Các hiệp ước basel là cơ sở để xây dựng các mô hình quản lý rủi ro hiện đại phù hợp với các thông lệ quốc tế cho hệ thông ngân hàng TMCP Khi tập trung vào nghiên cứu đề tài trên ngoài ki
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN ĐỨC HÙNG
HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN ĐỨC HÙNG
HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng biểu ii
Danh mục các hình vẽ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 6
1.1 Hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần trong nền kinh tế thị trường 6
1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Khái niệm rủi ro, phân loại rủi ro 7
1.2.2 Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 12
1.3 quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTMCP 16
1.3.1 Khái niêm quản lý rủi ro và năng lực quản lý rủi ro 16
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực quản lý rủi ro của NHTMCP 17
1.3.3 Các công cụ đo lường quản lý rủi ro của ngân hàng thương mại 21 1.4 Mô hình quản lý rủi ro theo Hiệp ước Basel 24
1.4.1 Mô hình Basel I 24
1.4.2 Mô hình Basel II 26
1.4.2 Mô hình Basel III 29
1.5 Bài học kinh nghiệm cho hệ thống ngân hàng thương mại cổ phận ở Việt Nam 31
1.5.1 Bài học từ các Ngân hàng nước ngoài 31
1.5.2 Bài học từ các Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 32
Chương 2: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HÀ TĨNH 34
Trang 42.1 Các đặc điểm KTXH tỉnh Hà Tĩnh và mô hình QLRR BIDV 34
2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh 34
2.1.2 Mô hình quản lý rủi ro BIDV Việt Nam 35
2.2 Thực trạng hoạt động Ngân hàng TMCP ĐT&PT Hà Tĩnh 37
2.2.1 Mô hình, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ bộ phận QLRR 37
2.2.2 Tình hình hoạt động 42
2.2.3 Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh 46
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng và các thách thức quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh 56
2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng 566
2.3.2 Các thách thức QLRR tại BIDV Hà Tĩnh 60
2.4 Đánh giá mô hình quản lý rủi ro tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Hà Tĩnh 65
2.4.1 Điểm mạnh, điểm yếu 65
2.4.2 Kết quả đạt được, Hạn chế và nguyên nhân 66
Chương 3: HOÀN THIỆN MÔ HÌNH VÀ XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TẠI CN NGÂN HÀNG TMCP ĐT&PT HÀ TĨNH 71
3.1 Hoàn thiện mô hình QLRR theo hướng hiện đại và hội nhập 71
3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực QLRR tại Ngân hàng TMCP ĐT&PT HÀ TĨNH 73
3.2.1 Thực hiện mô hình kiểm soát, dự đoán và định lượng rủi ro họat động tín dụng 74
3.2.2 Giải quyết vấn đề vốn cho ngân hàng - đa dạng hoá các phương thức huy động vốn, các sản phẩm ngân hàng 77
3.2.3 Công tác quản lý nhân lực và đào tạo cán bộ 81
3.2.4 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và xây dựng kho dữ liệu về thông tin khách hàng và thông tin nội bộ 83
Trang 53.3 Những đề xuất đối với NHNN Việt Nam và Ngân hàng TMCP ĐT&PT
Việt Nam 85
3.3.1 Thực hịên quy định chung theo sự điều chỉnh của Basel 2&3 85
3.3.2 Phát huy sức mạnh tài chính cho các NHTMCP 87
3.3.3 Phát triển thị trường sản phẩm phái sinh 888
KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 ATM Máy rút tiền tự động
2 BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
7 NHTM Ngân hàng thương mại
8 NHTMCO Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 7ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn qua các năm 2011-2013 42
2 Bảng 2.2 Thị phần huy động vốn NHTM trên địa bàn Hà Tĩnh 43
Trang 8iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẺ
1 Hình 1.1 Tỷ lệ các loại rủi ro trong một NHTM 8
2 Hình 1.2 Các loại rủi ro tác nghiệp trong một NHTM 9
3 Hình 2.1 Mô hình quản lý rủi ro BIDV (TA1) 35
4 Hình 2.2 Mô hình quản lý rủi ro BIDV TA2 36
5 Hình 2.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của BIDV HàTĩnh 37
6 Hình 2.4 Huy động vốn qua các năm 2011-2013 42
7 Hình 2.5 Thị phần huy động vốn Trên địa bàn Hà Tĩnh 43
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đang trong quá trình đổi mới thích ứng với nền kinh tế thị trường, góp phần không nhỏ trong vịệc tạo đà cho nền kinh tế quốc dân phát triển Tuy nhiên bên cạnh những chuyển biến vượt bậc đó thì vấn đề rủi ro trong hệ thống NHTMCP Việt Nam cũng đang diễn ra hết sức phức tạp Ngân hàng dễ trở thành nạn nhân của nền kinh
tế thị trường khi không có những biệp pháp phòng ngừa hữu hiệu, những rủi
ro xẩy ra không chỉ là từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ hay do các vụ lừa đảo mà còn bao gồm rất nhiều rủi ro từ thị trường như rủi ro về thanh khoản, rủi ro về thị trường (lãi suất, tỷ giá hối đoái), rủi ro từ quản lý nội bộ, rủi ro tác nghiệp
Trong năm 2007 Việt Nam đã phải đối mặt với lạm phát tăng cao do những vấn đề như: nhập siêu, hiện tương đầu cơ … đã tác động tới ổn đinh hoạt động của các ngân hàng và các rủi ro tiềm ẩn bắt đầu bộc lộ, đồng thời trong năm 2012 Việt Nam lại đối mặt với giảm phát, kinh tế trì trệ, doanh nghiệp làm ăn thua lổ và phá sản, tình hình nợ xấu, chiếm dụng vốn, tín dụng đen tăng cao Mặt khác việc mở rộng mạng lưới hoạt động và sự đa dạng các sản phẩm Ngân hàng đã làm cho các NHTMCP phải đối mặt nhiều hơn với các loại rủi ro trong hoạt động và ở cấp độ quy mô ngày càng lớn Tình hình
đó đặt ra việc xác định được các rủi ro tổng thể tiềm ẩn của hệ thống Ngân hàng để xử lý kịp thời Do vậy để thực hiện mục tiêu phát triển, an toàn và hiệu quả trong kinh doanh, việc nghiên cứu áp dụng những giải pháp, những
mô hình nhằm hạn chế rủi ro trong họat động kinh doanh của các NHTMCP
ở Việt nam nói chung và Chi nhánh Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển
Hà Tĩnh nói riêng là vô cùng cần thiết, chính vì nhận thức được vấn đề trên,
đề tài: “Hoàn thiện mô hình quản lý rủi ro tại ngân hàng TMCP đầu tư và
Trang 10ro không nhiều, nhưng những bài học thực tế ở Việt Nam cũng được các chuyên gia tài chính đúc kết rất cụ thể, phù hợp với điều kiện phát triển kinh
tế đất nước, có thể xem như là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý ngân hàng trong công tác kiểm soát và xử lý khi có rủi ro
Các hiệp ước basel là cơ sở để xây dựng các mô hình quản lý rủi ro hiện đại phù hợp với các thông lệ quốc tế cho hệ thông ngân hàng TMCP
Khi tập trung vào nghiên cứu đề tài trên ngoài kiến thức được đào tạo,
và kinh nghiệm thực tế, tác giả đã tham khảo một số bài báo, đề tài nghiên cứu
đã bảo vệ thành công tại các trường Đại học, Học viện như:
