1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị kinh doanhĐề án THÉP NỘI - LIÊN KẾT HAY PHÁ SẢN

27 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầuHội nhập khu vực và quốc tế đã đem lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội nhng cũng không ít thách thức đối với các DN của chúng ta, đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữa tốc độ tăng trởng đi

Trang 1

Trờng đại học kinh tế quốc dân

Khoa quản trị kinh doanh

Trang 2

Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc D©n Khoa Qu¶n trÞ Kinh doanh

Trang 3

Mục lục

Mở đầu 1

Nội dung 2

1.Tổng quan về cạnh tranh 2

1.1 Quan điểm về cạnh tranh 2

1.1.1 Cạnh tranh 2

1.1.2 Hiệu quả 5

1.1.3 Mối quan hệ giữa cạnh tranh & hiệu quả 6

1.2 Tầm quan trọng và ảnh hởng cạnh tranh của ngành thép trong nền kinh tế quốc dân 7

1.2.1 Với chính các doanh nghiệp 7

1.2.2 Đối với nền kinh tế quốc dân 8

1.2.3 Đối với ngời tiêu dùng 9

2 Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép Việt Nam 9

2.1 Thực trạng 9

2.1.1.Tình hình sản xuất 9

2.1.2.Tình hình biến động giá cả 10

2.1.3 Tình hình tiêu thụ 11

2.1.4 Những hiện trạng bên trong 12

2.1.5 Những yếu kém và khả năng cạnh tranh của các DN thép Việt Nam 15 2.2 Nguyên nhân 17

2.2.1 Nguyên nhân bên ngoài 17

2.2.2 Nguyên nhân bên trong 19

2.3 Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh ngành thép Việt Nam 20

2.3.1 Về phía nhà nớc 21

2.3.2 Về phía doanh nghiệp 22

Kết luận 25

Trang 4

Mở đầu

Hội nhập khu vực và quốc tế đã đem lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội nhng cũng không ít thách thức đối với các DN của chúng ta, đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữa tốc độ tăng trởng đi đôi với chất lợng phát triển kinh tế xã hội, đơng đầu với nhiều áp lực cạnh tranh gay gắt trong quá trình hội nhập

Thép là một ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, nó đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời tạo ra một nguồn thu đáng

kể trong GDP của Việt Nam Nhng ngành thép cũng đang đứng trớc những khó khăn nhất định, đang gặp phải những trở ngại từ chính các DN của chúng ta cũng

nh trở ngại từ phía bên ngoài là rất lớn! Hiệu quả kinh doanh của các DN đang là vấn đề nhức nhối khi mà nhiều các DN của chúng ta sản xuất ra sản phẩm,

doanh thu không đủ đáp ứng chi phí Mà bên cạnh đó, chúng ta lại đang phải đối mặt với sự cạnh tranh rất gay gắt từ phía ngoài, đặc biệt chúng ta đang chịu sức

ép rất lớn từ phía các DN Trung Quốc, đây là vấn đề nổi cộm mà chúng ta thờng xuyên thấy trên các phơng tiện thông tin đại chúng trong những thời gian gần

đây

Chính vì thể trong đề tài của mình em đã chọn thép làm ngành để phân tích, qua đây em muốn làm sáng tỏ đợc vấn đề về hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các DN Việt Nam thông qua thép là một điển hình trong các DN của chúng ta Chúng ta đang đứng trớc rất nhiều cơ hội và thách thức để phát triển, vì vậy tìm ra đợc những nguyên nhân và giải pháp để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các DN, đa các DN của chúng ta nên một tầm cao, vị thế mới

Nội dung

Trang 5

là chỉ các hiện tợng kinh tế dợc phản ánh thông qua trao đổi và lu thông hàng hoá, cùng quan hệ kinh tế và mối liên hệ kinh tế giữa ngời với ngời, do đó mà liên kết lại Thị trờng có chức năng phối hợp các quá trình ra quyết định riêng lẻ

và giải đáp bốn vấn đề cực kỳ quan trọng là: sản xuất cái gì, nh thế nào, cho ai và

