Chỉ có xác định thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý, giữ vững quan điểm cho rằng phát triển lực lượng sản xuất là nhiệm vụ căn bản của chủ nghĩa xã hội, đông thời có qua
Trang 1CUNG KIM QUỐC , TRƯƠNG ĐẠO CĂN
CỐ QUẠNG THANH
CIIU NGHĨA
XÃ IIỘI
CỦNG CÓ THE ÁP DỤNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
( MỘT SÁNG TẠO MỚI VE LÝ LUẬN )
( SÁCH THAM KHẢO)
Người dịch : TRẦN KHANG
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Hà Nội - 1996
Trang 2LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Qua hơn 10 năm đổi mới, chuyển từ nên kinh tế kế hoạch tập trung sang nên kinh tế thị trường, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Điêu đó khẳng định con đường chúng ta đang đi là đúng đắn
Đế giành được những thắng lợi vững chắc hơn nữa trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo những tiên đè cơ bản đế’ bước vào thế kỷ mới, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và các nước phát triển trên thế giới, chúng ta phải nắm vững và kiên trì đường lối đổi mới, thường xuyên nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để bố sung, điêu chỉnh làm sáng tỏ vê mặt lý luận và thực tiễn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ỏ Việt Nam
Để cung cấp bạn đọc những tài liệu tham khảo bổ ích, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cho dịch và xuất bản cuốn sách: "CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CŨNG CÓ THỀ ÁP DỤNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG" của các tác giả Cung Kim Quốc, Trương Đạo Căn, Cố Quang Thanh, do Nhà xuất, bản Nhân dân Thượng Hải ấn hành Cuốn sách này đi sâu nghiền cứu
lý luận và thực tiễn cải cách mở cửa của Trung Quốc, trong
đó tập trung trình bày con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc
Các tác giả đã luận chứng một cách sàu sắc và có hệ thống một loạt quan điểm lý luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc:
5
Trang 3Bản chất của chủ nghĩa xã hội là gì; chủ nghĩa xã hội có thè
áp dụng kinh tế thị trường; quan hệ giữa kế hoạch và thị trường; mục tiêu và các biện pháp lớn xây dựng nên kinh tế thị trường ở tầm vĩ mô và vi mô, V V
Xuất bản cuốn sách này chúng tôi hy vọng sẽ giúp bạn đọc, nhất là các nhà nghiên cứu hiếu rõ hơn nội dung lý luận chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, đông thời rút ra được những điêu bố ích phục vụ cho việc tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Xin giới thiêu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 10-1996
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 4I BA GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH MỤC TIÊU THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
XÁ HỘI CHỦ NGHĨA
Kinh nghiệm phát triển của lịch sử Trung Quốc và toàn bộ nền kinh tế thế giới cho thấy, dù nhận thức chủ quan của con người như thế nào, thực tiễn vẫn cứ dẫn dắt người ta đi theo con đường kinh tế thị trường Chỉ có xác định thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý, giữ vững quan điểm cho rằng phát triển lực lượng sản xuất là nhiệm vụ căn bản của chủ nghĩa
xã hội, đông thời có quan điểm quần chúng nồng nhiệt, mọi việc đêu xuất phát từ lợi ích cua nhân dân, tin vào tinh thần sáng tạo của quần chúng nhân dân, thì mới dám phá vỡ khuôn mẫu lý luận kinh tế truyền thống, mạnh dạn làm thử thể chế kinh tế thị trường, khẳng định tính hợp lý trong việc đẩy mạnh thực hiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Với điều kiện đó Trung Quốc mới nắm bắt được thời cơ quốc tế có lợi, huy động được các nhân tố tích cực tiêm tàng trong nước, thực hiện mục tiêu hiện đại hoá trong một thời gian tương đối ngắn, nâng cao mạnh mẽ mức sống của nhân dân Đó là cống hiến có tính chất lịch sử kiệt xuất của,đông chí Đặng Tiểu Bình, nhà Tổng công trình sư
7
Trang 5của cuộc cải cách thể chế ở Trung Quốc.