Đề tài: “Quản lý rủi ro trong kinh doanh của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” của học viên cao học Đỗ Thị Ngọc, do TS.Trịnh Thị Thu Hương trường đại học ngoại thương hướng dẫn bảo vệ năm 2007, đề tài trên có thể nói học viên đã đầu tư nghiên cứu rất kỹ quản lý rủi ro, đề tài đã nêu ra được những vấn đề cơ bản hiện nay nhằm đưa ra các giải pháp quản lý rủi ro, tuy nhiên hạn chế của đề tải ở chổ mặc dù tác giả đã tập trung nghiên cứu các giải pháp để nhằm nâng cao QLRR nhưng chưa chú trọng đến quản lý rủi ro cụ thể tại một chi nhánh
mà QLRR mang tính chung của một ngân hàng thương mại
Bài viết: “Quản lý rủi ro tại NHTM Việt nam: Thực Trạng và giải pháp” của Tiến sỹ: Cấn Văn Lực Giám đốc trung tâm đào tạo BIDV thực hiện
Trang 113
tại “hội thảo quản lý rủi ro 2013” do Ngân hàng nhà nước tổ chức Công trình nghiên cứu đã đưa ra một cách nhìn tổng quan về quản lý rui ro tại các ngân hàng thương mại hiện nay, đóng góp nhất định trong việc cung cấp cơ sở lý luận về QLRR nói chung
Và một số bài báo như: “Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” trên báo http://www.tapchitai chinh.vn của ThS Đào Thị Thanh tú - Học viện Ngân hàng
Bài viết: “Quản lý rủi ro dưới góc độ ngân hàng” trang web
http://www vietinbank.com.vn của TS.Phạm Tiến Thành – Trưởng phòng QLRR&TN Vietinbank
Tuy nhiên các bài báo và đề tài trên đều có hướng nghiên cứu và phạm
vi tập trung vào việc quản lý rủi ro và nêu lên thực trạng QLRR ở cấp quốc gia hiện nay, mà chưa có giải pháp quản lý rủi ro cụ thể ở các thánh phố, tỉnh Bên cạnh đó cũng chưa có một đề tài luận văn nào đề cập cụ thể đến quản lý
rủi ro tại BIDV Hà Tĩnh Các đề tài trên không trùng lặp với đề tài “Hoàn
thiện mô hình quản lý rủi ro tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt
Nam, Chi nhánh Hà Tĩnh” về đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài luận
văn mà tác giả lựa chọn nghiên cứu sẽ đóng góp xây dựng mô hình, đề ra các giải pháp mang tính chất quản lý, tư vấn cho các nhà quản lý ngân hàng trong việc nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tại ngân hàng thương mại nói chung
và tại BIDV Hà Tĩnh nói riêng
Luận văn đã căn cứ vào các tài liệu đã công bố về vấn đề quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng và các báo cáo tài chính của ngân hàng TMCP Đầu
tư và phát triển Hà Tĩnh trong những năm gần đây để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hỗ trợ để hoàn thiện mô hình quản
Trang 124
lý rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng thương mạị cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Hà Tĩnh, từ đó tránh các tổn tất trong hoạt động kinh doanh, đề ra chiên lược kinh doanh, phát huy lợi thế cạnh tranh, đo lường vốn tối thiếu, khả năng thanh toán và giúp nhà lãnh đạo ra các quyết định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài đi vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản của ngân hàng thương mại cổ phần, phân tích, đánh giá mô hình quản lý rủi ro trong họat động của Ngân hàng thương mại, xây dựng các mô hình quản lý rủi ro đồng thời tìm ra nguyên nhân các rủi ro từ đó đưa ra những giải pháp hỗ trợ để tăng khả năng quản lý rủi ro của Ngân hàng thương mại cổ phân đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gián: Luận văn nghiên cứu mô hình quản lý rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Hà Tĩnh
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu và phân tích số liệu các năm 2011,
2012, 2013 của chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển
Hà Tĩnh
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích hoạt động kinh tế, thống
kê, so sánh, đối chiếu, các kinh nghiệm của các chuyên gia
Các phương pháp thu thập số liệu, phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích đánh giá hoạt động quản lý rủi ro của chi nhánh ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Hà Tĩnh
Số liệu thu thập bao gồm các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vào các năm 2011 đến
2013 và các báo cáo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Trang 135
Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh qua các năm 2010 -2013
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác kết hợp với
số liệu thống kê báo cáo của ngân hàng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, tính cấp thiết của đề tài, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận tổng quát về mô hình quản lý rủi ro của ngân hàng
thương mại cổ phần
Chương 2: Thực trạng mô hình quản lý rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng
thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Hà Tĩnh
Chương 3: Hoàn thiện mô hình và xây dựng các giải pháp quản lý rủi
ro tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Hà tĩnh
Trang 146
Chương 1
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TRONG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1 Hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần trong nền kinh tế thị trường
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Khái niệm ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức
kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi
từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối
đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
Ngân hàng thương mại cổ phần là các ngân hàng hoạt động kinh
doanh, thương mại theo mô hình cổ phần và tuân theo các luật riêng của Chính phủ và các quy chế, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi hoạt động Gọi là ngân hàng thương mại cổ phần để phân biệt với các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại liên doanh và chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam
Trang 157
1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm rủi ro, phân loại rủi ro
Khái niệm: Từ việc nghiên cứu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của
các NHTM nói trên có thể nhận thấy rằng, rủi ro luôn gắn liền với từng nghiệp vụ trong hoạt động của NHTM Đa số các nhà kinh tế thống nhất với nhau quan niệm về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là: “những biến cố không mong đợi xảy ra và gây tổn thất đối với ngân hàng” Mức độ và tính chất rủi ro khác nhau sẽ gây ra những hậu quả không giống nhau song đều rất nguy hại bởi những tác động đến uy tín của ngân hàng và khả năng lan truyền Việc tìm hiểu về các loại rủi ro, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi tại sao phải quản lý
và nâng cao năng lực quản lý rủi ro của NHTM
Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM cổ phần
1.2.1.1 Rủi ro tín dụng
Là khả năng khách hàng (người đi vay) nhận khoản vốn vay nhưng không thể hoàn trả vốnvà lãi hoặc hoàn trả khôngđầyđủ các khoản vayvà lãicho NH, gâytổn thất cho NH
Rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất và phổ biến nhất xuất phát từ đặc điểm của tín dụng ngân hàng như đã nêu trên đây và trên thực tế, hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Về cơ bản, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn không có khả năng chi trả lãi, chi trả nợ hoặc cả hai Loại trừ một số ít khách hàng lừa đảo, đối với đa số khách hàng dù tình hình sản xuất kinh doanh tốt, có tình hình tài chính lành mạnh và thực thanh toán đầy đủ cho ngân hàng song vẫn có thể xảy ra những tình huống bất khả kháng dẫn đến không thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Vì vậy có thể cho rằng rủi ro tín dụng là khách quan, tồn tại
Trang 168
song song với tín dụng ngân hàng và cả NHTM chỉ có thể hạn chế và buộc chấp nhận rủi ro tín dụng ở mức độ nhất định mà thôi
Hình 1.1: Tỷ lệ các loại rủi ro trong một NHTM
1.2.1.2 Rủi ro tác nghiệp (rủi ro hoạt động)
Là những tổn thất xảy do những “trục trặc” trong quá trình vận hành các hoạt động kinh doanh của NHTM như: Sai lệch về thông tin và xử lý thông tin, bất hợp lý về quy trình và kỹ thuật nghiệp vụ và sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong ngân hàng, v.v¼
Thực ra rủi ro tác nghiệp đã xuất hiện từ lâu và luôn tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng nhưng chỉ đến những năm gần đây mới được quan tâm nghiên cứu đẩy đủ hơn Như đã đề cập trên đây, các hoạt động kinh doanh của NHTM là rất phức tạp và được thực hiện theo những quy trình và quy định rất chặt chẽ, song cũng chính vì vậy mà những sai xót rất dễ xảy ra Bất kỳ một
sự bất cẩn hay là non kém về mặt nghiệp vụ, thu thập xử lý thông tin thiếu chính xác và không kịp thời của các bộ phận chức năng trong hệ thống đều có thể ảnh đến những quyết định của giám đốc điều hành và toàn bộ các tác nghiệp tiếp theo Rủi ro tác nghiệp của các NHTM có xu hướng ngày càng gia tăng, trước hết, do sự mở rộng quy mô, phạm vi và sự đa dạng hoá hoạt động kinh doanh; mỗi ngân hàng thậm chí có thể trở thành các tập đoàn tài chính và
là những công ty đa quốc gia Thêm nữa, môi trường kinh doanh cũng ngày càng phức tạp hơn, áp lực công việc tăng do tốc độ và khối lượng giao dịch
Trang 179
tăng, sự lệ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ nhiều hơn, v.v¼ Do vậy, các ngân hàng tiên tiến và có quy mô lớn trên thế giới luôn nghiên cứu và tối ƣu hoá quy trình tác nghiệp trên cơ sở mô hình tổ chức phù hợp nhất đối với mỗi loại hình ngân hàng
Hình 1.2: Các loại rủi ro tác nghiệp trong một NHTM
Trang 1810
Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lãi suất và tỷ giá luôn được quản lý và duy trì cố định hay ít nhất là ổn định bởi Nhà nước, do vậy các NHTM không phải lo lắng đến rủi ro lãi suất và tỷ giá Trái lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự vận động rất linh hoạt và phức tạp của các luồng vốn, lãi suất và tỷ giá luôn biến động và khó có thể dự báo Lãi suất
và tỷ giá biến động theo chiều hướng khác nhau có thể dẫn đến các kết cục khác nhau đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và trạng thái ngoại hối khác nhau Một ngân hàng được “hưởng lợi” từ sự biến động tăng của lãi suất hay tỷ giá thì sẽ lại bị “tổn thất” khi lãi suất hay tỷ giá giảm xuống Xác suất thu được lợi ích và chịu tổn thất đối với mỗi ngân hàng là bằng nhau và bằng 50%, song xét về bản chất, lợi ích mà ngân hàng này có được lại chính
là thiệt hại của ngân hàng khác Do vậy, các ngân hàng đều tập trung sự quan tâm vào khả năng gặp phải tổn thất có nghĩa là không chấp nhận sai lầm, cũng
từ lẽ đó mà rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá được coi là điều hoàn toàn tự nhiên đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và ngoại hối khác “mở” và các ngân hàng luôn phải hạn chế rủi ro loại này thông qua việc đo lường xác định
và thực thi các nghiệp vụ phái sinh để phòng và chống
1.2.1.4 Các loại rủi ro khác (rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro pháp lý, rủi ro chiến lược)
Rủi ro thanh khoản: Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi
nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng Khi khả năng thanh toán bị đe dọa, NHTM buộc phải tìm kiếm nguồn và thường là gia tăng các khoản đi vay “nóng” với chi phí rất cao, đặc biệt ở những nơi mà thị trường tiền tệ chưa phát triển Xét trên giác độ lý thuyết, rủi ro thanh khoản cũng là điều tự nhiên luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi
lẽ độ thanh khoản của nguồn vốn (cầu thanh khoản) bao giờ cũng cao hơn các
Trang 1911
khoản sử dụng vốn (cung thanh khoản) Tuy nhiên, trên thực tế rủi ro thanh khoản thường ít xảy ra hơn hoặc cũng có thể được giảm thiểu và “che lấp” bởi các hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Điều có thể thấy rất rõ là rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác đều tác động đến hoạt động ngân hàng một cách ở mức độ khác nhau và dù có thể bị thua lỗ hay phá sản thì cũng “dần dần từng bước” do vậy các ngân hàng có thể
có cơ hội để khắc phục và cải thiện tình hình Song rủi ro thanh khoản nếu xảy
ra thì lại là vấn đề rất nghiêm trọng, thậm chí là đặc biệt nghiệm trọng vì có thể dẫn đến sự sụp đổ của NHTM trong “chốc lát” khi khách hàng ồ át đến rút tiền
Rủi ro chiến lược
Rủi ro chiến lược phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt động của ngân hàng trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và tài chính Rủi ro chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thân ngân hàng Chẳng hạn, chiến lược mở rộng thị trường, thâm nhập vào một thị trường mới
mà ngân hàng chưa có nghiên cứu đầy đủ thông tin và thiếu nguồn lực đủ trình độ cần thiết để khai thác, nắm bắt thị trường mới này thì ngân hàng có thể rơi vào tình trạng thua lỗ
Rủi ro pháp lí
Rủi ro pháp lí là rủi ro mà ngân hàng bị khởi kiện từ các khách hàng do những phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường, chẳng hạn như ngân hàng từ chối cấp hạn mức cho vay mà theo khách hàng là vô lý Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngân hàng bị kiện với những lí do tách biệt với hoạt động kinh doanh của ngân hàng như việc ngân hàng tài trợ cho những hoạt động, dự án của khách hàng mà hoạt động đó gây ô nhiễm môi trường Mặt khác, rủi ro pháp lí còn xảy ra với ngân hàng khi nhà nước đột ngột thay đổi chính sách vĩ mô về cơ cấu nền kinh tế, lĩnh vực ưu tiên… hoặc do các thu xếp pháp lí của ngân hàng có vấn đề thì ngân hàng có thể bị thua lỗ
Trang 2012
Rủi ro uy tín
