Đặc trưng các hoạt động hướng tới công nghệ thích hợp ở các nước đã công nghiệp hoá là sự cố gắng để sửa chữa sự thái qúa và mất cân bằng của nền văn hoá công nghiệp với sự sùng bái thái
Trang 1Chương 4: Công nghệ thích hợp.
13 CN thích hợp là gì? Căn cứ xác định CN thích hợp? Các định hướng CN thích hợp và phân tích các định hướng này Cho VD về 1 DN… ……… 1
14 Các tiêu thức lựa chọn CN thích hợp ? Ở VN hiện nay cần dựa vào các tiêu thức nào để lựa chọn CN thích hợp 5
15 Năng lực CN là gì? Phân tích quan điểm năng lực CN theo ngân hàng thế giới Liên hệ để thấy rõ thực trạng năng lực CN ở Việt Nam 6
* Liên hệ để thấy rõ thực trạng năng lực CN ở Việt Nam 7
16 Phân tích 2 yếu tố cơ bản của năng lực CN (khả năng đồng hóa CN nhập và phát triển CN nội sinh? Liên hệ thực tế VN Các biện pháp nâng cao năng lực CN Phân tích các biện pháp này? 10
* Các biện pháp nâng cao năng lực CN Phân tích các biện pháp này? 10
17 Phân tích yêu cầu năng lực CN của ngành …., quốc gia (Đã thi)(ko làm) 13
13 CN thích hợp là gì? Căn cứ xác định CN thích hợp? Các định hướng CN thích hợp
và phân tích các định hướng này Cho VD về 1 DN.
* Khái niệm
Trong hai thập kỷ (1950 – 1970), nền kinh tế thế giới tăng trưởng với tốc độ cao chưa từng thấy, do sự mở rộng quy mô và chuyển các công nghệ trong lĩnh vực quốc phòng sang dân dụng Nhưng sau cuộc khủng hoảng giá dầu mỏ (1972 – 1973) dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế thế giới, các nước công nghiệp nhận ra rằng, chính những ngành công nghiệp khổng lồ là mối đe doạ trực tiếp sự sống còn của họ Các nước đang phát triển cũng nhận thấy rằng một số ngành công nghiệp làm họ nghèo thêm và phụ thuộc nhiều hơn vào các
nước phát triển Từ đó nảy sinh vấn đề công nghệ nào là thích hợp cho sự phát triển và xác lập tính thích hợp của công nghệ như thế nào Công nghệ thích hợp ở các nước công nghiệp
bắt đầu là do sự tập trung của hàng loạt lợi ích khác nhau Các lợi ích này bao gồm các nhu cầu để:
- Tìm ra mối quan hệ hài hoà hơn và có thể chấp nhận được với hoàn cảnh xung quanh
- Tìm ra được cách để thoát khởi sự khủng hoảng về nguyên liệu và năng lượng đang thúc bách lúc bấy giờ
- Giảm bớt các công việc nặng nhọc mà ít người muốn làm
- Triển khai nhiều hơn các việc làm để có lợi cho xã hội
- Đưa các ngành kinh tế địa phương phát triển đúng hướng, cùng với việc tăng các doanh nghiệp do chính người địa phương điều hành và làm chủ
Trang 2- Thúc đẩy sự phát triển văn hoá địa phương để chống lại sự đơn điệu và cằn cỗi ngày một tăng của văn hoá quần chúng đã truyền bá thông qua các phương tiện điện tử
Đặc trưng các hoạt động hướng tới công nghệ thích hợp ở các nước đã công nghiệp hoá là sự cố gắng để sửa chữa sự thái qúa và mất cân bằng của nền văn hoá công nghiệp với sự sùng bái thái quá chủ nghĩa vật chất