Mạch tư duy cơ bản của đông chí Đặng Tiêu Bình
về vấn đê chủ nghĩa xã hội cũng có thê làm kinh tế thị trường bắt ngùôn từ việc tống kết kinh nghiệm lịch sư Nhưng, nội dung phong phú của tư tưởng ấy được phát triển, bổ sung và hoàn thiện trong thời kỳ xây dựng hiện đại hoá, trong hơn mười năm cai cách mơ cưa Y kiến quyết đoán của đông chí về kế hoạch và thị trường
có tác dụng then chốt giúp chúng ta dân dân thấy rõ mục tiêu chung của cống cuộc cai cách thê chế kinh tế
ở Trung Quốc, và đã được Đại hội xrv của Đang khằng định, là xâv dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chu nghĩa
Lý luận vê chủ nghĩa xã hội cũng có thể làm kinh
tế thị trường là một bộ phận tổ thành quan trọng trong
lý luận cùa dông chí Đặng Tiêu Bình, về xây dựng chu nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc Lý luận ấy đã đưa chù nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông lèn giai đoạn phát triển mới Đồng chí Đặng Tiểu Bình nói: "Sự
ra đời của một lý luận khoa học mới bao giờ cũng là kết quả của việc tổng kết, khái quát kinh nghiêm thực tiễn Không có kinh nghiệm thực tiễn cùa những người đi trước hoặc của những người đang sống hôm nay, cua người Trung Quốc hoặc người nước, ngoài, thì làm sao
có thể khái quằt, đê ra lý luận mới được!"1
1 Mấy ý kiến ve công tác khoa học và giáo dục Xem Văn tuyên
Đặng Tiêu Bình (thời kỳ 1975-1982), tiếng Trung, Nhà xuất ban
Nhân dân, 1983, tr.55.
8
Trang 6Hôi tương lại toàn bộ quá trình hình thành tư tương cua đông chí Đặng Tiêu Bình về vấn đè chu nghĩa xả hội cũng có thể làm kinh tế thị trường, qua thực chúng
ta thấy không CÒ11 gì xác đáng hơn Là thành qua mới nhất của sự kết hợp chu nghĩa Mác với thực tê Trung Quốc, nhận thức v'ê chu nghĩa xã hội củng có thè làm kinh tế thị trường từ lúc được đê ra, bô sung, tới khi hoàn thiện, về đại thế, trai qua ba giai đoạn như sau:
1 Lấy kinh tế kế hoạch làm chính, có kết hợp với kinh tế thị trường
Vai trò hạt nhân cua đông chí Đặng Tiểu Bình trong tập thê lành đạo thế hệ thứ hai của Đang Cộng san Trung Quốc được xác định tại Hội nghị toàn thế lân thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá XI sau "Đại cách mạng văn hoá" Đồng chí Đặng Tiêu Bình nói: "Hội nghị toàn thể fan thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã lập ra một tập thể lãnh đạo mới Đó là tập thế lãnh đạo thế hệ thứ hai Trong tập thế ấv thực tế
có thê nói, tôi giứ vai trò then chốt"1
Hội nghị toàn thể làn thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá XI được triệu tập vào tháng 12-1978 là hội nghị có ý nghĩa bước ngoặt lịch sử trọng đại trong lịch
sử Đảng Cộng sản Trung Quốc Hội nghị này đả dứt khoát vứt bỏ tư tưởng chí đạo "tả" là "lấy đấu tranh giai cấp làm chính", chuyển trọng tâm công tác cua Đang và
Văn tuyên Đặng Tiêu Bình, tiếng Trung Nhà xuất bàn Nhân dàn
1993 quyển 3 tr.309.
