LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình và có hiệu quả từ Phòng Đào tạo - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội;
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - -
LÊ THỊ THU HIỀN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - -
LÊ THỊ THU HIỀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình và có hiệu quả từ Phòng Đào tạo - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội; Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình,
Sở Công thương tỉnh Thái Bình, Sở Lao động và Thương binh xã hội tỉnh Thái Bình, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình; Đảng ủy, các ban ngành liên quan trong tỉnh; Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trên địa bàn và nhân dân tỉnh Thái Bình
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế chính trị, Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Đặc biệt bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Vũ Văn Hùng - Giảng viên Trường Đại học Thương mại, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 05 tháng 02 năm 2015
Tác giả
Lê Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Danh mục các ký hiệu viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU………
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế………
1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài………
1.2 Cơ sở lý luận phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……….………
1.2.1 Khái niệm nông thôn và phát triển nông thôn………
1.2.2 Quản lý nhà nước địa phương trong phát triển nông thôn…
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế………
1.2.4 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông thôn………
1.3 Kinh nghiệm phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tại một số địa phương và bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Thái Bình ………
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tại một số địa phương………
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Thái Bình trong việc phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế…………
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của đề tài………
2.1 Phương pháp luận………
2.1.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng
2.1.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử
i
ii
1
5
5
9
9
13
18
30
37
37
43
48
48
48
49
Trang 62.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.1 Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp
2.2.2 Phương pháp logic và lịch sử
2.2.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
2.2.4 Phương pháp phân tích thống kê
2.2.5 Phương pháp so sánh
2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu
2.3.1 Địa điểm thực hiện nghiên cứu
2.3.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu
2.4 Các công cụ, phương pháp phân tích số liệu, dữ liệu thứ cấp
2.5 Hệ thống các văn bản sử dụng trong nghiên cứu đề tài
Chương 3: Thực trạng phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010 – 2013………
3.1 Những lợi thế và nhân tố tác động đến phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình………
3.1.1 Điều kiện tự nhiên………
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội………
3.2 Thực trạng quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010 – 2013………
3.2.1 Thực trạng quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010 – 2013………
3.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010 – 2013………
3.2.3 Thực trạng quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010 – 2013………
49
49
51
53
54
55
56
56
56
57
57
58
58
58
61
63
63
73
84
Trang 73.2.4 Thực trạng quản lý nhà nước địa phương đối với xuất nhập
khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư nước ngoài vào nông thôn và xuất
khẩu lao động tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế giai đoạn 2010 – 2013………
3.3 Đánh giá chung phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010 – 2013………
3.3.1 Những thành tựu đạt được………
3.3.2 Những hạn chế, tồn tại………
3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại………
Chương 4: Các giải pháp chủ yếu phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2020………
4.1 Bối cảnh mới tác động đến phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế………
4.1.1 Bối cảnh quốc tế………
4.1.2 Bối cảnh trong nước………
4.2 Mục tiêu, định hướng phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2020………
4.2.1 Mục tiêu phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2020………
4.2.2 Định hướng phát triển nông thôn Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn đến năm 2020………
4.3 Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến 2020………
4.3.1 Nhóm giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp…………
4.3.2 Nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp………
4.3.3 Nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn………
85
90
90
93
95
97
97
97
98
100
100
102
107
107
110
112
Trang 84.3.4 Nhóm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư
nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu lao động………
KẾT LUẬN………
TÀI LIỆU THAM KHẢO
113
119
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
1 AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
2 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
3 CBNSTP Chế biến nông sản thực phẩm
4 CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa
5 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
6 NXB Nhà xuất bản
7 WTO Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Giá trị sản suất nông nghiệp theo giá hiện hành phân theo
ngành hoạt động của tỉnh Thái Bình từ năm 2010 - 2013
5 Bảng 3.5 Số trang trại năm 2013 phân theo ngành hoạt động và
phân theo huyện/ thành phố thuộc tỉnh Thái Bìnhtừ
năm 2010 - 2013
67
6 Bảng 3.6 Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành phân
theo huyện/ thành phố thuộc tỉnh Thái Bìnhtừ năm
2010 - 2013
68
7 Bảng 3.7 Sản lượng gỗ và lâm sản ngoài gỗ phân loại theo lâm
sản của tỉnh Thái Bìnhtừ năm 2010 - 2013
69
8 Bảng 3.8 Giá trị sản xuất thủy sản theo giá so sánh 2010 phân
theo ngành hoạt động của tỉnh Thái Bìnhtừ năm 2010 -
11 Bảng 3.11 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành phân
theo ngành công nghiệp của tỉnh Thái Bìnhtừ năm 2010
- 2013
74
Trang 1112 Bảng 3.12 Số lao động trong ngành công nghiệp của tỉnh Thái
Bìnhtừ năm 2010 - 2013
76
13 Bảng 3.13 Sản phẩm công nghiệp chủ yếu phân theo loại hình
kinh tế của tỉnh Thái Bìnhtừ năm 2010 - 2013
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay Việt Nam đang có mức tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh mẽ, cùng với đó là tốc độ đô thị hoá nhanh và sự bất bình đẳng đặc biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị Tuy nhiên, với hơn 73% dân số sống ở vùng nông thôn, sự phát triển trong quá khứ và hiện tại ở mức độ nào đó đã mang lại lợi ích cho những người dân nông thôn bởi vì tỉ lệ nghèo đói đã giảm xuống Thậm chí mức độ phát triển cũng diễn ra không đồng đều ngay trong chính khu vực nông thôn, đặc biệt là khu vực miền núi Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản ở khu vực nông thôn Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức khác, như các thách thức gặp phải khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Những khó khăn vĩ mô đang cản trở sự phát triển khu vực nông thôn nơi mà tỷ lệ nghèo đói và tỷ lệ thất nghiệp nông thôn cao, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, diện tích đất nông nghiệp giảm do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dịch vụ nông thôn không phát triển kể cả giáo dục, y tế, sự hạn chế trong việc huy động các nguồn lực tài chính địa phương và hệ thống quản lý tài chính và chính sách tài chính cho phát triển nông thôn coi người nông dân là trọng tâm còn bất hợp lý Để phát triển nông thôn đúng hướng, có cơ sở khoa học, hợp logic và đảm bảo phát triển bền vững, thì trước hết phải tập trung nguồn lực phát triển các ngành, lĩnh vực của kinh tế nông thôn: Phát triển nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kết cấu hạ tầng nông thôn Đặc biệt trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay cần phải thực hiện các biện pháp phát triển gắn với hội nhập: xuất khẩu hàng hóa, thu hút FDI, giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động ra nước ngoài
Phát triển nông thôn là một lĩnh vực quan trọng và cấp thiết trong chiến lược phát triển kinh tế và hiện đại hóa đất nước Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước nông thôn nước ta đã có sự đổi mới và phát triển khá toàn diện Vấn đề nông thôn và phát triển nông thôn đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, cả về tổng kết lý luận, thực tiễn và đầu tư cho phát triển
Trang 13Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng, có nhiều thuận lợi và tiềm năng cho phát triển kinh tế xã hội, có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên phong phú (đất, nước, biển, khí hậu, khoáng sản…); có bờ biển dài khoảng 56 km với nhiều tiềm năng về nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, phát triển du lịch; có hệ thống giao thông đường bộ và đường thuỷ khá thuận lợi; lực lượng lao động dồi dào và có trình độ; là tỉnh dẫn đầu cả nước về sản xuất nông nghiệp Với những điều kiện thuận lợi như vậy thì cần có định hướng và giải pháp
cụ thể để Thái Bình tiếp tục phát triển hơn nữa, đóng góp vào công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay và mục tiêu của đất nước đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phát triển nông thôn đang đứng trước nhiều cơ hội và không ít thách thức Dựa trên những điều kiện hiện có, chúng ta phải có định hướng
và giải pháp như thế nào để nông thôn phát triển đúng hướng, mang lại nhiều lợi ích cho ngành nông nghiệp và nông thôn Thái Bình Vấn đề đặt ra là: Tỉnh Thái Bình làm thế nào để phát triển nông thôn trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế?