Ở các nước đang phát triển, công nghệ thích hợp được phát triển do một loạt các nhu cầu khác nhau Các nước này đều thực hiện chiến lược CNH – HĐH Nguồn tài nguyên công nghệ của thế giới đang bị khống chế bởi một số ít các nước mạnh nhất Chuyển giao công nghệ chỉ phục vụ cho lợi ích của các nước giàu trong việc khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên, lao động rẻ mạt và các thị trường tiêu thụ tốt Kết quả là trong nhiều trường hợp việc áp dụng các công nghệ nhập khẩu đã tạo ra một cuộc công kích mạnh mẽ, dữ dội vào
nền văn hoá địa phương Do đó đặc trưng công nghệ thích hợp ở các nước đang phát triển
về thực chất là cố gắng để thích nghi và triển khai công nghệ phù hợp với hoàn cảnh của
họ
Đối với nước ta, để tăng trưởng kinh tế, trước hết cần có một mô hình kinh tế phù hợp Tìm hiểu kinh nghiệm của nhiều nước, chúng ta không dập khuôn bất kỳ một mô hình nào
đó mà tiếp thu những ưu điểm, loại trừ khuyết tật của các mô hình để có thể hình thành các
mô hình kinh tế Việt Nam, phù hợp với thực tiễn đất nước Chúng ta phải biết kết hợp các nhân tố của kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, kinh tế sinh thái, kinh tế nhân văn, kinh tế văn hoá, kinh tế - xã hội Để thích ứng với mô hình kinh tế hợp lý đó, vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hoá cũng phải có bước đi riêng và tìm ra một mô hình thích hợp Để thực hiện
ý đồ đó cần chú ý lựa chọn công nghệ thích hợp là vấn đề cơ bản Vậy công nghệ thích hợp
là gì ? Các nước đang phát triển thống nhất quan niệm:
"Công nghệ thích hợp là các công nghệ đạt được các mục tiêu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của địa phương"
* Căn cứ xác định công nghệ thích hợp
Công nghệ được tạo ra từ hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Tuy nhiên, các hoạt động nghiên cứu và phát triển tại các nơi khác nhau sẽ tạo ra công nghệ khác nhau để
đạt được cùng một mục tiêu Điều này là do hoàn cảnh, bao gồm các yếu tố như dân số; tài nguyên; hệ thống kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hoá – xã hội, pháp luật- chính trị Do
vậy bất kỳ công nghệ nào cũng được xem là thích hợp tại thời điểm phát triển, đối với hoàn cảnh mà nó được phát triển và mục tiêu phát triển Nó có thể thích hợp hoặc không thích
hợp ở nơi khách hoặc vào thời điểm khác Như vậy, tính thích hợp của công nghệ không phải là một tính chất nội tại của công nghệ, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh, thời gian và mục tiêu
- Hoàn cảnh bao gồm các yếu tố như: Dân số, tài nguyên, kinh tế, công nghệ, môi
trường sống, văn hoá, xã hội, chính trị, pháp luật, quan hệ quốc tế
- Mục tiêu: Dựa vào các mục tiêu quốc gia, của ngành , của địa phương, của cơ sở mà
xác định, nhưng phải tối đa hiệu quả và tối thiểu hậu quả Mục tiêu có thể đổi khác khi những yếu tố , nhân tố tạo nên hiệu quả và gây hậu quả thay đổi và tương quan giữa hai tập yếu tố này
Trang 3* Các định hướng CN thích hợp.
Trong bối cảnh của các nước đang phát triển, công nghệ thích hợp được xem xét ở 4 khía cạnh :
a/ Định hướng theo trình độ công nghệ.
