1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam

118 376 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Đối với một nước đang phát triển, do khan hiếm về vốn để công nghiệp hoá, hiện đại hoá việc phát triển các ngành kinh tế có lợi thế của quốc gia là điều kiện quan trọng hàng đầu. Trong những năm qua, ngành thuỷ sản Việt Nam từng bước khẳng định lợi thế và vị trí trong cơ cấu kinh tế, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất thế giới giai đoạn 1998-2008. Khi hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới hàng xuất khẩu Việt Nam nói chung và thủy sản nói riêng gặp không ít khó khăn. Một trong những khó khăn thường gặp nhất là quốc gia nhập khẩu tiến hành kiện bán phá giá nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Kể từ năm 1994, số vụ kiện chống bán phá giá lên đến 47 vụ. Thực tế cho thấy, các vụ kiện chống bán phá giá có tác động lớn đến kinh tế Việt Nam, thể hiện ở chi phí tốn kém do phải thuê luật sư tư vấn, tham gia tố tụng, kim ngạch xuất khẩu giảm do doanh nghiệp giảm nhập khẩu những mặt hàng là đối tượng chịu sự điều tra vì lo ngại nguy cơ phải trả thêm các khoản thuế chống bán phá giá. Các tác động kinh tế không chỉ dừng lại ở các nhà sản xuất sản phẩm bị kiện bán phá giá mà còn lan rộng sang các ngành công nghiệp khác. Đó là phản ứng mang tính dây chuyền của các ngành công nghiệp sử dụng các sản phẩm bị điều tra bán phá giá làm nguyên liệu đầu vào. Nhằm giảm thiểu các vụ kiện bán phá giá đối với các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời giúp các doanh nghiệp chủ động phòng tránh các vụ kiện có thể xảy ra, Cục quản lý cạnh tranh đã xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Hệ thống được khai trương và bắt đầu hoạt động từ ngày 22/9/2010. Hệ thống cảnh báo sớm hiện nay thực hiện cảnh báo cho 10 mặt hàng xuất khẩu trên 8 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam với cùng một cơ chế cảnh báo. Do đó, cơ chế cảnh báo hiện tại khó phát huy hiệu quả trong việc cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá cho từng mặt hàng nói riêng và mặt hàng thủy sản nói chung. Để hệ thống cảnh báo sớm thực sự là công cụ hỗ trợ cho việc điều chỉnh chính sách kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu thủy sản trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, đề tài “Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam” được chọn để nghiên cứu.

Trang 1

Trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các

vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam” tác giả đãnhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các thầy cô Trường Đại họcKinh tế Quốc dân và cán bộ Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công Thương

Trước hết, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại họcKinh tế Quốc dân, Viện Đào tạo Sau đại học và các Khoa, Viện, Bộ môn đã tạomọi điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu

Tác giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Hoàng Đức Thân và tập thểGiáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ của Bộ môn Kinh tế Quốc tế - Viện Thươngmại và Kinh tế Quốc tế đã có những ý kiến đóng góp quý báu cho luận văn

Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Thường Lạng đã tậntình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, tạo điềukiện của bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình trong thờigian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện đề tài, do hiểu biết và điều kiện nghiên cứu

có hạn, luận văn khó tránh khỏi thiếu xót Tác giả kính mong nhận đượcnhững góp ý xây dựng để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH HỘP

TÓM TẮT LUẬN VĂN

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN HÌNH THÀNH HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 5

1.1 Một số vấn đề khái quát về hệ thống cảnh báo sớm 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Sự cần thiết của hệ thống 6

1.1.3 Mục tiêu của hệ thống 7

1.2 Nghiên cứu các nội dung hình thành hệ thống 9

1.2.1 Nghiên cứu các chỉ số của hệ thống 9

1.2.2 Nguồn cơ sở dữ liệu cung cấp 18

1.2.3 Cơ chế cảnh báo 20

1.2.4 Hệ thống công nghệ 22

1.2.5 Nhân lực 24

1.3 Kinh nghiệm nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm chống bán phá giá của Trung Quốc 25

1.3.1 Cơ sở lý luận hình thành hệ thống 25

1.3.2 Cơ sở thực tiễn 30

1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 36

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM 38

2.1 Khái quát tình hình xuất khẩu thủy sản và nguy cơ bị kiện chống bán phá giá 38

2.1.1.Tình hình xuất khẩu thủy sản 38

2.1 2 Nguy cơ bị kiện chống bán phá giá 43

2.2 Thực tiễn hình thành hệ thống cảnh báo sớm 49

2.2.1 Sự cần thiết hình thành hệ thống 49

Trang 3

kiện chống bán phá giá 59

2.2.4 Sự phối hợp giữa các tổ chức tham gia xây dựng hệ thống cảnh báo sớm 64 2.3 Đánh giá nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm chống bán phá giá 68

2.3.1 Những điểm đạt được 68

2.3.2 Một số hạn chế 70

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 72 3.1 Dự báo xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và dự báo các vụ kiện chống bán phá giá đến năm 2020 72

3.1.1 Dự báo xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đến năm 2020 72

3.1.2 Dự báo xu thế các vụ kiện chống bán phá giá đến năm 2020 73

3.2 Định hướng nội dung tiếp tục nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam đến năm 2020 75 3.2.1 Nghiên cứu thị trường cảnh báo mới 75

3.2.2 Nghiên cứu bổ sung thêm chỉ số chi tiết 75

3.2.3 Nghiên cứu mô hình cảnh báo phù hợp 76

3.2.4 Nghiên cứu cơ chế thu thập dữ liệu kịp thời 77

3.3 Giải pháp tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng thuỷ sản của Việt Nam đến năm 2020 78

3.3.1 Mở rộng quan điểm nghiên cứu 78

3.3.2 Xây dựng chiến lược và kế hoạch nghiên cứu tổng thể, lâu dài 79

3.3.3 Nâng cao chất lượng nhân lực làm công tác nghiên cứu 80

3.3.4 Vấn đề tài chính cấp cho hoạt động nghiên cứu 81

3.4 Một số kiến nghị 82

3.4.1 Chính phủ 82

3.4.2 Bộ, Ban, Ngành liên quan 84

3.4.3 Các hiệp hội ngành hàng và Hiệp hội Thủy sản 86

3.4.4 Doanh nghiệp xuất khẩu Thủy sản 86

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ tiếng Việt

Trang 6

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu ÁAHP Analytic Hierarchy Process Mô hình phân tích phân cấpAUV Average Unit Value Giá trị đơn vị trung bìnhCFA Commonwealth Fisheries As-

DOC Department of Commerce Bộ Thương mại

GATT General Agreement on Tariffs

and Trade

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mạiGCF Global Competitiveness Facil-

ity

Chương trình hỗ trợ cạnh tranh toàn cầu

HS Harmonized Commodity

De-scription and Code System Hệ thống hài hòaIMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế

ITC International Trade

STAC Shrimp Trade Action

USDOC United States Department of

Trang 7

V1.0 Version 1.0 Phiên bản 1.0

VASEP The Vietnam Association of

Seafood Exporters and Producers

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt NamVCAD Vietnam Competition

Authority Department Cục Quản lý cạnh tranhVCCI Vietnam Chamber of

Commerce and Industry

Phòng Thương mại và Công Nghiệp Việt Nam

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Trị giá xuất khẩu thủy sản từ 2006-2012 38

Bảng 2.2 Cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu Việt Nam từ 2008-2011 40

Bảng 2.3 So sánh tỷ lệ số vụ kiện có kết luận chống bán phá giá với số vụ kiện khởi xướng Thời kỳ 1995-2011 43

Bảng 2.4 Danh sách các vụ kiện sản phẩm thuỷ sản của Hoa Kỳ 48

Bảng 2.5 Danh sách thiết bị phần cứng cung cấp cho hệ thống 58

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng trị giá xuất khẩu thủy sản qua các năm 39

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam 42

Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ kiện chống bán phá giá thành công trên thế giới Từ 1995-2011 44

Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ các mặt hàng bị kiện chống bán phá giá Thời kỳ 1995-2011 45

Biểu đồ 2.5 Biểu đồ thể hiện 10 nước khởi kiện chống bán phá giá nhiều nhất thế giới thời kỳ 1995-2011 46

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Phạm vi phân tích của hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá 61

DANH MỤC HỘP Hộp 1.1 Tiêu chí DOC đánh giá “tình hình nghiêm trọng” trong điều tra chống bán phá giá 16

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Luận văn với đề tài: "Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiệnchống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam" là kết quả nghiêncứu độc lập của tác giả Quá trình nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hìnhthành hệ thống cảnh báo sớm chống bán phá giá hàng thủy sản xuất khẩu củaViệt Nam do Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương phụ trách, luận văn

đã làm rõ được một số vấn đề sau:

Luận văn đã nghiên cứu được cơ sở lý luận hình thành hệ thống cảnhbáo sớm chống bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam Những nội dungnày được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Một là, tác giả khái quát một số vấn đề về hệ thống cảnh báo sớm chống

bán phá giá: khái niệm hệ thống cảnh báo sớm, cốt lõi của vấn đề cảnh báosớm chống bán phá giá, sự cần thiết phải xây dựng hệ thống cảnh báo sớm.Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra mục tiêu mà hệ thống cảnh báo sớm được xâydựng cần đạt được gồm:

- Cung cấp thông tin về mối đe dọa/nguy cơ sẽ bị điều tra áp dụng cácbiện pháp chống bán phá giá trước khi có thông báo chính thức của nước nhậpkhẩu

- Hệ thống cần được cung cấp nguồn dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời

để đưa ra các mức độ cảnh báo phù hợp cho từng mặt hàng ở từng giai đoạn

- Hệ thống cảnh báo sớm là nguồn dữ liệu tham khảo trong quá trìnhhoạch định chính sách của Chính phủ, các Bộ ngành, các cơ quản quản lý nhànước và doanh nghiệp xuất khẩu

Hai là, tác giả đi sâu vào nghiên cứu những nội dung hình thành hệ

thống cảnh báo sớm để có những đánh giá đúng về hệ thống Cụ thể những

Trang 10

nội dung nghiên cứu hình thành hệ thống cảnh báo sớm gồm có:

Đầu tiên là nghiên cứu các chỉ số cho hệ thống cảnh báo Việc nghiêncứu các chỉ số được thực hiện thông qua việc nghiên cứu những dấu hiệu củacác vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng xuất khẩu của Việt Namtrước đây Mỗi dấu hiệu được nghiên cứu xây dựng thành một chỉ số phù hợp:

Chỉ số tầng lọc thị phần không đáng kể: phân tích liệu hàng hóa xuất

khẩu có thị phần đáng kể tại nước nhập khẩu theo quy định của WTO haykhông?