Xuất phát từ lý do trên, “Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế” được Học viên lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý kinh tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu về tình hình phát triển nông thôn theo chủ trương, chính sách của Nhà nước địa phương giai đoạn 2010 - 2013 Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để góp phần phát triển nông thôn Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 14Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chính quyền các cấp Thái Bình cần làm gì để phát triển nông thôn, mục tiêu chủ yếu là nâng cao đời sống của nông dân
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung:
Đề tài nghiên cứu quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình với các nội dung cụ thể: Phát triển nông nghiệp; phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn; phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; xuất nhập khẩu hàng hóa ở khu vực nông thôn; đầu tư nước ngoài vào nông thôn; vấn đề xuất khẩu lao động, tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho người dân ở nông thôn; phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng
và bảo vệ môi trường
Do phạm vi đề tài quá rộng nên đề tài tập trung nghiên cứu chủ đạo về các thế mạnh của tỉnh là nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kết cấu hạ tầng cũng như xuất khẩu lao động Đó cũng là những tiêu chí quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển nông thôn mới
4 Kết cấu của luận văn
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; cơ sở lý luận và thực tiễn vấn
đề phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 15- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Chương 3: Thực trạng phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2010 - 2013
- Chương 4: Các giải pháp chủ yếu phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn từ nay đến 2020
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển nông thôn là vấn đề quan trọng đối với bất cứ quốc gia, địa phương nào Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu như: Các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, bài báo khoa học, hội thảo, sách chuyên khảo, tham khảo đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề phát triển nông thôn Tiêu biểu như:
- Bài viết của tác giả Bùi Thị Thanh Huyền (2014) “Giải pháp chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững” tạp chí Kinh tế và Dự
báo, số 6 Tác giả đã đề cập đến vấn đề hiện nay là phát triển bền vững nông nghiệp
ở một địa phương cụ thể là Thái Bình Qua việc phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu, đưa ra những đánh giá về thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của hạn chế từ đó đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thái Bình chuyển dịch theo hướng bền vững
Trong cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam hôm nay và mai sau”, NXB Chính trị quốc gia (2008) của tác giả Đặng Kim Sơn, những khó
khăn của nông dân trong việc tiêu thụ nông sản đã được điều tra nghiên cứu rất công phu Điều đó cho thấy, chính sách tiêu thụ nông sản của nhà nước nhằm hỗ trợ nông dân là rất cần thiết Do phạm vi nghiên cứu của cuốn sách rất rộng nên tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về chính sách này
Cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại”, NXB Khoa học xã hội (2010), do Nguyễn
Danh Sơn chủ biên đã đề cập đến động lực để phát triển nông nghiệp, nông thôn là lợi ích của các chủ thể kinh tế Trong cuốn sách, các tác giả cho rằng, trong chính sách nông nghiệp, nông thôn, lợi ích của nông dân phải là trung tâm Tuy nhiên, do phạm vi và đối tượng nghiên cứu, cuốn sách không có điều kiện để phân tích kỹ về các giải pháp thúc đẩy phát triển nông thôn Tuy nhiên, các vấn đề lý luận về nông
Trang 17nghiệp và nông thôn được phân tích kỹ và nó được kế thừa đối với các công trình nghiên cứu sau này
- Bài viết của tác giả Seray Mardy (2014) : “Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp ở tỉnh Svay Rieng, Campuchia”, tạp chí Kinh tế và dự báo số 1 Tác
giả đã phân tích vai trò của việc huy động và sử dụng vốn cho phát triển nông nghiệp ở tỉnh Svay Riêng của Campuchia với điều kiện kinh tế khá giống với các tỉnh đồng bằng bắc bộ ở Việt Nam Để phát triển nông thôn, một trong những nguồn lực quan trọng là vốn, nguồn vốn huy động phải kèm theo việc sử dụng có hiệu quả Muốn sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cần xuất phát từ mục tiêu và điều kiện kinh tế
- Bài viết của tác giả Đinh Phi Hổ (2010), “Mô hình định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân”, Tạp chí Phát triển kinh tế số 234 có đề cập
đến các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân, trong đó yếu tố sản lượng là rất quan trọng, bởi người nông dân vẫn luôn đối mặt với tình trạng mất mùa lo đói, được mùa lo rớt giá Thu nhập của người nông dân gắn chặt với bài toán mất mùa,
được mùa Vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu là chính sách của nhà nước phải
được triển khai thực hiện như thế nào để đảm bảo nông dân không thiệt thòi khi được mùa, giá giảm
- Bài viết của tác giả Nguyễn Trần Trọng (2011), “Phát triển nông nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hội nhập giai đoạn 2011 – 2020”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 395 và bài viết của tác giả Chu Tiến Quang (2011), “Nông nghiệp Việt Nam sau 4 năm gia nhập WTO – Những thay đổi về chính sách”, Tạp
Trang 18chí Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội, số 61+62, đã làm rõ những thành tựu của nông nghiệp Việt Nam sau gia nhập WTO Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế, khu vực nông nghiệp đã phát huy được những lợi thế có sẵn của mình đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời với nó là những thách thức cũng không nhỏ như: kết cấu hạ tầng, trình độ công nghệ và tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực nông nghiệp còn yếu; khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm giá các loại đầu vào của sản xuất tăng mạnh trong khi giá nông sản tăng không tương xứng, theo đó
đã tác động tiêu cực đến người sản xuất Các bài viết trên đã tổng kết những tác động chính đến sản xuất và tiêu thụ nông sản từ đó làm cơ sở cho việc điều chỉnh chính sách phát triển nông thôn phù hợp với các cam kết
- Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về xuất khẩu nông sản, do điều kiện tự nhiên thuận lợi và chi phí lao động thấp Tuy nhiên, Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp đầu vào là nông sản thô, trong khi giá trị gia tăng đối với hàng nông sản lại chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại Tác giả Phan
Thu Trang (2014) đã chỉ ra những điểm hạn chế, từ đó đưa ra giải pháp qua bài viết
"Tăng cường sự tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu",
Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 5