đổi mới cái gì Thị trờng cũng là cơ chế giúp đạt đợc các mục tiêu của xã hội nh

tự do, công bằng , lành mạnh và tiến bộ

Cạnh tranh: Cạnh tranh là một trong những đặc trng cơ bản của kinh tế thị ờng, là năng lực phát triển của kinh tế thị trờng Trong kinh tế thị trờng, cạnh tranh là vấn đề sống còn của mỗi DN Cạnh tranh có thể đợc hiểu là sự ganh đua nhau giữa các nhà DN trong việc dành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trờng, để đạt đợc những mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ nh lợi nhuận, doanh thu hay thị phần Quy luật khan hiếm …của thị trờng,cạnh tranh đồng nghĩa với sự ganh đua: ganh đua về giá cả, số lợng, dịch vụ hoặc kết hợp các yếu tố này và các nhân tố khác nữa để tác động đến khách hàng Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh, các tín hiệu giá cả, lợi

tr-nhuận tạo ra sự kích thích để các DN chuyển nguồn lực nơi tạo ra giá trị thấp hơn sang nơi tạo ra giá trị cao hơn

Cạnh tranh có thể đa đến lợi ích cho ngời này và cũng có thể gây thiệt hại cho ngời khác, song xét dới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực, chức năng của cạnh tranh là:

- Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu

Trang 6

- Cạnh tranh hớng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơicó hiệu quả nhất.

- Cạnh tranh tạo môi trờng thuận lợi để sản xuất thích ứng với sự biến

động của cầu và công nghệ sản xuất

- Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập: Cạnh tranh sẽ hạn chế hành vi bóc lột trên cơ sở quyền lực thị trờng và việc hình thành thu nhập không tơng ứng với năng suất

- Cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới

Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, cạnh tranh đợc quan niệm là thuộc tính của kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa, dẫn tới lãng phí nguồn lực do đầu t trùng lắp, phá sản, tạo ra sự lộn xộn trên thị trờng Cạnh tranh bị đồng nhất với “ tranh mua tranh bán ”, “ cá lớn nuốt cá bé ”.Vai trò của nhà nớc là chỉ đạo, điều hành nền kinh tế một cách tập trung Nền công nghiệp hiện đại dờng nh chỉ xây dựng

đợc bằng sức mạnh của nhà nớc Cơ quan nhà nớc thực hiện chức năng quản lý bằng các biện pháp hành chính với trọng tâm là kiểm tra, giám sát hoạt động của

DN Bên cạnh vai trò quản lý kinh tế, Nhà nớc còn trực tiếp tham gia hoạt động kinh tế bằng cách sở hữu những tài sản và công cụ sản xuất quan trọng Đảng và Nhà nớc còn chủ trơng hình thành và duy trì một số độc quyền của nhà nớc, một

số DN độc quyền đợc bênh vực với các lý do “ đảm bảo an ninh quốc gia ”, “ duy trì và củng cố vai trò chủ đạo của DN nhà nớc ”, “ bảo hộ sản xuất trong nớc

” Độc quyền đợc coi là cần thiết để cung cấp nguồn thu quan trọng cho ngân sách Trên thực tế, độc quyền nhà nớc và độc quyền DN nhà nớc đợc coi là đồng nhất

Cùng với quá trình đổi mới, cạnh tranh theo pháp luật dần đợc chấp nhận nh một động lực phát triển, đảm bảo hiệu quả, tiến bộ xã hội nhng có giới hạn Nhà nớc đang tham gia hoạt động kinh tế nhng với quy mô hạn chế hơn một cách t-

ơng đối.Về lâu dài, Nhà nớc chỉ tham gia kinh doanh trong trờng hợp t nhân không làm đợc và không muốn làm do không thể đồng thời phát triển mọi thành phần kinh tế và đúng với xu thế phát triển của nền kinh tế thị trờng Chuyển đổi

từ chế độ kế hoạch hoá sang kinh tế thị trờng, nhiều yếu tố trong sản xuất kinh

Trang 7

doanh của DN đã đợc họ tự quyết định: sản lợng, thị trờng cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ, vay vốn, lao động tiền lơng, giá cả,( nhà nớc chỉ quản lý giá một

bộ phận sản phẩm và dịch vụ nhỏ hơn trớc rất nhiều dới hình thức giá trần, giá sàn, thẩm định giá)…

Nhìn qua quá trình phát triển của nền kinh tế thị trờng, chúng ta có thể thấy rằng sự cạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt hơn bao giờ hết, các thủ đoạn cạnh tranh cũng ngày càng trở lên tinh vi và có nhiều sự mới mẻ hơn so với truyền thống