Chỉ số tầng lọc định lượng ban đầu: theo dõi và phân tích sự tăng lên về

khối lượng xuất khẩu và sự giảm giá xuất khẩu khi hàng Việt Nam xuất sangthị trường xem xét

Chỉ số tầng lọc định lượng tổng thể: theo dõi và phân tích sự tăng lên về

khối lượng xuất khẩu và sự giảm giá xuất khẩu của hàng hóa từ các nước khixuất sang thị trường xem xét

Chỉ số tầng lọc thị phần Việt Nam: đánh giá nguy cơ tiềm ẩn dựa trên

mức tăng trưởng của thị phần Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất địnhcũng như độ lớn của thị phần Việt Nam so với quy mô thị trường mục tiêu

Chỉ số tầng lọc thị phần chung: xem xét nguy cơ tiềm ẩn dựa trên mức

tăng trưởng về thị phần chung của tất cả các nước xuất khẩu vào thị trườngmục tiêu

Chỉ số tầng lọc phòng vệ thương mại: bổ sung, hỗ trợ cho kết quả cảnh

báo thông qua việc cung cấp các thông tin liên quan về vấn đề phòng vệthương mại: lịch sử áp dụng, hiện tại áp dụng của các nước, thông tin về mộtnguy cơ sắp xảy ra

Sau khi nghiên cứu các chỉ số là việc nghiên cứu cơ sở dữ liệu để giúp

hệ thống có cơ sở đầu vào phân tích các chỉ tiêu đó Cơ sở dữ liệu cung cấpcho hệ thống gồm: Dữ liệu xuất nhập khẩu; Dữ liệu về thị trường mục tiêu;

Trang 11

Dữ liệu về các thông tin phòng vệ có liên quan.

Để kết nối dữ liệu với các chỉ số cần có cơ chế cảnh báo phân tích trả kếtquả Cơ chế cảnh báo được thể hiện qua việc thiết lập các mức độ cảnh báo:cảnh báo đèn đỏ (nguy cơ bị kiện cao), cảnh báo đèn vàng (nguy cơ bị kiệnvừa), cảnh báo đèn xanh (nguy cơ bị kiện thấp), cảnh báo đèn nâu (không cónguy cơ) và cảnh báo đèn xanh da trời (mặt hàng đang bị áp thuế chống bánphá giá, không thể có khả năng bị kiện)

Một hệ thống sau khi có cơ chế hoạt động cần có hệ thống công nghệbao gồm các thiết bị phần cứng, các chương trình phần mềm và mạng truyềnthông để hỗ trợ quá trình tính toán, ra quyết định và công khai kết quả cảnhbáo cho đối tượng tiếp nhận thông tin

Yếu tố quan trọng cuối cùng chính là nhân lực của hệ thống Vai trò của

nó là thiết lập mục tiêu để xây dựng các chỉ số cảnh báo và thực hiện toàn bộviệc vận hành hệ thống

Ngoài nghiên cứu hệ thống Việt Nam, luận văn liên hệ nghiên cứu cơ sở

lý luận và thực tiễn hình thành hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bánphá giá hàng xuất khẩu của Trung Quốc để thu được những bài học kinhnghiệm

Về hệ thống Trung Quốc, nhìn chung cách tiếp cận cũng khá tương đồngvới cách tiếp cận của Việt Nam Tuy nhiên việc triển khai nghiên cứu và xâydựng hệ thống do Trung tâm tư vấn WTO - Thượng Hải thực hiện tồn tạinhiều vấn đề bất cập

Thứ nhất, tuy cùng xuất phát chung cách tiếp cận nhưng hệ thống củaTrung Quốc thiếu nhiều tiêu chí tiếp cận so với hệ thống của Việt Nam: Chỉ tiếpcận khía cạnh biến động khối lượng xuất khẩu và biến động giá xuất khẩu

Thứ hai, hệ thống do Trung tâm tư vấn WTO - Thượng Hải xây dựngkhông giành được nhiều quan tâm từ phía cộng đồng doanh nghiệp Thượng

Trang 12

Hải khi ra đời.

Thứ ba, việc nghiên cứu, xây dựng được thực hiện lẻ tẻ ở một số địaphương cho nên hiện tại chưa có hệ thống đáp ứng lợi ích cho toàn bộ doanhnghiệp xuất khẩu Trung Quốc Quá trình chỉ đạo của Chính phủ và các cơquan quản lý Nhà nước ở trung ương rất mờ nhạt dẫn đến hệ thống ra đờikhông phát huy hết vai trò của nó

Thứ tư, việc nghiên cứu và xây dựng không tập trung dẫn tới việc lãngphí nguồn lực: vốn đầu tư, nhân lực, khoa học công nghệ

Từ những vấn đề đó, tác giả đúc kết một số bài học kinh nghiệm choViệt Nam:

Một là hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối vớihàng xuất khẩu của Việt Nam phải đảm bảo phân tích được nguyên nhân dẫntới hành vi kiện bán phá giá của các doanh nghiệp/chính phủ nước nhập khẩu

Từ việc phân tích dấu hiệu của hành vi kiện bán phá giá, hệ thống cần đưa ranhững cảnh báo phù hợp trong từng trường hợp để có những tư vấn kịp thờiđối với các doanh nghiệp xuất khẩu

Hai là phải lựa chọn mục tiêu của việc thu thập thông tin để xác địnhchính xác những thông tin cần thu thập Sau đó xác định những hệ số tươngquan cho từng loại thông tin để có cơ sở phân tích, đánh giá Toàn bộ hệthống thông tin trong quá trình xây dựng cần được thu thập từ nhiều kênhkhác nhau với tốc độ xử lý nhanh chóng, kết hợp với các chương trình xử lýphù hợp để phân tích trả kết quả

Ba là phải thực hiện nghiên cứu xây dựng một hệ thống cảnh báo phục

vụ cho nhu cầu của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam ở các vùng miền

Bốn là quá trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống cần đảm bảo có sự phốikết hợp ở cả hai cấp, cấp vĩ mô và cấp vi mô

Năm là cần lựa chọn những người am hiểu về lý luận và thực tiễn trong

Trang 13

vấn đề kiện chống bán phá giá để giao nhiệm vụ đầu mối xây dựng hệ thống Sau khi thực hiện nghiên cứu những nội dung hình thành hệ thống cảnhbáo sớm chống bán phá giá, tác giả thực hiện nghiên cứu những vấn đề thựctiễn hình thành hệ thống.

Trước hết, luận văn khái quát tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Namthông qua kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đểxem xét khả năng bị kiện bán phá giá của mặt hàng thủy sản

Tiếp đó, luận văn nghiên cứu thực trạng nguy cơ bị kiện chống bán phágiá của các quốc gia trên thế giới để thấy được xu hướng áp dụng Các biệnpháp phòng vệ thương mại nói chung và chống bán phá giá nói riêng đã vàđang được các nước tích cực sử dụng như là các hàng rào phi thuế quan đểbảo hộ ngành sản xuất trong nước Các sản phẩm xuất khẩu có nguy cơ bịkiện hầu hết là những sản phẩm sử dụng lao động giản đơn, yếu tố công nghệkhông cao, tỷ lệ công nghiệp chế biến thấp và tận dụng lợi thế nguồn tàinguyên thiên nhiên của nước xuất khẩu Xu hướng áp dụng biện pháp kiệnbán phá giá được chuyển dịch dần từ các nước phát triển sang các nước đangphát triển Điều này chứng tỏ, các nước đang phát triển rất tích cực sử dụngbiện pháp phòng vệ thương mại để bảo hộ ngành sản xuất trong nước

Nghiên cứu những vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu củaViệt Nam thời gian qua cho thấy những vụ kiện chống bán phá giá liên quanđến Việt Nam cũng tuân theo xu hướng chung của thế giới Những mặt hàng

bị kiện chủ yếu là sản phẩm thô, sơ chế, sử dụng nhiều lao động giản đơn vàtận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có Những thị trường khởi kiệnchủ yếu là các thị trường xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam và các thị trườngtiềm năng là các nước đang phát triển

Xuất phát từ thực tế đó, Việt Nam cần thiết phải nghiên cứu xây dựng hệthống cảnh báo sớm để giảm thiểu thiệt hại của những vụ kiện chống bán phá

