1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn chuyên ngành bảo hiểm Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Định hướng và các giải pháp phát triển đến năm 2020

46 2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 511 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được Chính phủ giao với số lượng, khối lượng công việc ngày càng tăng, tính chất công việc ngày càngphức tạp, ngành Bảo hiểm xã hội đã và đang

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU KẾT QUẢ VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM 3

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 3

1.2 Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 4

1.2.1 Về cơ cấu tổ chức: 4

1.3 Kết quả hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 6

CHƯƠNG II: 8

2.1 Giới thiệu đội ngũ lao động hiện nay của BHXH Việt Nam 8

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực của BHXH Việt Nam 9

2.3 Thực trạng công tác tuyển dụng lao động 11

2.4 Thực trạng công tác đào tạo của BHXH Việt Nam 17

2.4.1 Nội dung đào tạo, đối tượng đào tạo 17

2.4.2 Hình thức đào tạo 19

2.4.3 Kinh phí 23

2.5 Đánh giá chung về công tác bảo đảm nguồn nhân lực 26

2.5.1 Ưu điểm 26

2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 26

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM NGUỒN NHÂN LỰC CHO NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM 28

3.1 Định hướng phát triển của bảo hiểm xã hội nói chung 28

3.1.1 Định hướng quản trị nhân lực 29

3.2 Các giải pháp chủ yếu 35

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, chức danh tiêu chuẩn nghạch công chức, hạng viên chức theo vị trí việc làm và định mức biên chế Tổ chức tuyển dụng, quản lý, sủ dụng nguồn lao động theo vị trí việc làm 35

Trang 2

3.2.2 Giải pháp đào tạo, phát triển nhân lực và các dự án ưu tiên 37

3.2.2.1 Các giải pháp tổng thể đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 37

3.2.2.2 Giữ và thu hút chuyên gia trình độ cao và nhân tài 40

3.2.2.3 Cơ chế chính sách: 40

3.2 Một số kiến nghị 41

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Một số kết quả hoạt động của ngành BHXH những năm qua 6

Bảng 2: Cơ cấu nhân lực chia theo ngạch, giới tính và tuổi (30/6/2011) 12

Bảng 3: Thống kê trình độ đào tạo của cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam tính đến ngày 30/6/2011: 13

Bảng 4: Cơ cấu công chức, viên chức được đào tạo qua các khối ngành 14

Bảng 5: Phân bổ nguồn nhân lực theo vùng, miền (tính đến 30/6/2011) .16

Bảng 6: Tổng hợp kết quả công tác đào tạo từ 2004 đến 2011 21

Bảng 7: Tình hình đào tạo các kiến thức bổ trợ tính đến 30/06/2011 22

Bảng 8: Nhu cầu kinh phí cho đào tạo nhân lực 24

Bảng 9: Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo nhân lực 25

Bảng 10: Số liệu thu, chi bảo hiểm y tế 31

Bảng 11: Số liệu thu, chi bảo hiểm xã hội và số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 32

Bảng12: Cơ cấu tỷ lệ nhân lực bổ sung theo các khối ngành: 33

Bảng 13: Dự báo nhu cầu nhân lực tuyển mới 34

Bảng 14: Kế hoạch đào tạo nhân lực hàng năm 39

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới cho thấy, chính sách xãhội luôn chiếm vị trí quan trọng song song với chính sách phát triển kinh tế,trong đó, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là một khâu không thểthiếu, một bộ phận hợp thành hệ thống chính sách xã hội của một quốc gia ỞViệt Nam, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội lớn củaĐảng và Nhà nước, là trụ cột chính của an sinh xã hội, góp phần ổn định đờisống cho người lao động, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, ổn định chính trị,trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc

Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đã được Đảng và Nhà nước

ta quan tâm từ ngay sau khi nước ta giành độc lập nhưng hệ thống Bảo hiểm

xã hội Việt Nam với tư cách là cơ quan chuyên trách thực hiện chính sáchmới chính thức đi vào hoạt động trên phạm vi toàn quốc từ giữa thập kỷ 1990

Từ đó đến nay, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện vai trò phục vụđối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ngày một mởrộng theo đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng: tiến tới bảo hiểm xã hội cho mọingười lao động và tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân Sau hơn 18 nămthực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đã có gần 2/3 dân số cảnước được thụ hưởng quyền lợi Có được kết quả ấy trước hết là do đường lốilãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự phối hợp giúp đỡ củacác bộ, ngành, các cơ quan Trung ương và địa phương Đó còn là kết quả của

sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, công chức, viên chức ngành Bảo hiểm

xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội của đất nước

Để thực hiện và phát huy tốt hơn nữa vai trò là nền tảng cơ bản cho ansinh xã hội quốc gia, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội phải có chiến lược pháttriển bền vững, toàn diện trong đó yếu tố quan trọng nhất là yếu tố con người

Trang 5

Yêu cầu đó đòi hỏi phải nhanh chóng phát triển, đào tạo đội ngũ cán bộ, côngchức, viên chức của toàn ngành Bảo hiểm xã hội đảm bảo đủ về số lượng,nâng cao hơn nữa về chất lượng trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.

