1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác minh, phê phán một tư liệu lịch sử cụ thể qua tác phẩm Phủ biên tạp lục

15 1,1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác minh, phê phán một tư liệu lịch sử cụ thể qua tác phẩm Phủ biên tạp lục
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 160 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác minh, phê phán một tư liệu lịch sử cụ thể qua tác phẩm Phủ biên tạp lục

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trước khi sử dụng bất kỳ một tư liệu nào, nhà nghiên cứu cũng cần phải tiến hành xác minh và phê phán tư liệu Đây là công việc vô cùng quan trọng đối với công trình sử học Tại sao chúng ta phải tiến hành làm điều đó?

Trước hết, tư liệu lịch sử được hình thành không phải một cách ngẫu nhiên

mà theo các quy luật của nó Các quy luật đó là:

Quy luật tư liệu phản ánh quan điểm giai cấp của tác giả và ảnh hưởng của quan điểm đấy đối với nội dung của tư liệu

Quy luật ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử cụ thể, của nhu cầu và mục đích

ra đời của tư liệu đối với nội dung và hình thức của tư liệu

Quy luật phản ánh sự phù hợp tính đúng đắn, đầy đủ của tư liệu với khả năng chủ quan, khách quan của tác giả tư liệu khi phản ánh các sự kiện, với các địa điểm, thời gian có trong tư liệu

Quy luật liên quan và phụ thuộc lẫn nhau của các tư liệu này đối với các tư liệu khác

Hơn nữa, trong thực tiễn khi nghiên cứu lịch sử, chúng ta gặp rất nhiều các

tư liệu giả cả về nội dung và hình thức Vì thế, xác minh và phê phán tư liệu sẽ giúp chúng ta xác định được tính xác thực của tư liệu

Một lý do khác khiến chúng ta cần chú trọng công tác xác minh tư liệu là trong quá trình bảo quản, tư liệu có thể mất, hỏng, rách một phần… nên nhà nghiên cứu phải thường xuyên sử dụng các bản sao, bản phục chế…

Khi xác minh, phê phán tư liệu chúng ta sẽ có được những tư liệu có giá trị phục vụ cho quá trình nghiên cứu của mình Dù nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, hay lịch sử thế giới thì xác minh phê phán tư liệu luôn là một công việc

Trang 2

khâu trong công tác tư liệu, song nó lại có mối quan hệ mật thiết với các khâu khác, có vị trí, vai trò riêng biệt

Nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cổ trung đại chúng ta không thể không sử dụng đến các tư liệu của các sử gia phong kiến viết Trong số các sử gia phong kiến thời Lê, chúng ta không thể không nhắc đến Lê Quý Đôn, một nhà bác học

đa tài Ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm sử học có giá trị Phủ biên tạp

lục là một trong số những tác phẩm đó Đây là tác phẩm rất quý khi chúng ta tiến

hành nghiên cứu lịch sử Đàng Trong trong các thế kỷ XVI – XVIII Trong khuôn

khổ bài viết chuyên đề sử liệu học, người viết chọn tác phẩm Phủ biên tạp lục để

tiến hành xác minh, phê phán một tư liệu lịch sử cụ thể

Trang 3

NỘI DUNG

1 Bối cảnh lịch sử ra đời tác phẩm:

1.1 Bối cảnh lịch sử chung:

Chế độ phong kiến Việt Nam hình thành và xác lập vào thế kỷ XV Sau một thời gian dài phát triển, đến nửa đầu thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam có những biểu hiện của sự suy yếu, khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu diễn ra từ Đàng Ngoài sau đó lan rộng vào Đàng Trong Ở Đàng Ngoài, chính sách phong thưởng và ban cấp ruộng đất cho các công thần, quan tướng, quân đội và theo đó

là tình trạng chiếm chấp ruộng đất của giai cấp địa chủ, cường hào, tệ tham nhũng của quan lại, sự đình trệ của ngoại thương… đưa đất nước dần vào cuộc khủng hoảng Tư tưởng Nho giáo ngày càng suy yếu Cuộc khủng hoảng đầu XVIII đã dần đến phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra hàng loạt Phong trào nông dân vừa là hệ quả, vừa là biểu hiện của sự khủng hoảng xã hội phong kiến Việt Nam