Trang 14

giá mang lại

Việc nghiên cứu xây dựng hệ thống cảnh báo sớm cho các mặt hàng nóichung và mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam nói riêng là phù hợp vớinhu cầu tất yếu của thực tiễn, cụ thể là xuất phát từ việc nghiên cứu hai vụkiện hàng thủy sản trong lịch sử: vụ kiện cá tra,basa và Tôm do Hoa Kỳ khởixướng (2002 và 2004)

Thông qua nghiên cứu thực tiễn hai vụ kiện cho thấy,vụ kiện cá tra,basacủa Việt Nam, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam khôngchuẩn bị chu đáo do thời gian được cảnh báo trước chỉ có 1,5 tháng dẫn tớinhiều bất lợi trong điều tra chống bán phá giá Đối với vụ kiện tôm năm 2004,

do VASEP nhận định được tình hình từ trước đó hai năm nên kết quả của vụkiện này rất khả quan

Nghiên cứu này còn cho thấy VASEP đã thành công trong vấn đề cảnhbáo sớm thông qua việc theo dõi các thông tin liên quan như: theo dõi cáchoạt động chuẩn bị kiện tụng của các nhà sản xuất tôm ở Mỹ, phân tích tìnhhình của ngành tôm Mỹ và xu hướng nhập khẩu tôm vào Mỹ, mối quan hệ vớicác công ty luật quốc tế và các công ty vận động hành lang Mặc dù chưa xâydựng được một hệ thống cảnh báo chính thức và hoàn chỉnh, nhưng những gìVASEP đã làm và kết quả của những việc làm đó là đáng ghi nhận, trở thànhbài học ý nghĩa cho việc xây dựng hệ thống cảnh báo trong tương lai

Thực tế hình thành hệ thống cảnh báo sớm chống bán phá giá của ViệtNam xuất phát từ một số điều kiện nhất định:

Một là, xuất phát từ chỉ đạo của Chính phủ thể hiện trong Chương trìnhhành động thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008

Hai là, việc nghiên cứu hình thành hệ thống được thực hiện trên cơ sởkinh phí tài trợ của GCF – Chương trình hỗ trợ cạnh tranh toàn cầu cho doanhnghiệp Việt Nam

Ba là, hệ thống được hình thành bởi đội ngũ cán bộ có năng lực và kinhnghiệm của Cục Quản lý cạnh tranh cùng các chuyên gia tư vấn giàu kinh

Trang 15

nghiệm ở Việt Nam và nước ngoài

Bốn là, điều kiện công nghệ được Cục Quản lý cạnh tranh bổ sung thôngqua công tác mời thầu cung cấp hệ thống thiết bị bổ sung cho Cục nhằm đảmbảo hệ thống vận hành tốt

Những công việc đã triển khai để đưa hệ thống vào hoạt động như: lựachọn phạm vi cảnh báo, thu thập và phân tích dữ liệu, vận hành thử nghiệm hệthống, phát triển hệ thống Và kết quả của công tác này là sự kiện khai trươngchính thức đưa hệ thống vào hoạt động từ ngày 22/9/2010

Trong quá trình nghiên cứu hình thành hệ thống có sự phối hợp giữa các

cơ quan liên ngành và các Ban chuyên môn của Cục Quản lý cạnh tranh Mặc

dù nhận được nhiều phối hợp của các cơ quan khác, sự phối hợp giữa các banchuyên môn trong nội bộ tuy chặt chẽ nhưng mang tính chất kiêm nhiệm nên-quá trình nghiên cứu hệ thống có những hạn chế nhất định

Đánh giá chung có thể thấy:

Về ưu điểm

- Quá trình nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bánphá giá đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam về cơ bản đạt được mụctiêu đề ra Đó là xây dựng được hệ thống cảnh báo sớm giúp các doanhnghiệp Việt Nam xác định sớm các mối đe doạ từ nguy cơ bị điều tra áp dụngcác biện pháp chống bán phá giá trước khi có đơn khởi kiện chính thức từ cácngành sản xuất nước ngoài

- Hiện tại, kết quả nghiên cứu đáp ứng việc tập trung cảnh báo cho 10mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam: Thuỷ hải sản, Da giầy, Dệt may,

Đồ gỗ, Dây cáp điện, Chất dẻo, Cao su, Giấy, Dụng cụ quang học đo lường vàThiết bị điện khi xuất khẩu sang 8 thị trường chính: EU, Hoa Kỳ, Canada, Úc

và Brazil, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ

- Hệ thống thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ởmức độ nhất định Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giáhàng xuất khẩu Việt Nam của VCAD được xếp trong danh sách 50 Công trình

Trang 16

ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực dịch vụ công hàng đầu khu vựcChâu Á – Thái Bình Dương giai đoạn 2012-2013 do Tạp chí FutureGove bìnhchọn Điều này cho thấy sự thành công bước đầu của quá trình nghiên cứu.

- Việc phân tích các chỉ tiêu định tính hiện nay để sử dụng trong hệthống chưa được nghiên cứu xây dựng thành mô hình phân tích mà đượcthực hiện bởi các cán bộ, chuyên gia Các chỉ tiêu định lượng tuy đã xâydựng thành mô hình nhưng còn giản đơn, chưa đáp ứng được mức độ phứctạp trong phân tích của nhiều dữ liệu

- Vấn đề thiết lập mô hình kinh tế lượng trong phân tích cảnh báo sớmchưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức

- Kết quả nghiên cứu hiện tại vẫn chưa thể đáp ứng việc cảnh báo chínhxác khoảng thời điểm sẽ xảy ra vụ kiện

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu trên, luận văn thực hiện dự báotình hình xuất khẩu thủy sản thời gian tới để đưa ra những định hướng nghiêncứu và đề xuất giải pháp thực hiện đến năm 2020

Nghiên cứu dự báo xuất khẩu thủy sản thời gian tới cho thấy thủy sản sẽtiếp tục là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam Do

đó, khả năng mặt hàng thủy sản trở thành mục tiêu của vấn đề kiện chống bán

Trang 17

phá giá là rất lớn.

Để đáp ứng nhu cầu cảnh báo trong lương lai, việc định hướng nghiêncứu cần thiết phải thực hiện:

Một là, tiếp tục nghiên cứu thêm thị trường cảnh báo mới

Hai là, nghiên cứu bổ sung thêm các chỉ tiêu chi tiết trong cơ chế cảnhbáo sớm cho mặt hàng thủy sản

Ba là, nghiên cứu mô hình cảnh báo phù hợp cho mặt hàng thủy sản.Bốn là, nghiên cứu cơ chế thu thập dữ liệu kịp thời và hiệu quả

Dựa vào định hướng nghiên cứu này, tác giả đề xuất một số giải phápthực hiện như sau:

Thứ nhất, mở rộng phạm vi nghiên cứu Việc mở rộng phạm vi nghiêncứu thể hiện: mở rộng việc nghiên cứu thị trường mới, nghiên cứu mô hìnhcảnh báo mới hoặc bổ sung thêm các chỉ tiêu chi tiết cho mô hình cảnh báohiện tại, nghiên cứu cảnh báo chống bán phá giá với chống trợ cấp và chốnglẩn tránh thuế chống bán phá giá

Thứ hai, xây dựng chiến lược và kế hoạch nghiên cứu lâu dài trong đóxác định những mục tiêu chính để lập kế hoạch, chương trình nhằm cụ thểhoá hướng nghiên cứu và nội dung nghiên cứu

Thứ ba, nâng cao chất lượng nhân lực làm công tác nghiên cứu thôngqua các nội dung sau:

- Tăng cường công tác hợp tác quốc tế để có được những chương trìnhtài trợ hoặc hợp tác của các tổ chức quốc tế

- Đẩy mạnh việc đưa các nội dung, kiến thức của pháp luật phòng vệthương mại, thực tiễn kinh nghiệm về các vụ kiện phòng vệ thương mại vàotrong công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học chuyên ngànhluật, tài chính, kinh tế hoặc các Viện nghiên cứu qua các cuộc thi xây dựng

đề án nghiên cứu với phần thưởng xứng đáng

- Tổ chức các khoá đào tạo chuyên sâu về pháp luật phòng vệ thương

Trang 18

mại của WTO và các nước thuộc danh mục mở rộng phạm vi nghiên cứu thờigian tới nhằm cung cấp cho các doanh nghiệp và hiệp hội những kiến thức,kinh nghiệm, bài học trong việc ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giákhi kết hợp với các vụ kiện phòng vệ thương mại khác

Thứ tư, vấn đề tài chính cấp cho hoạt động nghiên cứu Lập kế hoạch tàichính cấp cho từng hoạt động nghiên cứu riêng biệt Tùy nội dung nghiên cứucủa từng hoạt động để lựa chọn lập kế hoạch phù hợp đối với từng nguồn ngânsách: ngân sách nghiên cứu phát triển, ngân sách chi thường xuyên

Trên cơ sở những giải pháp đưa ra, luận văn đề xuất một số kiến nghị sau:

Về phía Chính phủ

Đưa ra nội dung chiến lược, phân công các Bộ ngành liên quan thựchiện kế hoạch nghiên cứu phát triển hệ thống về các mặt để từng Bộ ngànhphân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan cấp dưới nhằm phân công nhân

sự tham gia vào dự án nghiên cứu,trong đó phân công cụ thể trách nhiệm đầumối chủ trì cho một hoặc nhiều bộ và trách nhiệm cụ thể của từng đơn vịnhằm tránh sự chồng chéo

Nghiêm túc kiểm điểm những cơ quan trốn tránh trách nhiệm và khônghoàn thành nhiệm vụ

Linh hoạt trong quá trình tham gia đàm phán và tìm hiểu để đưa ra đượcnhững nội dung quan trọng trong luật chống bán phá giá của các nước đối tác

Về phía Bộ ngành có liên quan

Giao nhiệm vụ nghiên cứu dự án dưới dạng đề tài nghiên cứu khoa họccấp Bộ, cấp Nhà nước để huy động nguồn lực tham gia trong nước và quốc tế

Lập kế hoạch tài chính cho nghiên cứu dự án phù hợp Trong đó đưa racác chính sách khuyến khích, khen thưởng và chế độ đãi ngộ đặc biệt để thuhút sự quan tâm của giới chuyên gia trong và ngoài nước

Tìm kiếm cơ hội hỗ trợ nguồn ODA từ các tổ chức quốc tế

Bố trí nhân lực có đủ trình độ tham gia vào dự án hợp lý, tránh chồng

Trang 19

chéo chuyên môn với các cơ quan tham gia khác.

