan.

Ngoài ra còn có khá nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ

Trong cuốn sách “Quản trị Marketing” Philip Kotler đã định nghĩa bán lẻnhư sau:Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóahay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích

cá nhân, không kinh doanh Mọi tổ chức làm công việc bán hàng này, cho dù làngười sản xuất, người bán sỉ hay người bán lẻ, đều là làm công việc bán lẻ, bất

kể là hàng hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (trực tiếp, qua bưu điện,qua điện thoại hay máy tự động bán hàng) hay chúng được bán ở đâu ( tại cửahàng, ngoài phố hoặc tại nhà người tiêu dùng)

Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ baogồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địađiểm cố định,hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan.Theo cách hiểu nào đi chăng nữa thì nói chung bán lẻ là hoạt động kinh doanhbằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất (nhà nhập khẩu), hoặc nhà bánsỉ rồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hay

Trang 13

1.2.2 Những kiểu tổ chức phân phối bán lẻ chính

Mạng lưới công ty: Các cửa hàng của mạng lưới là hai hay nhiều cửahàng cùng thuộc một quyền sở hữu và kiểm soát, có chung một bộ phận thu mua

và tiêu thụ tập trung, và bán những chủng loại hàng hóa tương tự nhau Mạnglưới công ty xuất hiện trong tất cả các loại hình bán lẻ, nhưng phát triển mạnhnhất là ở cửa hàng bách hóa tổng hợp, các cửa hàng tạp hóa, các cửa hàng thựcphẩm, cửa hàng dược phẩm, cửa hàng giày dép và cửa hàng trang phục phụ nữ.Mạng lưới tự nguyện và hợp tác xã bán lẻ: Mạng lưới tự nguyện gồm một nhómnhững người bán lẻ độc lập được người bán sỉ bảo trợ thu xếp để mua số lượnglớn hàng hóa và cùng bán Hợp tác xã bán lẻ, gồm những người bán lẻ độc lậpđứng ra thành lập một tổ chức mua hàng tập trung và cùng hợp lực để thực hiệnnhững biện pháp khuyến mại

Hợp tác xã tiêu thụ: Hợp tác xã tiêu thụ là mọi công ty bán lẻ thuộc quyền

sở hữu của chính những khách hàng của nó Hợp tác xã tiêu thụ do dân cư củamột cộng đồng lập ra khi họ cảm thấy rằng những người bán lẻ ở địa phươngphục vụ không chu đáo, vì đòi giá cao hay bán những sản phẩm kém chất lượng.Họ chung tiền để mở một cửa hàng của chính mình rồi họ biểu quyết về nhữngchính sách của cửa hàng đó và bầu ra một nhóm người để quản lý nó Cửa hàng

có thể hoặc là định giá thấp, hoặc là bán theo giá bình thường và các xã viên cóquyền được chia lợi tức theo số lượng hàng mà họ đã mua

Tổ chức đặc quyền: Tổ chức đặc quyền là một sự liên kết theo hợp đồnggiữa người cấp đặc quyền (nhà sản xuất, người bán sỉ hay tổ chức dịch vụ) vàngười hưởng đặc quyền (những người kinh doanh độc lập mua quyền sở hữuhay khai thác một hay nhiều đơn vị trong hệ thống đặc quyền) Các tổ chức đặcquyền thường được xây dựng trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ đặc sắc nào đóhay phương pháp kinh doanh hay trên cơ sở tên thượng mại bằng sáng chế hay

uy tín mà người đặc quyền đã tạo ra Việc cấp đặc quyền được áp dụng phổ biếnđối với thức ăn nhanh, cửa hàng video, trung tâm phục hồi sức khỏe, hiệu hớt

Trang 14

tóc, cửa hiệu cho thuê ô tô, motel, công ty du lịch, bất động sản và hàng chụccác sản phẩm cùng lĩnh vực dịch vụ khác.

Tập đoàn bán lẻ: Các tập đoàn bán lẻ là những công ty dạng tự do, kếthợp với một số hướng và hình thức bán lẻ khác nhau dưới quyền sở hữu tậptrung với sự nhất thể hóa tới một mức độ nào đó chức năng phân phối và quản lýcủa mình