Để giải quyết vấn đề đội ngũ - nguồn nhân lực, việc xây dựng đề án

“Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Địnhhướng và các giải pháp phát triển đến năm 2020” là nhiệm vụ hết sức cần thiếtnhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Ngành và góp phần phát triển kinh tế- xãhội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 6

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU KẾT QUẢ VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

VIỆT NAM1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945, chính

sách BHXH đã được hình thành và phát triển Trong mỗi giai đoạn lịch sửnhất định, chính sách BHXH đều có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, hoànthiện cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, bao gồm những nội dung về:phạm vi đối tượng tham gia; loại hình BHXH; nội dung các chế độ; điều kiệnhưởng và khung quyền lợi của từng chế độ; việc tổ chức, quản lý quá trìnhthực hiện cũng như khung pháp lý cho việc ban hành và thực hiện chính sáchBHXH

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1995, Nhà nước ta đã cảicách bảo hiểm xã hội theo hướng mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXHđối với mọi người lao động làm công ăn lương trong các thành phần kinh tế

và tuân thủ theo nguyên tắc đóng – hưởng Khởi đầu của công cuộc cải cách

về BHXH là việc ban hành Bộ Luật Lao động được Quốc hội khóa IX thôngqua ngày 23/6/1994 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1995, trong đó cóChương XII quy định về Bảo hiểm xã hội Theo đó, Chính phủ ban hành Nghịđịnh 12/CP ngày 26/01/1995 điều lệ tạm thời về BHXH, đồng thời thành lập

hệ thống BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ thu, chi,quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ chính sách BHXH thống nhấttrong phạm vi toàn quốc Quá trình triển khai thực hiện sau đó đã khẳng định

sự đúng hướng về cải cách BHXH ở nước ta và ngày 29/6/2006 tại kỳ họp thứ

9 Quốc hội khoá XI, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông quaLuật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007 với BHXH bắt

Trang 7

buộc, từ ngày 1/1/2008 với BHXH tự nguyện và từ ngày 1/1/2009 với bảohiểm thất nghiệp Việc ban hành Luật BHXH là cơ sở pháp lý cao nhất đểnâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách BHXH, pháp điển hoá các quyđịnh về BHXH, bổ sung các loại hình BHXH cho phù hợp với quá trìnhchuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá hành chính tập trung sang nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đáp ứng nguyện vọng củangười lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và hội nhập với kinh tế thếgiới.

1.2 Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Hệ thống BHXH Việt Nam được tổ chức theo ngành dọc, tập trung,thống nhất từ Trung ương đến địa phương và chia thành 3 cấp: ở Trung ương

là BHXH Việt Nam; ở địa phương là BHXH tỉnh và BHXH huyện

1.2.1 Về cơ cấu tổ chức:

a) Cơ quan BHXH Việt Nam

Thành lập năm 1995 theo Quyết định số 606/QĐ- TTg ngày 26/9/1995của Thủ tướng Chính phủ, cơ cấu tổ chức của cơ quan BHXH ở Trung ương

có 8 đơn vị trực thuộc, trong đó, 7 đơn vị giúp việc và 1 Trung tâm thông tin khoa học Biên chế gần 80 người;

-Năm 2002, sau khi sáp nhập BHYT Việt Nam về BHXH Việt Nam, theoNghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002, cơ cấu tổ chức của cơ quanBHXH ở Trung ương có 17 đơn vị trực thuộc trong đó có 11 đơn vị giúp việc

và 06 đơn vị sự nghiệp Biên chế 385 người, tăng 4,8 lần, bằng 481% so vớithời kỳ mới thành lập;

Tiếp đến, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày22/8/2008, theo đó cơ cấu tổ chức của cơ quan BHXH Việt Nam có 18 đơn vịtrực thuộc, trong đó có 12 đơn vị giúp việc và 06 đơn vị sự nghiệp biên chế