Các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài đẩy mạnh phát triểnkênh thu thập và hoạt động cung cấp thông tin cho nghiên cứu

Về phía Hiệp hội ngành hàng và Hiệp hội Thủy sản

Chủ động tham gia nghiên cứu đề xuất dự án và phân bố nhân lựctham gia hợp lý

Phát triển kênh thu thập thông tin của Hiệp hội tại nước ngoài

Về phía doanh nghiệp xuất khẩu Thủy sản

Là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi từ hệ thống cảnh báo thông quaquá trình hợp tác kinh doanh, tham gia hội chợ thương mại cũng như mở cácchi nhánh, văn phòng đại diện, đại lý ở nước ngoài tích cực nâng cao khảnăng thu thập thông tin cho hệ thống cảnh báo, trở thành một kênh thu thậpthông tin quan trọng cho hệ thống cảnh báo

Một số kiến nghị khác

Không giao phó việc nghiên cứu cho những cá nhân và đơn vị thiếunăng lực cần thiết cả về kiến thức, con người và cơ sở vật chất, cũng như cáccông cụ chuyên ngành

Phối hợp đồng bộ, liên ngành các cơ quan với các công cụ, phươngpháp và mô hình nghiên cứu để có sự đối chiếu, so sánh, nhất là trong côngđoạn thu thập dữ liệu đầu vào và công đoạn xử lý kết luận cuối cùng của côngtác nghiên cứu nhằm góp phần tham chiếu, phản biện và hoàn thiện, nâng caotính xác thực của kết quả nghiên cứu

Phối hợp chặt chẽ hơn giữa đơn vị làm công tác nghiên cứu hệ thống cảnhbáo với các cơ quan thu thập thông tin, các Hiệp hội và doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu cùng các đơn vị quản lý nhà nước có liên quan trong thực tiễn

Các Viện, Trung tâm nghiên cứu kinh tế và xă hội tích cực mở ra cácdiễn đàn trao đổi, tranh luận về các thông tin kinh tế để thu thập ý kiến phảnhồi từ nhiều nguồn khác nhau làm cơ sở tham khảo nhằm hoàn thiện hơn các

Trang 20

kết quả nghiên cứu.

Trang 21

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với một nước đang phát triển, do khan hiếm về vốn để công nghiệphoá, hiện đại hoá việc phát triển các ngành kinh tế có lợi thế của quốc gia làđiều kiện quan trọng hàng đầu Trong những năm qua, ngành thuỷ sản ViệtNam từng bước khẳng định lợi thế và vị trí trong cơ cấu kinh tế, đưa ViệtNam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuấtkhẩu thủy sản cao nhất thế giới giai đoạn 1998-2008

Khi hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới hàng xuấtkhẩu Việt Nam nói chung và thủy sản nói riêng gặp không ít khó khăn Mộttrong những khó khăn thường gặp nhất là quốc gia nhập khẩu tiến hành kiệnbán phá giá nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Kể từ năm 1994, số vụ kiệnchống bán phá giá lên đến 47 vụ Thực tế cho thấy, các vụ kiện chống bán phágiá có tác động lớn đến kinh tế Việt Nam, thể hiện ở chi phí tốn kém do phảithuê luật sư tư vấn, tham gia tố tụng, kim ngạch xuất khẩu giảm do doanhnghiệp giảm nhập khẩu những mặt hàng là đối tượng chịu sự điều tra vì longại nguy cơ phải trả thêm các khoản thuế chống bán phá giá Các tác độngkinh tế không chỉ dừng lại ở các nhà sản xuất sản phẩm bị kiện bán phá giá

mà còn lan rộng sang các ngành công nghiệp khác Đó là phản ứng mang tínhdây chuyền của các ngành công nghiệp sử dụng các sản phẩm bị điều tra bánphá giá làm nguyên liệu đầu vào

Nhằm giảm thiểu các vụ kiện bán phá giá đối với các sản phẩm xuấtkhẩu của Việt Nam, đồng thời giúp các doanh nghiệp chủ động phòng tránhcác vụ kiện có thể xảy ra, Cục quản lý cạnh tranh đã xây dựng một hệ thốngcảnh báo sớm đối với các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối vớihàng hoá xuất khẩu của Việt Nam Hệ thống được khai trương và bắt đầu hoạtđộng từ ngày 22/9/2010

Trang 22

Hệ thống cảnh báo sớm hiện nay thực hiện cảnh báo cho 10 mặt hàngxuất khẩu trên 8 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam với cùng một cơ chếcảnh báo Do đó, cơ chế cảnh báo hiện tại khó phát huy hiệu quả trong việc cảnhbáo sớm các vụ kiện chống bán phá giá cho từng mặt hàng nói riêng và mặt hàngthủy sản nói chung Để hệ thống cảnh báo sớm thực sự là công cụ hỗ trợ choviệc điều chỉnh chính sách kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản,góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu thủy sản trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóaViệt Nam, đề tài “Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phágiá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam” được chọn để nghiên cứu.

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Cho đến nay, ở Việt Nam và thế giới đã có một số đề tài nghiên cứu về

mô hình cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá Trong đó, một số côngtrình nghiên cứu có đề cập đến hệ thống cảnh báo sớm như:

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hữu Trường Hưng (2011), “Hoàn thiện

hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bán phá giá hàng nông sản củaViệt Nam” Nội dung chính của luận văn trình bày tổng quan về hệ thốngcảnh báo sớm: khái niệm, bộ máy tổ chức, nội dung, mục tiêu vai trò và thựctrạng hoạt động của hệ thống cảnh báo sớm Thông qua các kết quả cảnh báo

mà hệ thống đưa ra, luận văn đánh giá những kết quả đạt được và những hạnchế của hệ thống để đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thốngcảnh báo sớm đối với hàng nông sản Việt Nam Những định hướng và giảipháp chủ yếu đề cập đến việc vận hành hệ thống: cơ sở dữ liệu, bố trí nhân sự,đào tạo nhân sự tham gia vận hành hệ thống, công tác tuyên truyền hệ thống

để khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp, tăng cường sự phối hợp giữa các

cơ quan trong quá trình hoạt động hệ thống Những giải pháp này ít đề cậpđến việc nghiên cứu để nâng cao hiệu quả cảnh báo của hệ thống đối với cácmặt hàng nói chung và mặt hàng nông sản nói riêng

Trang 23

Bài nghiên cứu của đồng tác giả Hongjin Xiang, Fang Zongxian, LiuXuyuan đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Ngoại thương Trung Quốc,(2011), “Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm cho cạnh tranh chống bán phágiá: dựa trên mô hình logit dữ liệu mảng” Bài nghiên cứu tổng hợp và kháiquát các nguyên nhân dẫn đến việc chính phủ nước nhập khẩu khởi kiệnchống bán phá giá dựa trên các kết quả nghiên cứu đã có từ trước Sau đó, bàinghiên cứu đưa ra phân tích chi tiết và kiến nghị đối với Chính phủ TrungQuốc về việc sử dụng mô hình logit dữ liệu mảng để áp dụng trong việc xácđịnh xác suất bị kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng dệt may của TrungQuốc khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ

Ngoài công trình nghiên cứu trên, cũng có một số công trình nghiêncứu về hệ thống cảnh báo sớm chống bán phá giá dựa trên việc ứng dụng các môhình dựa vào các lý thuyết như: Neuro Fuzzy, Entropy Weight và SOM nhưngđều chỉ đề cập đến việc phân tích các mô hình đáp ứng như thế nào đến việc đưa

ra kết quả cảnh báo sớm chống bán phá giá đối với mặt hàng dệt may khi xuấtsang thị trường Hoa Kỳ mà không đề cập đến công việc phải thực hiện để nghiêncứu và ứng dụng mô hình đó vào thực tế

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài được nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm chốngbán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam thông qua việc nghiên cứu

cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành hệ thống cảnh báo hiện tại của Việt Nam vàkinh nghiệm của Trung Quốc Từ những nội dung nghiên cứu và đánh giá vềquá trình nghiên cứu hệ thống để đưa ra định hướng và giải pháp tiếp tục nghiêncứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc hình

Trang 24

thành hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá.

Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ 2007-2012 và định hướng đến năm

2020

+ Phạm vi không gian: Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán

phá giá đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam do Cục Quản lýcạnh tranh - Bộ Công Thương phụ trách

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp: phương pháp phân tích, tổnghợp, thu thập dữ liệu để giải quyết vấn đề đặt ra

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết Luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược trình bày trong các chương:

Chương 1: Nghiên cứu lý luận hình thành hệ thống cảnh báo sớm các

vụ kiện chống bán phá giá

Chương 2: Nghiên cứu thực tiễn hình thành hệ thống cảnh báo sớm các

vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp tiếp tục nghiên cứu nhằm hoànthiện hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá hàng thủy sản củaViệt Nam đến năm 2020

Trang 25

CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN HÌNH THÀNH HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

1.1 Một số vấn đề khái quát về hệ thống cảnh báo sớm

1.1.1 Khái niệm

Có hai cách hiểu vấn đề cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá

Từ góc độ xuất khẩu, đó là việc cảnh báo sớm nguy cơ hàng xuất khẩu bịnước nhập khẩu kiện bán phá giá Từ góc độ nhập khẩu, đó là việc cảnh báosớm nguy cơ hàng xuất khẩu bán phá giá Hai cách hiểu này đều dựa trên việcbán phá giá hàng xuất khẩu, nhưng về vai trò khác nhau Theo quan điểm, lợiích nước xuất khẩu, cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá là việc ứngdụng các quy định của WTO và hệ thống pháp luật cùng với những quy địnhliên quan của quốc gia nhập khẩu về bán phá giá và chống bán phá giá, thôngqua thu thập dữ liệu xuất khẩu trong nước và dữ liệu nhập khẩu nước ngoài

để dự báo nguy cơ bị kiện bán phá giá ở thị trường nước nhập khẩu

Cốt lõi của phân tích để đưa kết quả cảnh báo chống bán phá giá là quátrình xem xét những yếu tố trọng điểm, sản phẩm xuất khẩu nhạy cảm, khốilượng xuất khẩu, giá cả và tình hình sản xuất sản phẩm tương tự của nướcngoài cùng với các thông tin quan trọng khác để giám sát và đánh giá chínhxác tác động đến ngành sản xuất nội địa từ đó đưa ra nhận định phù hợp vềnguy cơ bị đệ đơn điều tra bán phá giá, và xa hơn nữa là vụ kiện chống bánphá giá của chính phủ nước nhập khẩu

Theo quan điểm này, Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bánphá giá của Việt Nam xây dựng là một hệ thống thực hiện việc thu thập, theodõi, tổng hợp và phân tích các thông tin liên quan đến các vụ kiện bán phá giácác mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường nước ngoài để đưa

Trang 26

ra các tín hiệu cảnh báo kịp thời nguy cơ bị kiện bán phá giá có thể xảy ra đốivới doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nhằm ngăn chặn và hạn chế tối đanhững tác động bất lợi.

Thuật ngữ “sớm” trong hệ thống cảnh báo sớm là khái niệm chỉ khoảngthời gian hệ thống phát ra tín hiệu cảnh báo trước khi bắt đầu một vụ kiệnchống bán phá giá Việc xác định khoảng thời gian hệ thống cảnh báo phát ratín hiệu là điều không dễ dàng, bởi vì một vụ kiện bán chống bán phá giá chỉthực sự bắt đầu khi các doanh nghiệp/chính phủ nước nhập khẩu quyết định

đệ đơn yêu cầu điều tra bán phá giá hàng xuất khẩu

1.1.2 Sự cần thiết của hệ thống

Các nghiên cứu về thiệt hại của các vụ kiện chống bán phá giá đếndoanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng bị kiện chống bán phá giá cho thấy ảnhhưởng tiêu cực của các vụ kiện chống bán phá giá đến toàn nền kinh tế nướcxuất khẩu nói chung và doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng

 Ảnh hưởng đầu tiên là kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng bị kiện sụtgiảm mạnh trong thời gian bị áp thuế chống bán phá giá Nguyên nhân là docác đối tác nhập khẩu e ngại phải trả thêm khoản thuế khi nhập khẩu nhữngmặt hàng bị áp thuế, từ đó tạo ảnh hưởng tiêu cực lan truyền tới các ngànhcông nghiệp khác sử dụng mặt hàng bị áp thuế là nguyên liệu đầu vào

 Ảnh hưởng tiếp theo là tổn thất về chi phí tài chính thể hiện ở nhữngkhoản trả cho vụ kiện: thuê luật sư tư vấn, chi phí thu thập thông tin, quan hệcông chúng và một số chi phí phát sinh khác liên quan đến vụ kiện chống bánphá giá

 Ảnh hưởng về tâm lý đối với các doanh nghiệp có sản phẩm bị điềutra bán phá giá là điều khó tránh khỏi Các doanh nghiệp xuất khẩu bị điều tra

sẽ theo vụ kiện trong thời gian dài, tâm lý lo sợ thua kiện khiến các doanhnghiệp tập trung tìm kiếm bằng chứng nhằm phản bác cáo buộc bán phá giá

Trang 27

của nước ngoài dẫn tới sự thiếu tập trung trong đẩy mạnh sản xuất kinh doanh

và tìm kiếm khách hàng

Ngoài những ảnh hưởng trên, còn có ảnh hưởng khác như: đầu tư nướcngoài giảm, nguy cơ thu hẹp sản xuất, tỷ lệ thất nghiệp tăng, đời sống laođộng thiếu ổn định

Để hạn chế ảnh hưởng của những vụ kiện chống bán phá giá cầnnghiên cứu thực hiện hai vấn đề sau:

Một là, hạn chế những vụ kiện chống bán phá giá xảy ra ở mức thấpnhất có thể

Hai là, nâng cao sự chủ động trong việc đối phó với vụ kiện chống bánphá giá khi xảy ra

Muốn thực hiện hiệu quả cần tập trung giải quyết hai vấn đề trong cùngmột công trình nghiên cứu Nội dung nghiên cứu đó phải hướng vào việc xâydựng một công cụ hoặc một hệ thống để đảm bảo thực hiện đồng thời cả haivấn đề trên

Hệ thống cần được cung cấp nguồn dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời

để đưa ra các mức độ cảnh báo phù hợp cho từng mặt hàng ở từng giai đoạn.Các tiêu chí để thiết lập các mức độ cảnh báo phải đảm bảo phù hợp với tìnhhình thực tế nhằm phát huy tác dụng cảnh báo sớm, là cơ sở tin cậy trong việcđiều chỉnh chính sách kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu

Trang 28

Yếu tố “sớm” của hệ thống cảnh báo giúp các doanh nghiệp xuất khẩu

có thêm thời gian điều chỉnh chính sách kinh doanh kịp thời nhằm loại bớtnguy cơ bị điều tra và chủ động đối phó với các cuộc điều tra của các cơ quan

có liên quan của nước nhập khẩu Đối với những mặt hàng được hệ thốngcảnh báo nằm trong mức độ nguy hiểm (nguy cơ bị kiện cao), doanh nghiệp

có thể chủ động chuẩn bị toàn bộ nội dung sẵn sàng tham gia vụ kiện khi cầnthiết Trong thời gian đó, nhờ sự cảnh báo sớm nên doanh nghiệp sẽ liên hệvới đối tác thường xuyên hơn để nắm bắt tình hình kịp thời Việc chủ độngtham gia vào vụ kiện sẽ nâng tỷ lệ thắng kiện cho doanh nghiệp

Thông qua các kết quả phân tích dữ liệu, hệ thống cảnh báo sớm lànguồn dữ liệu tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách của Chínhphủ, các Bộ ngành và các cơ quản quản lý nhà nước có liên quan Từ đógóp phần ổn định nền kinh tế, duy trì và gia tăng kim ngạch cũng như tốc

độ xuất khẩu, qua đó giúp các doanh nghiệp xuất khẩu kinh doanh mạnh

mẽ hơn trên thị trường quốc tế Đối với những mặt hàng có cảnh báo nằmtrong mức an toàn (nguy cơ bị kiện thấp, không có nguy cơ bị kiện), cácdoanh nghiệp yên tâm duy trì và gia tăng kim ngạch mặt hàng xuất khẩuhoàn toàn không có nguy cơ bị kiện hoặc có nguy cơ bị kiện rất thấp Nếunhư không có hệ thống cảnh báo, với tâm lý dè chừng và né tránh cácdoanh nghiệp sẽ kìm chế tốc độ xuất khẩu, làm giảm kim ngạch xuất khẩusang thị trường mục tiêu

Từ những nguồn dữ liệu khai thác từ phía thị trường nước ngoài, hệthống sẽ giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn cơ sở dữ liệu để tra cứu Hệthống có đầy đủ dữ liệu liên quan đến kim ngạch xuất nhập khẩu các mặthàng vào các thị trường ở thế giới, giá xuất khẩu trung bình của các mặt hàng

ở các thị trường, giá xuất khẩu của một số quốc gia khác để làm cơ sở xâydựng và điều chỉnh chính sách kinh doanh phù hợp với các thị trường mụctiêu trong chiến lược kinh doanh của mình

Trang 29

1.2 Nghiên cứu các nội dung hình thành hệ thống

Xuất phát từ quan điểm cốt lõi về hệ thống cảnh báo sớm là xác địnhsớm các mối đe dọa/nguy cơ bị điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phágiá đối với hàng xuất khẩu trước khi chính thức có đơn khởi kiện từ cácngành sản xuất của nước nhập khẩu nên việc nghiên cứu các nội dung để hìnhthành hệ thống mang ý nghĩa quyết định Một hệ thống bất kỳ đều bao gồmcác bộ phận chủ yếu: chỉ số phân tích, cơ chế hoạt động, nguồn cơ sở dữ liệuđầu vào, nhân lực, hệ thống công nghệ trong đó nghiên cứu chỉ số là nộidung quan trọng nhất bởi hệ thống chỉ số là yếu tố quyết định đến hiệu quảcảnh báo chính xác, lựa chọn nguồn cơ sở dữ liệu đầu vào, và lựa chọn phầnmềm phân tích phù hợp