Là rủi ro về sự nhìn nhận, đánh giá không tốt của dư luận đối với ngân hàng, gây ra những khó khăn nghiêm trọng trong các hoạt động nói chung của ngân hàng
1.2.2 Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể nảy sinh từ những đặc điểm nội tại của hoạt động kinh doanh ngân hàng song cũng có thể chịu ảnh hưởng từ những điều kiện và môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội Trên cơ sở đó, các chuyên gia tài chính ngân hàng đã phân chia nguyên nhân rủi ro thành 3 nhóm như sau:
1.2.2.1 Những nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân xảy ra rủi ro như thảm hoạ tự nhiên (bảo lụt, hạn hán, động đất, v.v¼) hay những thay đổi về chính sách quản lý kinh tế –
xã hội của Chính phủ, gây thiệt hại khách hàng hoặc trực tiếp cho các ngân hàng Đặc điểm chung của nhóm nguyên nhân này là cả ngân hàng và khách hang không thể có bất kỳ hành động nào để hạn chế ngoài việc dự đoán, dự báo, dự phòng và chịu đựng Do vậy, các NHTM luôn phải chủ động dự phòng để khắc phục hậu quả rủi ro là điều có ý nghĩa hơn cả
1.2.2.2 Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng của ngân hàng
Bao gồm các cá nhân và doanh nghiệp, kể cả các NHTM và các định chế tài chính khác Khi các đối tượng khách hàng không thể hoặc không muốn thực hiện những cam kết với ngân hàng thì ngân hàng sẽ phải chịu những tổn thất Trên thực tế, điều rất dễ nhận thấy là trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của khách hàng là có thể gặp phải rủi ro và ít nhất thì một phần rủi ro đó sẽ được “chia sẻ” hay “chuyển sang” cho ngân hàng Nói cách khác NHTM cùng phải chịu tổn thất từ những rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống của khách hàng Có thể nói phần lớn (trên 90%) khách hàng không thực hiện cam kết vời ngân hàng vì bản thân họ gặp rủi ro Ngoài
Trang 2113
ra, số ít hơn (dưới 5%) khách hàng chủ động chối bỏ không thực hiện những cam kết vì những lợi ích nhất thời nào đó và một số khách hàng (khoảng 3%) chủ động thực hiện những hành vi lừa đảo đối với ngân hàng So với nhóm nguyên nhân thứ nhất, nhóm nguyên nhân này có thể được ngân hàng hạn chế
ở mức độ nhất định thông qua việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ, tư vấn để khắc phục sự yếu kém về năng lực quản lý, kinh nghiệm và trình độ công nghệ giúp khách hàng phòng tránh và hạn chế được chế rủi ro sau khi đã tiến hành các biện pháp sàng lọc phân loại để loại bỏ những khách hàng có hành vi hay động cơ không tốt
1.2.2.3 Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân ngân hàng
Đối với tất các các ngân hàng trên thế giới, nhóm nguyên nhân này được coi là quan trọng nhất vì khả năng phòng chống và hạn chế rủi ro phụ thuộc chủ yếu bởi năng lực của ngân hàng Có thể thấy rất rõ là từ sự hợp lý về chính sách đến trình độ công nghệ và đạo đức nghề nghịêp của cán bộ công nhân viên làm việc trong ngân hàng đều là các nhân tố tác động đến mức độ rủi ro của mỗi ngân hàng Các ngân hàng có trình độ công nghệ cao với chủng loại sản phẩm đa dạng phong phú kết hợp với nguồn nhân lực có phẩm chất tốt luôn có mức độ rủi ro ở mức thấp, thậm chí, ngay cả khi rủi ro đã xảy ra, các ngân hàng vẫn có thể hạn chế hậu quả thông qua các biện pháp kinh tế và thị trường để giảm thiểu tổn thất tài chính và uy tín
1.2.3 Hậu quả rủi ro trong hoạt động kinh doanh NHTM
Rủi ro được định nghĩa là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng do vậy khi rủi ro xảy ra đồng nghĩa với ngân hàng phải chịu đựng những tổn thất
về tài chính và uy tín Điều đáng lưu ý là những tổn thất xảy ra không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng mà còn có tác động xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế như một tổng thể Chúng ta có thể khái quát về hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM như sau:
Trang 2214
1.2.3.1 Hậu quả của rủi ro đối với ngân hàng
Hậu quả đối với ngân hàng ở mức độ thấp nhất là làm giảm thu nhập của ngân hàng Mỗi hoạt động kinh doanh của ngân hàng góp phần mang lại thu nhập cho ngân hàng nhưng khi xuất hiện một loại rủi ro ở hoạt động nào đó, ngân hàng không những không có thu nhập từ hoạt động tương ứng mà còn làm giảm thu nhập từ các hoạt động khác
Như vậy có thể nói rằng đối với các NHTM, rủi ro làm phát sinh rủi ro không chỉ dẫn đến giảm thu nhập, sự thua lỗ mà còn có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng thậm chí có thể làm phá sản các NHTM Song không dứng lại ở đó, các đối tượng khách hàng của ngân hàng (dù có liên quan hay không đến việc xảy ra rủi ro trong hoạt động ngân hàng) và toàn bộ nền kinh tế cũng phải gánh chịu những hậu quả nhất định Trong thời gian gần đây, rủi ro xảy
ra đối với các ngân hàng ở một số nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản và Châu
Âu, đã có phạm vi tác động đến hệ thống tài chính và nền kinh tế của các nước khác và toàn cầu
1.2.3.2 Hậu quả của rủi ro đối với khách hàng
Đối với tất cả khách hàng, cá nhân hay các doanh nghiệp, kể cả bản than các doanh nghiệp đang trì hoãn trả nợ cho ngân hàng đều phải chịu những tổn thất từ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trước hết, các cá nhân vàdoanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội tiếp cận với nguồn vốn cũng như các dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng Trong trường hợp đó, khách hàng sẽ phải
đi tìm kiếm những nguồn vốn khác có thể làm tăng chi phí và giảm tính ổn định của quá trình sản xuất kinh doanh Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở mức phải xoá nợ, giãn nợ hay đảo nợ có thể tạo ra những tiền tệ xấu trong quan hệ với ngân hàng Kế hoạch và nguồn tài chính của khách hàng bị đột ngột thay đổi, khách hàng mất chủ động về trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế và các nghĩa vụ tài chính với đối tác bạn hàng, uy tín và
Trang 2315
hình ảnh của những doanh nghiệp cũng bị giảm sút Còn trong trường hợp ngân hàng phá sản, các doanh nghiệp sẽ mất vốn tiền gửi và thậm chí có thể chịu chung số phận, phá sản theo
1.2.3.3 Hậu quả của rủi ro đối với nền kinh tế
Biểu hiện đầu tiên về hậu quả của rủi ro là sự tổn thất chung của toàn bộ nền kinh tế do tốc độ chu chuyển hàng hóa và tiền tệ giảm Như đã phân tích trên đây, khi rủi ro xảy ra, cả ngân hàng và khách hàng – các cá nhân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế đều bị thiệt hại về nhiều mặt Trên giác độ lý thuyết có thể thấy rằng rủi ro trong hoạt động ngân hàng không chỉ làm tăng chi phí sản xuất và lưu thông hàng hoá mà còn gây ra những hiệu ứng tiêu cực đối với quá trình sản xuất kinh doanh, cung – cầu hàng hóa và cuối cùng là làm mất đi sự ốn định và khả năng tăng trưởng của nền kinh tế Trên thực tế ở rất nhiều nước trên thế giới, khi các ngân hàng gặp phải rủi ro thì hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội đã nảy sinh và những giải pháp nhằm ổn định tình hình bao giờ cũng rất tốn kém và hậu quả có thể còn để lại những di chứng trong thời gian dài, đặc biệt về mặt tâm lý và lòng tin của công chúng Ngoài