Trang 7nhà nước sang công cuộc xảy dựng kinh tế đỏng thời đưa ra quyết định sáng suốt là cai cách mơ cưa Bắt đâu
từ đó dưới sự lãnh đạo của đông chí Đặng Tiêu Bình Trung Quốc bắt đâu có sự tìm hiểu hoàn toàn mới về vấn đê chủ nghĩa xã hội với nên kinh tế thị trường, một
đê tài cam go từ lâu đã trói buộc công cuộc xây dựng nên kinh tế xã hội chủ nghĩa
1.1 Tập trung lực lượng phát triên lực lượng san xuất, đó la sự sửa cái sai trở vê với cái đúng một cách căn bản nhất
"tNhững năm đâu sau ngày thành lập nước Trung Quốc mới, Đảng Cộng sản Trung Quốc và đông chí Mao Trạch Đông rất coi trọng công tác kinh tế và xây dựng kinh tế, đặc biệt là Đại hội VIII của Đảng được triệu tập vào tháng 9-1956 đã đê ra rằng phải chuyển trọng tâm công tác của toàn Đảng vào công cuộc xây dựng kinh tế Song, do tình hình trong và ngoài nước có thay đổi và do có hàng loạt sai lâm "tả" vê mặt tư tưởng chỉ đạo, đặc biệt là do đả đánh giá sai tình hình giai cấp và tình hình xã hội Trung Quốc, cho rằng mâu thuẫn giữa giai cấp vô san và giai cấp tư sản là máu thuẫn chủ yếu
ớ trong nước, sa vào con đường trị nước "lấy đấu tranh giai cấp làm chính" "Ta vê chính trị đả dẫn tới phát động phong trào "nhay vọt" vê kinh tế năm 1958, khiến san xuất bị đố vỡ rất nặng, đời sống nhân dân rất khó khăn"
Năm 1959, 1960, 1961, là ba nám vô cùng khó khán, nhân dân cơm không đủ ăn chứ chưa nói nhứng cái
10
Trang 8khác Năm 1962 tình hình bắt đâu khá hơn đàn dân khôi phục được mức cũ Nhưng, nhũng vấn đê vê tư tưởng chưa được giai quyết, kết qua là năm 1966 bắt đâu làm "Đại cách mạng vãn hoá", kéo dài mười năm trời, đây là một tai hoạ lớn "Trong mười năm ấy đả diễn
ra nhiều điều quái gở bắt mọi người yên phận trong
cảnh nghèo nàn lạc hậu, huvên thuyên rằng thà nghèo
mà là chủ nghĩa xã hội còn hơn giàu có mà là chủ nghĩa
tư bản Đó là trò hê của "bè lũ bốn tên" Lý luận hoang đường của "bè lũ bốn tèn" đả đẩy Trung Quốc vào canh nghèo nàn, trì trệ"1
Ngay từ đâu những năm 50 đông chí Đặng Tiểu Bình đã vạch ra rằng: "Đảng Cộng sản phải phát triền lực lượng sản xuất xã hội, nếu không sẽ trái với lý luận của chủ nghĩa Mác"2 Đồng chí chẳng những giử vững nguyên tắc cơ bản này, mà còn vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện lịch sử mới đế quan sát và giải quyết những vấn đê thực tiễn của Trung Quốc ngày nav Đồng chí nói: "Chúng ta nói chu nghĩa xã hội là giai đoạn đâu của chủ nghĩa cộng sản Giai đoạn cao cua chu nghĩa cộng sản sẽ thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu Điều đó đòi hỏi lực lượng sản xuất
xã hội phải phát triển cao, của cải vật chất của xã hội
1 Hãy rút ra bài học lịch sử, ngăn ngừa khtivnh hướng sai tám Xem Văn tuyên Đặng Tiêu Bình, tiếng Trung Nhà xuất bản Nhàn
đân, 1993, quyến 3, tr.227-228.
2 Báo cáo tại hội nghị công tác báo chí khu Tâv Nam Xem Văn
tuyên Đặng Tiếu Bình (1938-1965), tiếng Trung Nhà xuất bán Nhân
dân, 1989, tr.148.