Ở Đàng Trong, tình trạng khủng hoảng diễn ra muộn hơn Năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, tổ chức lại bộ máy nhà nước Nguyễn Phúc Khoát mất, quyền hành thâu tóm trong tay Trương Phúc Loan Người nông dân

vô cùng cực khổ với sưu cao, thuế nặng, mất mùa đói kém thường xuyên xảy ra Làng xóm tiêu điều, kinh tế suy sụp, sức sản xuất bị tàn phá Cũng giống như Đàng Ngoài, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân diễn ra, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn

Như vậy tình hình kinh tế, chính trị, quan hệ sản xuất phong kiến bộc lộ những mặt tiêu cực đối với sự phát triển của xã hội Mâu thuẫn xã hội ngày càng

Trang 4

trở nên gay gắt, sâu sắc Đó chính là nguyên nhân chính dẫn đến sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam

1.2 Bối cảnh lịch sử ra đời tác phẩm:

Năm 1774, quân Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy chiếm được Thuận Hoá Tháng Chạp năm Ất Mùi 1775, Hoàng Ngũ Phúc mất Năm 1776, Trịnh

Sâm đã cử Nghiêm quận công Bùi Thế Đạt giữ chức Đốc suất kiêm trấn thủ Thuận Hoá, Lê Quý Đôn làm Hiệp trấn tham tán quân cơ Sau 6 tháng nhận

nhiệm vụ ở đây, ông đã làm rất nhiều việc Lê Quý Đôn đã phải tổ chức lại chính quyền, phục hồi sản xuất nông nghiệp, giảm bớt các cơ quan thu thuế, ngăn cấm binh lính nhũng nhiễu nhân dân… Tuy phải lo toan rất nhiều công việc song Lê

Quý Đôn vẫn dành thời gian cho công việc viết lách Phủ biên tạp lục đã ra đời

trong bối cảnh như thế

Trong lời Tựa của tác phẩm Lê Quý Đôn:“Kỳ gian tôi nhân đi dạo núi

sông, hỏi di tích, xét xem lệ cũ, tìm kiếm nhân tài, tuỳ bút chéo ra thành quyển gọi tên là Phủ biên tạp lục, đó chỉ là vết móng chim hồng tạm ghi nhớ việc bây giờ thôi Nhưng các bậc quân tử tại triều, có xét sự tích cõi Nam, muốn không ra khỏi sân mà biết việc ngoài nghìn dặm, thì tập này cũng có thể xem qua một lượt vậy” 1

Như vậy chỉ với 6 tháng của năm 1776, trong chuyến công cán ở xứ

Thuận Quảng, Lê Quý Đôn đã hoàn thành tác phẩm Phủ biên tạp lục Qua việc

tìm hiểu bối cảnh lịch sử chung cũng như thời đại mà tác giả sinh sống, chúng ta

đã xác định được thời gian ra đời của tác phẩm Thời gian là một nhân tố của hoàn cảnh lịch sử cụ thể nảy sinh ra tác phẩm

Từ bối cảnh lịch sử ấy, chúng ta không chỉ xác định được về mặt thời gian

1 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Văn hoá Thông tin, tr 36

Trang 5

ra đời của tác phẩm mà chúng ta còn biết được chính xác không gian ra đời của

nó Địa điểm ra đời của tác phẩm là ở vùng Thuận Quảng khi tác giả công tác tại đây

Với việc nắm được thời gian, không gian ra đời của tác phẩm, nó đã chứng minh cho ta biết được tính xác thực của tư liệu chứ không phải là một sự bịa đặt nào khác

Bối cảnh lịch sử ra đời tác phẩm còn chi phối đến nhiều yếu tố nội dung,

hình thức, quan điểm của tác giả mà chúng ta sẽ phân tích sau

2 Tác giả Lê Quý Đôn:

Chủ nhân của Phủ biên tạp lục là Lê Quý Đôn Tìm hiểu tiểu sử của Lê

Quý Đôn sẽ giúp chúng ta sáng tỏ nhiều vấn đề về quan điểm của tác giả, địa điểm, thời gian ra đời tác phẩm…

Lê Quý Đôn sinh ngày mùng 5 tháng 7 năm Bính Ngọ 1726, tự là Doãn Hiệu, hiệu là Quế Đường, quê ở làng Duyên Hà, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình Thân phụ của Lê Quý Đôn là Lê Trọng Thứ, đỗ Tiến sĩ năm Giáp Thìn