ra, hậu quả của rủi ro còn gây ra làm giảm thấp uy tín quốc gia, khả năng thu hút vốn nước ngoài và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác đều phải chịu những điều kiện khó khăn hơn
Tóm lại, rủi ro tất yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng trong khi
đó hậu quả rủi ro thực sự rất nguy hiểm nghiêm trọng đối với tất cả các chủ thể, không chỉ trên giác độ tài chính mà còn tác động đến tất cả các mặt kinh
tế – chính trị – xã hội của nền kinh tế Tùy theo mức độ phát triển, mở cửa và hội nhập của nền kinh tế, hậu quả của rủi ro trong hoạt động ngân hàng còn có thể nghiêm trọng hơn về mức độ và hành vi ảnh hưởng có thể không phải chỉ dừng lại ở một quốc gia Những phân tích trên đây cho thấy lý do tại sao các NHTM thành công luôn phải giành sự ưu tiên thỏa đáng cho vấn đề quản lý
Trang 2416
rủi ro song song với việc nghiên cứu phát triển hoạt động kinh doanh
1.3 quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTMCP
1.3.1 Khái niêm quản lý rủi ro và năng lực quản lý rủi ro
1.3.1.1 Khái niệm: quản lý rủi ro là xác định mức độ rủi ro mà một ngân hàng
mong muốn và nhận diện được mức độ rủi ro hiện nay của ngân hàng đang gánh chịu Mặt khác, sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các công cụ tài chính khác để hạn chế sự xuất hiện của rủi ro hoặc điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự theo mức rủi ro mà mình mong muốn
Nói cách khác, QLRR là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi
ro thành những cơ hội thành công mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp Quản lý rủi ro gồm có các bước:
Nhận dạng rủi ro, đây là điều kiện tiên quyết trong quản lý rủi ro
Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm: việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất
cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai để có biện pháp kiểm soát, tài trợ phù hợp cho từng loại rủi ro
Phân tích rủi ro là việc tìm ra nguyên nhân gây rủi ro Từ việc tìm ra
các nguyên nhân, các nhân tố tác động đến các nguyên nhân, phân tích rủi ro
sẽ cho ta biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách hiệu quả hơn
Đo lường rủi ro, công việc này đòi hỏi phải thu thập số liệu, lập ma
trận đo lường rủi ro và phân tích Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng, người ta sử dụng hai tiêu chí: tần suất xuất hiện của rủi ro
và biên độ của rủi ro (mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra), đây là tiêu chí có vai trò quyết định
Trang 2517
Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của
quản lý rủi ro, đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra đối với ngân hàng Các biện pháp phòng tránh có thể là: phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản lý thông tin,…
Tài trợ rủi ro Dù đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi
ro vẫn có thể xảy ra, khi đó chúng ta cần phải theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lí Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: tự khắc phục và chuyển giao rủi ro
1.3.1.2 Năng lực quản lý rủi ro của NHTM :
Khái niệm: Là khả năng của ngân hàng trong việc xác đinh và nhận biết,
phân tích và đo lường để chủ động chấp nhận và kiểm soát rủi ro nhằm đảm bảo lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh Diễn đạt theo cách khác, nếu thừa nhận rằng rủi ro gắn liền với hoạt động kinh doanh của NHTM thì năng lực quản lý rủi ro đồng nghĩa với khả năng ngân hàng chủ động chấp nhận và xử lý hậu quả rủi ro một cách có hiệu quả Năng lực quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của một NHTM phải được đánh giá đồng thời qua tất cả các bước
có liên quan chặt chẽ trong toàn bộ quy trình quản lý rủi ro và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu định tính và định lượng ở nội dung tiếp sau đây
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực quản lý rủi ro của NHTMCP
1.3.2.1 Các chỉ tiêu đinh lượng
Thứ nhất: Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận
Tỷ số mức sinh lời trên doanh thu=tổng lợi tức sau thuế/doanh thu thuần (Chỉ tiêu này nói lên 1$ doanh thu tại ra bao nhiêu $ lợi nhuận)
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản(ROA)=Lợi nhuận ròng*100/tổng tài sản
Trang 2618
(ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng)
Tỷ suất sinh lợi trên vốn thuần (ROE)= Lợi nhuận ròng*100/vốn cổ phần (ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.)
Thứ hai: Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngay = Tài sản có thể thanh toán ngay / tài sản nợ đến hạn thanh toán ngay
Khả năng thanh toán chung = Tổng tài sản có có thể thanh toán/ Tổng nợ phải thanh toán
Vốn hữu dụng = Vốn huy động - DTBB - DT Sơ cấp (TMặt, TG NHNN, Tiên ATM, Tiền đang chuyển)
Hệ số khả năng trả lãi = lợi tức trước thuế và lãi / chi phí trả lãi
(Hệ số này đo lường mức độ an toàn của thu nhập có thể trả lãi cho các chủ nợ)
Thứ ba: nhóm chỉ tiêu về mức dự phòng rủi ro và tổn thất rủi ro thực tế
Công thức tính số tiền dự phòng như sau: R = max {0, (A-C)} x r
trong đó, R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị khoản nợ
C: giá trị tài sản bảo đảm
r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
1.3.2.2 Các chỉ tiêu định tính
Thứ nhất: Bộ phận chức năng quản lý rủi ro độc lập
Bộ phận quản lý rủi ro độc lập là điều kiện cần để thực hiện các nội dung
và quy trình quản lý rủi ro như đã trình bày trên đây một cách khách quan và hiệu quả Hơn nữa, ngoài khả năng hoạt động độc lập, bộ phận này còn phải bao gồm những cán bộ được đào tạo cơ bản vừa có chuyên môn và kinh nghiệm về rủi ro vừa có khả năng ứng dụng các công cụ toán học, tin học và công nghệ kinh doanh ngân hàng hiện tại vào việc nhận biết và xác định một
Trang 2719
cách chính xác, đầy đủ kịp thời các lọai rủi ro có thể phát sinh, xây dựng các