1.2.1 Nghiên cứu các chỉ số của hệ thống

Muốn xác định được các chỉ số hệ thống cảnh báo sớm cần phải nghiêncứu dấu hiệu về nguy cơ bị kiện chống bán phá giá Đó là căn cứ, cơ sở chothấy những thiệt hại do việc bán phá giá gây ra cho doanh nghiệp nước nhậpkhẩu Từ những căn cứ này, các doanh nghiệp hoặc chính phủ nước nhậpkhẩu tiến hành kiện chống bán phá giá nước xuất khẩu để bảo hộ nền sản xuấttrong nước Ngoài những dấu hiệu trên, một dấu hiệu thể hiện rõ nhất nguy cơ

bị kiện chống bán phá giá là những tin tức ở thị trường nước ngoài về việc dựbáo xảy ra vụ kiện chống bán phá giá

Qua quá trình xem xét một số các vụ kiện chống bán phá giá đối vớihàng xuất khẩu của Việt Nam trước đây cho thấy những dấu hiệu cơ bản như:

- Thị phần nhập khẩu của mặt hàng xuất khẩu Việt Nam ở nước nhậpkhẩu chiếm tỷ lệ khá cao (chiếm trên 3% thị phần của nước nhập khẩu; nướckhởi kiện là một trong những thị trường nhập khẩu chính của hàng xuất khẩuViệt Nam)

Trang 30

- Có sự gia tăng nhanh chóng về kim ngạch xuất khẩu (số lượngvà/hoặc giá trị xuất khẩu) và liên tục vào thị trường nhập khẩu trong khoảng 1năm trở lên.

- Có mức giá xuất khẩu thấp hơn giá bán mặt hàng đó tại nước nhậpkhẩu hoặc thấp hơn mặt bằng giá xuất khẩu của các nước khác khi nhập khẩuvào cùng thị trường đó Tốc độ giảm giá xuất khẩu liên tục và đáng kể cũng làmột trong những dấu hiệu dẫn tới việc chính phủ/doanh nghiệp nước ngoàichú ý đến vấn đề kiện bán phá giá

- Mặt hàng xuất khẩu bị kiện chống bán phá giá, kiện chống trợ cấp, tựvệ từ các nước khác

- Có những thông tin liên quan cho thấy nguy cơ xảy ra vụ kiện chốngbán phá giá tại thị trường nước nhập khẩu

Từ những dấu hiệu này, hệ thống chỉ số được thiết lập gồm có:

1.2.1.1 Tầng lọc thị phần không đáng kể

Về mặt pháp lý, một đơn kiện chống bán phá giá được chấp nhận tiếnhành điều tra khi các cơ quan hữu quan ở nước nhập khẩu nhận thấy có cácbằng chứng về việc bán phá giá hoặc thiệt hại đủ để biện minh cho việc triểnkhai điều tra trường hợp bán phá giá đó Cuộc điều tra bị đình chỉ ngay lậptức nếu các cơ quan có thẩm quyền xác định biên độ bán phá giá không đáng

kể hoặc trong trường hợp khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá hoặcthiệt hại tiềm ẩn hoặc thiệt hại thực tế không đáng kể

Cụ thể, theo Hiệp định thực thi điều VI của GATT 1994 quy định: “Khisản phẩm nhập khẩu đang bị điều tra chống bán phá giá được nhập khẩu từnhiều nguồn khác nhau, cơ quan điều tra có thể đánh giá ảnh hưởng một cáchtổng hợp của hàng nhập khẩu này chỉ trong trường hợp cơ quan này xác địnhđược rằng: Biên độ bán phá giá được xác định đối với hàng nhập khẩu từ mỗinước vượt quá mức tối thiểu có thể bỏ qua và số lượng hàng nhập khẩu từ mỗi

Trang 31

nước không ở mức có thể bỏ qua được Việc đánh giá gộp các ảnh hưởng củahàng nhập khẩu là hợp lý nếu xét đến điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩmnhập khẩu với nhau và điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩm nhập khẩu vàsản phẩm tương tự trong nước.” (Điều 3.3 Hiệp định thực thi Điều VI –GATT 1994) Cũng theo Điều 8 Khoản 5 Hiệp định này, biên độ bán phá giáđược coi là ở mức tối thiểu/không đáng kể nếu biên độ đó thấp hơn 2% củagiá xuất khẩu Khối lượng nhập khẩu thông thường được coi là không đáng kểnếu khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá từ một nước cụ thể nào đóchiếm ít hơn 3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu,ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các sản phẩm tương tự từ mỗinước có khối lượng nhập dưới 3%, nhưng tổng số các sản phẩm tương tự củanhững nước này được nhập vào nước nhập khẩu chiếm trên 7% nhập khẩu sảnphẩm tương tự vào thành viên nhập khẩu.

Tóm lại vấn đề xác định biên độ bán phá giá không được vượt quá 2%

và tổng lượng hàng nhập khẩu của nước bị kiện vào nước nhập khẩu khôngvượt quá 3% tổng lượng hàng nhập khẩu sản phẩm tương tự vào nước nhậpkhẩu đó hoặc tổng số các sản phẩm tương tự của những nước này được nhậpvào nước nhập khẩu không vượt quá 7% là vấn đề rất quan trọng, cần thiếtphải đưa vào thành chỉ số cảnh báo trong hệ thống cảnh báo sớm chống bánphá giá

Việc xác định thị phần nhập khẩu hàng hóa tại nước nhập khẩu vượtngưỡng tối thiểu hay không để có thể rơi vào "tầm ngắm" của các vụ kiện làtiêu chí cơ bản đầu tiên để xác định những dấu hiệu ban đầu về nguy cơ hànghóa xuất khẩu phải đối mặt với một vụ kiện thương mại

Dựa trên cơ sở lý luận quan trọng này, “tầng lọc thị phần không đángkể” là chỉ số đầu tiên được xây dựng Những mặt hàng nằm trong phạm vicảnh báo sẽ phải chạy qua tầng lọc này để xem xét khối lượng nhập khẩu mặt

Trang 32

hàng đó vào nước nhập khẩu có thuộc đối tượng có thể bỏ qua điều tra theoquy định của GATT 1994 hay không Nếu mặt hàng nào đạt ngưỡng 3% tức

là mặt hàng đó không thuộc đối tượng có thể bỏ qua điều tra, vì thế sẽ đượcchuyển tiếp tới các tầng lọc khác để đánh giá tiếp Nếu ngành hàng nào khôngđạt ngưỡng này sẽ được chuyển tiếp tới việc tính toán khả năng cộng gộp Khi

đó, hệ thống cần kiểm tra khả năng hàng nhập từ Việt Nam bị cộng gộp vớihàng nhập khẩu từ một hoặc tất cả các nước có điều kiện tương đồng và con

số cộng gộp có vượt qua ngưỡng 7% của “tầng lọc thị phần không đáng kể”hay không

Những mặt hàng không vượt qua ngưỡng giới hạn của cả việc phân tíchthị phần riêng rẽ và thị phần cộng gộp sẽ bị loại ra khỏi phạm vi phân tích vàcoi như nguy cơ cảnh báo là 0

1.2.1.2 Tầng lọc định lượng ban đầu

Theo Hiệp định thực thi điều VI của GATT 1994, đối với khối lượnghàng nhập khẩu được bán phá giá, cơ quan điều tra phải xem xét liệu hàngnhập khẩu được bán phá giá có tăng lên đáng kể hay không Việc tăng này cóthể là tăng tuyệt đối hoặc tương đối khi so sánh với mức sản xuất hoặc nhucầu tiêu dùng tại nước nhập khẩu Về tác động của hàng nhập khẩu được bánphá giá đối với giá, cơ quan điều tra phải xem xét có phải là hàng được bánphá giá đã được giảm giá đáng kể so với giá của sản phẩm tương tự tại nướcnhập khẩu hay không, hoặc xem xét có đúng là hàng nhập khẩu đó làm giảmgiá ở mức đáng kể hoặc ngăn không cho giá tăng đáng kể, điều lẽ ra đã xảy ranếu không bán phá giá hàng nhập đó Điều này có nghĩa là, trước hết phảixem xét việc hàng hoá nhập khẩu bán phá giá có tăng lên về khối lượngkhông và mức độ tăng lên có làm ảnh hưởng tới ngành sản xuất trong nướchay không Việc xác định mức độ tăng lên khiến các ngành sản xuất trongnước chú ý đến là một điều không dễ Bên cạnh mức độ tăng lên về khối

Trang 33

lượng nhập khẩu cũng cần phải xét thêm mức độ giảm giá đáng kể so với giácủa sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu Tỷ lệ giảm giá ở mức độ nào thìđược coi là giảm đáng kể

Các nhà sản xuất nội địa đã sử dụng những quy định về chống bán phágiá của WTO như là công cụ để bảo hộ cho nền sản xuất trong nước khi nhậnthấy sự rủi ro của việc nhập khẩu hàng hóa có giá thấp hơn Hầu hết các vụkiện chống bán phá giá đều xuất phát từ sự thay đổi đáng kể về số lượng hàngnhập khẩu mà sự thay đổi đó tác động đáng kể đến ngành sản xuất nội địa Do

