Lợi nhuận Income chỉ là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí, trong khi đó dòng tiền Cash Flow đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp tới hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn, giúp
Trang 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÒNG TIỀN VÀ QUẢN TRỊ
DÒNG TIỀN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Dòng tiền
1.1.1 Khái niệm về dòng tiền
Trước hết, cần phân biệt được lợi nhuận và dòng tiền, thực tế thì rất nhiều người bị nhầm lẫn giữa hai khái niệm lợi nhuận và dòng tiền nhưng đây là hai khái niệm hoàn toàn độc lập Lợi nhuận( Income) chỉ là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí, trong khi đó dòng tiền( Cash Flow) đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp tới hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn, giúp cho doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề về đầu tư hay hoạt động kinh doanh tài chính một cách hiệu quả Vậy dòng tiền
là sự lưu chuyển của tiền (dòng tiền vào và dòng tiền ra) trong một thời kỳ Dòng tiền gắn liền với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, do đó phân tích dòng tiền của doanh nghiệp rất quan trọng đối với người quản lý doanh nghiệp cũng như các đối tượng bên ngoài quan tâm đến doanh nghiệp
Dòng tiền vào( số tiền nhận được) trong doanh nghiệp bao gồm: tiền từ các khoản bán hang và các dịch vụ, từ các khoản đầu tư tài chính,
Dòng tiền ra( số tiền phải chi ) trong doanh nghiệp bao gồm: tiền mua hàng hóa nguyên vật liệu, tiền lương và các khoản chi phí theo hợp đồng đã ký với nhân công,…
1.1.2 Phân loại dòng tiền
Dòng tiền trên thực tế được phần ra rất nhiều loại tùy theo mục đích và cách thức sử dụng của doanh nghiệp, nhưng có 3 cách thức phân loại dòng tiền chính
Thứ nhất, dòng tiền được phân theo mối quan hệ giữa dòng tiền và dòng vật chất vận động trong doanh nghiệp, dòng tiền sẽ được chia làm hai loại dòng tiền đối trọng và dòng tiền đối lập:
Dòng tiền đối trọng: là dòng tiền vào ra tương ứng với dòng hàng hóa vào ra trong doanh nghiệp, dòng tiền đối trọng được chia làm ba loại
Dòng tiền đối trọng trực tiếp: là dòng tiền chỉ xuất hiện đối trọng với dòng hàng hóa, dịch vụ Đây là trường hợp đơn giản nhất trong doanh nghiệp- thanh toán ngay Tại thời điểm to mỗi doanh nghiệp có trong tay những tài sản thực và tiền Giả
sử, hoạt động trao đổi diễn ra giữa hai doanh nghiệp A và B tại thời điểm t1 tại thời điểm này, doanh nghiệp A trao đổi tài sản thực cho doanh nghiệp B(bán hàng cho doanh nghiệp B), còn doanh nghiệp B chuyển tiền cho A ( mua hàng của doanh nghiệp A) để lấy hàng (một dòng tiền đi từ doanh nghiệp B sang doanh nghiệp A)
Dòng tiền đối trọng có kỳ hạn: đây là trường hợp phổ biến nhất trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp A bán hàng hóa dịch vụ cho doanh
Trang 2nghiệp B ở thời điểm t1, doanh nghiệp B trả tiền cho doanh nghiệp A ở thời điểm t2 Dòng tiền ở thời điểm t2 tương ứng với hàng hóa, dịch vụ ở thời điểm t1 Trong thời kì
t1, t2, trạng thía cân bằng dự trữ của mỗi doanh nghiệp bị phá vỡ trạng thái cân bang này được thiết lập lại thông qua việc tạo ra một tài sản chính tức là quyền sử dụng hợp pháp của một trái quyền( quyền đồi nợ) hoặc một khoản nợ Trong trường hợp này, dự trữ tài sản thực của doanh nghiệp A bị giảm đi, nhưng đổi lại, doanh nghiệp A có một khoản trái quyền đối với doanh nghiệp B trong thời gian t1- t2 cho tới lúc dòng tiền xuất hiện tại thời điểm t2 Đối với doanh nghiệp B, việc giữ một tài sản thức đã làm phát sinh một khoản nợ cho đến khi dòng tiền xuất hiện ở thời điểm t2, cặp Trái quyền-
Nợ được giải quyết một cách trọn vẹn
Dòng tiền đối trọng đa dạng: để khắc phục sự mất cân đối ngân quỹ, đảm bảo khả năng chi trả thong qua thiết lập ngân quỹ tối ưu, doanh nghiệp có thể chiết khấu, nhượng bán trái uyền cho một tổ chức tài chính trung gian hoặc dung trài quyền như một tài sản thế chấp cho một khoản vay tùy theo những điểu kiện cụ thể Như vậy, tài sản tài chính- trái quyền- có thể là đối tượng giao dịch Đây là một hiện tượng quan trọng và phổ biến trong nền kinh tế thị trường
Dòng tiền đối lập: đây là dòng tiền phát sinh từ các nghiệp vụ tài chính thuần túy(chứng khoán, ngoại tệ).Như vậy, sự ra đời, vận hành và phát triển của doanh nghiệp làm phát sinh một hệ thống các dòng hàng hóa, dịch vụ và các dòng tiền, chúng thường xuyên làm thay đổi khối lượng, cơ cấu tài sản thực và tài sản tài chính( trái quyền và nợ) của doanh nghiệp.( dòng tiền và dòng vật chất không liên quan đến nhau)
Thứ hai, phân loại dòng tiền theo thời gian của tiền, dòng tiền được chia thành dòng tiền dài hạn và dòng tiền ngắn hạn
Dòng tiền ngắn hạn:là dòng tiền thường xuyền ra vào, có thời gian luân chuyển nhỏ hoặc bằng một chu kì sản xuất kinh doanh Thời gian luân chuyển của dòng tiền nhỏ hơn 12 tháng Doanh nghiệp có thể đi vay một khoản tiền với thời hạn là
11 tháng để mua nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất
Dòng tiền dài hạn:là dòng tiền ra hoặc vào doanh nghiệp có chu kì lớn hơn một năm, hoặc lớn hơn một chu kì sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp có thể xem xét việc đầu tư vào thị trường tiền tệ với khoảng thời gian là 18 tháng, hoặc xem xét đầu
tư các loại trái phiếu dài hạn với thời gian lớn hơn 1 năm
Thứ ba, dòng tiền tài chính được phân chia theo từng hoạt động của doanh nghiệp, dòng tiền tài chính sẽ đươc chia làm 3 loại là dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư và dòng tiền từ hoạt động tài chính
Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là dòng tiền ra/ vào của hoạt
Trang 33
hoạt động như mua bán các loại hàng hóa dịch vụ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, thanh toán các khoản nợ và các khoản phải thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh Vậy các dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh có các khoản như: tiền trả lương người lao động, tiền mua nguyên vật liệu, các khoản phải trả từ hoạt động sản xuất kinh doanh, thuế phải nộp cho nhà nước,…
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Đối với dòng tiền từ hoạt động đầu tư thì dòng tiền phát sinh chủ yếu từ việc mua sắm, thanh lý, nhượng lại tài sản cố định, xây dựng
cơ bản, hoạt động cho vay, mua bán các công cụ nợ của các đơn vị khác Do vậy dòng tiền từ hoạt động đầu tư bao gồm: tiền thu từ thanh lý nhượng bán TSCĐ, thu nợ cho vay, thu hồi các khoản vốn đầu tư vào các đơn vị khác, chi mua sắm TSCĐ, xây dựng
cơ bản, chi cho vay, chi đầu tư và các đơn vị khác,…
Dòng tiền từ hoạt động tài chính: đối với hoạt động tài chính thì dòng tiền
phát sinh chủ yếu liên quan đến các nghiệp vụ nhận vốn, rút vốn từ các chủ sở hữu và các nghiệp vụ đi vay, trả nợ vay Do vậy các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính thường bao gồm: tiền thu do chủ sở hữu góp vốn, tiền chi trả vốn góp
cho chủ sở hữu, tiền vay nhận được, tiền trả nợ vay,…
1.2 Quản trị dòng tiền
1.2.1 Khái niệm quản trị dòng tiền
Các vấn đề về dòng tiền cũng tiềm ẩn những nguy cơ tương tự như những vấn
đề về huyết áp, tim mạch của cơ thể con người Những nguy cơ tiềm ẩn này có thể dẫn đến tai biến, đột quỵ bất kỳ lúc nào, kế cả đối với những cơ thể đang rất khỏe mạnh, cường tráng
Cash flow, tức dòng tiền, về bản chất là dòng chuyển động tiền tệ đi vào và đi
ra của doanh nghiệp, là dòng chảy tiền vào (cash inflow) và tiền ra (cash outflow), tạo nên khả năng thanh toán (solvency) hoặc tình trạng mất khả năng thanh toán (insolvency) của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hoạt động quản trị tài chính chuyên nghiệp không bao giờ dám bỏ qua hoặc xem nhẹ khâu quản trị dòng tiền (cash flow management), nếu không muốn gặp phải “cái chết bất ngờ”
Việc quản trị dòng tiền rất quan trọng đối với doanh nghiệp chính vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp cần tổ chức thực hiện thường xuyên việc phân tích và hoạch định dòng tiền
Phân tích dòng tiền (cash flow analysis) là hoạt động nghiên cứu chu kỳ của các khoản tiền vào và ra của doanh nghiệp, nhằm mục đích xác định việc dư hay thiếu của dòng tiền tại các thời điểm cùng với nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của việc dư hay thiếu này Phân tích dòng tiền bao gồm việc phân tích các hoạt động của
Trang 4doanh nghiệp có ảnh hưởng đến dòng tiền ra, vào, chẳng hạn như các khoản phải thu, các khoản vay, các khoản phải chi, thời hạn phải trả các khoản nợ