Tất nhiên không phải chỉ ở nền kinh tế thị trờng mới có sự cạnh tranh, mà khái niệm cạnh tranh nó có từ rất lâu rồi, nhng chỉ phát triển đến nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh mới thực sự mang một màu sắc mới, nó thúc đẩy sự phát triển nhiều hơn là kìm nén, thủ tiêu lẫn nhau

Đối với cạnh tranh truyền thống trớc đây, ngời ta thờng sử dụng những hình thức cạnh tranh không lành mạnh, họ thờng tìm cách thủ tiêu lẫn nhau hơn là tìm cách vợt lên ngời khác bằng những thay đổi của mình, ở Việt Nam cũng vậy: ng-

ời ta quen vào sự độc quyền của nhà nớc, dựa trên những u đãi của nhà nớc, hay nếu có mặt sự cạnh tranh thì có chăng lại là những vụ chèn ép lẫn nhau, tìm ra những điểm yếu của đối thủ không phải để vợt lên mà là để kiện cáo, phá hoại lẫn nhau.Chính vì điều này mà các DN của chúng ta, một thời gian dài họ sản xuất một cách rất manh mún, và sự đầu t thật kém hiệu quả Tuy nhiên với sự tiếp cận ngày càng gần với thị trờng, sự vơn ra ngoài lãnh thổ quốc gia, sự hội nhập đã khiến các DN của chúng ta phải thay đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn, và cũng là để sản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn Đối với cạnh tranh hiện đại ngày nay, khi mà sự độc quyền bị lên án, sự khốc liệt của cạnh tranh càng trở diễn ra mạnh mẽ hơn, thì ngời ta bắt đầu nghĩ đến một cách mới

để có thể tồn tại và phát triển: đó là sự liên minh thơng mại, sự hợp tác với nhau giữa các công ty đã phát triển một cách nhanh chóng và mãnh liệt.Tuy nhiên sự hợp tác rộng rãi và cạnh tranh khốc liệt này rất khác so với t duy kinh tế truyền thống Liên minh không hề kìm nén sự cạnh tranh, mà ngợc lại nó tạo ra một hình thái mới, nhiều lúc nó còn khốc liệt hơn so với các hình thái trớc đây Bản

Trang 8

chất của loại hình mới này là phơng thức hợp tác và đối kháng tác dụng lẫn nhau

Có khi mâu thuẫn, đối kháng nhau nhng khi cần các DN lại có thể hợp tác lại với nhau để tồn tại Hình thái này đang diễn ra rất phổ biến hiện nay khi mà nền kinh tế toàn cầu đang bùng nổ một cách mạnh mẽ, và làm cho các DN phải thực thi rất nhiều chính sách

1.1.2 Hiệu quả

Hiệu quả có thể đợc đánh giá ở các góc độ khác nhau, phạm vi khác nhau và thời kỳ khác nhau.Tuy nhiên trong phạm vi của bài, em chỉ bàn đến hai vấn đề:

đó là hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt đợc các mục tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó, thờng đợc nghiên cứu ở giác độ quản lý

vĩ mô

Còn hiệu quả kinh doanh là đối tợng nghiên cứu trong các DN: đó là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực, phản ánh mặt chất lợng của quá trình kinh doanh, phức tạp và khó tính toán bởi cả phạm trù kết quả và hao phí nguồn lực gắn với một thời kỳ cụ thể nào đó đều khó xác định một cách chính xác Tuy đợc nghiên cứu ở hai giác độ khác nhau, nhng hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ biện chứng với nhau Mối quan hệ giữa chúng nh thế nào sẽ đợc xem xét ở phần sau

1.1.3 Mối quan hệ giữa cạnh tranh và hiệu quả

Các nguồn lực xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngày ngời ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục vụ các nhu cầu khác nhau của con ngời Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con ngời lại ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn

Điều này phản ánh quy luật khan hiếm, nó bắt buộc mọi DN phải sản xuất đúng loại sản phẩm – dịch vụ với số lợng và chất lợng phù hợp

Mặt khác, trong cơ chế kinh tế thị trờng, mở cửa và ngày càng hội nhập DN phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, DN phải luôn tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh: chất lợng và sự khác biệt hoá, giá cả và tốc độ cung ứng.Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi DN hoạt