1.2.3 Vai trò của phân phối bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân

1.2.3.1 Cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Khi phát sinh nhu cầu thì người ta mới có mong muốn về hàng hóa nhưngkhông phải lúc nào người tiêu dùng có thể đến mua hàng hóa trực tiếp từ cácnhà sản xuất, nhà bán buôn được Nhà bán lẻ mới thực sự có vai trò nhu cầu vàmong muốn đó của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa cho họ đúng thời gian,đúng địa điểm và ở mức giá họ có thể trả Đây không phải công việc dễ dàng,đặc biệt trong điều kiện hàng hóa và dịch vụ sản xuất ngày càng đa dạng và nhucầu của khách hàng luôn biến đổi Nhà bán lẻ phải luôn luôn thu thập nhữngthông tin cần thiết về nhu cầu về thị hiếu của khách hàng… để rồi từ đó làm thỏamãn khách hàng bằng những sản phẩm và dịch vụ của mình Như thế bản thânhoạt động phân phối bán lẻ hàng hóa cũng tạo thêm lợi ích cho người tiêu dùngthông qua việc tạo ra sự đa dạng về hàng hóa cung ứng, tạo thuận tiện về địađiểm mua, bán, thuận tiện về các dịch vụ bảo hành và cung cấp thông tin Khi cónhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực phân phối hàng hóa thì chi phí trongkhâu phân phối được chuyển vào giá bán cho người tiêu dùng, do vậy cạnh tranhtrong dịch vụ phân phối hàng hóa sẽ góp phần làm giảm chi phí phân phối vàviệc giảm giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng

1.2.3.2 Thu thập thông tin thị trường, phản ánh trở lại nhà sản xuất

Quá trình chuyển dịch hàng hóa tới tay người tiêu dùng thông qua dịch vụphân phối bán lẻ luôn gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản

Trang 15

về nhu cầu thị trường cho những người sản xuất và người cung ứng hàng hóa đểđiều chỉnh theo những điều kiện của thị trường, vì thế tạo lập những cầu nối đểdẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phươngthức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà tăngcường thương mại hóa và phát triển thị trường cho những sản phẩm có lợi thế,cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh chonền kinh tế đất nước

1.2.3.3 Thúc đẩy sản xuất phát triển

Khi hàng hóa được sản xuất ra thì việc tiếp theo là chúng cần được tiêuthụ Và ngược lại thì khi hàng hóa được tiêu thụ các doanh nghiệp mới có thểtiếp tục sản xuất Các nhà bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc kích thíchtiêu thụ và truyền bá những thông tin về hàng hóa về nhà sản xuất cũng là do họtiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng và hiểu được nhu cầu của ngườitiêu dùng Các nhà bán lẻ sẽ có thể tiếp tục những biện pháp kích thích tiêu thụcủa nhà sản xuất, hoặc có thể có phương pháp kích thích tiêu thụ của riêngmình Các nhà bán lẻ có thể nhận hàng hóa đã hoàn thiện từ nhà sản xuất hoặcnhà bán buôn, nhưng với nhiều mặt hàng nhà bán lẻ cũng đảm nhiệm vai tròphân loại, sắp xếp, sơ chế, đóng gói…để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùngtrong điều kiện tốt nhất và dưới hình thức phù hợp nhất từ đó sẽ thúc đẩy quátrình tiêu thụ sản phẩm Hơn nữa, nhà bán lẻ còn có chức năng thiết lập mối liên

hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với người mua tiềm ẩn Các doanh nghiệp cóthể lôi kéo thêm được khách hàng cũng một phần không nhỏ là dựa vào nhà bán

lẻ Sản xuất là cái gốc của phân phối bán lẻ và bán lẻ tự nó có thể kích thích sảnxuất mở rộng và phát triển Một doanh nghiệp thành công không chỉ làm tốtnhiệm vụ sản xuất mà còn phải nắm vững được khâu phân phối bán lẻ hàng hóacủa mình và ai nắm được khâu phân phối bán lẻ thì qua đó sẽ điều phối cả sảnxuất

1.2.3.4 Tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp

Trang 16

Khi quyết định liên kết với các nhà bán buôn, bán lẻ, các nhà sản xuất đã

có chiến lược kinh doanh của mình với các quyết định về sản phẩm như về giábán, xúc tiến, quảng bá sản phẩm, họ đã chủ động xây dựng mối liên kết với cácnhà bán buôn, bán lẻ trong hệ thống phân phối tạo nên sự phân công chuyênmôn hóa và hợp tác hóa trong dây chuyền tạo giá trị gia tăng, điều đó đã giúpcác nhà sản xuất và các nhà bán buôn, bán lẻ tập trung được mọi nỗ lực vàonhững hoạt động mà mình có lợi thế, vì vậy đảm bảo được năng suất cao hơnvới chi phí thấp hơn và nhờ vậy mà nâng cao hơn sức cạnh tranh của doanhnghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Nhờ tham gia vào các liên kết như vậy, mỗi doanh nghiệp đều đượchưởng những lợi ích kinh tế nhờ hoạt động phối hợp, khi mà mối liên kết giữanhà sản xuất và nhà bán buôn, bán lẻ ổn định nhà sản xuất sẽ tiếp cận tốt hơn và

rẻ hơn thông tin về thị trường, bảo đảm nguồn cung ứng hoặc nhu cầu ổn định,nâng cao quyền thương lượng đáng kể, tạo hình ảnh, tăng cường khả năng khácbiệt hóa sản phẩm và dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh nhờ vậy có đượclợi thế cạnh tranh hơn so với những doanh nghiệp khác