Hoạch định dòng tiền là hoạt động điều khiển dòng tiền ra vào trong tương lai theo ý doanh nghiệp nhằm tạo ra và duy trì trạng thái tiền mặt phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp, thông thường là vừa đủ, cộng với số phần trăm dự phòng tùy theo tình hình thực tế từng doanh nghiệp Trên cơ sở phân tích các chu kỳ tiền vào, tiền ra
và xác định được những vấn đề tiềm ẩn đối với dòng tiền, các chuyên gia sẽ có những điều chỉnh thích hợp để tiền vào, tiền ra được hài hòa, không bị thiếu hụt nghiêm trọng hoặc dư thừa quá mức cần thiết
Có thể quản trị dòng tiền theo thời gian theo ngắn hạn và dài hạn thông qua việc phân tích dòng tiền và hoạch định dòng tiền
Quản trị dòng tiền ngắn hạn: là việc phân tích và theo dõi, điều chỉnh dòng tiền ra vào trong doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh
Quản trị dòng tiền dài hạn là việc cân đối dòng tiền ra và dòng tiền vào trong doanh nghiệp với thời hạn luân chuyển trên 1 năm hoặc hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh
1.2.2 Nguyên tắc quản trị dòng tiền
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2009 càng khẳng định tầm quan trọng của dòng tiền Từ chỗ quan tâm đến doanh thu và lợi nhuận, giờ đây các doanh nghiệp bắt đầu ý thức về tình trạng khá phổ biến là “kinh doanh có lời nhưng lại mất khả năng thanh toán” Thực tế, việc quản lý dòng tiền không phải là chuyện đơn giản Nhiều công ty cố gắng liệt kê tất cả khoản thu chi và tìm biện pháp dự báo, tăng thu, giảm chi đối với từng khoản mục Điều này tốn nhiều nguồn lực, cả về con người lẫn thời gian, trong khi kết quả chưa chắc đã thật tốt Nguyên nhân là người thực hiện luôn chìm ngập trong hàng núi chi tiết nhỏ và tốn nhiều thời gian cho những việc không mấy quan trọng
Nguyên tắc 80/20 phải được xem xét một cách linh hoạt Bởi lẽ, một khoản mục trong quá khứ chiếm giá trị nhỏ nhưng năm sau có thể tăng vọt đột biến và làm phá sản kế hoạch dòng tiền
Giải pháp cho vấn đề này là áp dụng quy tắc 80/20 trong việc quản lý dòng tiền 80% dòng tiền được tạo ra từ 20% khoản mục Chỉ cần tập trung vào 20% khoản mục này, doanh nghiệp sẽ có thể kiểm soát được 80% dòng tiền Đây là cách làm đảm bảo hiệu quả trong khi lại không cần phải huy động nhiều nguồn lực cho việc lập kế hoạch và theo dõi
Doanh thu chỉ mới nói lên một khía cạnh của dòng tiền Dòng chi ra cũng
Trang 55
đề này Thông thường, dòng tiền thu - chi đến từ 3 khoản mục lớn: tồn kho, khoản phải trả và khoản phải thu Khoản phải trả liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của bộ phận cung ứng - mua hàng Khoản phải thu là trách nhiệm của bộ phận kinh doanh, còn tồn kho là sự phối hợp giữa bộ phận sản xuất và kinh doanh
Phải trả là các khoản thanh toán cho nhà cung cấp đầu vào của công ty Thời gian phải trả, tức thời gian nợ nhà cung cấp, càng dài thì càng có lợi cho dòng tiền Ví
dụ, bộ phận cung ứng đã đàm phán kéo dài được thời gian thanh toán thêm 15 ngày với một nhà cung cấp lớn, nhờ đó làm giảm đáng kể áp lực chi tiền mặt cho công ty Nếu bộ phận tài chính chậm nắm bắt điều này, sẽ dẫn đến việc duy trì quá nhiều tiền mặt hơn mức cần thiết và gây lãng phí, gia tăng chi phí sử dụng vốn
Ngược lại với khoản phải trả, khoản phải thu là phần doanh thu khách hàng mua chịu của công ty Bộ phận kinh doanh thường có xu hướng lơi lỏng đối với các khoản bán hàng trả chậm để đạt mục tiêu doanh số Điều này dẫn đến doanh thu cao, nhưng khả năng tiền mặt kém do thời hạn trả chậm bị kéo dài Việc áp dụng quy tắc 80/20 đối với khoản phải thu cũng tương tự như khoản phải trả Nếu bộ phận kinh doanh điều chỉnh chính sách bán hàng trả chậm đối với 20% số lượng khách hàng nhưng chiếm đến 80% doanh số thì dòng tiền sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh Một lần nữa,
có thông tin kịp thời từ bộ phận kinh doanh sẽ giúp bộ phận tài chính có sự ứng phó phù hợp
Lượng hàng tồn kho liên quan đến trách nhiệm của bộ phận sản xuất và kinh doanh Bộ phận sản xuất sẽ căn cứ vào kế hoạch sản xuất để tính toán trữ nguyên vật liệu và bán thành phẩm cần thiết cho quy trình sản xuất Bộ phận kinh doanh thì phải đảm bảo lượng thành phẩm trong kho đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng Công ty nào cũng muốn duy trì được lượng tồn kho vừa đủ, nhưng rà soát theo nguyên tắc 80/20 có thể thấy một thực tế trái ngược Đó là sẽ có những mặt hàng đem lại doanh thu ít nhưng tồn kho nhiều Hay có một vài khâu sản xuất nào đó đang duy trì lượng bán thành phẩm, nguyên liệu quá cao so với các khâu còn lại Vì thế, việc tinh gọn những hạng mục chiếm tồn kho lớn sẽ đem lại một dòng tiền đáng kể
Nguyên lý 80/20 luôn phải được xem xét một cách linh hoạt Một khoản mục trong quá khứ chiếm giá trị nhỏ, nhưng năm sau có thể tăng vọt đột biến và làm phá sản kế hoạch dòng tiền nếu không được lường trước Từ chỗ nằm trong 20% ít quan trọng, khoản mục đó có thể thay đổi vị trí để trở thành 80% chính yếu Thường gặp nhất là trường hợp công ty quyết định đầu tư tài sản, bao gồm cả tài sản cố định và tài sản tài chính
Trang 61.2.3 Mục đích và vai trò quản trị dòng tiền
1.2.3.1 Mục đích của quản trị dòng tiền
Mục đích của quản trị dòng tiền là dự đoán tình trạng thâm hụt hay dư thừa tiền để từ đó có những phương án giải quyết thông qua việc đối chiếu số liệu thực tế với số liệu kế hoạch Ngoài ra, quản trị dòng tiền còn xác lập các hạn mức vay vốn và tối ưu hóa chi phí vốn Nhà quản trị có thể dễ dàng kiểm soát được tình hình tài chính, tình hình tỷ giá thông qua việc phân tích dòng tiền, bên cạnh đó quan trị dòng tiền còn
có tác dụng giúp kiểm soát và thiết lập các mục tiêu chiến lược, lập kế hoạch đầu tư thẩm định dự án và quản lý vốn lưu động Để đạt được những mục tiêu trên, các nhà quản lý cần dự báo số lượng tiền thu, chi trên cơ sở các giả định và tin cậy về doanh thu và chi phí, đồng thời còn phải dự báo thời gian thu, chi trên cơ sở phân tích độ trễ
và thời gian nổi của tiền Yêu cầu được đặt ra là kế hoạch điều chỉnh định kì phải được điều chỉnh và cập nhật liên tục, quản trị dòng tiền phải được tiến hành theo tuần, tháng hoặc quý bằng cách so sánh số liệu thực tế với số liệu trên kế hoạch để từ đó có những điều chỉnh và cập nhật phù hợp
1.2.3.2 Vai trò của quản trị dòng tiền
Đối với doanh nghiệp, dòng tiền đóng vai trò vô cùng quan trọng như dòng máu trong cơ thể Có những trường hợp, trong hoạt động kinh doanh, nhìn vào các báo cáo tài chính của CÔNG TY thấy rõ họ có lợi nhuận nhưng lại không thể trả được các khoản nợ đến hạn hoặc chậm trả lương cho nhân viên Những việc này làm cho CÔNG TY mất uy tín, sản xuất kinh doanh đình trệ Vì vậy, quản trị tốt dòng tiền không những tránh bị mất khả năng thanh toán, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi vay mà còn có rất nhiều lợi ích khác như:
Bảo đảm uy tín với nhà cung cấp, nhà thầu: Nếu doanh nghiệp luôn thanh toán đầy đủ và đúng hạn thì nhà cung cấp sẽ rất yên tâm để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho doanh nghiệp Sẽ có rất nhiều lợi ích mà doanh nghiệp nhận được từ việc này như: được ưu tiên cung cấp hàng hóa, ưu đãi về giá, ưu đãi về bảo hành, được nới rộng điều khoản thanh toán,… Tất cả những lợi ích đó sẽ làm cho doanh nghiệp luôn có đầu vào
ổn định, không mất chi phí tìm nguồn cung mới, tăng khả năng cạnh tranh và từ đó tăng lợi nhuận, tăng dòng tiền
Bảo đảm uy tín với bên cho vay: Một công ty quản lý tốt là công ty sử dụng chi phí bình quân thấp nhất và mức độ an toàn tài chính cao nhất Để có được điều kiện vay tốt thì trước hết doanh nghiệp phải chứng tỏ được khả năng trả nợ gốc và lãi vay bằng cách quản trị dòng tiền hiệu quả Từ việc phải quản trị dòng tiền tốt doanh nghiệp
sẽ chú ý đến toàn bộ các mặt hoạt động khác: hướng vào thị trường tốt, thu tiền tốt, quản trị chi phí tốt, dự án đầu tư khả thi, tính thanh khoản cao các tài sản thế chấp,…
Trang 77
Công ty có nợ nhiều cũng không quá lo so với việc bên cho vay không tiếp tục hỗ trợ,
do vậy việc quản trị dòng tiền là mấu chốt của vấn đề
Bảo đảm cho cán bộ công nhân an tâm làm việc: Nhân lực là nguồn vốn rất quý đối với công ty, họ là những người trực tiếp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp, doanh nghiệp có đội ngũ tốt sẽ tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường Sản phẩm làm ra chất lượng tốt hơn, năng suất cao hơn, giá thành hạ hơn…Như vậy dòng tiền sẽ tốt hơn Nếu công ty có được đội ngũ tốt thì phải giữ và phát triển hơn bằng cách trả thù lao xứng đáng, bảo đảm đời sống vật chất cho họ, đối xử tốt với họ Để làm được điều đó thì phải quản trị tốt dòng tiền trả đủ, kịp thời lương và các nghĩa vụ xã hội khác Điều