Tiền đề cơ bản làm cơ sở cho định hướng này là có một loạt công nghệ sẵn có để thỏa mãn một nhu cầu nhất định Vấn đề là lựa chọn công nghệ như thế nào cho phù hợp Các
công nghệ sẵn có được sắp xếp theo thứ tự thô sơ, thủ công đến tiên tiến, hiện đại Đối với các nước đang phát triển, nếu chọn công nghệ tiên tiến:
- Công nghệ tiên tiến là cơ hội để các nước đang phát triển có thể hoàn thành công nghiệp hoá nhanh chóng
- Công nghệ tiên tiến có thời gian sử dụng lâu dài - Công nghệ tiên tiến tạo năng suất lao động cao, chất lượng tốt, giá thành hạ, lợi nhuận cao, thuận lợi trong phân công hợp tác quốc tế
Tuy nhiên, các công nghệ tiên tiến vốn ứng dụng các kết quả của khoa học hiện đại, nên khi tiếp nhận chúng, các nước đang phát triển thường gặp khó khăn như:
- Tập trung vốn lớn, khó thực hiện nhiều mục tiêu một lúc, kìm hãm sự phát triển các
cơ sở vừa và nhỏ
- Đòi hỏi năng lực vận hành và trình độ quản lý cao - Cắt đứt một cách đột ngột với quá khứ, do đó tính thích nghi giảm
Quan điểm của nhiều chuyên gia cho rằng, đối với các nước đang phát triển là để dung
hoà có thể chọn công nghệ trung gian Loại công nghệ này có trình độ trung gian giữa công
nghệ thô sơ, rẻ tiền và công nghệ tiên tiến, hiện đại Lý do có thể là:
- Điều kiện ở các nước đang phát triển không giống như điều kiện ở các nước phát triển Cho nên loại công nghệ trung gian có thể dung hoà được hai hoàn cảnh đó
- Được xây dựng với quy mô từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ trình độ trung bình đến hiện đại Công nghệ trung gian sẽ tạo ra các cơ hội tốt bằng thực nghiệm và từng bước nâng dần kỹ năng, kỹ xảo cũng như kinh nghiệm quản lý
- Có điều kiện triển khai nhiều công nghệ để giải quyết nhiều mục tiêu trong điều kiện nguồn vốn bị hạn chế
- Công nghệ trung gian tạo điều kiện cho việc tiếp thu, đồng hoá dễ dàng
b/ Định hướng theo nhóm mục tiêu
Cơ sở định hướng là dựa vào các nhóm mục tiêu phát triển công nghệ Thông thường
các nhóm mục tiêu được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, đó là cơ sở để lựa chọn công nghệ thích hợp theo từng giai đoạn
Nhóm mục tiêu bao gồm:
- Thoả mãn các nhu cầu tối thiểu, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống đồng đều
Trang 4- Tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh trên thị trường
- Tự lực và độc lập về công nghệ
Ví dụ, khi mục tiêu phát triển công nghệ là thoả mãn nhu cầu tối thiểu, đối tượng phục
vụ của công nghệ sẽ là đông đảo dân nghèo ở nông thôn Tiêu thức thích hợp của công nghệ
có thể là chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm hạ, phát huy các công nghệ truyền thống, tận dụng các nguồn lức sẵn có của địa phương.v.v…
c/ Định hướng theo sự hạn chế các nguồn lực
Cơ sở của định hướng là xem xét công nghệ có thích ứng với nguồn tài nguyên vốn có,
phù hợp với điều kiện chung trong sự phát triển ở địa phương hay không Một số trong số các điều kiện về nguồn lực là đội ngũ nhân lực, vốn đầu tư nội địa, năng lượng, nguyên vật liệu Vấn đề là sử dụng các nguồn lực này như thế nào cho hợp lý, vừa có hiệu quả trong hiện tại, trong ngắn hạn, đồng thời đảm bảo sử dụng lâu dài bền vững
d/ Định hướng theo sự hoà hợp (không gây đột biến)
Cơ sở thứ tư của công nghệ thích hợp đó là mong muốn có được tiến bộ công nghệ thông qua phát triển chứ không phải cách mạng Có nghĩa là phải có sự hài hoà giữa
sửdụng, thích nghi, cải tiến, đổi mới Sự phát triển theo tuần tự, không gượng ép, không gây
ô nhiễm, không mất cân bằng sinh thái, bảo đảm hoà hợp tự nhiên, kết hợp công nghệ nội địa và công nghệ nhập, tạo lập sự phát triển nhanh và bền vững, không mâu thuẫn giữa quốc gia và địa phương, hoà hợp giữa công nghệ truyền thống và hiện đại…
Qua 4 định hướng vừa nêu về công nghệ thích hợp, chúng ta dễ thấy vì sao mọi người hiểu công nghệ thích hợp một cách khác nhau và không thể nào thoả mãn đồng thời những yêu cầu như vậy Để công nghệ thích hợp trở thành khả thi chúng ta cần:
- Loại bỏ những nhận thức không đúng về công nghệ thích hợp
- Không có công nghệ nào thích hợp cho tất cả các nước và cũng không có công nghệ nào không thích hợp với nước nào
- Tính thích hợp và không thích hợp của công nghệ cần được xem xét lại một cách thường xuyên và một chiến lược cân bằng là cần thiết cho phát triển công nghệ
* Cho VD về 1 DN áp dụng CN thích hợp.