425 người, bằng 110% so với năm 2008;

Trang 8

Năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2011/NĐ-CP sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 củaChính phủ, cơ cấu tổ chức của cơ quan BHXH Việt Nam có 22 đơn vị trựcthuộc, trong đó có 15 đơn vị giúp việc và 07 đơn vị sự nghiệp biên chế 610người, tằng 1,43 lần, bằng 143% so với năm 2008;

Riêng thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và BHXH một số tỉnh

có số đơn vị hành chính cấp huyện nhiều, số đối tượng tham gia và thụ hưởngchính sách BHXH, BHYT lớn, có số biên chế đông, thực hiện theo mô hình

10 hoặc 11 phòng nghiệp vụ

Về biên chế: giai đoạn năm 1995 - 2002 có 1.423 người; giai đoạn 2003

- 2008 có 4.175 người, bằng 293% so với giai đoạn 1995 - 2002; giai đoạn

2008 - 2011 có 6.760 người bằng 161% so với giai đoạn 2003-2008

c) Cơ quan BHXH huyện

Về cơ cấu tổ chức: Cơ quan BHXH cấp huyện gồm có các bộ phận: thuBHXH, BHYT; cấp sổ BHXH và thẻ BHYT; giải quyết chính sách, chế độBHXH; giám định BHYT; Kế toán và Thủ quỹ; Văn thư - Hành chính và bộphận tiếp nhận hồ sơ

Về biên chế cũng biến động qua các giai đoạn 1995, 2002, 2008 và 2011như sau: Giai đoạn năm 1995 - 2002 có 2.532 người; giai đoạn 2003 - 2008

có 4.634 người, bằng 183% so với giai đoạn 1995-2002; giai đoạn năm

2008-2011 có 10.697 người, bằng 230% so với giai đoạn 2003-2008

Trang 9

1.3 Kết quả hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Bảng 1 - Một số kết quả hoạt động của ngành BHXH những năm quacho thấy số đối tượng tham gia, tổng số tiền thu và chi, giải quyết chế độBHXH, BHYT cũng không ngừng tăng và tăng với tốc độ cao qua từng thờiđiểm

Bảng 1 Một số kết quả hoạt động của ngành BHXH những năm qua

Năm 1995 Năm 2005 Năm 2011

Tốc độ tăng trưởng Năm 2005

Trang 10

Nhận xét: Qua bảng kết quả hoạt động của nghành BHXH nhưng năm qua

chúng ta có thể thấy Đối tượng tham gia BHXH tăng nhanh năm 2005 là 2,2triệu người đến năm 2011 là trên 10 triệu người, tương đương vơí tỷ lệ tăng347% Đối tượng tham gia BHYT cũng tăng nhanh năm 2005 là 7,1 triệungười đến năm 2011 tăng lên trên 57 triệu người, với tỷ lệ tăng 704% Số lượtngười khám chữa bệnh BHYT cũng tăng nhanh năm 2011 tăng so với năm

2005 với tỷ lệ là 1204%

Trang 11

CHƯƠNG II:

2.1 Giới thiệu đội ngũ lao động hiện nay của BHXH Việt Nam.

Trước năm 1995, chính sách bảo hiểm xã hội do nhiều cơ quan quản lý,quỹ bảo hiểm xã hội bị phân tán, nên việc thực hiện chế độ, chính sách bảohiểm xã hội có nhiều hạn chế Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cần có một cơquan chuyên trách thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho các đối tượngtham gia, thụ hưởng và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội tập trung, thống nhất,ngày 16/02/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP về việc thànhlập Bảo hiểm xã hội Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức Bảo hiểm xãhội thuộc hai hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và Liên đoàn Laođộng Từ tháng 02/1995, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập

từ Trung ương tới địa phương và đi vào hoạt động Cơ cấu tổ chức của Bảohiểm xã hội Việt Nam gồm 8 đơn vị trực thuộc cơ quan Bảo hiểm xã hộiTrung ương và 53 Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Tại Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố có 5 phòng chuyên môn, nghiệp vụ và

514 Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh với hơn 4.000cán bộ, công chức, viên chức

Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lầnthứ 7 khóa VIII và Chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, ngày24/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTgchuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam Tính đếncuối năm 2004, bộ máy tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam bao gồm: TạiTrung ương có 20 đơn vị trực thuộc, tại địa phương có 64 Bảo hiểm xã hộicấp tỉnh và 656 Bảo hiểm xã hội cấp huyện với gần 12.000 người Quá trìnhphát triển đến nay, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam có biên chế hơn17.000 người làm việc theo cơ cấu ngành dọc từ Trung ương xuống Bảo hiểm