Các nhà bán buôn, bán lẻ khi liên kết có hiệu quả với nhà sản xuất đã tạolập được lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho lợi ích của mình trước các đối thủ cạnhtranh nước ngoài khi nước ta thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, vìhọ phải mất thời gian và tiền của để tạo lập được mối liên kết này Mặt kháccùng với các cam kết tự do hóa thương mại và đầu tư để hội nhập kinh tế quốc

tế, nhà nước sẽ dỡ bỏ dần các rào cản thuế và phi thuế bảo hộ cho các ngành sảnxuất trong nước, khi đó liên kết hiệu quả giữa các nhà bán buôn, bán lẻ và nhàsản xuất sẽ là các rào cản hiệu lực nhất của doanh nghiệp Việt Nam để bảo vệmình trước đối thủ cạnh tranh từ bên ngoài

Trang 17

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG PHÂN PHỐI BÁN LẺ VÀ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGÒAI VÀO LĨNH VỰC NÀY

TẠI VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam

2.1.1 Chủ thể tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ

Nếu như trước đây nền thương mại chủ yếu là do nhà nước độc quyền thìgiờ đây đã chuyển sang một nền thương mại đa thành phần Sự phát triển nhanhcủa khu vực kinh tế tư nhân, sự xuất hiện các nhà đầu tư có vốn nước ngoài vàquá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã làm cho ngành thương mạibiến đổi sâu sắc Để phân tích chi tiết hơn nữa các chủ thể tham gia lĩnh vực này

ta xét tới ba chủ thể chính sau:

2.1.1.1 Các công ty phân phối trong nước (bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài nhà nước)

Đây là những nhà phân phối có trình độ khá chuyên nghiệp và mạng lưới

hệ thống phân phối rộng trải đều trên nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trungương trong cả nước Họ có hệ thống phân phối theo chuỗi khá hiện đại: Liênhiệp HTX Thương mại và Dịch vụ thành phố Hồ Chí Minh với chuỗi hơn 50

Trang 18

siêu thị và hàng chục cửa hàng tiện lợi mang tên Saigon Co.op, Công ty XNKINTIMEX với chuỗi 15 siêu thị mang tên INTIMEX, Công ty TNHH Thươngmại - Dịch vụ An Phong với chuỗi 6 siêu thị MAXIMARK, Công ty TNHHThương mại và Dịch vụ Đông Hưng với chuỗi 10 siêu thị và cửa hàng chuyêndoanh mang tên CITIMART, Tổng công ty Dệt may Việt Nam với chuỗi 17 siêuthị và 19 cửa hàng chuyên doanh thời trang mang tên VINATEX…Quá trìnhthành lập, kéo dài các chuỗi vẫn đang trên đà tiếp tục phát triển trong nhữngnăm tới Không dừng lại ở đó, các doanh nghiệp còn cùng nhau tạo ra nhữngliên minh mạnh hơn, có quy mô kinh doanh lớn hơn trên cơ sở tích hợp thếmạnh của nhau (vốn, đất đai, kinh nghiệm quản lý, thương hiệu…) Công ty Xâydựng VINACONEX và Công ty Thương mại Tràng Tiền hợp tác xây dựng vàvận hành TTTM Tràng Tiền PLAZA, Liên hiệp HTX Thương mại và Dịch vụthành phố Hồ Chí Minh liên doanh, hợp tác với một số doanh nghiệp thươngmại ở địa phương để xây dựng các siêu thị… Với sự tự đổi mới, các doanhnghiệp cũng đã đạt được những thành công đáng kể như chuỗi siêu thị SaigonCo.op đã được bầu chọn nhà nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam và nằm trong top

500 nhà bán lẻ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương

Như vậy, có thể nói đây là khu vực có những chuyển biến tích cực nhấttrong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó, các doanh nghiệp nhà nướcnhìn chung có tiềm lực về tài chính và lợi thế về các cơ sở sản xuất hơn nênđóng vai trò vừa là nhà phân phối vừa là nhà sản xuất và thu mua hàng hóa đểkinh doanh trong hệ thống phân phối của mình Trong khi đó, các doanh nghiệpngoài khu vực nhà nước chủ yếu tập trung vào hoạt động phân phối để tạo nênnhững hệ thống chuyên doanh phân phối mà thường không tham gia vào hoạtđộng sản xuất như nhiều doanh nghiệp nhà nước Đây cũng là một trong nhữngđặc điểm khá đặc thù của Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển hệthống phân phối nói riêng và hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa nóichung Tuy nhiên, nhìn chung các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phốitrong nước còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức

Trang 19

quản lý kinh doanh, trình độ đội ngũ cán bộ so với các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài cùng hoạt động trong lĩnh vực này

2.1.1.2 Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Trong những năm qua, các tập đoàn phân phối nước ngoài đã bắt đầu tiếpcận, xâm nhập vào thị trường Việt Nam và đã nhanh chóng có những đóng gópkhông nhỏ tạo nên một thị trường kinh doanh hàng hóa và dịch vụ nội địa củaViệt Nam đa dạng, phong phú và có tính cạnh tranh cao hơn Tính đến nay, đã

có 6 tập đoàn bán lẻ, phân phối quốc tế có mặt ở Việt Nam, trong đó có nhiềutập đoàn lớn như Metro Cash & Carry, Parkson, Big C đã kinh doanh kháthành công và đang đẩy nhanh quá trình củng cố, mở rộng hệ thống phân phốicủa mình tại Việt Nam

Nhìn chung, các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực phânphối hàng hóa ở Việt Nam có những lợi thế nổi trội so với các doanh nghiệptrong nước về năng lực tài chính, công nghệ, áp dụng các phương thức kinhdoanh mới và đặc biệt là kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản trị kinh doanh.Hầu hết đây đều là những tập đoàn lớn của thế giới, có bề dày kinh nghiệm hoạtđộng trong lĩnh vực này và đã thiết lập được một mạng lưới kinh doanh có tínhchất toàn cầu Vì vậy, sự có mặt của các tập đoàn này một mặt tạo nên áp lựclớn về cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước nhưng cũng là cơ hội tốt

để hình thành một thị trường nội địa hoạt động lành mạnh, phát triển đa dạng vàtiếp cận được trình độ hiện đại của thế giới

Do có những lợi thế về năng lực tài chính, trình độ tổ chức kinh doanh như đã nêu trên nên các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

có cách tổ chức hoạt động kinh doanh rất chuyên nghiệp và thường tập trungvào khâu phân phối dựa trên việc ký hợp đồng thu mua sản phẩm từ nhiềunguồn khác nhau (từ các nhà sản xuất trong nước và nhập khẩu từ các nhà sảnxuất nước ngoài) mà không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm để phân phối như một

số doanh nghiệp trong nước

Trang 20

2.1.1.3 Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ trong nước.

Đây vẫn đang là một trong những thành phần quan trọng tham gia vào thịtrường bán lẻ của Việt Nam và tạo ra việc làm cho hàng triệu lao động phổthông trong cả nước Tuy nhiên, đặc điểm chung của khu vực đối tượng này làhoạt động kinh doanh mang nặng tính tự phát, thiếu kiến thức và kỹ năng đểchống đỡ những rủi ro, biến động có thể xảy ra trên thị trường và hầu hết đây lànhững lao động phổ thông, gần như không qua bất kỳ trường lớp, khóa đào tạonào về kỹ năng kinh doanh Hơn nữa, thông thường ở Việt Nam những hộ kinhdoanh cá thể kiểu này lại thường là đối tượng tạo ra thu nhập chính cho gia đình.Chính vì vậy, những tác động dù nhỏ tới khu vực này cũng có thể dẫn tới ảnhhưởng lớn tới cuộc sống của nhiều người khác là thành viên trong gia đình họ

2.1.2 Hàng hóa lưu thông trên thị trường

Các loại hàng hóa tham gia lưu thông trên thị trường bán lẻ trong nướccũng ngày càng đa dạng, phong phú cả về chủng loại và cấp độ sản phẩm Bêncạnh những hàng hóa được sản xuất trong nước, cùng với quá trình mở cửa thịtrường trong những năm gần đây, rất dễ để nhận ra rằng ngày càng có nhiều loạihàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài về phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêudùng trong nước, đã và đang tạo nên một thị trường nội địa hoạt động sôi động,

đa dạng và nhiều màu sắc Trong các trung tâm thương mại lớn như Diamondplaza, Parkson, Zen Plaza, các thương hiệu thời trang nổi tiếng trong và ngoàinước đã tập trung về đây Trong đó có những thương hiệu lần đầu tiên có mặt tạiViệt Nam như CK (Anh), Mo&Co (Pháp) đã tạo nên các hiệu ứng không nhỏđối với người tiêu dùng