Công ty cơ khí Hà Nội, ngay từ năm 97 đã mạnh dạn nhanh chóng bắt tay vào triển khai dự án thử nghiệm công nghiệp hoá các máy gọt hiện có của công ty, dự án mang mã số KHCN – 05 – DA1 do tiến sĩ Trần Việt Hùng – giám đốc công ty làm chủ nhiệm Bằng kinh nghiệm và năng lực hiện có cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài và trong nước, cán bộ công nhân viên công ty đã nghiên cứu thành công và đưa vào ứng dụng các kĩ thuật điều khiển số lập trình bằng máy CNC, kĩ thuật điều khiển logic, khả năng lập trình PLC kĩ thuật đo lường và vi tính hoá, kĩ thuật điều khiển truyền động điện số hoá Dự án này đã hược hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước đánh giá xuất sắc đạt được giải Ba giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam – Vi FOTEC 2000 và cũng chính nhờ dự án này mà đến nay, công ty đã hiện đại hoá được 30 thiết bị ở nhiều mức độ khác nhau, trong
đó có 6 lò nhiệt luyệnđược lắp đặt hệ thống PLC Việc điều khiển tự động hóa quá trình nhiệt đã nâng cao chất lượng nhiệt luyện các sản phẩm cơ khí, giảm hàng sai hỏng do nhiệt
Trang 5luyện từ 4% xuống còn 1% Việc thay thế các bộ phận điều khiển vô cấp bán dẫn đã làm giảm mức tổn thất điện năng từ 20% - 25% xuống dưới 6% Đặc biệt có 2 thiết bị : máy doa 2B460 với kích thước bàn quay 1200mm được CNC có khả năng gia công các bề mặt khuôn mẫu lớn các cánh tua bin thuỷ lực … và máy tiện SUT66 CNC có khả năng gia công các trục pro Bên cạnh đó doanh nghiệp tiếp tục đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, công nghệ để nâng cao năng xuất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môt trường.Tăng cường công tác giáo dục, đầo tạo, bồi dưỡng, đầo tạo lại trình độ, tay nghề cho cán bộ công nhân viên, khuyến khích người lao động áp dụng khoa học kỹ thuật, phát huy sáng kiến, hợp lý hoá trong sản xuất
Nhờ vậy doanh nghiệp đã có những bước tiến vượt bậc và được mệnh danh là con chim đầu đàn của ngành cơ khí Việt Nam
14 Các tiêu thức lựa chọn CN thích hợp ? Ở VN hiện nay cần dựa vào các tiêu thức nào để lựa chọn CN thích hợp.
Lựa chọn công nghệ là quá trình phức tạp và khía cạnh quan trọng nhất của nó là công nghệ được lựa chọn phải hỗ trợ có hiệu quả cho chiến lược của doanh nghiệp Lựa chọn công nghệ không đúng có thể dẫn đến nhà máy ngừng hoạt động hoặc doanh nghiệp phá sản Một nghiên cứu của Schemenner cho thấy hơn 1/3 các nhà máy ngừng hoạt động thuộc
về các nhà máy đã được xây dựng không quá 6 năm và nguyên nhân chủ yếu là do lựa chọn công nghệ - lựa chọn những công nghệ làm cho năng xuất thấp
Lựa chọn công nghệ rất quan trọng đối với việc tạo lợi thế cạnh tranh Doanh nghiệp phải lựa chọn những công nghệ nào để thực hiện các hoạt động thuộc chuỗi giá trị (Value chain) nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp theo đuổi khi thực hiện chiến lược cạnh tranh Chẳng hạn, nếu chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp là khác biệt hoá thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn những công nghệ có khả năng tối đa hoá các lợi thế cạnh tranh về mặt tính năng cao, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu, dịch vụ khách hàng tốt hơn
Các tiêu thức lựa chọn công nghệ:
- Đáp ứng nhu cầu cơ bản của nhân dân đặc biệt là nông dân
- Có khả năng thu hút khối lượng lớn lao động
- Bảo tồn và phát triển công nghiệp truyền thống, tạo ra các ngành nghề mới
- Chi phí thấp và kĩ năng thấp
- Tạo ra khả năng hoạt động cho các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, lớn kết hợp
- Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
- Thu hút việc sử dụng dịch vụ trong nước
- Sử dụng được phế liệu, không gây ô nhiễm môi trường
- Tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế
- Phân bố rộng rãi và giảm sự không bình đẳng trong thu nhập
- Không gây sáo trộn đối với văn hóa xã hội
- Tạo tiền đề tăng cường xuất khẩu
Trang 6- Được hệ thống chính trị chấp nhận.