- Vấn đề giá nông sản, sản lượng nông sản ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài có sự biến động phức tạp do nhiều yếu tố ảnh hưởng đã khiến cho chính sách của Nhà nước và phản ứng của các chủ thể (sản xuất, tiêu thụ, chế biến, ) dễ rơi vào tình trạng bị động đã và đang diễn ra nhiều hơn Điều này đã
được đề cập tới ở các bài viết của Trần Đức Viên (2011), “Giải pháp chính sách phát triển vùng lúa chuyên canh để đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 2; Hoàng Văn Hoan (2011), “Những vấn đề đặt
ra đối với nông dân Việt Nam và khuyến nghị chính sách”, Tạp chí Nghiên cứu
kinh tế, số 392
Tóm lại, các công trình nghiên cứu khoa học trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp
đề cập đến vấn đề phát triển nông thôn nói chung ở Việt Nam hoặc ở một địa phương, một ngành cụ thể, cùng với đó là các tác giả đã phân tích thực trạng và làm
Trang 19rõ những nguyên nhân tồn tại trong việc phát triển nông thôn và đưa ra giải pháp cho từng vấn đề Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề phát triển nông thôn gắn với quá trình hội nhập kinh tế của tỉnh Thái Bình thì chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào đền cập tới Đề tài sẽ kế thừa các thành quả đạt được của các công trình trên đồng thời tiếp tục nghiên cứu vấn đề phát triển nông thôn đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Thái Bình nhằm phát triển nông thôn của địa phương một cách hiệu quả và bền vững Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần làm
rõ các khoảng trống mà các đề tài, công trình trên chưa đề cập hoặc đề cập dưới các góc độ khác nhau và thời gian, không gian khác nhau
Cần làm rõ nội hàm của khái niệm phát triển nông thôn, phát triển nông thôn bao hàm những nội dung gì? Cần có một khung khổ lý thuyết về phát triển nông thôn trong quá trình đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
Làm rõ thực trạng phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định, xong nông thôn của Tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại như : Quy mô sản xuất các sản phẩm nông sản hàng hóa còn nhỏ lẻ, phân tán, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, sức cạnh tranh trên thị trường còn thấp, chưa tạo được các vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung; nhiều vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tự phát không theo quy hoạch; việc ứng dụng các tiến bộ khoa học – công nghệ mới vào sản xuất còn chậm; Giá cả thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản hàng hóa không ổn định, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của nông dân còn gặp nhiều khó khăn; công nghiệp chế biến các sản phẩm nông sản chậm phát triển; các nghề và làng nghề nông thôn phát triển chậm
và thiếu ổn định; các lĩnh vực dịch vụ nông thôn chưa phát triển; lao động trong nông thôn chiếm tỷ trọng lớn và thiếu việc làm, năng suất lao động trong nông nghiệp đạt thấp, thu nhập của nông dân còn thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn; kết cấu hạ tầng nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; ô nhiễm môi trường trong nông thôn còn thấp…
Để nông thôn của tỉnh Thái Bình trong thời gian tới phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tập trung,
Trang 20hiệu quả và phát triển bền vững, phát triển nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại… thì việc chính quyền địa phương cần đưa ra những chính sách, biện pháp hiệu
quả nhằm phát triển nông thôn Thái Bình đến năm 2020
1.2 Cơ sở lý luận phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế
1.2.1 Khái niệm nông thôn và phát triển nông thôn
* Khái niệm nông thôn
Nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau Cho đến nay chưa có một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Để có được định nghĩa nông thôn, người ta so sánh nông thôn và thành thị
Trong khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư
Có ý kiến dùng chỉ tiêu trình độ phát triển kết cấu hạ tầng để phân biệt thành thị và nông thôn Có ý kiến dùng chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hoá, tiếp cận thị trường
để phân biệt thành thị và nông thôn (điều này còn phụ thuộc vào cơ chế kinh tế của mỗi nước) Có ý kiến cho rằng vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đó làm nông nghiệp là chủ yếu (nó phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế của vùng)
Qua một số ý kiến trên nếu dùng chỉ tiêu riêng lẻ thì chỉ thể hiện từng mặt của nông thôn mà chưa thể hiện nông thôn một cách đầy đủ
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về nông thôn như sau: Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn
Tuy nhiên khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục nghiên cứu
để có khái niệm chính xác
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả kế thừa khái niệm nông thôn bao hàm nội dung như sau: Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa
Trang 21bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cơ chế kinh tế, vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông thôn
Xét về mặt kinh tế kỹ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu Xét về mặt kinh tế - xã hội, kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế nông nghiệp, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Xét
về không gian và lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các vùng như vùng chuyên canh cây lúa, vùng trồng cây ăn quả, vùng chuyên canh cây màu…
Tóm lại, phát triển nông thôn là một khái niệm bao trùm các nội dung: Phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, xuất nhập khẩu hàng hóa, đầu tư nước ngoài vào nông thôn, vấn đề xuất khẩu lao động, tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho người dân ở nông thôn
* Đặc trưng của nông thôn
- Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dân Là vùng sản xuất nông nghiệp là cơ bản, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho nông dân
- So với thành thị thì nông thôn là vùng có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị trường thấp hơn Vì vậy nông thôn chịu sức hút của thành thị về nhiều mặt Dân cư nông thôn thường hay đổ xô về thành thị để kiếm việc làm và tìm cơ hội sống tốt hơn
- Nông thôn có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn hoá, khoa học công nghệ thấp hơn thành thị và ngay cả trình độ dân chủ, tự do, công bằng xã hội trong một chừng mực nào đó cũng thấp hơn thành thị
Trang 22- Nông thôn giàu tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, khí hậu và rất đa dạng về kinh tế, xã hội, đa dạng về các hình thức tổ chức quản lý, đa dạng về quy mô và trình độ phát triển Tính đa dạng đó không chỉ diễn
ra giữa các nước khác nhau mà ngay giữa các vùng nông thôn khác nhau của mỗi nước Điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng khai thác tài nguyên và các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
* Khái niệm phát triển nông thôn