mô hình phân tích và đánh giá chính xác mức độ rủi ro Trên cơ sở đó mới có thể khuyến cáo ban lãnh đạo ngân hàng và các bộ phận chức năng khác lựa chọn và thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh cũng như các biện pháp kiểm soát phù hợp Nhiều NHTM, hoạt động quản lý rủi ro đã được thiết lập song lại do chính những cán bộ tín dụng thực hiện hoặc đặt ở vị trí trực thuộc phòng tín dụng, cho nên, tình trạng “vừa thổi còi, vừa đá bóng” là khó tránh khỏi Để đạt doanh số cho vay cao trong hoạt động, đặc biệt trong trường hợp khoán lương, một số loại rủi ro tiềm ẩn có thể bị xem nhẹ hoặc dễ dàng bỏ qua một cách rất chủ quan để đạt mức khoán và lương cao Hơn nữa, rủi ro xảy ra trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho nên quản lý rủi ro là hoạt động cần thiết đối với tất cả các hoạt động đó, không chỉ là đối với riêng hoạt động tín dụng Điều này cho thấy không thể đánh giá một ngân hàng có năng lực quản trị cao khi vắng thiếu bộ phận chức năng quản lý rủi ro độc lập Biện pháp đánh giá năng lực quản lý rủi ro theo chỉ tiêu này thông thường là xây dựng thang chấm điểm cho các yếu tố cấu thành của bộ phận chức năng quản lý rủi ro và mức độ khách quan, độc lập
Thứ hai, chiến lược kinh doanh và chọn lựa rủi ro của ngân hàng
Chiến lược kinh doanh được cụ thể hóa bằng các chính sách, kế hoạch, mục tiêu, định hướng và các văn bản khác có liên quan của ngân hàng Thông qua văn bản này, chúng ta có thể đánh giá về tính tính cực chủ động trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng và “thái độ” của ngân hàng đối với rủi ro Một NHTM với khả năng quản lý rủi ro yếu kém sẽ luôn tập trung vào những hoạt động kinh doanh thông qua các nghiệp vụ và khách hàng “truyền thống an toàn” Việc lựa chọn hoạt động kinh doanh và khách hàng sẽ theo những nguyên tắc nhất định thường là an toàn hàng đầu, do vậy quy mô sẽ hạn chế, mức dự phòng và dự trữ rất cao để mong được an toàn
Trang 2820
nhưng lại lãng phí và kém hiệu quả do vậy kết cục thực tế lại là không an toàn Trái lại, ngân hàng có năng lực quản lý rủi ro cao sẽ luôn hướng tới những hoạt động kinh doanh đa dạng, sang tạo, sẵn sàng đáp ứng mọi đối tượng và cung cấp “trọn gói” các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng, cho nên rủi ro lại là thấp Để đánh giá năng lực quản lý rủi ro theo tiêu thức này, chúng ta cần xem xét đến nội dung và tính đa dạng của chiến lược kinh doanh
và quan điểm của ngân hàng đối với rủi ro như: “Sợ hãi né tránh”, “chủ động chấp nhận”, hay quan điểm khác.v.v Ngoài ra, một chiến lược kinh doanh và quản lý rủi ro tốt không chỉ dừng lại ở nội dung mà còn khả năng thực hiện, điều có nghĩa là tất cả cán bộ công nhân viên của ngân hàng cần phải thấm nhuần về quan điểm và cùng chung ý chí đối với quản lý rủi ro Cách tốt nhất
để đánh giá năng lực quản lý rủi ro theo chi tiêu này cũng là thiết lập bảng hỏi
và chấm điểm
Thứ ba, khả năng thực hiện các biện pháp kiểm sóat rủi ro
Kiểm soát rủi ro để hạn chế tổn thất ở một mức độ nhất định nhỏ hơn thu nhập kỳ vọng hay khả năng chịu đựng của ngân hàng Điều có thể thấy rõ ràng là việc nhận biết và xác định, phân tích và đánh giá chính xác về phạm vi và mức độ rủi ro của bộ phận quản lý rủi ro nói trên chỉ thực sự có ý nghĩa khi NHTM có đủ khả năng tiến hành những biện pháp để quản lý và kiểm soát rủi ro Mỗi loại rủi ro cần có những biện pháp và nghiệp vụ kiểm sóat riêng, do vậy để đánh giá năng lực quản lý rủi ro theo chỉ tiêu này cần phải thông qua các biện pháp nghiệp vụ mà ngân hàng đã áp dụng để kiểm soát rủi ro trên từng mặt hoạt động kinh doanh tức
là phải bao gồm: các biện pháp kiểm sóat rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp Cụ thể, khả năng thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro được thể hiện thông qua các chỉ tiêu bao gồm:
- Khả năng thực hiện các nghiệp vụ phái sinh để triệt tiêu rủi ro thị trường, hóan đổi các hợp đồng tín dụng
Trang 2921
- Khả năng kiểm soát và thực hiện chuyển đổi kỳ hạn của các khoản mục nguồn vốn và tài sản, trên cơ sở đó xác định chính xác cầu thanh khoản của khách hàng và khả năng thanh tóan của ngân hàng
- Khả năng quản trị, điều hành và vận hành tác nghiệp của ngân hàng, tính hợp lý trong bố trí lao động, chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc cũng như quy trình luân chuyển chứng từ, thủ tục hành chính để hạn chế rủi ro tác nghiệp
Tương tự như hai nhóm chỉ tiêu trên, để đánh giá năng lực quản lý rủi ro của NHTM qua nhóm chỉ tiêu này, chúng ta cần phải thiết lập một Bảng câu hỏi về các nội dung bao gồm các loại rủi ro và các biện pháp kiểm sóat rồi áp dụng thang điểm cho mỗi biện pháp cụ thể Ngân hàng nhận được nhiều điểm thì càng được đánh giá là có năng lực quản lý rủi ro cao
1.3.3 Các công cụ đo lường quản lý rủi ro của ngân hàng thương mại
1.3.3.1 Công cu đo lường quản lý rủi ro tín dụng
Trang 301.3.3.2 Công cu đo lường quản lý rủi ro thị trường
Tỷ lệ khả năng chi trả = Tài sản (có) có thể thanh toán ngay
Tài sản (nợ) phải thanh toán ngay
Giới hạn của tỷ lệ khả năng chi trả đƣợc xem là an toàn cho hoạt động của ngân hàng:
- Tỷ lệ khả năng chi trả ≥ 25% giữa tài sản “có” có thể thanh toán ngay
và các tài sản “nợ” phải thanh toán ngay trong thời gian một tháng tiếp theo
- Tỷ lệ khả năng chi trả ≥ 1 giữa tổng tài sản “có” có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản “nợ” phải thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo
1.3.3.3 Công cu đo lường quản lý rủi ro tác nghiệp
+ Dấu hiệu rủi ro chính (KRI):Liệt kê tần suất/số lần xuất hiện hoặc các
số liệu thống kê liên quan đến những dấu hiệu rủi ro chính đã đƣợc xây dựng
+ Báo cáo sự cố RRTN : Mục đích báo cáo sự cố RRTN
Hỗ trợ các đơn vị quản lý thông tin về các sự cố RRTN thông qua quy trình thu thập và báo cáo khi các sự cố RRTN phát sinh
Sử dụng để tham chiếu khi thiết lập RCSA và KRI
Trang 3123
Cung cấp thông tin cho lãnh đạo các đơn vị về tổn thất từ các sự cố RRTN, tham mưu về các biện pháp khắc phục, ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro tương tự tái diễn
Xây dựng cơ sở dữ liệu về tổn thất RRTN
Là căn cứ cho hoạt động kiểm toán theo mức độ rủi ro
+ Tự đánh giá kiểm soát
Đánh giá tính sẵn có, mức độ áp dụng và hiệu lực của các biện pháp kiểm soát sử dụng để phòng ngừa/giảm thiểu rủi ro; Xác định các vùng kiểm soát yếu, từ đó có các biện pháp khắc phục; Cung cấp dữ liệu đầu vào cho hoạt động Kiểm toán nội bộ; Là căn cứ đánh giá lại kết quả tự nhận diện và
đo lường rủi ro, kiểm soát
+ Kế hoạch kinh doanh liên tục :bao gồm: Đánh giá rủi ro; Xấy dựng
chiến lược; Xấy dựng kế hoạch; Kiểm nghiệm kế hoạch
+ Bảo hiểm
Bảo hiểm lòng trung thành, an ninh tại trụ sở, trong quá trình vận chuyển, tiền giả, chứng khoán giả mạo, tài sản trong văn phòng; Bảo hiểm trách nhiệm của từng GĐ & nhà điều hành; Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm cho cá nhân trong quá trình thực hiện chuyên môn; Bảo hiểm đói với khoản tiền được gửi qua đường điện tử khi có những hành vi phạm tội do có bên thứ 3 thâm nhập vào hệ thống máy tính của NH