Trang 9phai hết sức đôi dào Bơi vậy nhiệm vại cán bản nhất trong giai đoạn xã hội chu nghĩa là phát triến lực lượng san xuất Suy cho cùng, tính hơn hãn cua chu nghĩa xã hội phai biểu hiện ớ chỗ lực lượng san xuất của nó phát triển nhanh hơn, cao hơn của chủ nghĩa tư bản, và đời sống vật chất văn hoá cua nhân dân được nâng cao không ngừng trên cơ sơ phát triển lực lượng san xuất Nếu nói rằng sau ngày dựng nước chúng ta có khuyết điểm thì
đó là coi nhẹ phát triển lực lượng san xuất"1
Sự nghèo nàn của Trung Quốc phan ánh một cách tổng hợp sự lạc hậu của lực lượng sản xuất xã hội Muốn xoá bo được nghèo nàn thì phải nắm chắc khâu trung tâm là xây dựng kinh tế, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất Đồng chí Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh rằng:
"Có nhiêu vấn đè sẽ không giải quyết được nếu không thực hiện bốn hiện đại hoá Phát triển hên kinh tế quốc dân, tâng thu nhập quốc dân, từng bước nâng cao dời sống nhân dân, củng cố và tăng cường quốc phòng một cách tương ứng, đêu phải dựa vào việc thực hiện bốn hiện đại hoá" "Bất kỳ lúc nào cũng không đế công việc này bị gày khó dl, phải kiên định bất di bất dịch, một lòng một dạ thực hiện bằng được"2 "Tập trung lực lượng phát triển lực lượng sản xuất xã hội, đó là sửa cái sai
1 Xảy dựng chu nghĩa xã hội mang màu sác Trung Quốc Xem
Văn tuyên Đặng Tiêu B inh , tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân
Trang 10trơ vè với cái đúng một cách căn ban nhất \
Tháng 3-1979 tại hội nghị chuyên đè về công tác
lý luận cua Đang, đông chí Đặng Tiêu Bình khăng định
ý kiến của đông chí Mao Trạch Đông về mâu thuân cơ bản trong chủ nghĩa xã hội viết trong "Vê vấn đê xứ lý đúng đắn mâu thuần trong nội bộ nhân dàn", và nhấn mạnh: trình độ phát triển lực lượng san xuất cua Trung Quốc rất thấp, còn lâu mới thoả mãn được nhu cầu cua nhân dân và đất nước Đó là mâu thuần chu yếu hiện nay Nhiệm vại trung tàm cua chúng ta là giai quyết mâu thuần này Điều dó có nghĩa là phát triên lực lượng san xuất là điểm xuất phát đè tính toán ve mọi vẫn đê là tiêu chuẩn căn bản đê đánh giá đối sách cai cách đúng hay sai
1.2 Phát triên lực lượng sản xuất mà dựa vào thi' chế kinh tế cũ thì không giài quyết được vấn (fẽ
Đồng chí Đặng Tiêu Bình nhíèu lan nhac nhơ chung
ta phải tinh táo nhìn nhận tình trạng trình độ kỹ thuật sản xuất hiện nay của Trung Quốc Đông chí nói: "Hàng trăm triệu người sản xuất cái ăn mà chúng ta vẫn chưa vượt qua được cái cửa ải lương thực Năng suất lao dộng của ngành công nghiệp gang thép Trung Quốc chi bằng mây phần trăm trình độ tiên tiến cua nước ngoài Khoang 1
Trung Quốc Xem Văn tuyên Đặng Tiêu Bình, tiêng Trung, Nhà xuất
bàn Nhân dân 1993 quyên 3, tr 141.