Các chuyên gia của Ngân hàng thế giới đã đưa ra quan niệm về phát triển nông thôn là: phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong số những người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng nông thôn
Theo Uma Lele trong "Kế hoạch phát triển nông thôn ở châu Phi" thì phát triển nông thôn được định nghĩa là sự cải thiện mức sống của phần lớn dân chúng
có thu nhập thấp đang cư trú ở các vùng nông thôn và tự lực thực hiện quá trình phát triển của họ
Theo Nandasema Ratnapana (Ấn Độ) thì phát triển nông thôn không thể là một hoạt động cục bộ, rời rạc và thiếu quyết lâm Nó phải là một hoạt động của tổng thể, liên tục diễn ra trong cả một quốc gia Phát triển nông thôn không thể tồn tại lâu hơn như một cố gắng đơn độc chỉ thực hiện trong các cộng đồng nông thôn lạc hậu với lý do nhân đạo, mà nó phải thể hiện như một chương trình phát triển tổng thể quốc gia, bổ sung cho những nỗ lực phát triển kinh tế quốc dân to lớn
Ngày nay Chính phủ các nước và nhiều tổ chức quốc tế nghiên cứu các vấn
đề phát triển ngày càng có quan hệ chặt chẽ với nhau và nhận thức rõ hơn về thực trạng và yêu cầu phát triển nông thôn Ở Việt Nam chúng ta đã nghiên cứu và thảo luận về sự phát triển, chúng ta đã và đang có những suy nghĩ xây dựng mục tiêu và chương trình hành động cho sự phát triển của từng vùng, từng địa phương và toàn quốc Những thành tựu đạt được trong sự đổi mới và phát triển đất nước những năm vừa qua đã làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi rõ rệt Kết cấu hạ tầng được đầu tư
Trang 23cải tạo hoàn thiện hơn, những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất được áp dụng đã làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và giá trị sản lượng nông nghiệp, tăng trưởng kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu người, môi trường sống cũng đang dần dần được cải thiện
Nông thôn Việt Nam có trên 76% dân số sinh sống và làm việc Nếu sự phát triển chỉ tiến hành theo kiểu trước đây mà không chú ý đến đặc điểm của từng nơi, từng đối tượng thì những giải pháp ấy chưa thể rút ngắn được khoảng cách giữa những người giàu và người nghèo và tất nhiên vẫn còn một số không nhỏ tầng lớp dân cư trong xã hội ít được hưởng quyền lợi từ sự thay đổi này, đó là những lớp người nghèo ở nông thôn và thành thị
Chúng ta có thể so sánh những thành quả do sự phát triển mang lại và những người được hưởng nguồn lợi ấy với những tổn thất mà nó gây ra và những người dân nông thôn phải chịu đựng để thấy được sự cần thiết phải thay đổi quan điểm và chương trình hành động cho sự phát triển
Những chương trình phát triển cần phải tập trung giải quyết những khó khăn cho người dân nông thôn như quan hệ giữa dân số với đất đai cho sản xuất nông nghiệp, quan hệ giữa dân trí, học vấn với năng suất lao động và trình độ sản xuất hàng hoá, quan hệ giữa dân số và việc làm Điều mà chúng ta mong muốn là giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo đến mức có thể chấp nhận được Thực tế ở một số nước đang phát triển đã gặp phải thất bại khi muốn rút ngắn khoảng cách này và một số trường hợp lại làm cho sự chênh lệch này ngày càng rộng hơn, bởi
vì có những chương trình phát triển đặt ra nhưng không chú ý đến những khó khăn
mà người nghèo ở các vùng nông thôn phải chịu đựng Chính thực trạng này đã tác động mạnh mẽ đến đời sống của người dân nông thôn, buộc chúng ta phải hướng tới
sự phát triển một cách toàn diện, nếu như không muốn có sự thất bại Giữa nông thôn và thành thị còn có sự khác nhau lớn về cơ hội kiếm sống và điều kiện sống
Trang 24* Đặc trưng phát triển nông thôn:
Phát triển nông thôn được thể hiện thông qua những ý tưởng, mục tiêu và biện pháp tiến hành trong các phương án quy hoạch, các dự án khả thi Chúng có những đặc trưng sau:
- Phát triển nông thôn là cải thiện đời sống cho phần lớn dân chúng nông thôn
- Phát triển nông thôn gây tổn hại ít hơn so với lợi ích mà nó mang lại và tốt hơn cả là tồn tại ở mức thấp nhất
- Phát triển nông thôn ít nhất đảm bảo cho người dân nông thôn có mức sống tối thiểu hoặc những yếu tố cần thiết cho cuộc sống của họ
- Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài
- Phát triển nông thôn gắn liền với việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
1.2.2 Quản lý nhà nước địa phương trong phát triển nông thôn
1.2.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước trong phát triển nông thôn
* Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý và khách thể của quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
* Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước
* Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nông thôn
Quản lý nhà nước đối với phát triển nông thôn là hoạt động sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra của thệ thống cơ quan quản lý nhà nước
Trang 25từ trung ương tới địa phương đối với lĩnh vực phát triển nông thôn trên cơ sở nhận thức vai trò,vị trí và đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của nông thôn để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nước, nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao nhất
1.2.2.2 Vai trò của nhà quản lý nhà nước trong phát triển nông thôn
- Tạo lập môi trường và các điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế trong nông thôn được tự do, bình đẳng trong hoạt động kinh doanh nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực
- Định hướng và hướng dẫn các chủ thể kinh tế tham gia đầu tư, phát triển nông thôn theo cơ chế thị trường
- Tổ chức hệ thống các đơn vị sản xuất trong nông thôn hình thành, tồn tại và phát triển
- Nhà nước vừa phải tuân thủ và vận dụng các quy luật khách quan của kinh
tế thị trường, vừa sử dụng có hiệu quả hệ thống công cụ kinh tế vĩ mô để điều tiết làm cho nền kinh tế nông thôn phát triển theo định hướng của nhà nước
- Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các
chủ thể kinh doanh ở nông thôn
1.2.2.3 Nội dung và công cụ quản lý nhà nước trong phát triển nông thôn
* Nội dung
- Nhà nước hoạch định, tổ chức thực hiện và quản lý các dự án xây dựng cơ
sở hạ tầng phục vụ phát triển nông thôn
- Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác và sử dụng các nguồn lực vào sản xuất phát triển nông thôn, nhằm bảo vệ tài nguyên môi trường phát triển bền vững
- Nhà nước thống nhất quản lý việc xây dựng chương trình, kế hoạch, đề tài nghiên cứu phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
- Nhà nước thống nhất quản lý về xây dựng và phát triển kinh tế hộ nông dân, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước; quản lý công tác khuyến nông, khuyến công…
Trang 26- Nhà nước ký kết các văn bản pháp lý về vốn cho nông thôn với nước ngoài, với các tổ chức quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác kinh tế quốc tế, thúc đẩy phát triển nông thôn trên các lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu lao động
* Công cụ quản lý nhà nước trong phát triển nông thôn
Để quản lý nông thôn, Nhà nước cần sử dụng một hệ thống các công cụ Vấn