Trang 32Năm 1988, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I), yêu cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó mức vốn này cũng được hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó
Mục đích của Basel I
Chủ yếu tập trung vào rủi ro tín dụng
+ Củng cố sự ổn định của toàn hệ thống ngân hàng quốc tế
+ Thiết lập một hệ thống ngân hàng thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế
Ban đầu, Basel I chỉ áp dụng trong hoạt động ngân hàng quốc tế thuộc nhóm 10 nước phát triển Sau này, Basel I đã trở thành chuẩn mực toàn cầu và được áp dụng ở trên 120 quốc gia Theo quy định của Basel I, các ngân hàng xác định được tỷ lệ vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tối thiểu 8% để bù đắp cho rủi ro có thể xảy ra, đây là biện pháp dự phòng bắt buộc nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng có khả năng khắc phục tổn thất mà không ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi tiền Trong đó:
Trang 3325
ổng vốn của Ngân hàng được chia làm hai loại:
Vốn cấp 1 (Vốn tự có cơ bản) bao gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi
dài hạn, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác, các phương tiện ủy thác có thể chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng
Đó chính là phần vốn điều lệ và các quỹ dự trữ được công bố
Theo quy định của Ủy ban Basel, nguồn vốn của ngân hàng cần thiết cho mục đích giám sát phải được xác định từ hai cấp, theo đó cần thiết phải có ít nhất 50% được cấu thành từ vốn điều lệ và lợi nhuận giữ lại (vốn cấp 1) Các yếu tố khác của nguồn vốn sẽ được gọi là vốn cấp 2 có giới hạn tối đa 100% vốn cấp 1
Vốn cấp 2 (Vốn tự có bổ sung) bao gồm tất cả các vốn khác như các khoản lợi nhuận trên tài sản đầu tư, nợ dài hạn với kỳ hạn lớn hơn 5 năm và các khoản dự phòng ẩn (như trợ cấp cho các khoản vay và trợ cấp cho các khoản cho thuê) Tuy nhiên, các khoản nợ ngắn hạn không có đảm bảo không bao gồm trong định nghĩa về vốn này
Tổng vốn = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2
Tài sản có rủi ro (RWA): Basel I mới chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng, và tùy mỗi tài sản khác nhau sẽ có trọng số rủi ro khác nhau
RWABasel I = Tài sản * Trọng số rủi ro
Theo Basel I thì trọng số rủi ro của các tài sản có rủi ro được chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50% và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản
Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi
có tính đến rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị trường chung ( là những thay đổi về giá trị thị trường do có sự biến động lớn trên thị trường) và rủi ro thị trường cụ thể (là những thay đổi về giá trị của một tài sản nhất định) Có 4 loại biến cố kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường là lãi suất, tỷ giá ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa Và rủi ro thị trường được tính theo hai phương thức: mô hình Basel tiêu chuẩn, các mô hình giá trị chịu rủi ro nội bộ của ngân
Trang 341.4.2 Mô hình Basel II
Nhằm khắc phục các hạn chế của Basel I, bản Hiệp ước quốc tế về vốn mới nhất đã được Ủy ban Basel ban hành với ngày hiệu lực là tháng 12/2006 (gọi tắt là Basel II) Basel II đã thể hiện rõ công tác quản lý rủi ro cần phải được xem xét trên phương diện tổng thế các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, có hướng dẫn cụ thể về phương pháp cũng như cách thức triển khai Basel II bao gồm một loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản lý rủi ro và được cấu trúc theo 3 trụ cột:
Trụ cột thứ nhất: Các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn
để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường (rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá) và rủi ro hoạt động Theo đó, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thị trường nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro hoạt động
Trụ cột thứ hai: Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về
những loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này Với trụ cột này Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác giám sát:
- Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn của họ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó
- Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn nội bộ và các chiến lược của ngân hàng Họ phải có khả năng giám sát và
Trang 3527
đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một
số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này
- Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định
- Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không duy trì trên mức tối thiểu
Trụ cột thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách
phù hợp theo nguyên tắc thị trường Với trụ cột này, Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ của vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này Hiệp ước Basel II là một loạt các quy tắc nhằm điều chỉnh hoạt động ngân hàng đa quốc gia Ngày nay, dường như không một ngân hàng nào có thể tách rời mà không có mối quan hệ với các ngân hàng trên thế giới Việc áp dụng đồng nhất công tác quản lý rủi ro nói chung theo chuẩn mực Basel II tại mỗi nước là một bước đi quan trọng trong việc nâng cao tính ổn định tài chính của mỗi nước và thế giới
Basel II vẫn quy định vốn an toàn tối thiểu là 8% và chỉ thay đổi cách tính Và trong cách tính này tất cả các rủi ro được phản ánh rõ ràng trong công thức: Trong đó:
- RWA rủi ro tín dụng = tài sản * hệ số rủi ro ( so với Basel I, RWA của Basel II có đề cập đến xếp hạng tín dụng)
- RWA Basel II = vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng rủi ro (K) *12,5
Trang 3628
Hệ số đo lường theo Basel II phức tạp hơn, nhiều phương pháp để lựa chọn hơn, nhưng có khả năng đánh giá chính xác mức độ an toàn vốn, và cho phép quyền tự quyết rất lớn trong giám sát hoạt động ngân hàng
Basel II phân định các mức rủi ro trên cơ sở xếp hạng, do đó các ngân hàng sẽ phải phụ thuộc chủ yếu vào kết quả xếp hạng và đánh giá độ tín nhiệm của các tổ chức độc lập như Moody, S&P, Fitch
Các phương pháp đo lường của Basel II
- Phương pháp chuẩn hoá: do cơ quan quản lý ngân hàng thiết lập tạo nên
hệ thống nhất về cách thức tổ chức và thực hiện đo lường trong toàn bộ hệ thống ngân hàng
- Phương pháp mô hình nội bộ: các ngân hàng tự xây dựng mô hình đo lường nội bộ theo hướng dẫn cho phù hợp với tính chất và quy mô hoạt động của ngân hàng (chỉ được sử dụng khi có sự phê duyệt của NHNN)
Rủi ro hoạt động
- Phương pháp dùng chỉ tiêu cơ bản: Một chỉ tiêu áp dụng cho một qui định,