2.1.3 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng

Bảng 1 : Doanh thu và tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2000-2009

Trang 21

Doanh thu (TỷUSD)

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm(%)

Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách mở cửa thị trường, kinh tế đãtừng bước phát triển một cách vững chắc Sản xuất phát triển, thu nhập củangười dân ngày một tăng, nhu cầu cũng ngày một đa dạng Hàng hóa trên thịtrường luôn được thay đổi phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Lĩnh vực phânphối bán lẻ của Việt Nam cũng trên đà tăng trưởng Trong vòng 10 năm từ 1996tới 2006, doanh thu từ kinh doanh bán lẻ đã tăng gần gấp 3 lần đạt 36.29 tỉ USDvào năm 2006 Tốc độ tăng trưởng trong những năm qua khá cao, từ năm 2002tới nay tốc độ tăng trưởng luôn đạt trên 10%/năm

Với dân số trên 86 triệu người, trong đó có 65% là dân số trẻ, thunhậpngày càng cao, tốc độ tiêu dùng tăng mạnh mẽ, và là cửa ngõ dẫn tới các thịtrường như Ấn Độ, Trung Quốc, Campuchia và Lào…, nước ta trở thành mộttrong những nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất của thế giới Không nhữngthế, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam cũng ở mức cao kỷ lục là 118điểm và đứng thứ 5 thế giới trong khi mức trung bình của thế giới chỉ là 97điểm, Việt Nam được tập đoàn tư vấn AT Kearney xếp hạng về độ hấp dẫn củathị trường bán lẻ là vị trí thứ 1 năm 2008 và vị trí thứ 6 năm 2009 Tiềm năngđầy hứa hẹn đó kết hợp với việc mở cửa thị trường phân phối sẽ thúc đẩy hơnnữa sự phát triển của lĩnh vực phân phối bán lẻ Và chúng ta có quyền hy vọng

Trang 22

trong một tương lai không xa, Việt Nam sẽ có dịch vụ phân phối bán lẻ chuyênnghiệp, năng động và hiện đại.

2.1.4 Các hệ thống phân phối bán lẻ

Khi nhu cầu của người tiêu dùng tăng lên, thị trường hàng hóa trở nên sôiđộng, các hệ thống bán lẻ cũng tự nó có những chuyển biến một cách rất tíchcực để đáp ứng nhu cầu đó Từ hệ thống bán lẻ truyền thống đến hệ thống hiệnđại đều tăng đáng kể về cả số lượng và chất lượng

ĐB Sông CL

Trong đó, Miên Bắc là 37,1%(vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 19,1%,vùng Đông Bắc Bộ chiếm 14,9%; Tây Bắc Bộ: 3,1%),miền Trung và Tâynguyên là 31.1% (Bắc Trung Bộ: 15,4%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 10,8%; TâyNguyên: 4,9%); miền Nam là 31.8% ( Đông Nam bộ: 11,3%; Đồng bằng sôngCửu Long: 20,5%)

Trang 23

Chợ bán lẻ phục vụ dân sinh ở các xã, phường, thị trấn, thị tứ chiếm tỉtrọng lớn tới 91,5% Chợ tổng hợp bán buôn, bán lẻ hạng I: chiếm 2,3% Chợđầu mối bán buôn nông sản; chiếm 0,6% tập trung nhiều ở Đồng bằng sông CửuLong, Đồng bằng sông Hồng và Đông bắc bộ Chợ biên giới, cửa khẩu, chợtrong khu kinh tế cửa khẩu: chiếm 1,9%, nhiều nhất là vùng Đông bắc bộ.Bìnhquân chung của cả nước là 0,71 chợ/xã, phường, thị trấn Khu vực phía Bắc (từBắc trung bộ trở ra) và vùng Tây Nguyên có mật độ chợ thấp so với mức chungcủa cả nước và so với khu vực phía nam.Trên địa bàn cả nước, bình quân cứ42,13km2 có một chợ hay bán kính phục vụ trung bình của một chợ là 3,66km.