đó không những tốt cho họ mà còn tốt cho công ty cả về năng lực cạnh tranh và hình ảnh công ty trên thị trường lao động
Sử dụng tối ưu, hiệu quả nguồn vốn: Kiểm tra sự hợp lý trong việc huy động
và sử dụng: tiền có bị nhàn rỗi quá nhiều không, tiền có đảm bảo sự thanh khoản không, tiền ngắn hạn và dài hạn có được sử dụng cân đối không, cơ cấu chi phí vốn bình quân ( giữa vốn tự có và vốn vay) đã tối ưu chưa, các rủi ro nào công ty phải hoặc
sẽ phải gánh chịu…Để trả lời câu hỏi trên thì phải xem xét việc quản trị dòng tiền
Giữ vững niềm tin của cổ đông: các cổ đông là các nhà đầu tư, mục đích chính
là lợi nhuận và giá trị tăng trên phần đầu tư Để số tiền họ đầu tư ra không bị rủi ro, có thể trình bày cho họ phương pháp quản trị dòng tiền mà doanh nghiệp đang tiến hành
để họ yên tâm
1.3 Nội dung quản trị dòng tiền ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.3.1 Quản trị dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh là các dòng tiền ra và vào trực tiếp liên quan đến thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được ghi nhận trên bảng thu nhập Vì vậy quản trị dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ liên quan trực tiếp đến quản lý doanh thu, chí phí, hàng tồn kho, khoản phải thu, phải trả trong doanh nghiệp
1.3.1.1 Quản lý doanh thu
Doanh thu là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hóa, cung ứng dịch vụ sau khi trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại được khách hàng chấp nhận thanh toán ( không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền)
Trong kinh doanh, một trong những chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất mà doanh nghiệp luôn luôn phải quan tâm đó là doanh thu Doanh thu là nguồn thu chủ yếu bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, tạo ra lợi nhuận và phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong một thời kỳ Chỉ tiêu này ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động Doanh thu càng cao và ổn định chứng tỏ doanh nghiệp ngày càng phát triển Do vậy, để đưa ra
Trang 8được những kết luận chính xác nhất về sự thay đổi của dòng tiền và vai trò của dòng tiền đối với sự phát triển của doanh nghiệp cần thiết phải thực hiện công tác quản trị doanh thu của doanh nghiệp
Trong thực tế, doanh thu của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, cụ thể:
Thứ nhất là kết cấu mẫu mã hàng hóa: Mỗi doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau, giá cả của chúng cũng khác nhau Những sản phẩm có vai trò quan trọng, có tính chất chiến lược đối với nền kinh tế quốc dân, nhà nước sẽ định giá, còn lại căn cứ vào tính hình cung cầu trên thị trường mà doanh nghiệp xây dựng giá bán sản phẩm Việc thay đổi kết cấu mẫu mã hàng hóa cũng ảnh hưởng lớn đến doanh thu, tuy nhiên cũng cần thấy rằng mỗi loại sản phẩm đều có tác dụng nhất định trong việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dung, cho nên phấn đấu tăng doanh thu các doanh nghiệp cũng nên chú ý đến việc thực hiện đảm bảo kế hoạch sản xuất những mặt hàng mà doanh nghiệp đó đã lý hợp đồng
Thứ hai là chất lượng hàng hóa: Việc sản xuất kinh doanh gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến giá cả sản phẩm và dịch vụ, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu Ở các doanh nghiệp sản xuất, số sản phẩm được sản xuất ra có thể phân loại thành những sản phẩm khác nhau về giá bán và chất lượng Sản phẩm có chất lượng tốt hơn thì giá sẽ cao hơn vì vậy chất lượng chính là giá trị được tạo thêm Nâng cao chất lượng sản phẩm còn tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, nhanh chóng thu được tiền bán hàng
Thứ ba là giá cả hàng hóa: Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, thì việc thay đổi giá bán có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu Việc thay đổi giá bán (giá bán cao hay thấp) một phần quan trọng do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định Để đảm bảo được doanh thu, doanh nghiệp phải có những quyết định về giá cả, giá cả phải bù đắp chi phí đã tiêu hao và tạo nên lợi nhuận thỏa đáng để thực hiện tái sản xuất mở rộng Doanh nghiệp phải luôn bám sát tình hình thị trường để quyết định
mở rộng hay thu hẹp nguồn hàng hóa mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh, tùy thuộc vào quan hệ cung cầu mà doanh nghiệp có thể rơi vào ba trạng thái: lãi, lỗ hoặc hòa vốn
Thứ tư là thể thức thanh toán: Việc lựa chọn phương thức tiêu thụ và thanh toán tiền hàng cũng có ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Thông thường trong tiêu thụ sản phẩm, sự vận động của hàng hóa và sự vận động của tiền vốn là đồng thời Song trong điều kiện cạnh tranh thị trường, các doanh nghiệp bán hàng thường phải dành sự ưu ái nhất định cho người mua như chiết khấu thanh
Trang 9Chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm và các khoản tiền thuế mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định
Các chi phí mà doanh nghiệp chi ra cấu thành nên giá trị của sản phẩm, dịch
vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Giá trị sản phẩm gồm ba bộ phận là :
Toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ như : Khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, công cụ, năng lượng
Bộ phận này được gọi là hao phí vật chất
Chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ, được gọi là hao phí lao động cần thiết
Giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất ra giá trị sản phẩm, dịch vụ
1.3.1.3 Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền
Tiền mặt là tài sản có tính lỏng nhất ( tính thanh khoản) cao nhất nên doanh nghiệp cần dự trữ tiền để thực hiện một số mục đích như: đảm bảo hoạt động thường nhật như trả tiền khi mua hàng, thanh toán nợ cho người bán, trả lương, thưởng, thuế,… luôn được duy trì đều đặn; hay để đối phó với các nhân tố bất thường có thể xảy ra trong tương lai như tích trữ cho mùa, đồng thời sẵn sang nắm bắt những cơ hội
Trang 10đầu tư thuận lợi trong kinh doanh như mua nguyên liệu dự trữ khi thị trường giảm giá, hoặc tỷ giá biến động thuận lợi
Quản lý tiền mặt là một quá trình bao gồm việc thu hồi nợ, kiểm soát chi tiêu,
bù đắp thâm hụt ngân sách, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi và trả tiền cho các ngân hàng Vì vậy mục tiêu của quản trị tiền mặt là tối thiếu hóa một phần hay toàn bộ chi phí giao dịch, gồm phí chuyển tiền, hoa hồng môi giới và chi phí cơ hội của số tiền mặt tồn quỹ không sinh lời
Để lựa chọn phương thức thu tiền tối ưu, ta cần đánh giá hiệu quả các phương thức thu tiền đó, phương thức thu tiền đề xuất và phương thức thu tiền hiện tại trên cơ
sở so sánh lợi ích sau thuế tăng thêm và chi phí thuế tăng thêm Ngoài ra, để thúc đẩy tiền được thu hồi nhanh hơn, doanh nghiệp thường cung cấp chiết khấu thanh toán, tăng tốc độ bán hàng hoặc thay đổi phương thức thu nợ,…
Đối với quản lý chi tiền, điều khoản chiết khấu tiền mặt cũng đối với khoản thanh toán sớm cũng là một điều khoản thường gặp trong các điều kiện mua hàng Với
tư cách người mua chịu, công ty nên quyết định thanh toán sớm để nhận chiết khấu nếu chi phí cơ hội sử dụng vốn của công ty thấp hơn tỷ lệ chiết khấu được hưởng, thậm chí công ty có thể đi vay ngắn hạn ngân hàng để thanh toán sớm và hưởng chiết khấu nếu tỷ lệ lãi suất đi vay thấp hơn tỷ lệ chiết khấu được hưởng Vấn đề quan trọng
là xây dựng quy trình thanh toán hợp lý sao cho không trả sau ngày đến hạn để giữ vững uy tín, đồng thời cũng không trả quá sớm làm giảm lượng tiền sẵn có để công ty còn thực hiện đầu tư, lợi ích và chi phí của tất cả các phương thức chi tiền đều phải được xem xét
Mô hình chung
Lợi ích tăng thêm : B=t*TS*I*(1-t)
Trong đó:
B: Lợi ích tăng thêm
t= Thời gian thu tiền được rút ngắn hoặc thời gian chi tiền tăng thêm
TS: Quy mô chuyển tiền: số tiền đang chuyển trong một năm, một chu kỳ hay một giao dịch
I: lãi suất đầu tư được xác định theo ngày( vì t tính theo ngày
T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Chi phí tăng thêm: C= (C 2 -C 1 )* (1-t)
Trang 1111
Trên cơ sở so sánh B và C để rút ra kết luận:
Nếu B > C: lựa chọn phương thức thu tiền đề xuất