* Ở VN hiện nay cần dựa vào các tiêu thức nào để lựa chọn CN thích hợp.
15 Năng lực CN là gì? Phân tích quan điểm năng lực CN theo ngân hàng thế giới Liên hệ để thấy rõ thực trạng năng lực CN ở Việt Nam.
Đối với các nước đang phát triển, phát triển công nghệ chủ yếu tập trung vào nhập khẩu công nghệ nước ngoài Chuyển giao công nghệ trong tình hình như vậy làm phát sinh nhiều vấn đề : giá công nghệ quá cao; công nghệ không phù hợp với nguồn lực, điều kiện và mục tiêu; phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài … dẫn đến việc sử dụng công nghệ kém hiệu quả Từ thực tế như vậy, các nước đang phát triển nhận thấy cần phải xây dựng và phát triển năng lực công nghệ quốc gia (National Technological Capability – NTC)
Năng lực công nghệ quốc gia là một vấn đề phức tạp, đã có nhiều tác giả nghiên cứu
Theo Lall, “ Năng lực công nghệ quốc gia (ngành, cơ sở) là khả năng của một nước triển
khai các công nghệ hiện có một cách có hiệu quả và ứng phó được với những thay đổi công nghệ.” Theo định nghĩa này có hai mức hoạt động phát triển công nghệ, cũng là hai cơ sở để phân tích năng lực công nghệ, đó là :
- Sử dụng có hiệu quả công nghệ có sẵn
- Thực hiện đổi mới công nghệ thành công
Khái niệm này cũng đã khái quát được hai mặt cơ bản của năng lực công nghệ mà nhiều chuyên gia đã đề cập là khả năng đồng hoá công nghệ và khả năng phát triển công nghệ nội sinh
* Một vài quan điểm về năng lực công nghệ.
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc đã xác định các yếu tố cấu thành năng lực công nghệ.
- Khả năng đào tạo nhân lực
- Khả năng tiến hành nghiên cứu cơ bản
- Khả năng thử nghiệm các phương tiện kĩ thuật
- Khả năng tiếp nhận và thích nghi các công nghệ
- Khả năng cung cấp và xử lí thông tin
Ngân hàng thế giới (WB) đã đề xuất phân chia năng lực thế giới thành 3 nhóm độc lập:
- Năng lực sản xuất, bao gồm: quản lí sản xuất, kĩ thuật sản xuất, bảo dưỡng, bảo quản
tư liệu sản xuất, kỹ thuật làm ra sản phẩm ít hỏng, khuyết tật, marketing sản phẩm
- Năng lực đầu tư, bao gồm: quản lý dự án, thực thi dự án, năng lực mua sắm, đào tạo
nhân lực
- Năng lực đổi mới, bao gồm: khả năng bắt chước công nghệ hấp thụ được, khả năng
đổi mới sản phẩm, khả năng đổi mới quá trình, khả năng đổi mới ứng dụng, khả năng đổi mới hệ thống (tích hợp nhiều hệ thống phụ và bao gồm đổi mới sản phẩm, quá trình, ứng dụng)
Trang 7Theo M Fransman năng lực công nghệ:
- Năng lực tìm kiếm các công nghệ để thay thế, lựa chọn công nghệ thích hợp để nhập
- Nắm vững công nghệ nhập và sử dụng có hiệu quả
- Thích nghi CN nhập với hoàn cảnh và điều kiện địa phương
- Cung cấp CN đã có và đổi mới
- Thể chế hóa việc tìm kiếm những đổi mới và những đột phá quan trọng nhờ việc phát triển các phương tiện nghiên cứu triển khai trong nước
- Nghiên cứu cơ bản để nâng cao CN
Các quan niệm trên đây cho thấy năng lực công nghệ là kết quả phức hợp của nhiều
tác động tương tác Khi xem xét năng lực công nghệ cần là rõ và đánh giá được 2 yếu tố cơ bản là khả năng đồng hóa công nghệ nhập và khả năng tạo công nghệ nội sinh mới.