đề mới ở đây là hệ thống công cụ quản lý Nhà nước ta sử dụng để quản lý nông thôn trong điều kiện cơ chế thị trường, chứ không phải cơ chế quản lý tập trung trước đây Các công cụ quản lý đó là pháp luật, kế hoạch và chính sách kinh tế
Vai trò của pháp luật kinh tế trong quản lý Nhà nước đối với nông thôn
Pháp luật kinh tế là một bộ phận nằm trong hệ thống pháp luật kinh tế nói chung Pháp luật kinh tế bao gồm tổng thể những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến sự tồn tại, vận hành của nền kinh tế nói chung cũng như của nông thôn nói riêng Trong những văn bản pháp luật đó quy định cụ thể các quy tắc xử sự bắt buộc
do Nhà nước đặt ra hay thừa nhận mà mỗi cá nhân hay tổ chức kinh tế buộc phải tuân theo để hành vi ứng xử của họ phù hợp với những quan hệ kinh tế khách quan
và với lợi ích chung của xã hội Đối tượng điều chỉnh của pháp luật kinh tế là các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông và tiêu dùng và trong quá trình vận hành quản lý kinh tế Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia những quan hệ đó được Nhà nước quy định và được đảm bảo thực hiện bằng pháp luật và việc xác định quyền và nghĩa vụ cũng như việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ ấy của các bên tham gia vào các hoạt động phát triển nông thôn Bằng cách đó, pháp luật tác động chi phối hành vi kinh tế của đối tượng quản lý cũng như của chủ thể quản lý Do vậy pháp luật tồn tại với tính cách là một công cụ quản lý đối với phát triển nông thôn và vai trò quan trọng thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
Một là, xác lập cơ sở pháp lý, bảo vệ và hỗ trợ hình thành phát triển cơ chế thị trường trong phát triển nông thôn
Trang 27Dựa trên nhận thức đúng đắn, Khách quan và khoa học các quy luật vận động của nông thôn theo cơ chế thị trường, Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy nhằm tổ chức có tính chất Nhà nước các quan hệ kinh tế khách quan đó phù hợp với quy chế mới Mặt khác, nhờ sự hỗ trợ và bảo vệ của pháp luật mà ý thức tôn trọng, tuân thủ các quan hệ kinh tế khách quan của các bên tham gia sẽ điều chỉnh hành vi kinh tế của họ, tạo điều kiện để phát triển các mối quan hệ được luật pháp xác định ở trên Như vậy pháp luật giữ vai trò là yếu tố tạo dựng, hỗ trợ và bảo
vệ cho sự hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế theo mục tiêu định hướng của Đảng và nhà nước ta
Hai là, xác lập trật tự và môi trường kinh doanh lành mạnh cho nông thôn Bằng việc tổ chức có tính chất Nhà nước của các quan hệ kinh tế khách quan dưới hình thức quyền và nghĩa vụ cơ bản, về thực chất pháp luật đã xác định trật tự
và môi trường kinh doanh lành mạnh cho mọi hoạt động kinh tế trong nông thôn Bởi vì những quyền và nghĩa vụ thể hiện ở sự phân cấp và thẩm quyền, điều kiện thực hiện, phạm vi và trình tự thực hiện, những điều được làm và không được làm
mà pháp luật xác định luôn hàm chứa những yếu tố của một trật tự Ví dụ, trật tự và môi trường kinh doanh có thể bị phá vỡ bởi cạnh tranh không lành mạnh do thiếu luật bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, luật quảng cáo hoặc một thị trường thống nhất có thể bị phá vỡ nếu thẩm quyền của các cấp, các ngành các địa phương không được pháp luật quy định rõ ràng
Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh tế tham gia vào các quan hệ kinh tế trong phát triển nông thôn
Việc bảo vệ lợi ích nói trên của các chủ thể kinh tế chỉ có thể thực hiện bằng cách ghi nhận, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên, ghi nhận hình thức và các thủ tục giải quyết tranh chấp trong kinh doanh vào luật pháp Nhờ vậy lợi ích của các chủ thể kinh tế được tôn trọng và được giải quyết thoả đáng Nếu thiếu luật pháp thì việc giải quyết, xử lý các quan hệ lợi ích sẽ thiếu trật tự, gây lộn xộn không cần thiết có ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế
Vai trò của công cụ kế hoạch
Trang 28Để quản lý hoạt động kinh tế, chủ thể quản lý các cấp phải xử dụng công cụ
kế hoạch Xét về thực chất, kế hoạch là các quyết định của chủ thể quản lý về mục tiêu, biện pháp và các đảm bảo vật chất cần thiết để thực hiện mục tiêu trong một thời kỳ nhất định Như vậy kế hoạch là một công cụ định hướng, tổ chức và điều khiển các hoạt động kinh tế của một đơn vị, một địa phương hay toàn bộ nền nông nghiệp nông thôn
Vai trò của công cụ kế hoạch trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là, cho phép chủ thể quản lý cũng như mọi bộ phận trong hệ thống quản
lý nhận thức thống nhất về hướng đi, cách đi thích hợp để nhanh chóng đạt tới mục tiêu Trên cơ sở thống nhất nhận thức mà hoạt động của mọi cấp, mọi bộ phận, mọi
tổ chức tự giác, chủ động và thống nhất trong hành động thực tiễn
Hai là, kế hoạch còn giúp cho các nhà quản lý chủ động thích ứng với những thay đổi trong quá trình phát triển của thực tiễn do có những dự đoán trước; chủ động tạo ra những biến đổi có lợi cho quá trình phát triển; hướng các nhà quản lý tập trung vào những nhiệm vụ trọng yếu
Ba là, kế hoạch còn là một căn cứ để tổ chức bộ máy quản lý, kiểm tra và đánh giá hiệu quả của các hoạt động quản lý ở các cấp, các địa phương và toàn ngành
Chính sách kinh tế
Công cụ chính sách kinh tế giúp Nhà nước điều khiển hoạt động của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ ) Nhờ các chính sách kinh tế dẫn dắt hoạt động mà các chủ thể kinh tế trong nông thôn đã hành động phù hợp với lợi ích chung của xã hội; các nguồn tài nguyên nông thôn được huy động vào sản xuất một cách có hiệu quả để đạt đến mục tiêu và các kế hoạch định hướng
- Chính sách phát triển nông thôn
Hiện nay Nhà nước ta đang sử dụng một hệ thống các chính sách tác động trực tiếp tới sự phát triển của nông thôn, có thể kể đến một số chính sách chủ yếu sau đây:
Trang 29+ Chính sách đổi mới cơ cấu nông nghiệp, nông thôn
- Chính sách phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Chính sách hợp tác quốc tế
+ Xuất khẩu hàng hóa
+ Vốn đầu tư nước ngoài vào nông thôn
+ Xuất khẩu lao động
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3.1 Phát triển nông nghiệp
- Vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội và phát triển nông thôn:
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu cho đời sống con người như lương thực, thực phẩm mà không người sản xuất vật chất nào có thể thay thế được Ngoài ra nông nghiệp còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp như công nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ khác
Trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam vẫn coi trọng kinh tế nông nghiệp Nông thôn vẫn được coi là địa bàn trọng điểm để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Không thể làm giàu từ nông nghiệp, điều đó đúng nhưng cũng không thể ổn định xã hội và phát triển kinh tế nếu đất nước thiếu lương thực, thực phẩm, nông thôn nghèo nàn, lạc hậu, dân trí thấp Trải qua những bước thăng trầm trong xây dựng và phát triển đất nước đã cho chúng ta một bài học