Trang 12

xã hội 63 tỉnh, thành phố và 695 Bảo hiểm xã hội cấp huyện Như vậy, số cán

bộ, công chức, viên chức hiện tại đã tăng gần gấp 2 lần so với năm 2003 lànăm tiếp nhận hệ thống Bảo hiểm y tế và tăng gấp 4,5 lần so với năm 1995 lànăm mới thành lập Ngành, trung bình mỗi năm tăng khoảng 1500 cán bộ,công chức, viên chức

Sự gia tăng về tổ chức và biên chế xuất phát từ số người tham gia vàthụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp ngày càng tăng nhanh dochế độ, chính sách quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nói chung củaNhà nước có những thay đổi, mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển củathời kỳ mới và việc quản lý kinh tế, xã hội đất nước

Để có thể thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được Chính phủ giao với

số lượng, khối lượng công việc ngày càng tăng, tính chất công việc ngày càngphức tạp, ngành Bảo hiểm xã hội đã và đang xây dựng một đội ngũ côngchức, viên chức ngày càng tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng gắn vớichức năng, nhiệm vụ, đáp ứng cơ bản yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Ngànhtrong giai đoạn hiện tại và tiến tới phát triển hơn nữa trong tương lai

Trải qua 18 năm hình thành và phát triển, đến nay toàn Ngành có tổng

số hơn 18.000 công chức, viên chức, trong đó cơ quan Bảo hiểm xã hội ViệtNam ở Trung ương có hơn 600 cán bộ, công chức, viên chức, còn lại phần lớncông tác tại Bảo hiểm xã hội các địa phương để trực tiếp thực hiện nhiệm vụchính trị trên địa bàn

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực của BHXH Việt Nam

a Những nhân tố bên ngoài

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục diễn ra sâu, rộng tác độngmạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Quá trình phâncông lao động quốc tế sẽ ngày càng phát triển sâu rộng làm cho các quốc gia

Trang 13

ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về mọi mặt của đời sống, kinh tế - xã hội Trongthời đại của nền kinh tế thông tin, nguồn nhân lực trở thành nguồn lực đầu tiên

để phát triển kinh tế - xã hội Sự cạnh tranh giữa các quốc gia trở thành sự cạnhtranh về sức mạnh nhân tài, sự cạnh tranh đó đặt trọng tâm vào trình độ pháttriển nguồn nhân lực Xu thế hình thành nền kinh tế tri thức chi phối các hoạtđộng của xã hội cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ tạo điều kiệncho các nước đi sau bắt kịp với các nước phát triển và tham gia vào quá trìnhhội nhập của nền kinh tế toàn cầu Sự lỗi thời về kiến thức một cách nhanhchóng, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, xu hướng dịchchuyển sang nền kinh tế tri thức và sự thay đổi mạnh mẽ của cơ cấu tổ chức, cơcấu nền kinh tế

Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực ngành Bảo hiểm xã hội có điều kiệnđược tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, thông qua các chương trìnhđào tạo, tập huấn ở các nước phát triển, nguồn nhân lực có điều kiện pháttriển nhanh cả về số lượng và chất lượng Quá trình hội nhập quốc tế gắn với

sự hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm giữa các quốc gia, tổ chức về ansinh xã hội… cũng là những nhân tố tác động đến sự phát triển đội ngũ vànâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức, viên chức Bảo hiểm

xã hội Việt Nam

Sự phát triển toàn diện của kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ… trênthế giới, gắn với xu hướng hội nhập cũng tác động tích cực đến chính sách vànguồn nhân lực làm công tác an sinh xã hội trong đó có các chế độ, chínhsách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và nguồn nhân lực ngành Bảo hiểm xãhội

b Những nhân tố trong nước

- Chế độ chính sách quy định về bảo hiểm xã hội nói chung của Nhànước có những thay đổi đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển và quản

Trang 14

lý kinh tế, xã hội của Quốc gia;

- Quy mô phát triển của ngành Bảo hiểm xã hội tương ứng với chứcnăng, nhiệm vụ được Chính phủ giao;

- Số người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp ngày càng gia tăng;

- Định hướng phát triển nhân lực, phát triển đào tạo sau đại học và các bậchọc đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước

- Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế tạo ra nhiều

cơ hội việc làm, thu nhập nhưng cũng xảy ra tình trạng công chức, viên chức

có chất lượng rời bỏ việc làm tại khu vực công để ra làm việc ở bên ngoài,tình trạng này cũng xảy ra đối với ngành Bảo hiểm xã hội khi tiền lương, thunhập không tương xứng với khối lượng, giá trị công việc giao cho người laođộng (từ năm 2007-2011 có 1353 người rời bỏ khỏi Ngành)

2.3 Thực trạng công tác tuyển dụng lao động.

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của ngành Bảo hiểm

xã hội mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công việc trong thờigian hiện tại, trong tương lai, cần phải được tăng cường hơn nữa về số lượng

và chất lượng

Trang 15

Bảng 2: Cơ cấu nhân lực chia theo ngạch, giới tính và tuổi (30/6/2011)

Chỉ tiêu thống kê

Việt Nam

BHXH tỉnh, TP trực thuộc TW Số

lượn g

Tỷ lệ

Số lượn g

Tỷ trọng

Số lượn g

do đó cần phải được tăng cường hơn nữa, đội ngũ này cũng cần được đào tạo,bồi dưỡng nâng cao về trình độ lý luận chính trị và quản lý nhà nước để đápứng yêu cầu quản lý của Ngành Về độ tuổi, số công chức, viên chức trên 50

Trang 16

tuổi chiếm tỷ lệ gần 10% trên tổng số nhân lực toàn Ngành, do vậy cũng cần

có phương án thay thế, tiếp nối trong tương lai để không hệ thống Bảo hiểm

xã hội không bị thiếu hụt về lực lượng

Bên cạnh đó, cơ cấu về ngành nghề, trình độ chuyên môn nghiệp vụcủa số công chức, viên chức còn lại cũng còn một số bất cập, chưa thực sựphù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao Trước hết, đi sâu phân tích về cơcấu trình độ đội ngũ hiện tại Trong đó trình độ của đội ngũ cán bộ, côngchức, viên chức hiện nay qua tổng hợp, phân loại có bảng thống kê dưới đâynhư sau:

Bảng 3: Thống kê trình độ đào tạo của cán bộ, công chức, viên chức trong

hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam tính đến ngày 30/6/2011:

Số

TT Trình độ được đào tạo

Số lượng (người)

Tỷ lệ ( %)

Số liệu tại Bảng 3 cho thấy cơ cấu về trình độ đào tạo của đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống Bảo hiểm xã hộiViệt Nam, trong đó, công chức, viên chức có trình độ đại học và cao đẳngchiếm tỷ lệ cao nhất (70,1%) với rất nhiều loại hình đào tạo như chính quy, tạichức, chuyên tu, từ xa, vừa học vừa làm và chủ yếu tập trung tại các tỉnh vàthành phố lớn Đây là lực lượng lao động có trình độ đào tạo cơ bản có thể đápứng, tiếp cận và đảm nhận được các nghiệp vụ của ngành nếu họ được đào tạo

bổ sung hợp lý các kiến thức bổ trợ và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về bảohiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp một cách bài bản Tuy vậy, lựclượng này cũng cần được bố trí, sử dụng hợp lý để tránh lãng phí nguồn nhân lực

Trang 17

của Ngành Tiếp đến là số công chức, viên chức có trình độ cao đẳng, trung cấp(23,6%), lực lượng lao động này có khả năng thực hiện các kỹ năng chuyên mônđơn thuần của một nhân viên bảo hiểm nếu được đào tạo bài bản các kỹ năngnghiệp vụ mà họ được đảm nhận Có 11,4 % người lao động có trình độ sơ cấp,đây là lực lượng lao động cần có sự đào tạo nâng cao để đáp ứng nhiệm vụ, tuynhiên cũng cần có sự phân công hợp lý cho đối tượng này theo khả năng của mỗingười vào các vị trí công việc giản đơn.

Về cơ cấu ngành nghề: Nhân lực hệ thống Bảo hiểm xã hội có ngànhnghề đào tạo đa dạng, không đồng nhất về trình độ và kiến thức chuyênngành, qua đó cho thấy kiến thức cơ bản được đào tạo giữa mỗi công chức,viên chức có sự khác biệt tương đối

Bảng 4: Cơ cấu công chức, viên chức được đào tạo

Nguồn: Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội

Số liệu Bảng 4 cho thấy cán bộ, công chức, viên chức ngành Bảo hiểm

xã hội cơ bản được đào tạo qua 6 nhóm khối ngành chính, trong đó tỷ lệ caonhất là ở khối ngành kinh tế (72,9%) với trình độ đại học chiếm 61,2%; tiếpđến là khối Y-Dược chiếm tỷ lệ 12,4% (trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 6,0%);

Trang 18

khối Khoa học xã hội (6,1%); Công nghệ thông tin (5,0%), khối Luật (2,9%).Như vậy, cơ cấu ngành đào tạo cho thấy nguồn nhân lực chủ yếu của Bảohiểm xã hội được đào tạo từ 5 khối chuyên ngành: Kinh tế, Y- Dược, Khoahọc xã hội, Công nghệ thông tin, Luật Đây là những chuyên ngành có chuyênmôn đào tạo mà ngành Bảo hiểm xã hội đang có nhu cầu sử dụng.