Khả năng đồng hóa công nghệ nhập là nắm vững và thích nghi CN nhập khẩu, tất
nhiên phải theo bốn thành phần công nghệ
VD: Không thể làm chủ CN nếu chỉ thụ động nhập phần kĩ thuật (T) mà bên nhập phải biết thích nghi và nâng cấp phần kĩ thuật
+ Phần con người cũng có thể nhập khẩu tạm thời xong kết quả có được năng lực công nghệ hay không phụ thuộc vào khả năng lĩnh hội trong nước
+ Phần thông tin: những thông tin có giá trị đặc biệt trong các lĩnh vực CN cao ko được bán hoặc chia sẻ với người nhập khẩu
+ Phần tổ chức cũng ko thể dễ dàng dập khuôn theo bên chuyển giao CN mà phải sửa đổi, điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh trong nước
Khả năng tạo ra CN nội sinh mới là khả năng thích ứng, cải tiến và sáng tạo CN.
Nghĩa là có khả năng:
+ Triển khai CN đã biết ở 1 điểm nào đó
+ Cải tiến các công nghệ đã áp dụng
+ Sáng tạo công nghệ hoàn toàn mới
* Liên hệ để thấy rõ thực trạng năng lực CN ở Việt Nam.
Công nghệ sinh học việt nam - thực trạng, triển vọng và giải pháp
Công nghệ sinh học có cơ sở kỹ thuật của công nghiệp sinh học Công nghiệp sinh học
là quá trình sản xuất hàng loạt, quy mô lớn các sản phẩm sinh học bao gồm các cơ thể sống (hàng trăm triệu cây trồng, vật nuôi), sinh khối tế bào động, thực vật và vi sinh vật, các chế phẩm sinh học, các vacxin và các thuốc chữa bệnh Đến nay ở hầu hết các nước, CNSH được coi là một hướng khoa học công nghệ ưu tiên đầu tư và phát triển
1 Thực trạng phát triển CNSH Việt Nam
1.1 Hiện trạng tiềm lực KHCN về lĩnh vực CNSH
a) Tiềm lực về tài nguyên thiên nhiên và khí hậu.
Trang 8Việt Nam là một nước nhiệt đới có khu hệ sinh vật (vi sinh vật, thực vật, động vật) hết sức phong phú và đa dạng, nguồn tài nguyên thiên nhiên này cung cấp:
- Những nguồn gen phong phú và quí hiếm cho chọn lọc, lai tạo giống và phát triển kĩ thuật di truyền Những nguồn nguyên liệu phong phú cho các quá trình công nghệ thuộc lĩnh vực CNSH (công nghệ lên men, công nghệ enzym, công nghệ chiết rút các hoạt chất sinh học)
- Nguồn bức xạ mặt trời dồi dào và phân bố đều trong năm là điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển của thực vật Một nền nông nghiệp 3 - 4 vụ trồng trọt năng suất cao là nguồn cung cấp nguyên liệu phong phú (tinh bột, đường, sinh khối) cho sự phát triển CNSH
- Đồng thời với những lợi thế, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm cũng gây không ít khó khăn cho sự phát triển CNSH, nhất là đối với công nghệ vi sinh
b) Tiềm lực khoa học và công nghệ.