B < C: lựa chọn phương thức hiện tại
B = C: bàng quan
1.3.1.4 Quản lý phải thu khách hàng
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ công ty do mua chịu hàng hoá hoặc dịch vụ Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát nổi Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro Nếu không bán chịu hàng hoá thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó, mất đi lợi nhuận Nếu bán chịu hàng hoá quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng và nguy cơ phát sinh các khoản
nợ khó đòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng Vì vậy, công ty cần có chính sách bán chịu phù hợp
Khoản phải thu của công ty phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố như
tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, và chính sách bán chịu của công ty Trong các yếu tố này, chính sách bán chịu ảnh hưởng mạnh nhất đến khoản phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính Giám đốc tài chính có thể thay đổi mức độ bán chịu để kiểm soát khoản phải thu sao cho phù hợp với sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro Hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu có thể kích thích được nhu cầu dẫn tới gia tăng doanh thu và lợi nhuận, nhưng vì bán chịu sẽ làm phát sinh khoản phải thu, và do bao giờ cũng có chi phí đi kèm theo khoản phải thu nên giám đốc tài chính cần xem xét cẩn thận sự đánh đổi này Liên quan đến chính sách bán chịu sẽ có các vấn đề như tiêu chuẩn bán chịu ,điều khoản bán chịu và chính sách và quy trình thu nợ
Tiêu chuẩn bán chịu:
Tiêu chuẩn bán chịu là tiêu chuẩn tối thiểu về mặt uy tín tín dụng của khách hàng để được công ty chấp nhận bán chịu hàng hoá hoặc dịch vụ Tiêu chuẩn bán chịu
là một bộ phận cấu thành chính sách bán chịu của công ty và mỗi công ty đều thiết lập tiêu chuẩn bán chịu của mình chính thức hoặc không chính thức
Tiêu chuẩn bán chịu nói riêng và chính sách bán chịu nói chung có ảnh hưởng đáng kể đến doanh thu của công ty Nếu đối thủ cạnh tranh mở rộng chính sách bán chịu, trong khi chúng ta không phản ứng lại điều này, thì nỗ lực tiếp thị sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi vì bán chịu là yếu tố ảnh hưởng rất lớn và có tác dụng kích thích nhu cầu Về mặt lý thuyết, công ty nên hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu đến mức có thể chấp nhận được, sao cho lợi nhuận tạo ra do gia tăng doanh thu, như là kết quả của chính sách bán chịu, vượt quá mức chi phí phát sinh do bán chịu Ở đây có sự đánh đổi giữa lợi nhuận tăng thêm và chi phí liên quan đến khoản phải thu tăng thêm, do hạ thấp
Trang 12tiêu chuẩn bán chịu Vấn đề đặt ra là khi nào công ty nên nới lỏng tiêu chuẩn bán chịu
và khi nào công ty không nên nới lỏng tiêu chuẩn bán chịu
Điều khoản bán chịu
Điều khoản bán chịu là điều khoản xác định độ dài thời gian hay thời hạn bán chịu và tỷ lệ chiết khấu áp dụng nếu khách hàng trả sớm hơn thời gian bán chịu cho phép Ví dụ điều khoản bán chịu “2/10 net 30” có nghĩa là khách hàng được hưởng 2% chiết khấu nếu thanh toán trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoá đơn được phát hành
và nếu khách hàng không lấy chiết khấu thì khách hàng được trả chậm trong thời gian
30 ngày kể từ ngày phát hành hoá đơn
Chính sách bán chịu không chỉ liên quan đến tiêu chuẩn bán chịu như vừa xem xét mà còn liên quan đến điều khoản bán chịu Thay đổi điều khoản bán chịu lại liên quan đến hai thứ: thay đổi thời hạn bán chịu, và thay đổi tỷ lệ chiết khấu
nợ có độ rủi ro thấp và khách hàng không thường xuyên thanh toán nợ đúng hạn, công
ty cần có thông báo nhắc nhở hoặc thực hiện một cuộc gọi cho khách hàng qua hệ thống trả lời điện thoại được điện toán hóa để nắm được thông tin về việc thanh toán Điều này sẽ giúp tiết kiệm được nhiều thời gian và nhân lực để các nhân viên có thể tập trung vào những khoản nợ có rủi ro cao hơn
Ghi nhận và thông báo công nợ: Kế toán công nợ có nhiệm vụ thực hiện kiểm
tra trên hệ thống xem khách hàng có đủ điều kiện thực hiện công nợ hay không, giao dịch đúng chưa ( xem khách hàng đã từng vay nợ công ty hay chưa, có thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ công nợ hay không,…) Sau đó kế toán công nợ xác định chứng từ, theo dõi công nợ trên hệ thống
Thu tiền: Kế toán công nợ thực hiện lập giao dịch thu tiền trên hệ thống, xác
nhận công nợ, thực hiện in phiếu thu và lấy các xác nhận có liên quan, sau đó thực hiện thu hồi công nợ công ty
Bù trừ công nợ: Kế toán công nợ kiểm tra giấy tờ công nợ, thực hiện giao dịch
bù trừ công nợ trên hệ thống cho khách hàng, theo dõi chứng từ Bộ phân kế toán sẽ
Trang 13Tồn kho là cầu nối giữa sản xuất và tiêu thụ Người bán hàng nào cũng muốn nâng cao mức tồn kho để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng; nhân viên phụ trách sản xuất và tác nghiệp cũng thích có một lượng tồn kho lớn vì nhờ đó mà họ lập kế hoạch sản xuất dễ dàng hơn Tuy nhiên, đối với bộ phận tài vụ thì bao giờ cũng muốn hàng tồn kho được giữ ở mức thấp nhất, bởi vì tiền nằm ở hàng tồn kho sẽ không chi tiêu vào mục khác được Do đó, kiểm tra tồn kho là việc làm không thể thiếu được, qua đó doanh nghiệp có thể giữ lượng tồn kho ở mức “vừa đủ” Có nghĩa
là không “quá nhiều” mà cũng đừng “quá ít”
Khi mức tồn kho quá nhiều sẽ dẫn đến chi phí tăng cao; đối với một số hàng hoá nếu dự trữ quá lâu sẽ bị hư hỏng, hao hụt, giảm chất lượng… Điều này sẽ gây khó khăn trong việc cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường Ngược lại, lượng tồn kho không đủ sẽ làm giảm doanh số bán hàng (đối với hàng tồn kho là thành phẩm), ngoài
ra có thể dẫn đến tình trạng khách hàng sẽ chuyển sang mua hàng của đối thủ cạnh tranh khi nhu cầu của họ không được đáp ứng
Trong rất nhiều loại hàng hóa tồn kho, không phải loại hàng hóa nào cũng có vai trò như nhau trong việc bảo quản trong kho hàng Để quản lý tồn kho hiệu quả người
ta phải phân loại hàng hóa dự trữ thành các nhóm theo mực độ quan trọng của chúng trong dự trữ, bảo quản Phương pháp được sử dụng để phân loại là phương pháp A-
BC Phương pháp này được phát triển dựa trên một nguyên lý do một nhà kinh tế học Italia vào thế kỷ 19 là Pareto tìm ra Ông đã quan sát thấy rằng trong một tập hợp có nhiều chủng loại khác nhau thì chỉ có một số nhỏ chủng loại lại chiếm giá trị đáng kể trong cả tập hợp
Trang 14Sơ đồ 1 1.Mô hình A-B-C ( The ABC Inventory Menthod)
Giá trị hàng tồn kho hàng năm được xác định bằng cách lấy nhu cầu hàng năm của từng loại hàng tồn kho nhân với chi phí tồn kho đơn vị Tiêu chuẩn để xếp các loại hàng tồn kho vào các nhóm là:
-Nhóm A: Bao gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 70 - 80% tổng giá trị tồn kho, nhưng về số lượng chỉ chiếm 15 - 20% tổng số hàng tồn kho;
-Nhóm B: Gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 25 - 30% tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về sản lượng chúng chiếm từ 30 - 35% tổng số hàng tồn kho;
- Nhóm C: gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, giá trị hàng năm chỉ chiếm 5 -10% tổng giá trị tồn kho Tuy nhiên về số lượng chúng lại chiếm khoảng 50 –55% tổng số hàng tồn kho
Bằng việc chia hàng lưu kho thành nhiều nhóm, công ty có thể tập trung vào nhóm mà cần sự kiểm soát hiệu quả nhất, mà cụ thể ở đây là nhóm A, tiếp theo là nhóm B và cuối cùng là nhóm C Nếu như nhóm A được xem xét quản lý một cách thường xuyên thì nhóm B sẽ ít được thường xuyên hơn , có thể là hàng tháng, hàng quý còn nhóm C sẽ ít hơn nữa, có thể là hàng năm
Ưu điểm của quản lý hàng tồn kho theo mô hình ABC đó là việc phân loại hàng hóa theo giá trị để áp dụng cho mô hình là công việc đơn giản, dễ tiến hành, đồng thời quản lý hàng tồn kho có hiệu quả do có thể sắp xếp các loại hàng hóa theo giá trị giảm dần ( doanh nghiệp sẽ tập trung vào nhóm hàng tồn kho cần quản lý chặt chẽ nhất để sau đó có hiệu quả kinh doanh tốt nhất) Tuy nhiên mô hình chưa giải quyết được việc tối thiểu hóa chi phí lưu kho
15% Nhóm A
Nhóm B Giá trị tích lũy
% loại tồn kho
Nhóm C
50%
35%
Trang 15Để quá trình phân tích đơn giản hơn ta qui ước các ký hiệu như sau:
D: Nhu cầu hàng năm;
S: Chi phí đặt hàng cho 1 đơn hàng;
H: Chi phí lưu kho cho 1 đơn vị hàng hoá;
Q: Lượng hàng đặt mua trong 1 đơn đặt hàng (Qui mô đơn hàng);
Cđh : Chi phí đặt hàng hàng năm;
Clk : Chi phí lưu kho hàng năm;
TC: Tổng chi phí tồn kho;
Q*: Lượng đặt hàng tối ưu;
T: Khoảng cách giữa hai lần đặt hàng;
ROP: Điểm đặt hàng lại;