là không thể xem nhẹ vai trò của nông nghiệp, nông thôn
Trang 30+ Tăng trưởng nông nghiệp, tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm ở nông thôn
Đối với khu vực nông thôn, vai trò của nông nghiệp lại càng trở nên quan trọng Người ta có thể nói rằng sự tăng trưởng của nông nghiệp như một "chìa khoá" cho sự phát triển nông thôn bởi hai lý do sau đây:
Tăng trưởng nông nghiệp sẽ làm tăng khả năng sử dụng lao động trong nông thôn Hiện nay quỹ thời gian của lao động nông nghiệp còn dư thừa quá lớn (khoảng gần 50%), nếu nông nghiệp đi sâu vào sản xuất thâm canh, thay đổi phương thức sản xuất từ tự cung tự cấp sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá, cải tiến cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên cơ sở phát triển, nông nghiệp bền vững thì nhu cầu lao động nông nghiệp sẽ tăng lên, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần đáng kể giảm tỷ lệ lao động bán thất nghiệp trong nông thôn
Tăng trưởng nông nghiệp trên cơ sở tăng hiệu quả sản xuất và năng suất đất đai, đa dạng hoá sản phẩm đã kích thích ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp địa phương và dịch vụ phát triển, tạo ra một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý làm tăng thu nhập cho hầu hết dân cư nông thôn
- Những vấn đề cơ bản của phát triển nông nghiệp
+ Vấn đề an toàn lương thực: An toàn lương thực là khả năng tiếp cận cho tất
cả mọi người ở mọi lúc có đủ lương thức cho một cuộc sống khoẻ mạnh và hoạt động Các thành phần quan trọng của nó là sự sẵn có lương thực và khả năng kiếm được lương thực
+ Phát triển nông nghiệp bền vững: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn, sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cần ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và tương lai Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ, hải sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật
và công nghệ, có hiệu quả kinh tế và được xã hội chấp nhận"
1.2.3.2 Phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
* Khái niệm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trang 31- Khái niệm công nghiệp
Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội Công nghiệp bao gồm 3 loại hoạt động chủ yếu: khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thuỷ; sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội; khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt Thực hiện 3 hoạt động cơ bản đó, dưới sự phân công lao động xã hội trên cơ sở tiến bộ của khoa học và công nghệ, trong nền kinh tế quốc dân hình thành
hệ thống các ngành công nghiệp: khai thác tài nguyên khoáng sản, động vật, thực vật, các ngành sản xuất và chế biến sản phẩm và các ngành công nghiệp dịch vụ sửa chữa
Hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp Tính chất hoạt động của sản phẩm này là cắt đứt các đối tượng lao động ra khỏi môi trờng tự nhiên Chế biến là các hoạt động làm thay đổi hoàn toàn
về chất của các nguyên liệu nguyên thuỷ, để tạo ra các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến thành các sản phẩm cuối cùng đưa vào tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng trong đời sống Quá trình chế biến từ một nguyên liệu có thể tạo ra một loại sản phẩm tương ứng và cũng có thể là một loại sản phẩm nào đó được tạo ra từ các nguyên liệu khác nhau Sản phẩm trung gian được coi là nguyên liệu của quá trình sản xuất công nghiệp tiếp theo Sản phẩm cuối cùng là sản phẩm đã ra khỏi quá trình sản xuất công nghiệp để đưa vào trong sản xuất và tiêu dùng trong đời sống
Sửa chữa là một hoạt động không thể thiếu được nhằm khôi phục, kéo dài tuổi thọ của các tư liệu lao động trong các ngành sản xuất và kéo dài thời gian sử dụng của các sản phẩm dùng trong đời sống Công nghiệp sữa chữa là hình thức có sau so với công nghiệp khai thác và chế biến Lúc đầu các hoạt động này được thực hiện ngay trong các ngành công nghiệp khai thác, chế biến và trong đời sống sinh hoạt của dân cư, do lực lượng lao động chính trong các ngành và lĩnh vực đó thực hiện Sau đó, do sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành sản xuất,
Trang 32dịch vụ, do sự phát triển đa dạng hoá của sản phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt, hoạt động sửa chữa được tách ra thành một ngành chuyên môn hoá thực hiện dịch vụ sửa chữa có tính chất xã hội
- Khái niệm tiểu thủ công nghiệp
Tiểu thủ công nghiệp là ngành công nghiệp mà sản phẩm làm ra chủ yếu bằng thủ công với quy mô nhỏ Tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn thường gắn liền với thời gian nông nhàn, nhưng nó lại có thu nhập cao hơn sản xuất nông nghiệp vì vậy mà nhiều hộ đã rời hẳn nông nghiệp sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp Cho nên tiểu thủ công nghiệp phát triển manh ở nông thôn thường gắn liền với các làng nghề truyền thống Hiện nay chưa có một định nghĩa nào về làng nghề nhưng có thể thấy rằng làng nghề là nơi có trên 50% hộ dân làm nghề đó với tổng thu nhập từ nghề đó phải chiếm trên 50% tổng thu nhập cả làng
* Vị trí của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong phát triển nông thôn
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trong nông thôn, vị trí đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là một bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, do những đặc điểm vốn có của nó Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó
- Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp không những chỉ là ngành khai thác tài nguyên,
mà còn tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thuỷ được khai thác và sản xuất từ các loại tài nguyên, khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người
- Sự phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là một yếu tố có tính chất quyết định để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá toàn bộ nền
Trang 33kinh tế quốc dân Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên nền sản xuất lớn, tuỳ theo trình độ phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, xuất phát từ những điều kiện đặc điểm cụ thể của mỗi nước, mỗi thời kỳ cần phải xác định đúng đắn vị trí của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân hình thành phương án cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và định hướng từ chuyển dịch cơ cấu đó một cách có hiệu quả Đó là một nhiệm vụ quan trọng của việc tổ chức nền kinh tế, nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Ở nước ta, cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp đang là cơ cấu kinh tế quan trọng nhất, Đảng ta đang có chủ trương xây dựng nền kinh tế nước ta có cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp hiện đại và chuyển dịch cơ cấu đó theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
* Vai trò của công nghiệp trong quá trình phát triển nông thôn
Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong quá trình phát triển nông thôn lên nền sản xuất lớn là một tất yếu khách quan Tính tất yếu khách quan đó xuất phát từ bản chất, những đặc điểm vốn có của công nghiệp