Về năng lực nghiên cứu triển khai: Trong vài thập kỷ qua, nhiều hướng nghiên cứu về
CNSH đã được triển khai và thu được kết quả tốt Cụ thể có thể điểm qua các lĩnh vực chính như sau:
- Công nghệ vi sinh:
+ Các chế phẩm vi sinh dùng trong chăn nuôi, trồng trọt và bảo quản như chất điều hoà sinh trưởng cây trồng, phân bón vi sinh, thuốc trừ sâu tơ BT, diệt sâu róm thông, diệt mối, diệt chuột, chống bệnh đạo ôn, thối rễ, khô vằn,… dùng cho gia súc đã được nghiên cứu và ứng dụng nhưng còn quy mô hạn chế
+ Gần đây cũng đã có những thành công bước đầu trong nghiên cứu áp dụng công nghệ phân huỷ sinh học trên cơ sở sử dụng hoặc kích thích vi sinh vật phát triển
- Công nghệ tế bào và mô:
Đến nay trên lĩnh vực công nghệ tế bào thực vật chúng ta đã làm chủ và triển khai được những công nghệ cơ bản sau:
- Công nghệ nhân nhanh và phục tráng các cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả; lai tạo, chọn lọc giống cây trồng, rút ngắn thời gian tạo giống và thu hoạt chất đang được triển khai tích cực
- Nuôi cấy bao phấn lúa, ngô nhằm tạo dòng thuần sau lai tạo và phục tráng các giống thoái hoá, rút ngắn thời gian và chi phí tạo giống
- Tạo dòng tế bào có khả năng chống chịu cao phục vụ công tác tạo giống cây trồng
- Về công nghệ tế bào động vật, đã thử nghiệm kĩ thuật cấy truyền hợp phôi và những thành công trong việc sử dụng kĩ thuật bảo quản lạnh sâu đối với tinh trùng bò, lợn, dê
- Công nghệ enzym:
+ Sản xuất axit amin từ nhộng tằm bằng protease, bột đạm thịt bằng bromelain từ đọt dứa, lên men rượu bằng enzym cố định trên cột
+ Hoàn thiện công nghệ sản xuất đường glucose từ tinh bột bằng enzym, theo phương pháp axit đã sản xuất thử nghiệm, chuyển giao công nghệ cho một số cơ sở sản xuất với quy
mô 20 tấn nha Glucose/ngày
Trang 9- Công nghệ gen:
Công nghệ gzen là công nghệ cao và là công nghệ quyết định sự thành công của cuộc cách mạng CNSH
Hiện tại, đang có một số công trình nghiên cứu đi sâu về gen thuỷ phân và lên men tinh bột, gen hócmôn sinh trưởng ở cá, gen chống chịu úng, hạn, lạnh ở lúa, gen tổng hợp độc tố BT và các gen có giá trị khác, ứng dụng kĩ thuật nhân gen (PCR) trong nhận dạng, trong kĩ thuật hình sự, chẩn đoán bệnh ở người, ở cây trồng và vật nuôi
Như vậy với sự nỗ lực của nhiều năm, năng lực nghiên cứu triển khai trong lĩnh vực CNSH của chúng ta đã được nâng lên một bước Song đánh giá một cách nghiêm túc, chúng
ta thấy năng lực nghiên cứu triển khai thuộc lĩnh vực CNSH của chúng ta còn rất hạn chế, xét về trình độ của các công trình nghiên cứu lẫn khả năng tạo được công nghệ hoàn chỉnh phục vụ nền kinh tế quốc dân Trong những năm tới, cần có những nỗ lực vượt bậc để nâng cao năng lực nghiên cứu triển khai thì mới có khả năng đáp ứng được các nhu cầu đổi mới công nghệ của nền kinh tế quốc dân
c) Về đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ.