d: Nhu cầu hàng ngày;
Trang 16Sơ đồ 1 2 Mô hình EOQ
Qua đồ thị trên, ta thấy lượng đặt hàng tối ưu (Q*) khi tổng chi phí đạt giá trị nhỏ nhất Tổng chi phí nhỏ nhất tại điểm đường cong chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng cắt nhau
Do đó, lượng đặt hàng tối ưu sẽ được xác định như sau:
Q*= √
Khoảng thời gian dự trữ ( T*): là khoảng thời gian kể từ khi trong kho có số lượng hàng hóa là Q* ( Lượng dự trữ tối ưu) cho đến khi số lượng này hết và được đáp ứng ngay bằng số lương hàng hóa tối ưu Q* của đơn đặt hàng mới Trên cơ sở đó, ta tính được quãng thời gian dữ trữ tối ưu bằng cách lấy số lượng hàng sự trữ tối ưu chia cho sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong một ngày
T* =
1.3.1.6 Quản lý phải trả người bán
Trong các khoản phải trả thì phải trả nhà cung cấp thường có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng thanh toán và uy tín của doanh nghiệp Khi các khoản phải trả người bán không có khả năng thanh toán thì có nghĩa là có dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện
và uy tín của doanh nghiệp giảm đi Mặt khác khi các khoản phải trả của doanh nghiệp quá hạn chiếm tỷ trọng lớn thì nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán thì nguy cơ phá sản dễ xảy ra Do vậy việc phân tích tình hình các khoản phải trả của doanh nghiệp là điều hết sức quan trọng Qua việc phân tích sẽ cho thấy tình hình
Chi phí
Chi phí đặt hàng
Số lượng đặt Q
Chi phí Tổng chi
Trang 1717
thanh toán công nợ của doanh nghiệp và xác định các giải pháp huy động vốn, đáp ứng nhu cầu thanh toán góp phần ổn định tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.2 Quản trị dòng tiền từ hoạt động tài chính ngắn hạn
Dòng tiền trong hoạt động tài chính bao gồm các khoản thu từ phát hành cổ phiếu, góp vốn hay chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu; tiền vay ngắn hạn, dài hạn mà doanh nghiệp nhận được như chi trả nợ gốc vay, trả nợ thuê tài chính,… Về phương diện quản trị dòng tiền từ hoạt động tài chính ngắn hạn gồm các khoản mục sau:
Mức nợ ngắn hạn cao: Cách tiếp cận quản lý cấp tiến tăng phải trả người đến hết
mức có thể và thanh toán chúng chậm cũng đến hết mức có thể miễn sao không gây mất uy tín tín dụng Vay ngắn hạn cũng được sử dụng rộng rãi
Thời gian quay vòng tiền ngắn: Thông qua việc tăng giá trị khoản phải trả người
bán và các khoản nợ đọng khác mà làm giảm vòng quay các khoản phải trả, tăng thời gian trả nợ trung bình và làm giảm thời gian quay vòng của tiền
Chi phí lãi thấp hơn nếu lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn: Thông
thường thì lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn do đó, lợi ích dự kiến của chính sách quản lý nợ cấp tiến là cho phép vay vốn với mức lãi suất thấp hơn so với công ty phải trả cho tài trợ dài hạn Nếu chi phí lãi thấp hơn, trong khi các yếu tố khác không đổi thì thu nhập sẽ cao hơn
Rủi ro và thu nhập yêu cầu: Theo đuổi việc duy trì tỷ trọng nợ ngắn hạn cao có
thể khiến các doanh nghiệp gặp rủi ro trong thanh toán do phải đáo hạn khi các khoản
nợ ngắn hạn đến hạn mà doanh nghiệp vẫn muốn có vốn Và điều này đòi hỏi phải được đánh đổi bằng thu nhập cao hơn
Ngược lại, chính sách quản lý nợ ngắn hạn theo trường phái cấp tiến được thực hiện khi doanh nghiệp duy trì nợ ngắn hạn ở mức cao, các doanh nghiệp theo trường phái cấp tiến sẽ gặp ít rủi ro trong thanh toán hơn do có ít các khoản nợ ngắn hạn, tận dụng được các khoản nợ dài hạn hơn, tuy nhiên doanh nghiệp cũng cần lưu ý đến việc chi trả lãi đúng hạn, tránh các khoản nợ dài hạn đến hạn đúng lúc
1.3.2.2 Trả lãi
Trang 18Trong nền kinh tế thị trường, nguồn vốn kinh doanh được tài trợ bằng nợ vay thường được chiếm ti trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn Lãi tiền vay là một khoản mục chi phí chịu ảnh hưởng biến động của số tiền vay, thời gian vay và lãi suất vay Quyết định khối lượng vay, thời gian vay phải tính toán theo hướng tiết kiệm, phù hợp với nhu cầu và lựa chọn lãi suất thích hợp Thời gian vay và lãi suất vay phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn Nhu cầu vốn được xây dựng trong kế hoạch tài chính từng chu
kỳ của doanh nghiệp
Sử dụng sai mục đích nguồn vốn nợ vay là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mất cân đối và phá sản các doanh nghiệp Chính vì các nhà quản lý cần tính toán cụ thể việc vay bao nhiêu và trả lãi như thế nào để luôn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tránh việc không trả lãi hoặc trả lãi quá hạn làm ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp cũng như làm giảm uy tín của doanh nghiệp, gây khó khăn cho việc huy động nợ sau này
1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản trị dòng tiền ngắn hạn
1.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá chung
1.4.1.1 Nhóm chỉ số khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngắn hạn=
Tổng TS ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết, tại thời điểm lập báo cáo tài chính, nếu bán toàn bộ tài sản hiện có thì doanh nghiệp có đủ khả năng để thanh toán các khoản nợ hay không? Chỉ
số càng lớn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao, tình hình tài chính càng lành mạnh và ngược lại Theo kinh nghiệm, chỉ số này phải luôn luôn lớn hơn hoặc bằng 1 Khả năng thanh toán ngắn hạn càng nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp càng xấu Nếu chỉ số này < 0,5 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp
ở tình trạng rất xấu
Khả năng thanh toán nhanh =
Tổng TS ngắn hạn – Hàng lưu kho
Tổng nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh cho ta biết một đồng nợ ngắn hạn đến hạn trả nợ, doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng TSNH để chi trả mà không cần bán hàng tồn kho Hàng tồn kho thông thường có tính thanh khoản kém nhất trong các TSNH của công ty, vì thế chúng là các tài sản có khả năng lớn nhất bị thiệt hại giá trị trong trường hợp thanh lý Do vậy, thước đo khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn không cần đến việc bán hàng tồn kho
Khả năng thanh toán tức thời = Tiền + Các khoản tương đường tiền
Trang 1919
Nợ ngắn han Khả năng thanh toán tức thời cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng để thanh toán Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản có thể sử dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn
1.4.1.2 Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) =
Lợi nhuận ròng Doanh thu thuần
Tỷ số này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu nhằm cho biết một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất sinh lời trên tổng TS (ROA) =
Lợi nhuận ròng Tổng TS ROA cho biết bình quân mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho cổ đông ROA phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh trong kỳ và đặc điểm ngành sản xuất kinh doanh Các ngành như dịch vụ, du lịch, tư vấn, thương mại… tỷ số này thường rất cao, trong khi các ngành như công nghiệp chế tạo, ngành hàng không…tỷ số này thường rất thấp Do đó, để dánh giá một cách chính xác hơn, cần phải so sánh với bình quân ngành hoặc so sánh với một doanh nghiệp tương tự trong ngành
Tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE)=
Lợi nhuận ròng Vốn cổ phần Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh mang lại bao nhiều đồng lợi nhuận sau thuế Đây là tỷ số mà các cổ đông rất quan tâm
1.4.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị doanh thu của doanh nghiệp
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =
Vốn lưu động
*100 Doanh thu thuần
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu thuần Hệ số này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao
Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Trang 20Tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán =
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
*100 Giá vốn hàng bán
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng giá vốn hàng bán thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn, thể hiện mặt hàng kinh doanh có lời nhất, do vậy doanh nghiệp càng đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ Chỉ tiêu này thường phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh ngành nghề cụ thể Thông thường doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ăn uống chỉ tiêu này khá cao từ 35-50% nhưng các doanh nghiệp gia công may mặc chỉ tiêu này thường từ 10-15%
Tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng=
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
*100 Chí phí bán hàng
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí bán hàng càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được cho chí phí bán hàng
Tỷ suất sinh lời của chi phí quản lý doanh nghiệp =
Lợi nhuận thuần HĐKD
*100 Chi phí quản lý
CÔNG TY Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ múc lợi nhuận trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được cho quản lý
Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí =
EBIT
*100 Tổng chi phí
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán trước thuế và lãi Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi phí chi ra trong kỳ
Phân tích tình hình phải thu khách hàng thông qua những chỉ tiêu
Hệ số thu nợ (Vòng quay các khoản phải thu) =
Doanh thu thuần Phải thu khách hàng
Trang 2121
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng quay bình quân doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu, khoản thu quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên chỉ tiêu này quá cao có thể phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý các khoản phải thu đối với từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường
Thời gian thu nợ trung bình =
365
Hệ số thu nợ Thời gian thu nợ trung bình cho ta biết một đồng mà doanh nghiệp bán chịu thì bao lâu mới thu hồi lại được Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Ngược lại, thời gian thu nợ trung bình càng dài, chứng tỏ tốc độ thu tiền càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều
Tỷ lệ phải thu quá hạn so với tổng phải thu =
Các khoản phải thu quá hạn
*100 Tổng phải thu
Chỉ tiêu này mà cao chứng tỏ các khoản phải thu quán hạn chiến tỷ trọng đáng kể trong các tổng phải thu dẫn đến khả năng thu hồi nợ khó khăn ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Tỷ lệ phải thu quá hạn so với tổng tài sản =
Các khoản phải thu quá hạn
*100 Tổng tài sản
Chỉ tiêu này mà cao chứng tỏ các khoản phải thu quá chiến chiếm tỷ trọng đáng
kể trong tổng tài sản, dẫn đến khản năng thu hồi nợ khó khăn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản cao
1.4.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị dòng tiền từ hoạt động tài chính
Khả năng thanh toán lãi vay (TIE)= EBIT
Lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể đi đến gây sức
ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty
Khả năng trả nợ = Giá vốn hàng bán + Khấu hao+ EBIT
Trang 22Nợ gốc + Chi phí lãi vay
Tỷ số khả năng trả nợ đo lường khả năng trả nợ gốc và lãi của doanh nghiệp từ các nguồn như doanh thu, khấu hao và lợi nhuận trước thuế Thông thường nợ gốc sẽ được trang trải từ doanh thu và khấu hao, trong khi lợi nhuận trước thuế sử dụng để trả lãi vay Tỷ số này cho biết mỗi đồng nợ gốc và lãi có bao nhiêu đồng có thể sử dụng
để trả nợ
Tỷ suất sinh lời của tiền vay =
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
*100 Tiền vay
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp sử dụng 100 đồng tiền vay phục vụ cho hoạt động kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán sau thuế Chỉ tiêu này càng cao chúng tỏ hiệu quả kinh doanh càng tốt, đó là nhân tố hấp dẫn nhà quản trị đưa ra quyết định vay tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này cũng chứng tỏ tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
Phân tích tình hình phải trả người bán thông qua những chỉ tiêu
Tỷ lệ phải trả quá hạn so với tổng phải trả =
Các khoản phải trả quá hạn
*100 Tổng phải trả
Chỉ tiêu này mà cao dẫn đến khả năng thanh toán kém, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra
Tỷ lệ phải trả quá hạn so với tổng nguồn vốn=
Các khoản phải trả quá hạn
*100 Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này đo lường tỷ lệ các khoản phải trả quá hạn so với tổng nguồn vốn mà công ty có Chỉ tiêu cảnh báo nhà quản trị doanh nghiệp về mức độ rủi ro trong tài chính để các nhà quản trị kịp thời xem xét và xử lý tình hình Tỷ lệ này nếu cao sẽ dẫn đến khả năng tự chủ trong hoạt động tài chính thấp, rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản cao
Trang 2323
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN NGẮN HẠN TẠI CÔNG
TY TNHH ĐIỆN KỸ THUẬT VIỆT NAM 2.1 Đặc điểm kinh doanh của công ty TNHH Điện kỹ thuật Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tên Công ty: Công ty TNHH điện kỹ thuật Việt Nam
Địa chỉ giao dịch: Khu tập thể Tổng cục 2, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Điện thoại: 04 22460089
Fax: 04 33639083
Mã số thuế: 0101335355
Tài khoản: 0021000537065 Ngân hàng Vietcombank Chi nhánh Thăng Long
Vốn điều lệ: 1.990.000.000 VND (Một tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng)
Công ty TNHH điện kỹ thuật Việt Nam được thành lập vào năm 2003, giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102007593 do phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp, lần đầu ngày 21 tháng 01 năm 2003, đăng ký thay đổi lần 1 ngày 25 tháng 02 năm 2010
Người đại diện pháp luật của công ty: Giám đốc Phạm Hồ Tuấn
Năm 2008 – 2009, xây dựng Cơ sở sản xuất: Nhà máy tủ bảng điện VNTEC, tại cụm Công nghiệp thị trấn Phùng, Đan Phượng, Hà Nội
Công ty TNHH điện kỹ thuật Việt Nam là một công ty TNHH tự chủ về tài
chính, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ tại ngân hàng Vietcombank ở Việt Nam và có con dấu theo quy định của Nhà nước
Trang 24
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Điện Kỹ Thuật Việt Nam
Sơ đồ 2 1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH điện kỹ thuật Việt Nam
(Nguồn: Phòng Hành chính – Nhân sự)
Giám đốc Công
ty
Phó Giám đốc Sản xuất
Phó Giám đốc Kinh doanh
Phòng Kinh doanh
Phòng
Kế hoạch vật tư
Phòng Hành chính Nhân sự
Phòng
Kỹ thuật
Phòng Tài chính
Kế toán
Phân xưởng
Cơ khí
Phân xưởng Sơn mạ
lý kho
Bộ phận Mua vật
tư
Bộ phận Giao nhận
Bộ phận Quảng cáo
Bộ phận
Bán
hàng
Nhà máy sản xuất
Phân xưởng Điện
Trang 25Phó Giám đốc Kinh doanh
Phó Giám đốc Kinh doanh là người giúp giám đốc quản lý điều hành các hoạt động kinh doanh, nghiên cứu thị trường tiêu thụ, tìm kiếm đối tác làm ăn, chỉ đạo việc chi mua nguyên vật liệu cho sản xuất, giao nhận, nhập xuất hàng hóa, công tác kế toán tài chính, đặc biệt là hoạt động quảng cáo và tiêu thụ sản phẩm Phó giám đốc Kinh doanh là người trực tiếp quản lý các phòng: phòng Kinh doanh, phòng Tài chính Kế toán, phòng Kế hoạch vật tư
Phó Giám đốc Sản xuất
Phó Giám đốc Sản xuất là người quản lý các hoạt động sản xuất của công ty, có trách nhiệm quản lý và điều hành các phòng: phòng Hành chính nhân sự, phòng Kỹ thuật và nhà máy sản xuất Đảm bảo chất lượng sản phầm, báo cáo kịp thời các khó khăn trong khâu sản xuất, theo dõi việc quản lý nguyên liệu vật tư, nhập xuất các nguyên vật liệu phục vụ sản xuất Phụ trách các vấn đề về nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển các sản phẩm mới có chất lượng cao hơn, mẫu mã đẹp hơn, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Phòng Kinh doanh
Phòng Kinh doanh có chức năng tiêu thụ và theo dõi số hàng hóa được tiêu thụ trong kỳ, từ đó đánh giá tình hình tiêu thụ của công ty để phòng Kế hoạch vật tư có các biện pháp điều chỉnh phù hợp với thực tế Đồng thời thăm dò ý kiến khách hàng về sản phẩm để bộ phận sản xuất nghiên cứu và phát triển làm ra các sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đúng với thị hiếu của khách hàng
Có chức năng lập ra các kế hoạch quảng cáo hay, hấp dẫn, thu hút được khách hàng giúp công ty tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu cho công ty Phụ trách các bộ phân: bộ phận Bán hàng, bộ phận Quảng cáo
Phòng Tài chính - Kế toán
Trang 26Phòng Tài chính - Kế toán quản lý toàn bộ nguồn vốn của công ty một cách cụ thể, chính xác Hạch toán đúng, đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tạo điều kiện cho giám đốc ra các quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình tài chính của công ty Kiểm tra thường xuyên các chỉ tiêu, tăng cường công tác quản lý vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đó
Ngoài ra, phòng Tài chính - Kế toán còn có nhiệm vụ lập báo cáo theo tháng, quý, năm nộp cơ quan thuế, các cơ quan pháp lý của nhà nước và giúp ban lãnh đạo công ty nắm rõ được tình hình tài chính của công ty, phân tích, đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Tổ chức, thực hiện toàn bộ công tác tài chính, kế toán, thống kê thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế trong công ty theo đúng quy định của Nhà nước