đó, một yếu tố then chốt khi nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả làphải giám sát những thay đổi trong số lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam (tỷ

lệ tăng trưởng) của nhóm sản phẩm nhạy cảm Từ đó, xây dựng một phầnmềm hoặc chương trình máy tính để nhận biết những khu vực và/hoặc sảnphẩm nào đang có tỷ lệ tăng trưởng cao về kim ngạch và giá trị hàng xuấtkhẩu Muốn vậy, cần thiết lập các ngưỡng cho chỉ số bao gồm cả ngưỡng tốithiểu và ngưỡng tối đa nhằm lọc ra những khu vực và/hoặc sản phẩm có tỷ lệvượt ngưỡng tối đa để phân tích kỹ hơn

Song song với gia tăng kim ngạch, vấn đề giảm giá bán hàng xuất khẩucũng ảnh hưởng tới việc nước nhập khẩu quyết định điều tra một vụ kiệnchống bán phá giá Do đó, hệ thống cảnh báo sớm sẽ phải phân tích nhữngthay đổi trong giá bán hàng xuất khẩu với các mốc giá xác định Để tính toánmức giá làm mốc so sánh cho các kỳ phân tích sau này, mức giá mốc ấy phảiphản ánh được mức giá bình quân của các thời kỳ trong các giai đoạn nhấtđịnh Vì vậy, lựa chọn tối ưu là lấy mức giá trung bình của từng thời kỳ phântích trong một giai đoạn xem xét để phân tích biến động cho các kỳ sau Nếu

hệ thống thực hiện định kỳ phân tích dữ liệu để trả kết quả 3 tháng/lần thìmức giá trung bình được xác định bằng cách lấy thông tin giá xuất khẩu mặthàng xem xét giai đoạn 2006-2009 và phân chia mức giá trung bình theo kỳ 3

Trang 34

tháng Sau mỗi kỳ, nếu có sự thay đổi về giá, hệ thống sẽ xác định được xuhướng tăng giảm giá theo từng quý và từng năm.Ví dụ: sự thay đổi về giá củaquý 3/2010 có thể được so sánh với thời điểm mức giá bình quân của quý2/2010 để thấy sự thay đổi theo từng quý; hoặc so sánh với thời điểm mức giábình quân của quý 3/2009 và quý 3/2008 để thấy sự thay đổi theo từng năm

Để nhận biết những khu vực sản phẩm nào đang có mức giá xuất khẩugiảm ở mức đáng kể gây lo ngại về một vụ kiện điều tra bán phá giá cần phảilập ngưỡng theo dõi và xây dựng chương trình nhận biết các sản phẩm có giáxuất khẩu vượt ngưỡng để đưa vào phân tích sâu hơn

Dựa trên những cơ sở nghiên cứu đó, tầng lọc định lượng ban đầu đượcxây dựng nhằm xác định mức độ tăng lên về khối lượng xuất khẩu và sự giámgiá của hàng xuất khẩu đối với những mặt hàng có nguy cơ bị cảnh báo saukhi có kết luận ở tầng lọc thứ nhất Vì vậy, tầng lọc định lượng ban đầu đượcvận hành dựa trên nguyên tắc: tất cả những sản phẩm vượt qua ngưỡng giớihạn của một trong hai việc phân tích thị phần riêng rẽ và thị phần cộng gộpcủa tầng lọc thị phần không đáng kể nêu trên (là những mặt hàng được xếpvào mức có khối lượng xuất khẩu vượt quá mức tối thiểu có thể bỏ qua) sẽtiếp tục được đưa vào phân tích sự tăng lên về khối lượng xuất khẩu (∆Q) và

sự giảm đi của giá trung bình trên từng đơn vị sản phẩm (∆AUV) Việc nàyđược tính toán dựa trên việc so sánh về biến động giá giữa các kỳ kế nhau vàqua các năm liên tục

Thông thường, nếu một mặt hàng đạt tiêu chí có ∆Q > 5%, hoặc ∆AUV

< -5% thì mặt hàng đó có thể sẽ bị kiện và cần được đưa vào phân tích tiếp.Những mặt hàng không thỏa mãn cả 2 tiêu chí trên sẽ bị loại ra khỏi phạm vi

phân tích và coi như nguy cơ cảnh báo là 0.

1.2.1.3 Tầng lọc định lượng tổng thể

Trên thực tế, sự gia tăng số lượng hàng nhập khẩu từ một nước không

Trang 35

ảnh hưởng đến nền sản xuất nội địa do việc gia tăng số lượng hàng nhập khẩu

từ nước này nhưng giảm số lượng hàng nhập khẩu từ một nước khác Nhưvậy, tổng lượng hàng hóa nhập khẩu vào nước đó không thay đổi mà chỉ là sựthay thế trong việc nhập khẩu hàng hóa của các nước xuất khẩu Trong nhữngtình huống này, do không có sự ảnh hưởng đến nền sản xuất nội địa nên khảnăng xảy ra vụ kiện chống bán phá giá khi số lượng hàng nhập khẩu tăng làrất thấp Do đó, đối với những mặt hàng xuất khẩu được xếp vào nhóm có tốc

độ gia tăng nhanh về kim ngạch xuất khẩu cần phải tiếp tục được phân tíchtrong mối quan hệ với việc thay đổi kim ngạch xuất khẩu của các nước kháckhi xuất sang thị trường xem xét

Lý luận tương tự với giá xuất khẩu cho thấy, giá xuất khẩu của hànghóa Việt Nam khi xuất khẩu sang một nước có thể giảm ở mức độ đáng kể,nhưng sẽ không hoặc ít khả năng xảy ra một vụ kiện chống bán phá giá nếumức giá xuất khẩu từ phía các nước khác cũng giảm tương ứng Nói cáchkhác, việc giảm giá xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam là phù hợp chungvới xu thế giảm giá xuất khẩu mặt hàng đó trên thế giới/thị trường xem xét

Do đó, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam không được coi là mặt hàng giảmgiá so với mức giá nhập khẩu trung bình của nước nội địa

Qua quá trình phân tích và nghiên cứu từ thực trạng các vụ kiện chốngbán phá giá của các mặt hàng trên các thị trường nhận thấy, hầu hết các mặthàng khi bị khởi kiện chống bán phá giá đều là những mặt hàng có tốc độ giatăng khối lượng xuất khẩu rất lớn vào thị trường đó Mức độ thế nào là lớnkhông được quy định cụ thể trong quy định của GATT 1994 cũng như trongLuật pháp về chống bán phá giá của các nước Tuy nhiên, qua xem xét thực tế

về tốc độ gia tăng khối lượng xuất khẩu của một số các mặt hàng khi bị khởikiện chống bán phá giá tại thị trường nước ngoài đều có tốc độ tăng trên 20%khi xuất khẩu vào thị trường đó Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) khi tiến hành

Trang 36

điều tra chống bán phá giá xem xét mức tăng trên 15% được coi là “nhậpkhẩu ồ ạt” hay hàng nhập khẩu có khối lượng lớn.

Hộp 1.1 Tiêu chí DOC đánh giá “tình hình nghiêm trọng”

trong điều tra chống bán phá giá

Tầng lọc này đánh giá sự thay đổi về sản lượng hàng nhập (∆Q) và giátrung bình trên từng đơn vị sản phẩm (∆ AUV) theo các giai đoạn nhất định(12 tháng hoặc 3 năm) Hệ thống sẽ tự so sánh thời điểm dữ liệu được cậpnhật để đưa ra cảnh báo theo thời hạn 12 tháng hoặc 3 năm Điều này không

có nghĩa là khung thời gian đó bị cố định mà nó biến đổi Ví dụ, khi có dữliệu của tháng 3 năm 2012, hệ thống sẽ tự động so sánh dữ liệu của tháng3/2012 với 3/2011 (theo chu kỳ 12 tháng) và giữa tháng 3/2012 với 3/2010theo chu kỳ 3 năm

sơ bộ là trên 20%)

- Có hiện tượng nhập khẩu ồ ạt trong một thời gian ngắn vào Hoa Kỳ: Để xem xét tiêu chí này, DOC sẽ phân tích cách thức mà hàng nhập khẩu liên quan chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ và các phương thức nhập khẩu trong quá khứ (thường với mức tãng trên 15% trong khoảng thời gian liền trước đơn kiện là có thể coi như “nhập khẩu ồ ạt”)

Nguồn: Cẩm nang kháng kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp Hoa Kỳ - VCCI - Hội đồng tư vấn về các biện pháp phòng vệ thương mại, (

http://chongbanphagia.vn/files/Business%20guide%20to%20AD%20CVD%2 0

cases%20in%20US.pdf)

Trang 37

thời gian nhất định cũng như độ lớn của thị phần Việt Nam so với quy mô thịtrường mục tiêu (để đánh giá khả năng gây thiệt hại của việc xuất khẩu hàngViệt Nam đến tình hình sản xuất trong nước tại thị trường mục tiêu).