Trang 11cách trong các ngành công nghiệp mới lại càng lớn Vé mặt này dù chí lạc hậu tám đến mười năm, thậm chí dăm ba năm, khoang cách đã rất lớn rồi, chứ chưa cần nói là lạc hậu những vài chục năm"1 Trung Quốc thực hiện công cuộc xây dựng hiện đại hoá trên cơ sở ấy là việc không dễ dàng Nó chẳng những có nghĩa là thay đổi tình trạng lạc hậu về kinh tế, kỹ thuật hiện nay,
mà còn có nhiệm vụ càng gian nan hơn là thay đổi thể chế kinh tế không thích ứng với yêu cầu phát triển kinh
tế Thực chất của việc cải cách thế chế kinh tế là vấn
đè tìm tòi con đường xây dựng hiện đại hoá như thế nào
ớ một đất nước mà lực lượng sản xuất lạc hậu như Trung 'Quốc "Thể chế hiện nay của chúng ta rất không thích ứng với yêu cầu bốn hiện đại hoá"1 2
"Muốn thay đổi một cách mạnh mẽ tình trạng lạc hậu hiện nay của lực lượng sản xuất thì phải có thay đổi trên nhiêu mặt, thay đổi vê quan hệ sản xuất, thay đổi vê kiến trúc thượng tầng, thay đổi phương thức quản
lý của các xí nghiệp công nông nghiệp và phương thức quản lý cua nhà nước đối với các xí nghiệp công nông nghiệp, khiến chúng thích ứng với nền kinh tế lớn hiện đại Tiến hành những cải cách đó là vì lợi ích lâu dài
1 Phát biêu tại hội nghị khoa học toàn quốc Xem Văn tuyên
Đặng Tiểu Bình í1975-1982) tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân dân,
1983, tr.87
2 Giữ vững đường lối cua Đang, cai tiến phương pháp công tác
Xem s.đ.đ., tr 224,
14
Trang 12của nhân dân cả nước"1.
Tiền đê cải cách thể chế là giải phóng tư tưởng phân tích một cách thực sự cầư thị khuyết tật của thế chế truyền thống Do vậy, đông chí Đặng Tiêu Bình đã nhiêu Tân phân tích thể chế truỳên thống Những khuyết tật của thể chế truyền thống mà đông chí đã vạch ra một cách khái quát biếu hiện tập trung ở những mặt sau:a) Quyền lực quá tập trung, không có lợi cho việc huy động tính tích cực và nâng cao năng suất lao động
"khuyết tật ấy có liên quan chặt chẽ với thế chế quan
lý mà trong một thời gian dài chúng ta cho rằng trong chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ quản lý theo kế hoạch phải tập trung cao độ quyền lực vào tay trung ương đối với kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Các cơ quan lãnh đạo các cấp của chúng ta quần rất nhiều những việc không nên quản, quản không tốt, quản không nổi Chì cần có quy tắc, điều lệ, giao những việc ấy xuống cho các xí nghiệp, các đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể xã hội
để họ tự giải quyết theo chế độ dân chủ' tập trung là có thể giải quyết tốt, nhưng các cơ quan lãnh đạo trong Đảng, các ngành ở Trung ương lại nắm giữ hết, cho nên rất khó giải quyết Chẳng ai có tài thần thông tới mức
có thế giải quyết tốt tất cả nhứng việc phức tạp và lại không am hiểu như thế"1 2 Không giao quỳên xuống dưới,
1 Giai cấp công nhân phải có đóng góp xuất chúng vào cóng
cuộc thực hiện bốn hiện đại hoá Xem s.đ.d., tr 125-126.
2 Cai cách chê' độ lãnh đạo cua Đang và Nhà nước Xem s.đ.d.,
ư 287-288
15
Trang 13xí nghiệp không có quyên tự chu cũng không chịu trách nhiệm, làm không tốt trách nhiệm đêu thuộc vê cấp trên Bên trên ôm đôm hết thay, thư hoi sao mà làm tốt được, sao mà độqg viên được tính tích cực?"1 Tôi không nói rằng không cân sự thống nhất tập trung trong Đảng, rằng nhấn mạnh tập trung thống nhất trong bất kỳ trường hợp nào cũng không đúng, cũng không nói rằng không cần chống chủ nghĩa phân tán, biệt lập Vấn đê
là ở chỗ "quá mức” "Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền trong cả nước, đặc biệt là sau khi hoàn thành vê cơ bản việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, thì nhiệm vụ trung tâm của đảng đã khác trước đó, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xâ hội vô cùng nặng nề, phức tạp, quyền lực tập trung quá mức thì ngày càng không thể thích ứng với sự phát triển của
sự nghiệp xã hội chủ nghĩa"2
b) Cơ cấu cồng kênh, hiệu suất rất thấp, quan liêu trầm trọng "Trong công tác quản lý kinh tế của chúng
ta, cơ cấu cồng kênh, trùng lặp, thủ tục rườm rà, hiệu suất rất thấp"3 "Hiện nay, trong nước cúng như ở nước ngoài, người ta đêu thấy chúng ta người nhiều hơn việc,
1 Phát biếu khi nghe báo cáo tỉnh hình kinh tế Xem Văn tuyền
Đặng Tiêu Bình, tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân dân, 1993, quyển
3, tr 160.