Trang 9

động kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận.DN càng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực bao nhiêu sẽ càng có lợi cho các DN để có cơ hội thu đợc nhiều lợi nhuận bấy nhiêu Đó chính là hiệu quả kinh doanh của các DN, nó phản ánh trình độ lợi dụng đợc các nguồn lực để tạo ra những sản phẩm , dịch vụ tốt nhất trong

điều kiện có thể Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt nh thế này, nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là điều kiện sống còn giúp DN tồn tại, nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển, và thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và các mục tiêu khác Hay nói một cách khác là muốn cạnh tranh đ… ợc, buộc các DN phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.Với t cách là một tế bào, nâng cao

đợc hiệu quả kinh doanh chính là một phần các DN làm cho hiệu quả kinh tế phát triển theo chiều hớng tốt lên Hiệu quả kinh tế mà nâng cao thì khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển cao.Tuy nhiên không phải lúc nào hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh cũng vận động cùng chiều.Có thể từng DN đạt hiệu quả kinh tế cao song cha chắc nền kinh tế đã đạt hiệu quả kinh

tế cao, bởi lẽ kết quả của một nền kinh tế đạt đợc trong mỗi thời kỳ không phải lúc nào cũng là tổng đơn thuần của các kết quả của từng DN.Và việc nâng cao đ-

ợc khả năng cạnh tranh của các DN chính là viêc nâng cao đợc hiệu quả kinh doanh trong các DN, giúp DN thực hiện tốt các mục tiêu của mình Đối với các

DN sản xuất gang thép của chúng ta, đây là một điển hình cho mối quan hệ này,

là một ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam, hàng năm các DN sản xuất gang thép đã đóng góp một lợng đáng kể vào thu nhập quốc dân, đồng thời đã góp phần quan trọng làm lên rất nhiều công trình xây dựng đất nớc, cơ sở hạ tầng Bởi thế các DN này luôn đợc Nhà nớc cũng nh công chúng rất quan tâm

1.2 Tầm quan trọng và ảnh hởng cạnh tranh của ngành Thép trong nền kinh tế Quốc dân

1.2.1. Với chính các DN

Ngành sản xuất thép của chúng ta không phải non trẻ, chúng ta đã quan tâm

đầu t và phát triển ngay từ những ngày đầu đổi mới Nhng cho đến nay, có thể nói những kết quả đạt đợc của chúng ta cha tơng xứng với sự quan tâm đầu t và

Trang 10

mong muốn đạt đợc Khi bớc vào hội nhập với nền kinh tế thế giới, chúng ta đã gặp phải rất nhiều khó khăn, áp lực cạnh tranh từ phía các DN nớc ngoài Trong vài năm trở lại đây chúng ta có thể thấy rõ sự yếu kém đó khi mà thị trờng thép trong nớc luôn trong tình trạng rất bất ổn Giá thép liên tục tăng mà chính những nhà sản xuất thép trong nớc cũng không kìm nổi sự tăng lên của giá, nhiều DN trong nớc đã không những không mở rộng đợc quy mô sản xuất, mà còn phải thu hẹp lợng sản xuất của mình Nguyên nhân tại vì họ không có khả năng tiêu thụ, không có khả năng cạnh tranh đợc với thép từ bên ngoài tràn vào Trớc sự ngày càng một lớn mạnh của các đối thủ nớc ngoài, thì đồng nghĩa rằng các DN của chúng ta đang đi xuống, không đủ khả năng cạnh tranh với họ Năng lực yếu kém làm cho các DN của chúng ta dần đang đánh mất đi những lợi thế trong n-

ớc, ngay trên sân nhà mà chúng ta đã phải chịu nhờng sân rồi Vì thế đứng ngay trên góc độ hiệu quả kinh doanh của các DN, chúng ta cần có biện pháp nâng cao đợc khả năng cạnh tranh với các đối thủ của mình