1724, làm quan đến Hình bộ Thượng thư Mẹ của ông là người họ Trương

Thủa nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là thần đồng Năm 2 tuổi ông đã đọc được hai chữ hữu và vô Năm 10 tuổi, ông học sử và Kinh Dịch Năm 14 tuổi, ông học hết Ngũ Kinh, Tứ Thư, sử truyện và Chư tử Năm 1739, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long Năm 18 tuổi, ông thi đỗ Giải nguyên Năm 1752, ông đầu kỳ thi Hội Sau đó, ông thi Đình, đỗ Bảng nhãn Năm 1754, ông giữ chức Hàn lâm viện Thừa chỉ sung Toản tu Quốc sử quán Năm 1756, ông được cử đi liêm phóng ở Sơn Nam Giữa năm này, ông được cử sang phủ chúa Trịnh trông coi việc quân sự Năm 1757, ông được thăng chức Hàn lâm

Trang 6

viện Thị giảng Năm 1760, Lê Quý Đôn dẫn một phái đoàn sang nhà Thanh báo tang vua Lê Ý Tông mất và tiến hành dâng lễ vật cống

Trong quá trình tiếp xúc với các quan lại Trung Quốc, nhà Thanh thường

dùng những tiếng “di quan, di mục” để chỉ phái đoàn nước Đại Việt Lê Quý

Đôn đã viết thư phản đối việc dùng những chữ này để chỉ sứ thần nước Đại Việt

Đề nghị của Lê Quý Đôn đối với sứ thần nước Đại Việt đã được chấp thuận

Năm 1762, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Học sĩ ở Bí thư các Năm 1764, ông dâng sớ xin thiết lập pháp chế Năm 1765, ông được cử đi giữ chức Tham chính ở xứ Hải Dương song Lê Quý Đôn đã từ chối xin về nhà đóng cửa làm sách

Năm 1767, ông được cử giữ chức Thị thư, tham gia biên tập quốc sử kiêm

chức Tư nghiệp Quốc tử giám Năm 1768, ông làm xong bộ Toàn Việt thị lục.

Tháng 9 năm 1768, Lê Quý Đôn có công lớn trong việc đánh bại nghĩa quân của

Lê Duy Mật ở Thanh Hoá Tháng 7 năm 1769, ông được thăng lên chức Công bộ hữu thị lang Năm 1772, ông được cử điều tra về tình hình nhân dân, quan lại ở vùng Lạng Sơn Năm 1773, ông được giữ chức Bồi tụng Năm 1774, ông được

cử giữ chức Lưu thủ ở Thăng Long Năm 1775, ông được thăng lên chức Lại bộ

Tả thị lang kiêm Quốc sử quán Tổng tài Năm 1776, Lê Quý Đôn giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ Lê Quý Đôn đã làm nhiệm vụ này trong vòng 6 tháng ở Thuận Hoá Trong suốt quá trình làm việc ở đây, Lê Quý Đôn đã chăm lo đến việc tổ chức chính quyền, tổ chức lại đời sống kinh tế cho nhân dân Cuối năm

1776, ông được cử giữ chức Hành bộ phiên Cơ mật sự vụ kiêm Chưởng tài phú Năm 1778, được cử giữ chức Hành tham tụng Lê Quý Đôn đã từ chối Năm

1781, ông lại cử giữ chức Quốc sử quán Tổng tài Năm 1783, ông được cải bổ giữ chức Hiệp trấn xứ Nghệ An

Trang 7

Năm 1784, Lê Quý Đôn mất tại quê mẹ ở làng Nguyễn Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Trong cuộc đời của mình, Lê Quý Đôn là trí thức đọc rất nhiều, viết rất nhiều Lê Quý Đôn, không sách nào là không đọc Trong thời gian sang Bắc

Kinh ông đã đọc Khôn dư đồ thuyết và nhận thấy rằng trái đất là một quả cầu

quay chung quanh mặt trời Kiến thức của Lê Quý Đôn rất rộng về các mặt: địa

lý, thiên văn, lịch sử… Có thể nói rằng, Lê Quý Đôn là một nhà bác học tài năng, lỗi lạc, một bộ bách khoa toàn thư Lê Quý Đôn đã viết rất nhiều tác phẩm như:

1 Đại Việt thông sử

2 Kiến văn tiểu lục

3 Lê triều công thần liệt truyện

4 Quân thư khảo biện

5 Thánh mô hiền phạm lục

6 Bắc sứ thông lục

7 Vân đài loại ngữ

8 Phủ biên tạp lục

9 Thư kinh diễn nghĩa

10 Quế Đường thi tập

11 Âm chất văn chú

12 Quế Đường thi vựng tuyển tập

13 Tứ thư ước giải

14 Toàn Việt thi lục

Trang 8

Những tác phẩm của Lê Quý Đôn có ý nghĩa to lớn đối với việc học tập và nghiên cứu của các nhà sử học, kinh tế học và cả những nhà nghiên cứu lý luận

và phê bình văn học sau này

Không chỉ là một một trí thức, Lê Quý Đôn còn là một nhà chính trị có tài Ông đề nghị chúa Trịnh thiết định pháp chế Xã hội Đại Việt đã có pháp luật từ lâu nhưng tại sao Lê Quý Đôn lại yêu cầu thiết định pháp chế Xã hội Đại Việt thế kỷ XVIII, lâm vào khủng hoảng trầm trọng Giai cấp phong kiến thống trị ngày càng vi phạm một cách nghiêm trọng pháp luật mà chúng đặt ra Pháp luật được thi hành chỉ khi nào có lợi cho chúng Đề xuất thiết định pháp chế của Lê Quý Đôn trong bối cảnh xã hội phong kiến đương thời đã quá thối nát Tuy nhiên những đề nghị của ông không được thi hành

Là một trí thức, một nhà chính trị song Lê Quý Đôn lại luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân Năm 1773, hạn hán kéo dài, ông đã trình lên chúa Trịnh

nhiều điều, trong đó có câu tỏ rõ tinh thần thương dân “Phương pháp của cổ

nhân để đem lại khí hoà, dẹp ta biến, cốt lấy lễ mà cầu phúc ở thần, lấy đức mà khoan sức cho dân”

Trong tác phẩm Thư kinh diễn nghĩa, Lê Quý Đôn lại nhắc về việc khoan sức cho dân “Muốn hưởng mệnh trời lâu dài, mà không chăm lo đến đời sống

của dân thì thất không hiểu lẽ phải là gì vậy” Ông cho rằng thuế má nặng nề tất

đưa đến hậu quả nhân dân kêu ca oán trách Từ đó Lê Quý Đôn đề ra những biện pháp để chấm dứt tình trạng trên Trong cuộc đời làm quan của mình, Lê Quý Đôn luôn đi đây đó để tìm hiểu đời sống nhân dân, thực tế cuộc sống xã hội đương thời

Lê Quý Đôn là một Nho sĩ phục vụ dưới triều Vua Lê – Chúa Trịnh Ý thức hệ của ông là ý thức hệ của giai cấp phong kiến Liệu nguồn gốc xuất thân

Trang 9

ấy có ảnh hưởng gì đến quan điểm, phong cách viết sử của Lê Quý Đông không? Đây là một điểm rất đáng lưu ý khi nghiên cứu về tiểu sử của nhân vật này

3 Động cơ phản ánh của tư liệu:

Phủ biên tạp lục là tập bút ký của Lê Quý Đôn viết về xứ Đàng Trong, cụ

thể là hai xứ Thuận Quảng từ thế kỷ XVIII trở về trước Trong 6 tháng làm quan tại Thuận Hoá, ông đã ghi chép lại tất cả những gì mắt thấy tai nghe ở đây và tập

bút ký này mang tên Phủ biên tạp lục

Lê Quý Đôn là sử gia mang ý thức hệ phong kiến phục vụ cho chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài Lê Quý Đôn đứng trên lập trường đối địch với

chúa Nguyễn ở Đàng Trong khi viết Phủ biên tạp lục Tuy nhiên khi nghiên cứu

tác phẩm này, chúng ta nhận thấy tính khách quan, khoa học của tác giả khi viết

về Đàng Trong Cho đến ngày nay, tác phẩm là tư liệu quý cho chúng ta khi nghiên cứu về lịch sử Đàng Trong Hầu như rất ít các tác phẩm đề cập một cách

toàn diện tới Lịch sử Đàng Trong trừ Phủ biên tạp lục

Mục đích viết Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn rất đơn giản:“Kỳ gian tôi

nhân đi dạo núi sông, hỏi di tích, xét xem lệ cũ, tìm kiếm nhân tài, tuỳ bút chép

ra thành quyển gọi tên là Phủ biên tạp lục…Nhưng các bậc quân tử tại triều, có xét sự tích cõi Nam, muốn không ra khỏi sân mà biết việc ngoài nghìn dặm, thì tập tập này cũng có thể xem qua một lượt vậy” 1

Tác giả Lê Quý Đôn, đứng trên lập trường của một nhà khoa học để viết tác phẩm này, chứ không chịu sự chi phối của quan điểm giai cấp đối địch viết