Có sự chênh lệch khá lớn về chỉ tiêu này giữa các vùng, các tỉnh Vùng Đồngbằng sông Hồng có diện tích phục vụ trung bình một chợ nhỏ nhất, lớn nhất làvùng Đông bắc

2.1.4.2 Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại

Cùng với sự phát triển của hệ thống chợ, trong thời gian qua hệ thống siêuthị đã bắt đầu được hình thành và phát triển với một tốc độ khá nhanh ở nước ta.Nếu như trước năm 2000, số lượng các siêu thị, trung tâm thương mại chỉ xuấthiện "lác đác" ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thì nay

đó trở nên phổ biến ở hai thành phố này và được đầu tư khá nhiều ở các tỉnh,thành phố khác trong cả nước

Theo số liệu thống kê đến năm 2009, cả nước có 445siêu thị, 78 trung tâmthương mại phân bố trên 63 tỉnh, thành phố trên cả nước Tuy nhiên, các siêuthị, đặc biệt là siêu thị có quy mô lớn, vẫn chủ yếu tập trung ở Hà Nội và Thànhphố Hồ Chí Minh (trên 70%), Hải Phòng và Đà Nẵng chiếm số lượng siêu thịtương ứng là 4% và 2% Các thành phố Thanh Hóa, Cần Thơ, Kiên Giang cũng

có siêu thị chiếm 2% tổng số siêu thị trên cả nước

Về tính chất của hoạt động kinh doanh, có thể chia các siêu thị ở ViệtNam hiện nay làm hai loại chủ yếu là: siêu thị kinh doanh tổng hợp như SaigonCoopmart, Intimex, Metro, Big C với số lượng mặt hàng có thể từ vài nghìnmặt hàng tới vài chục hoặc hàng trăm nghìn mặt hàng; và các siêu thị chuyên

Trang 24

doanh như siêu thị dệt may (của Tập đoàn Dệt may Việt Nam - Vinatex), siêuthị điện máy, siêu thị điện lạnh, siêu thị thời trang

Nhà nước Tập thể

DN FDI

Loại hình khác

Bảng 3 : Hệ thống siêu thị phân bổ theo loại hình đầu tư

Nhà nướcTập thể

DN FDILoại hình khác

Bảng 4 : Hệ thống trung tâm thương mại phân bổ theo loại hình đầu tư

Về nguồn vốn và chủ thể đầu tư các siêu thị ở Việt Nam thời gian quacũng rất đa dạng Nếu như trước năm 2000 chỉ có một vài siêu thị của các nhàđầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp lớn của nhà nước tham gia đầu tưkinh doanh siêu thị và các trung tâm mua sắm như Marko, SheiYu, SaigonCoopmart, FiviMart, Intimex thì đến nay có thể thấy sự hiện diện của hầu hếtcác thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực này như các siêu thị Tràng

Trang 25

2.1.4.3 Hệ thống cửa hàng bán lẻ tự chọn

Các loại hình cửa hàng bán lẻ, bán buôn tự chọn cũng tăng về số lượng vàquy mô và phương thức hoạt động theo hướng chuyên nghiệp hơn Mô hình

"chuỗi" cửa hàng đó xuất hiện như các cửa hàng bán lẻ hàng may mặc của May

10, Việt Tiến, cửa hàng Bitis, Bitas bán giày dép với sự hiện diện ở hầu hếtcác địa phương trên cả nước Ở các đô thị, xu hướng liên kết, sát nhập, mở rộngcác cửa hàng nhỏ, lẻ diễn ra khá mạnh Xu hướng này sẽ tạo ra một sự thay đổi

cơ bản trong quá trình hình thành, tích tụ vốn kinh doanh của các nhà phân phốinày từ chỗ huy động đơn lẻ (từng cá thể) sang hình thức góp vốn, vay vốn kinhdoanh hay huy động vốn từ thị trường vốn

Đáng chú ý là các cửa hàng bán lẻ tự chọn và các cửa hàng phân phối, bán

lẻ theo phương thức nhượng quyền thương mại trên thực tế đã xuất hiện hơn 10năm nay ở Việt Nam và ngày càng được giới thương nhân trong và ngoài nướcđặc biệt quan tâm Hiện nay, cả nước đã có khoảng 70 hợp đồng nhượng quyềnthương mại, trong đó Công ty Cà phê Trung Nguyên rất thành công với hơn1.000 cửa hàng nhượng quyền trong và ngoài nước; Công ty An Nam mới triểnkhai hoạt động vài năm trở lại đây cũng đã phát triển được 12 cửa hàng theohình thức nhượng quyền, Công ty Kinh Đô có hàng chục cửa hàng được nhượngquyền kinh doanh bánh Kinh Đô khắp cả nước…

Hiện nay nhiều công ty trong và ngoài nước đang có kế hoạch phát triểnmạnh phương thức này trong thời gian tới Trong đó đáng chú ý nhất là kế hoạchphát triển hệ thống phân phối của Công ty trách nhiệm hữu hạn G7 (G7 Mart).Theo đó, trong năm 2006 sẽ đưa 3.500 cửa hàng tiện lợi vào hoạt động và phấnđấu đến năm 2010 sẽ có tổng cộng 10.000 cửa hàng tiện lợi ra đời theo phươngthức nhượng quyền