2 Cải cách chế độ lãnh đạo cua Đang và Nhà nước Xem Văn
tuyến Đặng Tiều Bình (1975-1982), tiếng Trung, Nhà xuất bản
Nhân dân, 1983, tr.289.
3 Giai phóng tư tướng, thực sự câu thị, đoàn kết nhất tri tiên
lên Xem s.đ.d., tr.140.
Trang 14quan liêu, làm việc rê rà, dâu dâu củng họp hành suốt ngày này sang ngày khác, có nhiêu việc chi cần một cú điện thoại là có thê giai quyết được, thế mà rề rà kéo đến nửa năm vẫn không giai quyết xong Như vậy thì còn thực hiện bốn hiện đại hoá sao được"1 "Một nguồn gốc khác của căn bệnh quan liêu là, lâu nay trong các
cơ quan Đảng và Nhà nước, trong các cơ quan lãnh đạo của các xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp, thiếu các pháp quy hành chính chặt chẽ từ trên xuống dưới và chế độ trách nhiệm cá nhân, thiếu các quy định rõ ràng, chặt chẽ vê chức trách và quyền hạn đối với mỗi cơ quan cho tới mỗi cá nhân, đến nỗi từ việc lớn tới việc nhỏ thường chẳng có quy định nào đế mà tuân theo"2 "Hiệu suất thấp là do cơ cấu cồng kềnh, người nhiều hơn việc, tác phong íè me, nhưng càng chủ yếu hơn là do không phân biệt việc gì của Đảng, việc gì của nhà nước, có rất nhiêu việc Đảng làm thay nhà nước, có rất nhiều cơ quan Đảng
và nhà nước trùng lặp nhau" "Thực hiện bốn hiện đại hoá không thể không chú ý tới hiệu suất công tác Ngày nay thế giới tiến bộ ngày ngàn dặm, khoa học kỹ thuật lại càng như thế,’lạc hậu một năm thì khó mà đuổi kịp Cho nên phải giải quyết vấn đê hiệu suất"3,
1 Tình hình và nhiệm vụ trước mắt Xem s.đ.d., tr.2'27.
2. Cải cách chế độ lãnh đạo cua Đảng và Nhà nước Xem s.đ.d.,
tr 288.
3 Vê vấn đê cái cách thề chế chính trị Xem Văn tuyên Đặng
Tiều Bình, tiếng Trung, Nhà xuất bàn Nhân dận, 1993, quyền 3,
tr 179-180.
17
Trang 15c) " Không coi trọng lợi ích vật chất, vê lâu về dài không thể như thế được" "Giữ vửng nguyên tắc phân phối theo lao động Đó là vấn đê rất lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, mọi người phải động não suy nghĩ Trước đây ít chú ý kích thích vật chất"1 "Thực hiện chủ nghĩa bình quân, "ăn chung nồi" thì mãi mãi không cải thiện được đời sống của nhân dân, mãi mãi không động viên được tính tích cực"1 2 "Không đê xướng làm nhiều hưởng nhiều, không coi trọng lợi ích vật chất, đối với một số ít phần tử tiên tiến thì còn được chứ đối với đông đảo qùân chúng thì không như thế được, trong một thời gian ngắn thì còn có thể được chứ vê lâu về dài thì không thể như thế được"3 "Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích tập thể, lợi ích cục bộ phải phục tùng lợi ích toàn thể, lợi ích trước mắt phải phục tùng lợi ích lâu dài Chúng ta
đê xướng và thực hiện nguyên tắc này không có nghĩa
là không quan tâm tới lợi ích cá nhân, không chú ý tới lợi ích cục bộ, lợi ích trước mắt, chúng ta phải dựa theo nguyên tắc trù tín h thống nhất, quan tâm toàn diện
1 M ấy ý kiến về ph át triển công nghiệp Xem Văn tuyên Đặng
Tiếu Bình (1975-1982), tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân dân, 1983,
tr.30,
2 Giữ vững chủ nghía xã hội, giữ vững chính sách hoà bình Xem Vãn tuyển Đặng Tiều Bỉnh, tiếng Trung, Nhà xuất bân Nhân
dân, 1993, quyển 3, tr.157.