Trong quá trình phát triển nông thôn, công nghiệp luôn luôn giữ vai trò chủ đạo Vai trò chủ đạo của công nghiệp được hiểu là: Trong quá trình phát triển nông thôn, công nghiệp là ngành có khả năng tạo ra động lực và định hướng sự phát triển cuả các ngành kinh tế khác lên kinh tế nông thôn Vai trò chủ đạo đó được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
- Do đặc điểm của nền sản xuất công nghiệp, công nghiệp có những điều kiện tăng nhanh tốc độ phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ đó vào sản xuất, có khả năng và điều kiện sản xuất hoàn thiện Nhờ
đó lực lượng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành kinh tế khác Do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và tính chất phát triển của lực lượng sản xuất, trong công nghiệp có được hình thức quan hệ sản xuất tiên tiến
Trang 34- Tính tiên tiến về các hình thức quan hệ sản xuất, sự hoàn thiện nhanh về các mô hình tổ chức sản xuất đã làm cho công nghiệp có khả năng định hướng cho các ngành kinh tế khác tổ chức đi lên nền sản xuất lớn theo hình mẫu, kiểu công nghiệp
- Cũng do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, đặc điểm về công nghệ sản xuất, đặc điểm về công dụng sản phẩm công nghiệp, công nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm làm chức năng tư liệu lao động trong các ngành kinh tế, từ đó mà công nghiệp có vai trò quyết định trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào để xây dựng cơ sở vật chất để phát triển nông thôn
- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ trang bị cơ sở vật chất
kỹ thuật và trình độ hoàn thiện về tổ chức sản xuất, hình thành một đội ngũ lao động
có tính tổ chức, tính kỷ luật và trình độ trí tuệ cao, cộng với tính đa dạng của hoạt động sản xuất, công nghiệp là một trong những ngành đóng góp phần quan trọng vào việc tạo ra thu nhập quốc dân, tích luỹ vốn để phát triển kinh tế nông thôn, từ
đó, công nghiệp có vai trò quan trọng góp phần vào việc giải quyết những nhiệm vụ
có tính chiến lược của nông thôn như tạo việc làm cho lực lượng lao động, xoá bỏ
sự cách biệt thành thị nông thôn, giữa miền xuôi với miền núi
- Trong quá trình phát triển nông thôn ở nước ta hiện nay, Đảng có chủ trương coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, giải quyết về cơ bản vấn đề lương thực, cung cấp nguyên liệu động thực vật để phát triển công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hoá nhằm tạo ra những tiền đề để thực hiện công nghiệp hoá Để thực hiện được những nhiệm vụ cơ bản đó, công nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp các yếu tố đầu vào nước, phân, cần, giống bằng những công nghệ ngày càng hiện đại để phát triển nông nghiệp, gắn công nghiệp chế biến với nông nghiệp, phát triển công nghiệp nông thôn, đưa nông nghiệp lên nền sản xuất hàng hoá
1.2.3.3 Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
Thời gian qua, nước ta đã có nhiều chính sách, chương trình, dự án đẩy mạnh kết cấu hạ tầng nông thôn và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Kết cấu hạ
Trang 35tầng nông thôn tiếp tục được nâng cấp và hoàn thiện, tạo điều kiện cho sản xuất
phát triển, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới
Về cơ bản, xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đó cũng là yếu tố
cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh và bền vững Xuất phát
từ thực tiễn tiến hành công nghiệp hoá trước đây và căn cứ vào thực trạng kinh tế của nước ta cũng như yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải không ngừng phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng nông thôn làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Những năm qua, toàn dân đã ra sức cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích luỹ cho đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
1.2.3.4 Phát triển nông thôn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
* Xuất nhập khẩu hàng hóa
Bước vào thiên niên kỷ thứ 3, xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế, từng nước tranh thủ các lợi thế so sánh để hoà nhập vào thế giới với chiến lược tăng tốc
độ phát triển kinh tế dựa vào tiềm năng của mình và lợi ích của phân công lao động quốc tế, trước hết dựa vào tiềm lực khoa học – công nghệ mũi nhọn, bắt đầu vào nền kinh tế tri thức
Sự ra đời của các tổ chức thương mại quốc tế, và liên minh khu vực như: hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), khu vực tự do Bắc Mỹ (NAFTA), tổ chức thương mại thế giới (WTO), tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã hướng thế giới vào xu thế hội nhập toàn cầu hoá Do vậy, hơn bao giờ hết, thương mại quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng các quốc gia trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế toàn cầu
Thương mại quốc tế là một trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế đối ngoại, có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của các nước Không có nước nào lại tự sản
Trang 36xuất tất cả các mặt hàng và tự cung tự cấp dịch vụ Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ thương mại trên các vùng của một đất nước đi đôi với việc mở rộng giao lưu thương mại và dịch vụ với các nước, sẽ đẩy mạnh được sản xuất trong nước đó, cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ lợi ích của người sản xuất, tăng được tích luỹ, đẩy mạnh phát triển nền kinh tế Với các nước đang phát triển đảm bảo nhập được các hàng cần thiết trong đó bảo đảm được nguyên nhiên vật liệu mà trong từng nước không sản xuất đủ Qua thương mại quốc tế các nước phát triển mới xuất khẩu được nhiều sản phẩm cho nước khác, nhập khẩu được nguyên liệu rẻ, tranh thủ được lợi thế so sánh
Một là, trong xu thế chung của nền kinh tế thời gian trong thế kỷ XXI, đó là
hướng và phát triển lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ điện tử viễn thông, công nghệ sinh học và tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới Đối với Việt Nam, việc hội nhập vào nền kinh tế thời gian còn đi sau nhiều nước, còn đang mới mẻ Điểm xuất phát kinh tế thấp cơ cấu kinh tế mới, tăng cường tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học công nghệ, tạo điều kiện đưa đất nước phát triển nhanh hội nhập vào thế giới trong thế kỷ XXI
Hai là, hoạt động xuất khẩu phát huy lợi thế so sánh của đất nước Theo quy
luật lợi thế so sánh, do D.Ricardo phát triển, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn
so với các quốc gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích Khi tham gia vào thương mại quốc tế, quốc gia đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất (đó là những hàng hoá có lợi thế tương đối) và nhập khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng bất lợi nhất (đó
là hàng hoá không có lợi thế tương đối)
Ba là, nước ta với dân số khoảng 80 triệu dân, trong đó hơn 70% sống bằng