Phòng Kế hoạch vật tư
Phòng Kế hoạch vật tư có chức năng hoạch định các công việc cho từng ngày, tuần, tháng, quý, năm; đề ra các biện pháp giải quyết các khó khăn còn tồn đọng từ năm trước Tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch giao nhận hàng, ký kết thực hiện hợp đồng Phụ trách việc xuất, nhập hàng hóa, theo dõi số lượng và chất lượng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh tránh tình trạng thiếu nguyên vật liệu gây ngưng trệ hoạt động sản xuất
Có nhiệm vụ tổ chức, điều hành, lập các thủ tục, dự toán, thiết kế, quyết toán vật
tư các hợp đồng và bảo đảm cho các hoạt động SXKD của Công ty đạt hiệu quả kinh
tế cao nhất Phụ trách bộ phận giao nhận, bộ phận mua vật tư, bộ phận quản lý kho Phòng Hành chính - Nhân sự
Phòng Hành chính - Nhân sự có chức năng tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho công nhân viên, giải quyết các vấn đề liên quan về chế độ, chính sách, các vấn đề hành chính liên quan đến người lao động
Đây là bộ phận đặc biệt quan trọng bởi phải có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, nhiệt thành với công ty thì công ty mới có thể vững mạnh được Hoàn thành các việc hành chính, văn phòng, lưu trữ tài liệu, gửi và nhận công văn thư tín Phục vụ ăn uống, vệ sinh sạch sẽ môi trường làm việc, đảm bảo an toàn cho toàn công
ty, nhà máy Phụ trách các bộ phận: tổ Bảo vệ, tổ Tạp vụ
Phòng Kỹ thuật
Phòng Kỹ thuật chịu trách nhiệm thiết kế kỹ thuật, tạo mẫu, nghiên cứu phát triển mẫu mã sản phẩm Giám sát vật tư tiêu hao, giám sát kỹ thuật và kiểm tra chất lượng sản phẩm Chịu trách nhiệm quản lý, sữa chữa máy móc, công cụ dụng cụ, các định
Trang 2727
Có chức năng theo dõi, giám sát toàn bộ quá trình sản xuất, đảm bảo chất lượng sản phẩm sản xuất ra, kịp thời loại bỏ các sản phẩm kém chất lượng, tránh làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm, làm mất uy tín của công ty
Nhà máy sản xuất
Đứng đầu là Quản đốc Quản đốc là người quản lý hoạt động trong nhà máy, theo dõi, chỉ đạo các hoạt động sản xuất theo lệnh của cấp trên Trách nhiệm chính của quản đốc là tổ chức sản xuất sao cho hiệu quả, liên tục, an toàn…, hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra
Giúp việc cho các quản đốc có các cán bộ kỹ thuật và công nhân hỗ trợ thêm Chịu trách nhiệm sản xuất gia công lắp ráp các sản phẩm của công ty theo đúng hồ sơ thiết kế được phê duyệt, tuân thủ ý kiến, yêu cầu của kỹ thuât, bố trí công nhân hợp lý trong dây chuyền sản xuất, nhắc nhở để công nhân tuân thủ an toàn về lao động và vệ sinh công nghiệp
Phụ trách việc xuất, nhập nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, tránh tình trạng thiếu nguyên vật liệu gây ngưng trệ hoạt động sản xuất Phụ trách các phân xưởng sản xuất: Phân xưởng sơn mạ, phân xưởng điện, phân xưởng cơ khí
Bộ máy quản lý của công ty TNHH điện kỹ thuật Việt Nam là một thể thống nhất Các phòng, ban hoạt động nhịp nhàng, có hiệu quả vừa làm tốt công việc của mình vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận khác làm việc tốt Từ đó nâng cao hiệu quả quản lý, hiệu quả kinh doanh, đưa công ty trở thành một doanh nghiệp vững, mạnh, có uy tín trên thị trường
Bộ phận Bán hàng
Bộ phận Bán hàng có chức năng tìm kiếm nhu cầu của khách hàng, theo dõi tìm kiếm các hồ sơ mời thầu, lập hồ sơ dự thầu và báo giá cho khách hàng Soạn thảo hợp đồng mua bán với khách hàng Thuộc bộ phận đắc lực của phòng Kinh doanh hoàn thành công việc tiêu thụ sản phẩm mang lại doanh số bán hàng cho công ty
Bộ phận Quảng cáo
Bộ phận Quảng cáo có chức năng lập ra các chương trình quảng cáo hay, giới thiệu sản phẩm tới mạng lưới khách hàng, hấp dẫn, thu hút được khách hàng, tăng số lượng khách hàng, giúp công ty tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu cho công ty
Bộ phận Giao nhận
Bộ phận giao nhận chuyên trách nhận vật tư do phòng vật tư mua về và chuyên trách việc giao hàng tới khách hàng tới địa chỉ theo yêu cầu của hợp đồng
Bộ phận Mua vật tư
Trang 28Bộ phận Mua vật tư dựa vào nhu cầu vật tư của công ty, chịu trách nhiệm chuyên trách mua vật tư về cho công ty, luôn phải tham khảo giá cả thị trường, tìm kiếm nhà thầu phụ, đánh giá năng lực nhà thầu phụ và quyết định lựa chọn nhà cung cấp có vật
tư hợp lý về giá cả và chất lượng
Bộ phận Quản lý kho
Bộ phận Quản lý kho chịu trách nhiệm quản lý và theo dõi hàng tồn kho, nhập kho vật tư khi hàng mua về và xuất kho vật tư khi có lệnh sản xuất hoặc xuất bán cho khách hàng
Tổ Bảo vệ
Tổ Bảo vệ có trách nhiệm trông coi toàn bộ nhà máy, văn phòng làm việc của công ty, bảo vệ các tài sản mà công ty có, đóng mở cửa ra vào, theo dõi ghi chép lượng khách vào ra công ty
Tổ Tạp vụ
Tổ Tạp vụ có trách nhiệm lau dọn vệ sinh toàn bộ văn phòng, nhà xưởng Chăm sóc coi trồng cây xanh cho công ty Nấu nước phục vụ tiếp khách và cho công nhân viên trong công ty uống, lo bữa ăn trưa và ăn ca cho toàn bộ công ty
Phân xưởng Cơ khí
Phân xưởng Cơ khí chịu trách nhiệm chuyên gia công sản xuất ra các sản phẩm
cơ khí, cụ thể có các khâu cắt đột, hàn, gia công sản phẩm hoàn thành và bàn giao cho phân xưởng sơn mạ tiếp tục công đoạn sau
Phân xưởng Sơn mạ
Phân xưởng Sơn mạ chịu trách nhiệm chuyên sâu mạ tiếp điểm và sơn tĩnh điện các sản phẩm cơ khí mà phân xưởng cơ khí đã hoàn thành
Phân xưởng Điện
Sau khi phân xưởng Cơ khí và phân xưởng Sơn mạ đã hoàn thành sản phẩm và
bộ phận Vật tư đã mua các thiết bị bên trong sản phẩm theo yêu cầu về Phân xưởng Điện có chức năng lắp ráp các thiết bị, chi tiết trong sản phẩm với nhau Hoàn thiện sản phẩm để bàn giao luôn cho khách hàng hoặc nhập sản phẩm vào kho thành phẩm
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động sản xuất chính của Công ty TNHH điện kỹ thuật Việt Nam là gia công lắp ráp và tiêu thụ các sản phẩm tủ điện và sản phẩm cơ khí Có khách hàng đa dạng nhưng chủ yếu là trong nước Đặc điểm chung của các sản phẩm mà công ty đang kinh doanh là có giá trị kinh tế lớn Các thiết bị chính chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngoài về, vì trong nước chưa đủ khả năng sản xuất Do vậy quy trình công nghệ của
Trang 2929
có thiết kế riêng, dự toán riêng, được thực hiện tại nhà máy hoặc lắp ráp tại công
xưởng Tuy vậy đặc điểm hoạt động SXKD chung của công ty đều tuân thủ theo một
quy trình như sau:
Sơ đồ 2 2 uy trình sản xuất kinh doanh chung
(Nguồn: Phòng Kế hoạch vật tư)
Sau đây là mô tả cụ thể công việc của từng bước:
Bước 1: Tìm kiếm Khách hàng thông qua chào hàng, đấu thầu
Khi nắm bắt được thông tin khách hàng có nhu cầu hay khi có thông tin mời thầu
từ các chủ đầu tư, công ty sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá và căn cứ vào năng lực của
mình về tình hình tài chính, kỹ thuật cũng như kinh nghiệm để quyết định xem có
tham gia đầu thầu hay không hay liệu có đủ khả năng đáp ứng được các yêu cầu mà
chủ đầu tư đưa ra hay không Nếu quyết định tham gia đầu thầu, công ty cần phải
chuẩn bị kỹ lưỡng các bước cụ thể sau:
Mua hồ sơ thầu, gặp gỡ nắm bắt thông tin nhu cầu cụ thể của khách hàng
Thu thập, kiểm tra các hồ sơ bản vẽ kĩ thuật, đánh giá hồ sơ mời thầu
Hỏi giá nhà thầu phụ, xác định giá thành, chuẩn bị hồ sơ chào thầu, báo giá…
Tham gia đấu thầu, báo giá cho khách hàng
Bước 2: Ký hợp đồng kinh tế đối với chủ đầu tư công trình
Nếu trúng thầu hay khi khách hàng đồng ý mua, công ty sẽ bắt đầu tiến hành
thương thảo và ký kết hợp đồng với khách hàng hay chủ đầu tư
Bước 3: Lập kế hoạch thực hiện
Trên cơ sở hồ sơ trúng thầu hoặc dự toán, bản vẽ thiết kế, báo giá, phòng Kế
hoạch vật tư của công ty sẽ tiến hành lập dự toán, bóc tách vật liệu, nhân công, máy
móc, thời gian gia công, lắp ráp để hoàn thành sản phẩm
Phòng
Kỹ thuật, nhà máy gia công, lắp ráp sản phẩm
Bảo hành sản phẩm
Sản phẩm hoàn thành bàn giao cho khách hàng
Ký hợp đồng kinh tế đối với khách hàng
tư, lập
kế hoạch thực hiện
Trang 30Bước 4: Thực hiện gia công lắp ráp và hoàn thành sản phẩm
Sau khi phòng Kế hoạch vật tư thực hiện quá trình lập kế hoạch một cách chi tiết, tiến hành mua vật tư và đưa ra kế hoạch sản xuất chuyển xuống cho nhà máy sản xuất Nhà máy sẽ giao việc cho bộ phận Mua vật tư, phân xưởng Cơ khí và phân xưởng Sơn