Theo thống kê cho thấy tỷ lệ nhân lực được đào tạo ở khối ngành kinh

tế là tương đối cao, đảm nhiệm ở hầu hết các mảng công việc của Ngành,nhân lực được đào tạo khối y dược, công nghệ thông tin còn thấp, số cóchuyên ngành chuyên môn bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế rất ít Điều này chothấy cơ cấu ngành nghề còn chưa cân đối, tình trạng làm việc trái chuyên môncòn diễn ra ở mức độ nhất định Mặc dù vậy, do yêu cầu cấp bách để đáp ứngngay việc thực hiện nhiệm vụ được giao ngày càng tăng, kể từ khi thành lậpNgành đến nay, ngoài số cán bộ tại chỗ có kinh nghiệm lâu năm về bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải tuyển dụngnguồn nhân lực được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng, trung học cócác chuyên ngành gần với nghiệp vụ bảo hiểm xã hội, chủ yếu lấy từ các khốingành kể trên, đặc biệt là khối kinh tế và với bảo hiểm y tế là trình độ y, dược.Nguồn nhân lực được tuyển dụng mới, để có thể đáp ứng được yêu cầu côngviệc đều phải được bồi dưỡng, tập huấn các kiến thức chuyên sâu về bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế và cập nhật các quy định mới của Ngành

Về cơ cấu biên chế và khối lượng công việc: Với số đối tượng tham giabảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thụ hưởng các chế độ ngày một tăng, dẫnđến khối lượng công việc ở Bảo hiểm xã hội mỗi cấp, mỗi đơn vị phải triểnkhai thực hiện rất lớn Theo số liệu thống kê, từ năm 2005 đến 2011, khốilượng công việc của Ngành tăng lên gấp từ 3 đến 4 lần với tính chất ngàycàng phức tạp, trong khi biên chế của Ngành tăng chưa đến 2 lần do vậy chưathể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Tình trạng quá tải trong công việc

Trang 19

cũng khiến cho cán bộ, công chức, viên chức chỉ tập trung giải quyết các công

việc sự vụ, không có thời gian trau dồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ

năng chuyên sâu, các hoạt động mang tính chiến lược

Với tư cách là “cơ quan phục vụ”, tuy nhiên do áp lực công việc, tinhthần, thái độ phục vụ và ý thức trách nhiệm của một bộ phận nhỏ cán bộ, công

chức, viên chức chưa cao, kỹ năng giao tiếp chưa tốt gây bức xức cho đối

tượng, ảnh hưởng đến uy tín của Ngành

Bảng 5: Phân bổ nguồn nhân lực theo vùng, miền (tính đến 30/6/2011)

Đơn vị tính: người

Chỉ tiêu thống kê

Số đơn vị BHXH tỉnh

Tổng cộng

Trong đó

Tiến sĩ Thạc

sĩ Đại học

Cao đẳng

núi, các huyện vùng sâu, vùng xa Việc tuyển dụng người có năng lực, được

đào tạo chính quy, đúng chuyên môn nghiệp vụ là rất khó khăn, nhất là

chuyên ngành công nghệ thông tin, y dược, ảnh hưởng không nhỏ đến việc

thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn

Qua Bảng 5 có thể thấy: Nguồn nhân lực vùng Đồng bằng Sông Hồng

Trang 20

chiếm tỷ lệ cao nhất (21,5%) trong tổng số nguồn nhân lực toàn ngành, vớicác chỉ số đều có chất lượng cao hơn so với các vùng khác trong cả nước: với69% có trình độ Đại học; 1,1% có trình độ Thạc sĩ

Nguồn nhân lực vùng Tây Nguyên chỉ chiếm 6,9% so với tổng sốchung của cả hệ thống Bảo hiểm xã hội Đồng thời có các tỷ lệ cơ cấu về trình