1.2.2 Đối với nền kinh tế quốc dân

Ngành thép là ngành công nghiệp nặng cơ sở của mỗi quốc gia Nền công nghiệp gang thép mạnh là sự đảm bảo ổn định và đi lên của nền kinh tế một cách chủ động vững chắc Trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cho nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép là hết sức cấp bách và cần thiết Thép vẫn sẽ là nguyên liệu chủ yếu và cơ bản trong tơng lai dù cho sự xuất hiện khá nhiều vật liệu chịu bền cao nh sợi thuỷ tinh, sợi cacbon, sợi tổng hợp…Ngành thép hàng năm tạo lên mức thu nhập GDP khá lớn, chính vì thế tầm quan trọng và ảnh hởng của nó là rất lớn Sự phát triển của ngành không những

có lợi cho chính các DN mà sẽ đem lại những lợi ích to lớn đối với tổng thể nền kinh tế Giúp ổn định và thúc đẩy các ngành khác phát triển, bởi thép vẫn là nguyên liệu chủ yếu trong xây dựng hiện nay Sự phát triển ổn định của ngành thép chính là điều kiện để các ngành khác phát triển hơn, và ngợc lại nếu sự phát triển của ngành bất ổn sẽ kéo theo những ảnh hởng to lớn đến nền kinh tế Trong vài năm gần đây, sự phát triển bất ổn của ngành thép đã ảnh hởng rất lớn đến nền

Trang 11

kinh tế nớc ta Giá cả liên tục tăng làm cho nhiều ngành khác cũng chịu ảnh ởng rất nặng nề.

h-1.2.3 Đối với ngời tiêu dùng

Giá cả liên tục tăng nhanh, ảnh hởng đến lạm phát và cũng làm cho giá cả một số sản phẩm khác cũng tăng lên, kết cục chính những ngời tiêu dùng phải chịu thiệt thòi Ngời tiêu dùng thì không thể làm gì đợc chỉ biết kêu than, nhng các DN của chúng ta lại gần nh là bất lực, bởi chính các DN cũng đang phải tìm nối thoát cho mình Ngành sản xuất thép của chúng ta lại phụ thuộc rất nhiều vào các DN bên ngoài, bởi vì có đến 70% phôi thép đợc nhập từ bên ngoài vào, giá phôi liên tục tăng nên các DN của chúng ta cũng tăng giá bán thép thành phẩm

để bù đắp chi phí và mới mong có lãi Và cuối cùng, vấn đề muôn thuở: đó là những ngời tiêu dùng lại bị chịu trận, phải chịu ngững chi phí cao hơn

Cuối cùng cho thấy sự ảnh hởng rất lớn tới tổng thể nền kinh tế quốc gia chứ không phải chỉ riêng ngành tham gia vào lĩnh vực đó hay cá nhân nào Chính vì thế ngành thép luôn đợc sự quan tâm đặc biệt từ tất cả các mọi ngời: từ chính phủ cho đến những ngời tiêu dùng

2 Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thép Việt Nam

2.1 Thực trạng

2.1.1 Tình hình sản xuất

Hiện nay nớc ta có đến 23 DN sản xuất thép với quy mô tổng công suất khoảng 7 – 8 triệu tấn/ năm, và ngoài ra còn nhiều cơ sở t nhân với tổng công suất cán thép khoảng từ 400.000 đến 600.000 tấn/ năm Có thể nói với quy mô công suất nh trên chúng ta hoàn toàn có thể đáp ứng đợc thị trờng thép trong nớc,

và có thể còn suất khẩu ra nớc ngoài nữa

Riêng năm 2007, dự kiến nhu cầu thép thành phẩm trong nớc là 7,75 triệu tấn/ năm, tăng 12% so với năm ngoái Trong đó thép cây và thép cuộn khoảng 3,85 triệu tấn, còn lại là thép dẹt và các loại thép khác Ngành thép phấn đấu sản

Trang 12

xuất phôi thép trong nớc năm nay đạt 1,85 triệu tấn, tăng 29% so với năm trớc,

đáp ứng 50% nhu cầu trong nớc Xuất khẩu thép xây dựng 220.320 tấn, tăng 20% so với năm ngoái

Chúng ta đã đầu t hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm cho việc đổi mới cũng nh