mạ và phân xưởng Điện Các bộ phận sẽ tiến hành làm theo yêu cầu công ty giao cho theo qui trình cụ thể như sau:
Sơ đồ 2 3 Mô tả quy trình gia công, lắp ráp sản phẩm
(Nguồn: Phòng Kỹ thuật) Cắt đột: Dựa vào thiết kế của từng sản phẩm, công nhân nhận tôn, thép cắt, đột,
uốn theo yêu cầu của sản phẩm
Gia công: Sau khi có các chi tiết, công nhân hàn, lắp ráp các chi tiết với nhau, tạo thành khối sản phẩm
Hoàn thiện bước 1: Khối sản phẩm được đưa vào đánh bóng, tẩy rửa về phần cơ
Hoàn thiện bước 2: Sản phẩm được lắp đặt hoàn chỉnh cho khách hàng tại công
trường hoặc tại khu vực khách hàng yêu cầu
Nhập kho: Sau khi sản phẩm được lắp đặt hoàn chỉnh sẽ được tiến hàng thử
nghiệm, nghiệm thu và nhập kho
Bước 5: Giao hàng
Sản phẩm được nghiệm thu bàn giao cho khách hàng hay chủ đầu tư theo yêu cầu hợp đồng đã ký kết
Bước 6: Bảo hành công trình
Sản phẩm đã giao cho khách hàng hay chủ đầu tư, công ty vẫn phải tiến hành các thủ tục bảo hành cho sản phẩm và để lại 10% giá trị hợp đồng để kí cam kết bảo hành Thời gian bảo hành là 12 tháng kể từ ngày vận hành và không quá 18 tháng kể từ ngày
Cắt
đột
Gia công
Hoàn thiện bước 1
Sơn tĩnh điện
Lắp thiết
bị
Hoàn thiện bước 2
Nhập kho
Trang 31về tài sản, nguồn vốn, tỷ số tài chính đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, các dòng tiền ra vào doanh nghiệp thế nào, từ đó có những nhận xét đúng đắn về tình hình doanh nghiệp
2.3.1 Tình hình tài sản - nguồn vốn công ty năm 2011-2013
Bảng cân đối kế toán là bảng báo cáo tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp ở một thời điểm nào đó Thời điểm báo cáo thường được chọn là thời điểm cuối kỳ hoặc cuối năm Do đó đặc điểm chung của bảng cân đối kế toán là cung cấp dữ liệu thời điểm về tài sản và nguồn vốn doanh nghiệp
Thông tin về tài sản công ty TNHH Điện Kỹ Thuật Việt Nam được thể hiện trong bảng sau:
Trang 32Bảng 2 1.Bảng czấn đối kế toán- Tài sản công ty TNHH Điện Kỹ Thuật Việt Nam
Đơn vị: Việt Nam đồng
Trang 3333
Từ bảng 2.1, ta thấy quy mô tài sản của công ty có chiều hướng tăng rõ rệt Năm
2012 tăng khoảng 1.161 triệu đồng so với năm 2011tương đương 38,69% nhưng năm 2013-2012 lại có chiều hướng tăng trưởng chậm lại khoảng 221 triệu đồng so với năm
2012 tương đương 5,33%.Lý do chủ yếu tổng tài sản năm 2012-2013 tăng trưởng chậm lại so với giai đoạn 2011-2012 là do công ty chuyển nhượng toàn bộ khu nhà máy tại khu cụm KCN vừa và nhỏ thị trấn Phùng cho công ty TNHH Điện Hiệp Lực
Bảng 2 2 Bảng tỷ trọng cơ cấu tài sản Công ty TNHH Điện Kỹ Thuật
Việt Nam giai đoạn 2011 – 2013
tài sản dài hạn 43,34 46,46 68,98 (3,12) (22,52)
Chênh lệch giữa
(Nguồn: Phòng tài chính-Kế toán)
Biểu đồ 2 1.Biểu đồ tỷ trọng cơ cấu tài sản công ty TNHH Điện Kỹ Thuật Việt Nam
giai đoạn 2011-2013
( Nguồn: Bảng 2.2)
Xét một cách tổng quát, có thể thấy qua cả 3 năm, cơ cấu tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của công ty thay đổi theo mỗi năm Năm 2012 và năm 2013, tài sản ngắn hạn đều có tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng tài sản dài hạn và năm 2011 thì ngược lại
Tài sản ngắn hạn Tài sản dài hạn
Trang 34Tỷ trọng tài sản ngắn hạn năm 2011 là 31,02% thấp hơn 22,53% so với năm 2012 và trong giai đoạn 2012-2013 tỷ trọng tài sản ngắn hạn tăng 3,12% Tương tự, tỷ trọng tài sản dài hạn năm 2011 so với tổng tài sản là 68,98%, cao hơn 22,53% so với chỉ tiêu này năm 2012 và trong giai đoạn 2012-2013 giảm 22,53%
Năm 2011, tài sản dài hạn chiếm phần lớn trong tổng tài sản mức chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và dài hạn là 37,96% (tương đương với 1.139.563.666 Việt Nam đồng) Điều này là dễ hiểu vì công ty là công ty điện kỹ thuật, ngoài đầu tư cho những yếu tố như nguyên vật liệu, các công cụ hỗ trợ,…là các tài sản ngắn hạn thì công ty còn phải đầu tư cho nhà xưởng máy móc, thiết bị,…là các tài sản dài hạn của công ty Năm 2012, có sự thay đổi lớn trong cơ cấu tài sản của công ty Tài sản ngắn hạn tăng mạnh, chiếm 53,54% tổng tài sản Sự thay đổi này là do năm 2012, công ty chi trả thêm cho hoạt động nhân sự nhằm mở rộng thêm nhà máy tại Xuân Đỉnh- Hà Nội Năm 2013, có một sự chênh lệch rõ rệt giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn,
cụ thể là tài sản ngắn hạn chiếm 56,66% tổng tài sản tương đương với 2.484.079.928 Việt Nam đồng Điều này là hợp lý vì đây là thời điểm kết thúc việc đầu tư mở rộng nhà máy tại Xuân Đỉnh, công ty bây giờ gấp rút tiến hành thực hiện các đơn hàng và tìm kiếm lợi nhuận để bù vào chi phí đã bỏ ra, tài khoản hàng tồn kho giảm mạnh từ hơn 2 tỷ đồng năm 2012 xuống chỉ còn 629 triệu đồng năm 2013 trong khi đó tiền và các khoản tương đương tiền có sự tăng vọt
Bảng 2 3 Bảng tỷ trọng cơ cấu tài sản ngắn hạn của công ty TNHH Điện Kỹ Thuật
Việt Nam giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: %
Trang 3535
Biểu đồ 2 2.Biểu đồ tỷ trọng cơ cấu tài sản ngắn hạn của công ty TNHH Điện Kỹ
Thuật Việt Nam giai đoạn 2011-2013
(Nguồn bảng 2.3)
Biểu đồ tỷ trọng tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng nhận thấy tỷ trọng hàng tồn kho của công ty rất lớn, chiếm từ 25-93,44%, chiếm nhiều nhất trong các khoản mục của tài sản ngắn hạn cho thấy việc quản lý hàng tồn kho của công ty chưa hợp lý
Năm 2011-2012 tỷ trọng hàng tồn kho rất lớn năm 2011 là 79,45%, năm 2012 là 93,44% Có tình trạng như vậy là do có một số loại nguyên vật liệu công ty bắt buộc phải nhập từ phía nước ngoài mà trong tình trạng tỷ giá VND và USD có chiều hướng tăng (từ tháng 8/2011 tỷ giá ở mức 20.828 VND/USD đến 6/2012 tỷ giá ở mứa 21.036VND/USD)i ty đưa ra chính sách nhập khẩu nhiều nguyên vật liệu hơn Mặc dù vậy công ty cũng có kế hoạch nhập nguyên vật liệu nhằm mục đích cho nhà máy mới
mở rộng tại Xuân Đỉnh đi vào hoạt động từng phần để có thể tận dụng tối đa khả năng sản xuất của nhà máy Đầu năm 2013 tỷ trọng hàng tồn kho chỉ còn 25,32%, được như vậy là do việc xây dựng mở rộng nhà máy tại Xuân Đỉnh đã hoạt tất và đi vào hoạt động
Thay vì tỷ trọng hàng tồn kho lớn, năm 2013 tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền có sự tăng đột biến so với 2 năm 2011 và 2012, tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền 2011 là 13,27% năm 2012 là 2,69% Có sự biến đổi như vậy là do
Trang 36năm 2011 cụm nhà máy tại KCN thị trấn Phùng đã có dấu hiệu xuống cấp, hoạt động sản xuất bị gián đoạn dẫn đến tỷ trọng hàng tồn kho lớn nhưng tiền và các khoản tương đương tiền lại thấp Đến năm 2012, công ty quyết định chuyển nhượng lại cụm nhà máy tại KCN thị trấn Phùng cho công ty TNHH Điện Hiệp Lực và đầu tư xây dựng mở rộng và nâng cấp nhà máy tại Xuân Đỉnh Thời điểm năm 2012 công ty ưu tiên việc đầu tư vào nhà máy tại Xuân Đỉnh nên tất cả các nguồn lực của công ty tập trung cho việc xây dựng mở rộng nhà máy Xuân Đỉnh, chính vì như vậy nên tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền của năm 2012 giảm mạnh chỉ còn 2,69%
Năm 2013 tỷ trọng hàng tồn kho giảm, tiền và các khỏa tương đương tiền tăng nhanh do công ty thu hồi tiền từ các hợp đồng năm 2012, hơn hết sau khi đi vào hoạt động nhà máy tại Xuân Đỉnh hoạt động với công xuất cao, máy móc thiết bị hiện đại nên có thể sản xuất lắp đặt đi vào hoạt động nhiều loại thiết bị như tủ điện cho khu trung cư, khu công nghiệp, cung cấp và nhân lắp đặt thiết bị cao thế, trung thế và hạ thế…và đặc biệt công ty có đầu tư cho những thiết bị thế hệ tương lai với chất lượng tốt đáp ứng được nhiều đơn đặt hàng lớn Hơn hết sau khi xây dựng mở rộng nhà máy, công ty trú trọng hơn vào hoạt động nghiên cứu sản xuất nguyên vật liệu nhờ vậy công
ty có thể giảm sự phụ thuộc vào một số nguyên vật liệu nhập khẩu
Do công ty TNHH Điện Kỹ Thuật Việt Nam là công ty sản xuất nên tỷ trọng tài sản ngắn hạn khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu tài sản ngắn hạn cụ thể năm
2011 là 0,08% năm 2012 là 0,3% năm 2013 là 0,38% Có sự thay đổi như vậy do ban giám đốc công ty có ý định mua một số xe đưa đón cán bộ công nhân viên trong giai đoạn 2012-2013
Công ty hiện đang áp dụng chính sách tín dụng thắt chặt nên các khoản phải thu ngắn hạn luôn được khống chế ở mức thấp tỷ trọng các khoản phải thu ngắn hạn qua các năm 2011 là 7,2% , 3,57% cho năm 2012 và 1,86% năm 2013 Công ty có thể xem xét về chính sách linh hoạt hơn để thu hút nhiều khách hàng hơn
Trang 3737
Bảng 2 4 Bảng cân đối kế toán – Nguồn vốn của công ty TNHH Điện Kỹ Thuật Việt Nam giai đoạn 2011-2012
Đơn vị: Việt Nam đồng
( Nguồn: Phòng Tài chính- Kế toán )