độ đào tạo thấp nhất trong cả nước với 47,5% có trình độ đại học, 30,5% trình

độ Trung cấp và 14,9% trình độ sơ cấp

Đây cũng là thực trạng chung của nhiều bộ, ngành khác nhau đòi hỏiphải có sự ưu tiên phát triển cho các vùng, miền khó khăn

2.4 Thực trạng công tác đào tạo của BHXH Việt Nam.

2.4.1 Nội dung đào tạo, đối tượng đào tạo.

a Hiện trạng đào tạo đại học, cao đẳng:

Theo số liệu thống kê của ngành Giáo dục và Đào tạo, tính đến nămhọc 2009 - 2010, cả nước có 407 cơ sở giáo dục đại học, trong đó có 175trường đại học và 232 trường cao đẳng hàng năm tiếp nhận đào tạo và cho tốtnghiệp khoảng 500.000 sinh viên cao đẳng, đại học, học viên cao học vànghiên cứu sinh Trong tổng số sinh viên ra trường mỗi năm kể trên, khốikinh tế có gần 140.000 người chiếm tỷ lệ 27,7%, công nghệ thông tin 18.500người chiếm tỷ lệ 3,7%, khối khoa học xã hội 36.000 người chiếm 7,2%, ydược có 15.000 người chiếm tỷ lệ 3,3% Ngoài sinh viên các khối ngành cơbản kể trên mà ngành Bảo hiểm xã hội đang có nhu cầu, có một số ít được đàotạo chuyên sâu về chuyên ngành bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế do một số íttrường đại học mới mở

Qua số liệu thống kê có thể thấy số sinh viên đại học y, dược và côngnghệ thông tin có chỉ tiêu tuyển sinh và tỷ lệ ra trường so với các khối ngànhkhác là tương đối thấp Đây cũng chính là các chuyên ngành mà hệ thống Bảohiểm xã hội đang thiếu trầm trọng Số nhân lực này nếu có chuyên môn khá

Trang 21

khi ra trường có thể được tiếp nhận vào làm việc ngay trong các doanh nghiệphoặc các bệnh viện, cơ sở y tế, được hưởng đãi ngộ tốt Vì vậy để có thểtuyển dụng nguồn nhân lực này về Ngành, đòi hỏi phải có cơ chế, chính sáchthỏa đáng nhằm thu hút họ.

b Tình hình đào tạo chuyên ngành bảo hiểm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở Việt Nam:

Hiện nay, theo điều tra, nghiên cứu, tại Việt Nam chuyên ngành Cửnhân bảo hiểm, bảo hiểm xã hội mới được đưa vào đào tạo tại một số trườngĐại học, các khối kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức cơ sở khối ngành,kiến thức ngành được áp dụng chung theo chuẩn của Bộ giáo dục & Đào tạo.Khối kiến thức chuyên ngành được các Trường xây dựng theo các tiêu chuẩnđầu ra, về cơ bản cho thấy khối chuyên ngành cơ bản giống nhau và có điềuchỉnh về số đơn vị học trình cho phù hợp với chuẩn đầu ra của mỗi Trường,

bao gồm Học viện Tài chính, Đại học Lao động - Xã hội, Đại học Kinh tế

quốc dân Hà Nội, Trường Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại họcCông đoàn

Nhìn chung, khối kiến thức về bảo hiểm xã hội được các trường đưavào giảng dạy mới chỉ là kiến thức ban đầu với các nghiệp vụ đơn giản RiêngTrường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội có phần chuyên sâu hơn với KhoaBảo hiểm được thành lập từ năm 2008 trên cơ sở Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm

và đảm nhận đào tạo 2 chuyên ngành về bảo hiểm: Kinh tế bảo hiểm và Bảo

hiểm xã hội Chuyên ngành Bảo hiểm xã hội đào tạo cử nhân Bảo hiểm xã hội

với mục tiêu nắm vững những kiến thức cơ bản, chuyên sâu về bảo hiểm xãhội, có khả năng phân tích, hoạch định các chính sách về bảo hiểm xã hội; tổchức quản lý cơ quan bảo hiểm xã hội ở các cấp Về khối kiến thức bảo hiểm

y tế, một số ít trường đại học Y khoa có khoa kinh tế y tế, ngoài ra TrườngĐại học Y tế công cộng có nội dung đào tạo về bảo hiểm y tế nhưng không