đầu t theo chiều sâu và góp vốn liên doanh với nớc ngoài để phát triển sản xuất thép, tăng sản lợng lên gấp 3,5 lần so với năm 2000 Bên cạnh đó các thành phần kinh tế khác cũng phát triển sôi động, tăng trởng nhanh, chiếm tỷ trọng đáng kể sản lợng thép trong cả nớc Việc đầu t chủ yếu tập trung phát triển các loại thép tấm, thép lá, thép chất lợng cao ch… a đợc sản xuất, vẫn phải nhập khẩu nhiều.Mặc dù cả nớc đã có nhiều DN sản xuất thép, và nhiều cơ sở t nhân Tuy vậy nhng các DN của chúng ta vẫn ở dạng quy mô nhỏ, sản lợng hàng năm của các DN chỉ đạt ở mức trung bình hay thấp, hay có thể nói thép nội vẫn ở tình trạng manh mún DN có công suất cao ở Việt Nam cũng chỉ đạt cha tới 500.000 tấn/ năm ví dụ nh: Phú Mỹ có công suất 400.000 tấn/ năm, Thái Nguyên 350.000 tấn/ năm và một số nhà máy có thiết bị công nghệ hiện đại nh… : thép Pomina, thép Việt – ý, thép Miền Nam, Cửu Long còn lại chủ yếu là các cơ sở sản …xuất nhỏ và vừa, thế hệ cũ, trình độ công nghệ ở mức thấp và trung bình, phân bố phân tán cha đạt quy mô nh các nhà sản xuất thép tiên tiến trên thế giới

2.1.2 Tình hình biến động giá cả

Từ năm 2000 cho đến nay, giá cả liên tục tăng qua các năm, trong 2 năm trở lại đây giá phôi và thép còn tăng rất nhanh, khiến cho không những các DN mà cả những ngời tiêu dùng, và các cơ quan chính phủ liên ngành có liên quan phải bận tâm rất nhiều.Giá thép đã tăng đến mức cao nhất trong 10 năm qua: Trong tháng 4/2007, giá thép cuộn phi 6 – 8 lên đến 9.300đồng/ kg, thép cây loại phi

10 là 69.000đồng/ cây, phi 12 là 98.000 đồng/ cây Mà điều đáng nói hơn nữa …

là giá thép tăng theo hàng ngày Khoảng tháng 7/2007 giá của phôi thép là 515 USD, tăng đến hơn 2 triệu đồng so với năm 2006, ( kỷ lục chỉ trong vòng một tháng từ mà giá phôi thép đã tăng lên đến 100 USD từ đầu tháng 9 cho đến đầu tháng 10 năm 2007) Và xắp tới nếu Trung Quốc tăng thuế suất xuất khẩu phôi

Trang 13

thép từ 15% lên 25% thì chắc chắn rằng giá phôi thép sẽ còn tăng hơn nữa bởi vì hiện tại Việt Nam vẫn phải nhập khẩu và phụ thuộc đến 70% phôi thép vào nhập khẩu Mà lợng nhập khẩu của chúng ta chủ yếu là từ Trung Quốc Mà không chỉ tăng giá, nguồn cung hàng sẽ khan hiếm, rất có thể sẽ có những sự đầu cơ mà Nhà nớc cũng khó có thể kiểm soát nổi Cũng chính vì thế mới sảy ra hiện tợng tranh cãi về thép Việt – ý, khi họ thuê gia công sản phẩm từ các DN Trung Quốc rồi nhập về tiêu thụ cũng chính là vấn đề để giảm chi phí giá thành.

Giá phôi thép tăng cao đã đẩy giá thép trong nớc tăng lên đến 12 triệu đồng/ tấn vào tháng 10/2007, chỉ so với tháng 9 thôi, giá thép đã tăng đến 300.000 – 400.000 đồng/ tấn Và theo dự báo của hiệp hội thép Việt Nam ( VSA ), giá thép

sẽ vợt mức 12triệu đồng/ tháng khi giá phôi thép tăng lên và có thể tăng đến 14 triệu đồng/ tấn

Song điều đáng nói là mặc dù giá các mặt hàng thép tăng có tính đột biến với biên độ lớn nhng lợng nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam vẫn tăng mạnh: nếu năm 2006 chỉ có khoảng 150.000 tấn thép cuộn đợc nhập khẩu vào Việt Nam ( chiếm 16% nhu cầu thép cuộn trong nớc) thì chỉ riêng 4 tháng đầu năm 2007,

số lợng thép cuộn nhập vào từ Trung Quốc đã là 230.000 tấn ( chiếm 53% nhu cầu thị trờng).Chỉ riêng quý I/2007, cả nớc đã nhập khẩu hơn 2,4 triệu tấn thép, tăng 41% so với cùng kỳ năm ngoái

Ngày đăng: 20/05/2015, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w