2.1.4.4 Hệ thống các hộ kinh doanh nhỏ lẻ

Hiện tại ở Việt Nam ước tính có khoảng 900 nghìn cửa hàng bán lẻ, kinhdoanh theo kiểu hộ cá thể Hàng hóa kinh doanh của những cửa hàng này thôngthường là những mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân cư.Tuy nhiên, do khả năng về tài chính cũng như mặt bằng kinh doanh hạn chế nên

Trang 26

hầu như các cửa hàng này chỉ cung cấp được một số ít hàng hóa có giá trị khôngcao Mặc dù vậy, đây vẫn đang là một trong những kênh phân phối hàng hóaquan trọng tham gia vào thị trường bán lẻ của Việt Nam trong thời gian qua.

Như vậy, trong thời gian gần đây ở Việt Nam, lĩnh vực phân phối bán lẻ

đã có những bước chuyển biến khá mạnh mẽ đã góp phần làm thay đổi cấu trúc

và diện mạo thị trường trong nước theo hướng văn minh, hiện đại, phù hợp với

xu hướng phát triển của khu vực và thế giới Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng vẫnchưa cân xứng với tiềm năng của thị trường, hệ thống phân phối bán lẻ trongnước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân Loại hình bán lẻ chủ yếuvẫn là các cửa hàng qui mô nhỏ, hoạt động độc lập Mô hình siêu thị, trung tâmthương mại mới hình thành song tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn là HàNội và Hồ Chí Minh với số lượng doanh nghiệp tham gia còn ít, khoảng trêndưới 10 đơn vị, như: Sài Gòn Coop, Intimex, Citimart, Maximark, Fivimart…Đại bộ phận các siêu thị vẫn là qui mô nhỏ Nếu như tỉ trọng doanh số bán lẻqua hệ thống siêu thị ở Trung Quốc là 30 - 40 %, Thái Lan trên 40%, Singapore

60 - 70 % và Mỹ trên 90%,…thì ở Việt Nam hàng hoá đến người tiêu dùng chủyếu vẫn qua hệ thống chợ (khoảng 40%) và qua hệ thống các cửa hàng bán lẻtruyền thống (khoảng 44%), qua hệ thống phân phối hiện đại (TTTM, siêu thị,cửa hàng tiện lợi, ) mới chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại 6% là do nhà sản xuấttrực tiếp bán thẳng Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập sâu rộng vào nềnkinh tế thế giới, lĩnh vực phân phối bán lẻ cần được quan tâm phát triển hơn nữa

để thích ứng trong điều kiện mớ cửa nền kinh tế

2.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

2.2.1 Quy mô vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ

Dựa trên cơ sở xem xét hoàn cảnh trong nước, nhu cầu sản xuất và tiêudùng của người dân, nước ta đã xem xét và cấp phép cho 28 dự án (tính đếntháng 3/2008) với tổng vốn đầu tư là 505.545.206 USD, bình quân 18.055.186

Trang 27

USD/ dự án Dự án đầu tiên được cấp phép là vào ngày 31/8/1996 của Nhật Bảnđầu tư vào phân phối hàng hóa nông sản tại huyện Lâm Đồng

Bảng 5: Quy mô vốn FDI vào thị trường bán lẻ VN

Quy mô vốn ( TrUSD)

Năm 2006 là năm nhiều dự án nhất đã được phê duyệt với tổng vốn đầu tưlên tới 106.450.000 USD, bình quân là 15.207.143 USD/dự án Năm 2006 cũng

là năm có nhiều tập đoàn bán lẻ nổi tiếng trong khu vực và trên thế giới đầu tưvào Việt Nam như Lotte của Hàn Quốc, Mitsui của Nhật Bản Tuy nhiên, năm

có tổng vốn FDI lớn nhất vào lĩnh vực này lại là năm 2001 với 121.200.000USD đó là do năm 2001 tập đoàn Metro Cash & Carry của Đức đã được phêduyệt dự án với 8 trung tâm bán buôn các loại hàng hóa Tổng vốn đầu tư vào 8trung tâm này lên tới 120 triệu USD Tuy là trung tâm bán buôn nhưng tại ViệtNam hoạt động của nó có phần thiên về xu hướng bán lẻ

Như vậy, cho đến nay,đã có 28 dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực phân phốibán lẻ của Việt Nam, ngoài một vài dự án lớn mới đầu tư trong một vài năm gầnđây, nhìn chung quy mô của các dự án còn khá nhỏ Vì thế, so với tổng lượngvốn đầu tư vào lĩnh vực này thì vốn FDI còn rất khiêm tốn