để bôi xấu, tuyên truyền sai sự thật về Đàng Trong Đứng trên lập trường quan điểm như thế nên tác giả đã cho chúng ta cái nhìn khách quan khi đánh giá về lịch sử Đàng Trong

Trang 10

4 Vấn đề văn bản của tư liệu:

Về văn bản của Phủ biên tạp lục, hiện nay có bốn bản: Bản của thư viện

Viện Sử học, bản của Thư viện Khoa học xã hội, bản của Trường Đại học Tổng hợp và bản của tổ Cổ sử thuộc Viện Sử học

Bản của thư viện Viện Sử học thiếu mất phần cuối quyển 1 chép danh sách các phủ, huyện, tổng, xã, thôn, trang, trại, sách của xứ Thuận Quảng và phần sau quyển 3 chép lệ kén lính, số lính và phép đặt quân hiệu, lại viết sai sót nhiều

Bản của thư viện Khoa học xã hội thì đầy đủ hơn, nhưng cũng viết sai sót nhiều như thế

Bản của Trường Đại học Tổng hợp thì đại khái giống bản của Thư viện Khoa học xã hội, chỉ thiếu danh sách phủ, huyện, tổng, xã của quyển 1

Bản của Cổ sử thuộc Viện sử học tập hợp từ ba nguồn chính: Bản của Cổ học viện ở Huế, sau chuyển sang Thư viện Bảo Đại, bản của Viện Viễn đông bác

cổ ở Hà Nội, đến từ thư viện của Nội các ở Huế và bản của thư viện riêng nhà Cao Xuân Dục ở Diễn Châu

5 Tính lôgíc; tính sự kiện; tính đầy đủ, đúng đắn và giá trị khách quan của tư liệu:

Tác phẩm Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn gồm có 6 quyển:

Quyển 1: Sự tích khai thiết khôi phục hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam.

Danh số phủ huyện, tổng, xã, thôn, trang trại hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam

Quyển 2: Hình thế núi sông, thành luỹ, trụ sở, đường sá, bến đò, nhà trạm

hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam

Quyển 3: Số ngạch công tư điền trang và hoa châu, lệ cũ và tổng số thóc

gạo trưng thu ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam

Lệ cũ về quan thuộc các ty trấn dinh và thi cử hai xứ Thuận Hoá và Quảng

Trang 11

Lệ cũ và tổng số về số ngạch nhân đinh, duyệt tuyển các hạng, kén chọn lính hạng, chia đặt quân hiệu hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam

Quyển 4: Lệ thuế đầu nguồn, tuần ty, đầm hồ, chợ đò, thuế vàng bạc,

đồng, sắt và lệ vận tải ở hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam

Quyển 5: Nhân tài, thơ văn.

Quyển 6: Vật sản, phong tục

Về cấu tạo chung của sách, ông mở đầu bằng nguồn gốc lịch sử, bằng sự khái quát hình thể núi sông, gắn liền với giao thông, ruộng đất, cơ chế quản lý hành chính rồi đi tới nhân tài, kết thúc ở các sản vật địa phương, phong tục đặc thù Tác giả đi từ vấn đề khái quát đến từng vấn đề cụ thể, từ cái chung đến cái riêng

Ở quyển 1: Lê Quý Đôn đưa người đọc vào lịch sử vấn đề, về vấn đề khai thiết, khôi phục hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam Tác giả trình bày vấn đề theo phương pháp lịch đại giúp người đọc theo dõi một cách dễ dàng vấn đề

Quyển 2: Tác giả trình bày về Hình thế núi sông, thành luỹ, trụ sở, đường

sá, bến đò, nhà trạm… theo trình tự không gian, địa vực

Quyển 3: Số ngạch công tư điền trang và hoa châu lệ cũ và tổng số thóc gạo trưng thu hai xứ Thuận Quảng Tác giả đi từ vấn đề chung đến vấn đề riêng của từng khu vực hành chính với những số liệu cụ thể riêng:

Huyện Hương Trà: 243 quan 8 tiền 15 đồng

Huyện Quảng Điền: 253 quan 4 tiền 6 đồng

Huyện Phú Vang: 138 quan 3 tiền 2 đồng

Huyện Đăng Xương: 352 quan 5 tiền 41 đồng

Huyện Hải Lăng: 289 quan 2 tiền 14 đồng

Ngày đăng: 08/04/2013, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w