1.2.1.5 Tầng lọc thị phần chung

Thông thường, ngành sản xuất của nước nhập khẩu chỉ đệ đơn xin điềutra bán phá giá khi họ nhận thấy sự suy giảm sản lượng nghiêm trọng dẫn đếngiảm quy mô thị trường và mất thị phần vào các nhà sản xuất nước ngoài Vìvậy, việc xem xét sự tăng trưởng thị phần của tất cả các nước xuất khẩu vàothị trường là rất cần thiết

Trong trường hợp khối lượng hàng nhập khẩu tăng lên và giá bán trungbình giảm, cũng ít có khả năng xảy ra một vụ kiện chống bán phá giá nếu cácnhà sản xuất nội địa hoạt động tốt Chính vì vậy, động thái và phản ứng củangành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu từnước ngoài có yếu tố quan trọng nhất, mang tính quyết định đến nguy cơ phátsinh một vụ kiện chống bán phá giá

Vấn đề phân tích dữ liệu liên quan gặp khó khăn cho việc xây dựngthành một tiêu chí định lượng Việc định lượng chỉ được đáp ứng trong điềukiện có sẵn dữ liệu cụ thể về tình hình, thực trạng sản xuất, kinh doanh củanhững doanh nghiệp sản xuất nội địa Trong điều kiện không có sẵn dữ liệu

cụ thể, vấn đề này được đánh giá thêm ở bên ngoài hệ thống để bổ sung chotính cảnh báo chính xác của hệ thống

1.2.1.6 Tầng lọc phòng vệ thương mại

Liên quan đến lịch sử áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của cácnước, cần thiết lập một tầng lọc hỗ trợ để tổng hợp và phân tích dữ liệu.Những mặt hàng xem xét được đưa qua tầng lọc này để đối chiếu với cơ sở dữliệu lịch sử các vụ kiện Nếu dữ liệu cho thấy, mặt hàng xem xét thuộc danhmục mặt hàng xuất khẩu Việt Nam đang bị áp thuế do các vụ kiện trước đây

Trang 38

thì sẽ trả kết quả không có nguy cơ bị kiện Nếu dữ liệu cho thấy mặt hàngtương tự ở nước khác đã bị kiện nhưng mặt hàng Việt Nam chưa bị kiện thì sẽđánh dấu nguy cơ sản phẩm của Việt Nam cũng sẽ bị kiện trong tương lai.Tầng lọc này là tầng lọc định tính được thiết lập nhằm mục đích bổ sungthông tin trong việc phân tích và trả kết quả cảnh báo.

Ngoài những tầng lọc được xây dựng cụ thể như trên còn có những cơ

sở khác cần xem xét, bổ sung thêm vào kết quả cảnh báo sớm Những cơ sởnày chủ yếu là những cơ sở định tính, mang tính chất là nguồn thông tin quantrọng liên quan đến các vụ kiện chống bán phá giá ở thị trường nước ngoài,hoặc là những động thái của các doanh nghiệp nước nhập khẩu, về nhữngphản ứng của doanh nghiệp nước nhập khẩu trước tình hình nhập khẩu ồ ạtmột/một số mặt hàng vào nước họ từ một hay nhiều nước Do đó, kết quảcảnh báo sớm sẽ được xem xét và kết hợp các yếu tố trên trước khi công bố

và thông báo cho những đối tượng được nhận thông tin

1.2.2 Nguồn cơ sở dữ liệu cung cấp

Nguồn cơ sở dữ liệu đầu vào được coi là "thức ăn" hàng ngày của hệthống Để vận hành được hệ thống cảnh báo sớm cần phải có một nguồn cơ sở

dữ liệu đầu vào cung cấp cho hệ thống phục vụ mục đích phân tích và cho kếtquả cảnh báo Nếu không có nguồn cơ sở dữ liệu đầu vào ổn định, xuyên xuốtthời gian tồn tại của hệ thống thì hệ thống không thể hoạt động Nguồn cơ sở dữliệu đầu vào được lựa chọn phải phụ thuộc vào mục tiêu mà hệ thống nhắm tới.Việc lựa chọn nguồn cơ sở dữ liệu đầu vào là vấn đề quan trọng và then chốt của

hệ thống vì nó quyết định đến việc cảnh báo chính xác của hệ thống Trên cơ sởlựa chọn các chỉ số cho hệ thống cảnh báo, nguồn cơ sở dữ liệu cung cấp cho hệthống phải đảm bảo gồm các dữ liệu sau:

1.2.2.1 Dữ liệu xuất nhập khẩu

Dữ liệu xuất nhập khẩu là một hệ thống số liệu về kim ngạch, thị phần

Trang 39

của từng mặt hàng xuất khẩu của tất cả các nước trên thế giới tại các thịtrường xuất khẩu

Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống thông tin kinh tếhoàn chỉnh, không có một cơ quan nào cập nhật số liệu vừa tổng hợp, vừa đầy

đủ vừa kịp thời Trong nhiều năm qua, thông tin về xuất khẩu, nhập khẩuhàng hoá do ngành Hải quan thu thập và cung cấp đã góp phần rất lớn trongviệc hoạch định chính sách và phục vụ điều hành, quản lý vĩ mô nền kinh tếcủa Đảng và Nhà nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ CôngThương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Thống kê,ngành Hải quan và các cơ quan khác của Chính phủ Số liệu thống kê hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu được xây dựng trên nguyên tắc tổng hợp nhanh tìnhhình xuất khẩu, nhập khẩu trong kỳ báo cáo nên về mặt kịp thời và chính xác,nguồn dữ liệu này cũng đảm bảo độ tin cậy tương đối cho việc vận hành hệthống Các nhà nghiên cứu chọn nguồn dữ liệu của Tổng cục Hải quan làmnguồn cơ sở dữ liệu cho hệ thống Tuy nhiên, ngoài dữ liệu của Tổng cục Hảiquan, dữ liệu được thu thập từ một số nguồn khác như Tổng cục Thống kê,Hiệp hội ngành hàng, các báo cáo của một số các cơ quan liên quan cũng cóthể được xem xét để đối chiếu và bổ sung cho nguồn dữ liệu của hệ thống đểnâng cao tính chính xác và đầy đủ của dữ liệu

Xét về nguồn cơ sở dữ liệu liên quan đến xuất nhập khẩu ở nước ngoài,

để thống nhất với cách sử dụng nguồn dữ liệu trong nước, nguồn dữ liệu của

Cơ quan hải quan của nước ngoài cũng được sử dụng cho hệ thống nhằm đápứng nhu cầu về cơ sở dữ liệu nước ngoài cho hệ thống

Cơ sở dữ liệu này là nguồn thông tin đầu vào vận hành các tầng lọc vềxác định thị phần, tầng lọc định lượng về: Thị phần không đáng kể; địnhlượng ban đầu; định lượng tổng thể; thị phần Việt Nam và thị phần chung

1.2.2.2 Dữ liệu về thị trường mục tiêu

Dữ liệu về quy mô thị trường nhập khẩu được sử dụng để so sánh sản

Trang 40

lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam với tổng lượng hàng hóa tiêu thụ tại thịtrường nhập khẩu Dữ liệu này là nguồn thông tin đầu vào để vận hành tầnglọc định lượng về thị phần chung và thị phần Việt Nam Những dữ liệu nàychủ yếu dược thu thập từ các phương tiện báo chí truyền thông, từ các Hiệphội ngành hàng hay đối tác nhập khẩu hàng hóa, được mua từ các cơ quanquản lý, tổ chức chuyên ngành có liên quan, hoặc thuê các công ty nghiêncứu, phân tích thị trường, các văn phòng luật để cung cấp thông tin.

1.2.2.3 Dữ liệu về lịch sử các vụ kiện phòng vệ thương mại

Dữ liệu bao gồm thông tin liên quan đến lịch sử áp dụng các biện phápphòng vệ thương mại của Hoa Kỳ, Châu Âu và một số nước khác đối với mộtngành hàng nhập khẩu nhất định để đánh giá khả năng ngành hàng đó có bịkiện trong tương lai hay không Cơ sở dữ liệu liên quan đến vấn đề này đượccập nhật từ trang thông tin của WTO

Căn cứ trên các cơ sở dữ liệu nói trên, hệ thống cảnh báo dự kiến sẽ cậpnhật và thường xuyên đưa ra cảnh báo sớm cho các doanh nghiệp về khả năng

có thể xảy ra các vụ kiện chống bán pháp giá đối với từng mặt hàng xuất khẩucủa Việt Nam theo các mức độ cảnh báo

1.2.3 Cơ chế cảnh báo

Sau khi xây dựng xong hệ thống các tầng lọc và nguồn cơ sở dữ liệucung cấp, phải xây dựng cơ chế phân tích cho hệ thống để làm cơ sở hoạtđộng Mỗi ngành hàng và tầng lọc cụ thể trên sẽ được đặt ngưỡng và điểm sốtương ứng với các ngưỡng, trong đó ngành hàng, tầng lọc nào quan trọng hơn

sẽ được đặt điểm cao hơn và trọng số cao hơn Kết quả cuối cùng sẽ đượctổng hợp dựa trên kết quả phân tích định lượng Điểm cuối cùng là bình quân

gia quyền của tất cả các điểm sau khi đã nhân với trọng số Dựa trên số điểm

có được, hệ thống sẽ tự động đặt tín hiệu đèn xanh, đèn vàng và đèn đỏ tươngứng với mức độ cảnh báo đối với ngành hàng đang được phân tích

Ngày đăng: 21/05/2015, 15:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Trị giá xuất khẩu thủy sản từ 2006-2012 Error: Reference source not - Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam
Bảng 2.1. Trị giá xuất khẩu thủy sản từ 2006-2012 Error: Reference source not (Trang 6)
Bảng 2.4. Danh sách các vụ kiện sản phẩm thuỷ sản của Hoa Kỳ - Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam
Bảng 2.4. Danh sách các vụ kiện sản phẩm thuỷ sản của Hoa Kỳ (Trang 66)
Hình 2.1. Phạm vi phân tích của hệ thống cảnh báo sớm - Nghiên cứu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam
Hình 2.1. Phạm vi phân tích của hệ thống cảnh báo sớm (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w