Trang 28

Nếu như năm 2002, khu vực có vốn FDI có tổng mức bán lẻ hàng hóa vàdoanh thu dịch vụ tiêu dùng là 10.9 nghìn tỉ VNĐ trong tổng số 280.9 nghìn tỉvốn đầu tư của cả ba khu vực, chiếm 3.9% tổng mức của cả nước thì cho đếnnăm 2005 thì lượng FDI đã tăng lên gần gấp đôi Từ năm 2006 đền nay tỷ lệ nayluôn duy trì ở mức 9 – 10%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt tốc độ tăng bình quânkhoảng 25%/năm năm 2010 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạtkhoảng 1.561,6 nghìn tỷ đồng; trong đó, tỷ trọng khu vực kinh tế trong nướckhoảng 93%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 7%; tỷ trọngtổng mức bán lẻ hàng hóa qua kênh phân phối hiện đại là 35%, qua kênh phânphối truyền thống là 65%

Bảng 6 : Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

giai đoạn 2006-2009Như vậy, xét về tỉ lệ vốn đầu tư của các khu vực vào lĩnh vực phân phốbán lẻ của Việt Nam hiện nay thì có thể thấy sự áp đảo của khu vực tư nhân Sốlượng của các doanh nghiệp phân phối trong nước cũng như các hộ kinh doanh

Trang 29

mặt tại Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn Các tập đoàn tham gia vào lĩnh vựcnày thì nếu như không kể tới các tập đoàn phân phối chuyên doanh như ZenPlaza về thời trang, Lotteria, KFC, BBQ Chicken về đồ ăn, Medicare về sảnphẩm chăm sóc sức khoẻ, sẽ chỉ có khoảng 3 - 4 tập đoàn phân phối bán lẻ hànghoá tiêu dùng tổng hợp là Metro Cash & Carry của Đức, Bourbon của Pháp vàParkson của Malaysia, Diamond Plaza của Hàn Quốc đang trực tiếp cạnh tranhtrên thị trường bán lẻ ở Việt Nam thông qua hệ thống các siêu thị, trung tâmthương mại, trung tâm bán lẻ quy mô lớn Trong đó, tập đoàn Parkson vàDiamond Plaza mặc dù có thực hiện bán lẻ tổng hợp nhiều mặt hàng nhưng cũngchủ yếu là các dòng sản phẩm thời trang, mỹ phẩm, quà tặng cao cấp Trong khi

đó, có tới hàng chục doanh nghiệp trong nước đã và đang tổ chức hoạt độngkinh doanh phân phối của mình theo các hệ thống trung tâm thương mại, chuỗisiêu thị, chuỗi cửa hàng bán lẻ kiểu này, và chưa kể đến khoảng 900 nghìn hộkinh doanh cá thể đang hoạt động ở khắp các vùng miền trong nước Tuy nhiên,các tập đoàn này đang mở rộng thêm hệ thống của mình

Bảng 7 : Số của hàng của các doanh nghiệp bán lẻ

Số Lượng CửaHàng Trên ToànQuốc

1 Tập đoàn Metro Cash & Carry Của Đức 13

2 Tập đoàn Bourbon Pháp ( Chuỗi siêu thị Big C ) 14

Trang 30

2.2.2 Cơ cấu vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ Việt Nam

2.2.2.1 Xét theo đối tác đầu tư

Tính đến đầu tháng 3 năm 2008, đã có 14 nước có dự án đầu tư vào lĩnhvực phân phối bán lẻ của Việt Nam Tuy lượng vốn của các nước còn nhỏ nhưng

nó là đòn bẩy quan trọng trong việc phát triển cả hệ thống phân phối bán lẻ củaViệt Nam

Đã có 3 nước đầu tư nhiều nhất vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của ViệtNam là Pháp, Hàn Quốc, Hồng Kông với (4 dự án mỗi nước) Trong 14 nước

đó, Pháp và Đức là những nước có tổng vốn đầu tư lớn nhất với 161,975 triệuUSD và 120 triệu USD Sự có mặt của tập đoàn Bourbon của Pháp và MetroCash & Carry của Đức đã đánh dấu những bước chuyển mình của thị trường bán

lẻ Việt Nam trong những năm qua đồng thời góp phần không nhỏ trong việcthúc đẩy đầu tư, nâng cao chất lượng phục vụ và quản lý của các doanh nghiệptrong nước Sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp FDI mang lại đã là một giảipháp lớn để phát triển lĩnh vực phân phối bán lẻ của nước ta

Bảng 8: FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu tư tính đến

Ngày đăng: 20/09/2012, 16:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 8: FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu tư tính đến tháng 3/2008 - Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam 2005-2009.doc
Bảng 8 FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu tư tính đến tháng 3/2008 (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w