Trang 22

Về cơ bản, số lượng sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành bảo hiểm xã hộirất ít, không đủ đáp ứng cho nhu cầu tuyển dụng của ngành; về chuyên mônnghiệp vụ: mới đảm nhận được một số nghiệp vụ bảo hiểm xã hội đơn giản,cần phải được đào tạo bổ sung kiến thức và kỹ năng về bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế

2.4.2 Hình thức đào tạo.

a Tổ chức đào tạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện có một đơn vị trực thuộc chuyên tráchchức năng đào tạo là Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội (trước đây làTrung tâm Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ bảo hiểm xã hội) Bên cạnh đó,các đơn vị nghiệp vụ khác ở cơ quan Trung ương cũng tham gia tổ chức bồidưỡng, tập huấn kiến thức chuyên môn cho công chức, viên chức trong toànNgành

Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội có chức năng, nhiệm vụ tổchức, quản lý các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyênngành về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các kiếnthức bổ trợ chuyên ngành cho công chức, viên chức trong Ngành và các cánhân ngoài Ngành Tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡngkhác theo thẩm quyền được phân cấp cho công chức, viên chức thuộc hệthống Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các tổ chức cá nhân ngoài Ngành theoquy định của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và pháp luật của Nhà nước

Cơ cấu cán bộ: Cán bộ lãnh đạo: 02 người; Cán bộ quản lý, công chức,viên chức ở các phòng, khoa: 18 người, Trình độ được đào tạo của cán bộ,viên chức: Thạc sỹ: 04 người, đang học thạc sỹ: 04 người, Đại học: 13 ngườigồm các chuyên ngành: Y học, Luật, tài chính kế toán, kinh tế

Cơ sở vật chất: Trường chưa có cơ sở vật chất để tổ chức các lớp đào

Trang 23

tạo, bồi dưỡng, cuối quý II năm 2012 mới tiếp nhận, đưa vào sử dụng cơ sởđào tạo tại Xuân Thành, Hà Tĩnh diện tích 27.000m2, và khởi công xây dựngtrụ sở chính với diện tích 3.205m2 tại Hà Đông, Hà Nội để đáp ứng một phầnyêu cầu công việc Trường chưa có Thư viện để phục vụ học viên, giáo viên.

Nhìn chung, về tổ chức bộ máy, nhân sự và cơ sở vật chất của Trườngđều còn khó khăn, nhiều hạn chế so với yêu cầu đào tạo nhân lực cho toànhNgành, cần sớm có các biện pháp khắc phục

Do ngành Bảo hiểm xã hội mới được thành lập 15 năm, vì vậy công tácđào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực của Bảo hiểm xã hội Việt Namcòn chưa có nhiều kinh nghiệm, vì vậy kết quả đạt được còn chưa tương xứngvới yêu cầu của nhiệm vụ Bảo hiểm xã hội Việt Nam chưa có dự báo chiếnlược và quy định về tiêu chuẩn ngành nghề cụ thể cho các loại nguồn nhân lực

Vì vậy việc xây dựng các môn học chuyển đổi cho phù hợp với chuyên ngànhbảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn gặp nhiều khó khăn

b/ Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội

Sau gần 09 năm hoạt động, mặt dù còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chấtphải đi thuê, đi mượn, song Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội đã tổchức được nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ với gần chục ngàn lượtngười tham dự các khóa học khác nhau, kết quả như sau:

Bảng 6: Tổng hợp kết quả công tác đào tạo từ 2004 đến 2011

Ngày đăng: 21/05/2015, 16:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Cơ cấu công chức, viên chức được đào tạo - luận văn chuyên ngành bảo hiểm Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Định hướng và các giải pháp phát triển đến năm 2020
Bảng 4 Cơ cấu công chức, viên chức được đào tạo (Trang 16)
Bảng 7: Tình hình đào tạo các kiến thức bổ trợ tính đến 30/06/2011 - luận văn chuyên ngành bảo hiểm Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Định hướng và các giải pháp phát triển đến năm 2020
Bảng 7 Tình hình đào tạo các kiến thức bổ trợ tính đến 30/06/2011 (Trang 24)
Bảng 11: Số liệu thu, chi bảo hiểm xã hội và số đối tượng - luận văn chuyên ngành bảo hiểm Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Định hướng và các giải pháp phát triển đến năm 2020
Bảng 11 Số liệu thu, chi bảo hiểm xã hội và số đối tượng (Trang 34)
Bảng 13: Dự báo nhu cầu nhân lực tuyển mới - luận văn chuyên ngành bảo hiểm Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Định hướng và các giải pháp phát triển đến năm 2020
Bảng 13 Dự báo nhu cầu nhân lực tuyển mới (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w