- Phương pháp chuẩn hoá: nhiều chỉ tiêu áp dụng cho một quy định
- Phương pháp đo lường nội bộ nâng cao (AMA) các ngân hàng áp dụng các mô hình nội bộ
So với Basel I, Basel II có 6 sự khác biệt:
Trang 3729
• Chi tiết hơn về trọng số rủi ro của các loại tài sản khi tính vốn tối thiểu
• Bổ sung yêu cầu tính đến rủi ro tác nghiệp
• Bổ sung vai trò giám sát của cơ quan quản lý
• Bổ sung yêu cầu đáp ứng kỷ luật thị trường (yêu cầu tiết lộ thông tin, công khai, minh bạch)
• Phạm vi áp dụng rộng hơn (đối với cả tập đoàn tài chính)
• Chi tiết hơn về các phương pháp tính vốn tối thiểu
1.4.2 Mô hình Basel III
Một số thay đổi quan trọng (có lộ trình thực hiện):
– Tăng yêu cầu về vốn cấp 1 (từ 4% lên 6,5%; theo đó CAR từ 8% lên 10,5%, lộ trình 2013-19)
– Các yêu cầu khác nhằm điều chỉnh rủi ro tài chính (hệ số đòn bẩy , rủi
ro đối tác và thanh khoản)
Hiệp ước Basel lần thứ ba (gọi là Basel 3) được Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thông qua vào năm 2010 với lộ trình thực hiện là 3 năm (2013-2015), nhưng phải gia hạn đến năm 2019 do suy thoái toàn cầu kéo dài Hơn nữa, Basel
3 là tiêu chí điều chỉnh tự nguyện, các ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh các quy định về ngân hàng tùy theo tình hình thực tế của mỗi nước
Basel 3 đang bị các ngân hàng phê phán (kể cả các ngân hàng lớn tại Mỹ
và châu Âu) với lập luận cho rằng, quy định đưa ra tại Basel 3 sẽ gây tổn thương cho các ngân hàng và nền kinh tế, việc tăng vốn dự phòng đối với tài sản cầm cố và tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ sẽ gây thương tổn cho các ngân hàng nhỏ Sau ý kiến đóng góp của các ngân hàng và tổ chức quốc tế, ngày 06/01/2013, Ủy ban Basel đã nới lỏng thời hạn thực hiện đến năm 2019, đồng thời giảm nhẹ các quy định về vốn và mở rộng các khái niệm về tài sản thanh khoản Tuy nhiên, tranh cãi chưa phải đã kết thúc
Trang 3830
Chứng khoán hóa tiền mặt là cách làm truyền thống, cho phép ngân hàng giảm lượng vốn dự phòng rủi ro tài sản Cụ thể là, tài sản ở lại bảng cân đối của ngân hàng, giải phóng thêm nguồn vốn và cho phép ngân hàng mở rộng cho vay Trong các hợp đồng giả, các ngân hàng giữ lại các tài sản và mua bảo hiểm dự phòng tổn thất do các nhà đầu tư gây ra, thường là dưới hình thức hoán đổi vỡ nợ tín dụng
Lý do để Ủy ban Basel đưa ra quy định khắt khe này bắt nguồn từ thực
tế là, việc sử dụng rộng rãi các nghiệp vụ phái sinh trên thị trường cầm cố ở
Mỹ đã dẫn đến khủng hoảng tài chính, khi rủi ro từ ngân hàng lan sang khu vực ngân hàng ngầm Vì thế, Ủy ban Basel đã đưa ra đề xuất vào ngày 18/12/2012, bắt buộc các ngân hàng và các công ty tài chính, thương mại phải tăng vốn để dự phòng rủi ro đối với phần vốn góp đã chứng khoán hóa, nhất
là những tài sản nhạy cảm về rủi ro và kỳ hạn
Các ngân hàng cho rằng, kế hoạch này sẽ buộc các ngân hàng phải nắm giữ thêm vốn dự phòng rủi ro khi chia nhỏ tài sản, làm tăng chi phí giao dịch tài chính, thui chột động lực của các ngân hàng trên thị trường vốn Việc áp đặt quy định tăng vốn dự phòng tài sản chứng khoán hóa có thể dẫn tới hậu quả không mong muốn là thui chột động lực của các ngân hàng trên các thị trường chứng khoán, làm suy giảm tín dụng và tính thanh khoản trên toàn cầu, khi các ngân hàng phải thắt chặt nguồn vốn và cắt giảm tín dụng cho nền kinh tế Trước những vấn đề nêu trên, Ủy ban Basel sẽ phải nghiên cứu tác động của việc chứng khoán hóa các khoản cho vay và đưa vào chương trình nghị sự tại cuộc họp vào thời gián tới Nghĩa là, phần lớn các quy định Basel
3 vẫn nằm trên giấy
Trang 3931
1.5 Bài học kinh nghiệm cho hệ thống ngân hàng thương mại cổ phận ở Việt Nam
1.5.1 Bài học từ các Ngân hàng nước ngoài
Kết quả khảo sát 75 tập đoàn ngân hàng lớn tại 38 nước năm 2012 của E&Y đưa ra kết luận như sau:
– Vai trò của HĐQT đối với QLRR tăng lên: 87% số tập đoàn được hỏi
đã thành lập UB QLRR; Cơ cấu HĐQT có nhiều thành viên kinh nghiệm QLRR hơn; HĐQT giữ vai trò quan trọng đối với xác lập khẩu vị rủi ro, thanh khoản, văn hóa QLRR và thù lao
– Vai trò của trưởng khối rủi ro (CRO) tăng lên: 58% CROs báo cáo trực tiếp TGĐ và 90% tiếp cận HĐQT Qui mô và trình độ lực lượng QLRR tăng; 57% số Tập đoàn được hỏi tăng nhân sự khối QLRR
– Mô hình tính toán thay đổi: 70% thay đổi mô hình tính toán rủi ro: Tính đến nhiều rủi ro hơn (rủi ro ngoài VAR…); Tăng cường minh bạch nội
bộ liên quan đến kiểm nghiệm khủng hoảng (stress testing), VAR khi xảy ra khủng hoảng, rủi ro đối tác và thanh khoản
– Tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản: 92% số Tập đoàn được hỏi thay đổi phương thức QLRR thanh khoản (tăng TS thanh khoản, CRO có nhiều vai trò hơn, … v.v)
– Tăng cường kiểm nghiểm khủng hoảng (stress testing): 75% thực hiện kiểm nghiệm khủng hoảng như là 1 giải pháp chiến lược thay vì phải tuân thủ – Tăng cường xây dựng “Văn hóa QLRR”: 96% quan tâm nhiều hơn đến
Trang 4032
trách nhiệm (43%); Con người ngại thay đổi (25%)
Bài học từ nước Mỹ
Viện quản lý rủi ro : Nêu lên phương châm “6 Cs” như sau:
– “Comprehensive”: quan tâm đến tất cả các loại rủi ro liên quan
– “Consistently applied”: nhất quán từ trên xuống dưới và từ dưới lên – “Common language and capability”: tập trung vào các thế mạnh chính
và đào tạo để đạt được điều đó
– “Commitment”: cam kết của các cấp
– “Connections”: kết nối giữa con người, qui trình và công nghệ
– “Coordination”: phối kết hợp giữa các bộ phận/người liên quan
1.5.2 Bài học từ các Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Từ cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn của Mỹ và khủng hoảng tài chính toàn cầu với những tác hại của nó có thể rút ra những bài học rất hữu ích cho hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và hoạt động cho vay bất động sản nói riêng:
Thứ nhất, cần kiểm soát rủi ro của hoạt động cho vay bất động sản
thông qua tỷ lệ cho vay bất động sản tối đa trên tổng dư nơ Có thể thấy rằng trong thời gian qua, hoạt động cho vay bất động sản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam tuy có chặt chẽ ( vay phải có tài sản thế chấp, có chứng minh thu nhập, và tỷ lệ cho vay bất động sản không lớn) nhưng vẫn có một số ngân hàng nhỏ xé rào cần phải cảnh báo Khi thị trường chứng khoán chựng lại, dòng vốn đầu tư chuyển hướng sang Bất động sản có thể làm gia tăng nguy cơ này Theo tinh thần Basel II, các Ngân hàng nên tự thiết lập cho mình một tỷ lệ cho vay bất động sản tối đa trên tổng dư nơ nhằm tự bảo vệ mình và bảo vệ cả hệ thống
Thứ hai, cần có một tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp và uy tín trong xếp
hạng tín nhiệm các loại chứng khoán, bao gồm cả chứng khoán vốn và chứng