nghề nông nghiệp, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động thiếu công ăn việc làm tương đối cao, đó là một vấn đề nan giải và cấp bách Chính vì vậy, hoạt động xuất khẩu
sẽ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo thu nhập mà tăng mức sống cho nhân dân
Trang 37Bốn là, hoạt động xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo các bộ phận khác của kinh
tế đối ngoại cũng phát triển như dịch vụ du lịch, quan hệ tín dụng , đầu tư, hợp tác liên doanh, mở rộng vận tải quốc tế bởi vì xuất khẩu là một bộ phận rất quan trọng của kinh tế đối ngoại, xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại luôn tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau
Năm là, hoạt động xuất khẩu cao uy tín của hàng hoá Việt Nam trên thị
trường thế giới, tăng cường và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam và các nước trên thế giới Chỗ đứng của Việt Nam không tách rời thế giới, với hợp tác quốc tế phát triển kinh tế đối ngoại đúng đắn nói chung và thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu nói riêng sẽ mang lại cho Việt Nam lợi thế so sánh cao, vị thế xứng đáng trên trường quốc tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đảm bảo đi nhanh
* Thu hút đầu tư nước ngoài vào nông thôn
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình thức di chuyển vốn quốc
tế Trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi
là bên hợp danh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên, để tiến hành đầu tư vào Việt Nam mà không lập thành một pháp nhân
Hình thức đầu tư này đã xuất hiện từ sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếc cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện được các quy định pháp lý cho hình thức này Điều đó
đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích, hướng dẫn và vận dụng vào thực tế ở Việt Nam Ví dụ như có sự nhầm lẫn giữa hợp đồng hợp tác kinh doanh với các dạng hợp đồng khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.(như hợp đồng gia công sản phẩm, hợp đồng mua thiết bị trả chậm vv ) Lợi dụng sơ hở này, mà một số nhà đầu tư nước ngoài đã trốn sự quản
Trang 38lý của Nhà Nước Tuy vậy hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần xu hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế
- Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiền bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua
Thông qua hợp tác liên doanh với các đối tác Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam trên thị trường mà họ chưa quen biết trong quá trình làm ăn của họ tại Việt Nam Mặt khác do môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều bất chắc nên các nhà đầu tư nước ngoài không muốn gánh chịu rủi ro mà muốn các đối tác Việt Nam cùng chia
sẻ với họ nếu có Liên doanh với một đối tác ở bản địa, các nhà đầu nước ngoài yên tâm hơn trong kinh doanh vì họ đã có một người bạn đồng hành
Những năm gần đây, xu hướng của các nhà đầu tư nước ngoài giảm sự quan tâm đến hình thức này và các dự án 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại có xu hướng tăng lên Đó là do sau thời gian tiếp xúc với thị trường Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài đã hiểu rõ hơn về luật pháp, chính sách và các quy định khác của Việt Nam Thậm chí họ còn hiểu rõ về phong tục tập quán và thói quen trong đó thói quen tiêu dùng của người Việt Nam cũng như cách thức kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam Mặt khác khả năng tham gia liên doanh của các đối tác Việt Nam ngày càng bị hạn chế bởi thiếu cán bộ giỏi, thiếu vốn đóng góp Do vậy các nhà đầu tư nước ngoài muốn được điều hành trong quản lý doanh nghiệp
Trang 39- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam Tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân
Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thành lập theo hình thức 100% vốn nước ngoài.Thời gian đầu chưa nhiều, những xu hướng gia tăng của các dự án đầu tư theo hình thức này ngày càng mạnh mẽ Trong những năm gần đây vì hình thức này có phần dễ thực hiện và thuận lợi cho họ
Nhưng bằng hình thức đầu tư này về phía nước nhận đầu tư thường chỉ nhận được cái lợi trước mắt, về lâu dài thì hình thức này còn có thể phải gánh chịu nhiều hậu quả khó lường
* Xuất khẩu lao động ra nước ngoài
Xuất khẩu lao động là hoạt động mua-bán hàng hoá sức lao động nội địa cho
người sử dụng lao động nước ngoài
- Người sử dụng lao động nước ngoài ở đây là chính phủ nước ngoài hay cơ quan, tổ chức kinh tế nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động trong nước
- Hàng hoá sức lao động nội địa: muốn nói tới lực lượng lao động trong nước sẵn sàng cung cấp sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nước ngoài
- Hoạt động mua, bán: thể hiện ở chỗ người lao động trong nước sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một khoản tiền dưới hình thức tiền lương (tiền công) Còn người sử dụng nước ngoài sẽ dùng tiền của mình mua sức lao động của người lao động, yêu cầu họ phải thực hiện công việc nhất định nào đó (do hai bên thoả thuận) theo ý muốn của mình
Nhưng hoạt động mua-bán này có một điểm đặc biệt đáng lưu ý là: quan hệ mua, bán chưa thể chấm dứt ngay được vì sức lao động không thể tách rời người lao động Quan hệ này khởi đầu cho một quan hệ mới, quan hệ lao động Và quan hệ
Trang 40lao động sẽ chỉ thực sự chấm dứt khi hợp đồng lao động ký kết giữa hai bên hết hiệu lực hoặc bị xoá bỏ hiệu lực theo thoả thuận của hai bên
* Những đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế Bởi vì, nó nhằm thực hiện chức
năng kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời để thỏa mãn lợi ích kinh tế của người lao động đi làm việc ở nước ngoài, góp phần tăng thêm nguồn ngân sách của Nhà nước
Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội Nói xuất
khẩu lao động thực chất là xuất khẩu sức lao động không tách khỏi người lao động
Do vậy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp với các chính sách xã hội Phải đảm bảo làm sao để người lao động ở nước ngoài được lao động như đã cam kết trong hợp đồng lao động, cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi họ hoàn thành hợp đồng ở nước ngoài
tổ chức kinh tế về hoạt động xuất khẩu lao động
Ngày nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động xuất khẩu lao động đều do các tổ chức xuất khẩu lao động thực hiện trên
cơ sở hợp đồng đã ký Đồng thời, các tổ chức xuất khẩu lao động phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả kinh tế trong hoạt động xuất khẩu lao động của mình Như vậy, các hiệp định, các thoả thuận song phương mà Chính phủ ký kết chỉ mang tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô
Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Tính gay gắt trong cạnh tranh của xuất khẩu lao động xuất phát từ hai nguyên
nhân chủ yếu Một là, xuất khẩu lao động mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm, do vậy, đã buộc các nước xuất khẩu