Trong những năm qua, một đội ngũ các nhà khoa học về CNSH từ tiến sĩ, phó tiến sĩ,
kĩ sưư đến kĩ thuật viên đã được đào tạo
Về sinh học và CNSH truyền thống, chúng ta có lực lượng khá đông đảo, nhưng về các lĩnh vực công nghệ cao trong CNSH (như công nghệ gen ), chúng ta rất thiếu các nhà khoa học có trình độ Ví dụ: ở Mỹ hiện nay với số dân 200 triệu người có trên 20.000 nhà khoa học làm công nghệ gen, còn Việt Nam với gần 80 triệu dân mới chỉ có con số rất khiêm tốn là vài chục các nhà khoa học làm công nghệ gen
Tiếp theo là chất lượng và trình độ các nhà học làm CNSH, trình độ của đội ngũ cán
bộ này ít được cập nhật thông tin và không theo kịp được những tiến bộ của CNSH thế giới
d) Cơ sở vật chất và tổ chức của các cơ quan khoa học - công nghệ thuộc lĩnh vực CNSH
Trong một vài thập kỷ qua, chúng ta đã xây dựng được một mạng lưới các phòng thí nghiệm về CNSH ở các trường đại học và các viện nghiên cứu Song, do chưa được đầu tư thích đáng, nên phần lớn các phòng thí nghiệm này rất lạc hậu và ở nhiều nơi, phòng thí nghiệm hầu như không có trang thiết bị và các điều kiện tối thiểu cho các nhà khoa học tiến hành các thí nghiệm
Trong vòng 5 năm qua, ngân sách nhà nước đã đầu tư khoảng 2 triệu USD cho một vài phòng thí nghiệm Những phòng thí nghiệm này bước đầu đã có điều kiện tối thiểu để làm việc
Nhìn chung lại, có thể nói ở Việt Nam chưa hình thành một nền Công nghiệp sinh học theo đúng nghĩa của nó cả về bề rộng lẫn chiều sâu Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do năng lực đầu tư (cả của Nhà nước và tư nhân) của ta còn quá yếu kém
16 Phân tích 2 yếu tố cơ bản của năng lực CN (khả năng đồng hóa CN nhập và phát triển CN nội sinh? Liên hệ thực tế VN Các biện pháp nâng cao năng lực CN Phân tích các biện pháp này?
Trang 10* Phân tích 2 yếu tố cơ bản của năng lực CN (khả năng đồng hóa CN nhập và phát triển
CN nội sinh.
Khi xem xét năng lực công nghệ cần là rõ và đánh giá được 2 yếu tố cơ bản là khả năng đồng hóa công nghệ nhập và khả năng tạo công nghệ nội sinh mới.
Khả năng đồng hóa công nghệ nhập là nắm vững và thích nghi CN nhập khẩu, tất
nhiên phải theo bốn thành phần công nghệ
VD: Không thể làm chủ CN nếu chỉ thụ động nhập phần kĩ thuật (T) mà bên nhập phải biết thích nghi và nâng cấp phần kĩ thuật
+ Phần con người cũng có thể nhập khẩu tạm thời xong kết quả có được năng lực công nghệ hay không phụ thuộc vào khả năng lĩnh hội trong nước
+ Phần thông tin: những thông tin có giá trị đặc biệt trong các lĩnh vực CN cao ko được bán hoặc chia sẻ với người nhập khẩu
+ Phần tổ chức cũng ko thể dễ dàng dập khuôn theo bên chuyển giao CN mà phải sửa đổi, điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh trong nước
Khả năng tạo ra CN nội sinh mới là khả năng thích ứng, cải tiến và sáng tạo CN.
Nghĩa là có khả năng:
+ Triển khai CN đã biết ở 1 điểm nào đó
+ Cải tiến các công nghệ đã áp dụng
+ Sáng tạo công nghệ hoàn toàn mới
* Liên hệ thực tế VN.
* Các biện pháp nâng cao năng lực CN Phân tích các biện pháp này?
1 Nâng cao nhận thức và hiểu biết về năng lực công nghệ.
Như chúng ta thấy năng lực công nghệ là vấn đề quan trọng Đặc biệt trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, muốn phát triển và trưởng thành vững vàng tuỳ thuộc một phần vào công sức và hiệu quả phấn đấu tạo ra những năng lực công nghệ để vươn tới thành thạo làm chủ CN, phân tích và nâng cao năng lực công nghệ đồng nghĩa với phát triển công nghệ
Phân tích, đánh giá và nâng cao năng lực công nghệ không phải là công việc của riêng
ai mà là trách nhiệm của cả cộng đồng, chính vì vậy từ cơ chế đến tổ chức phải đồng bộ và khuyến khích mọi người cùng tham gia Mục tiêu cuối cùng mà chúng ta cần có là có được năng lực công nghệ để giải quyết tốt nhất các vấn đề công nghệ đặt ra
2 Xây dựng yêu cầu năng lực công nghệ cơ sở, ngành, quốc gia.
Theo lý thuyết cũng như kinh nghiệm của các nước phát triển, trong quá trình phát triển kinh tế muốn nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, ứng với từng thời kỳ phải xác định cho được thực trạng năng lực công nghệ để từ đó và kết hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội xây dựng được các yêu cầu năng lực công nghệ cho từng thời kỳ phát triển