3 Giải phóng tư tường, thực sự cầu thị, đoàn kết nhất trí tiến
lèn Xem Văn tuyển Đặng Tiểu Bình (1975-1982), tiếng Trung, Nhà
xuất bản Nhân dân, 1983, tr.136.
18
Trang 16đê điêu tiết các quan hệ vê lợi ích"1.
d) Giá cà bị bóp méơ trái với quy luật giá trị "Giá
cà là vấn đê do lịch sử để lại Trước đây, giá ca đêu do nhà nước quy định Thí dụ, trong một thời kỳ dài, giá thu mua lương thực, các loại thực phẩm được quy định rất thấp Mấy năm nay đã có mấy fân tăng lên mà vẫn còn thấp Trong khi đó giá tiêu thụ ở thành phố không thế cao hơn được nữa, thế là giá mua cao hơn giá bán, nhà nước phải bù lỗ Cách làm trái với quy luật giá trị này một mặt không thê động viên được tính tích cực của nông dân, mặt khác lại chất lên vai nhà nước một gánh rất nặng, hàng năm phai chi bù giá hàng tỷ đông Như vậy, ngân sách nhà nước dùng vào xây dựng kinh
tế không còn là bao, dùng vào phát triển giáo dục, khoa học, văn hoá lại càng ít Do vậy, không giải quyết vấn
đê giá thì không thế chút bỏ được gánh nặng trang bị gọn nhẹ đê tiến lên" "Cai cách giá ca là cửa ai rất lớn, nhưng không thế không vượt qua cửa ải này Không vượt qua thì không có cơ sở để phát triển liên tục"3
e) Nhiều năm bế quan toả cảng, phải trả giá đắt
"Tổng kết kinh nghiệm lịch sử cho thấy, bế quan toả cảng là một nguyên nhân quan trọng khiến Trung Quốc
1 Giữ vững bốn nguyên tắc cơ ban Xem s.đ.d., tr 161-162.
2 Giải quyết tốt vấn đê giá ca, đây mạnh cai cách Xem Văn
tuyên Đặng Tiêu Bỉnh, tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân dân, 1993,
quyến 3, tr 262.
3 Nắm chắc thời cơ, đá}' mạnh cái cách Xem s.đ.d., tr.131.
19
Trang 17rơi vào tình trạng trì trệ lạc hậu Kinh nghiệm cho thấy đóng cửa để xây dựng thì không thể thành công, sự phát triển của Trung Quốc không thê tách khỏi thế giới"1
"Điều quan trọng là chớ có biến Trung Quốc thành một nước đóng cửa Áp dụng chính sách đóng cửa là điều rất bất lợi cho chúng ta, ngay cả tin tức củng không thông suốt"2
Phân tích sâu sắc các mặt nói trên trong thế chế truýên thống, đông chí Đặng Tiểu Bình kết luận: "So với chủ nghĩa tư bản, tính hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội biểu hiện ở chỗ có thể thực hiện cả nước là một bàn
cờ, tập trung được lực lượng, bảo đảm được trọng điểm Nhưng khuyết điếm là ở chỗ sử dụng thị trường không tốt, kinh tế không sống động"3 Chính từ những phán đoán duy vật, thực sự cầu thị ấy mà đông chí Đặng Tiểu Bình đã thai nghén tư tưởng lấy kinh tế thị trường thay cho kinh tế kế hoạch truỳên thống Quả thật, cái mà thể chế truỳên thống không có ấy lại có trong nền kinh
tế thị trường: doanh nghiệp có quyền tài sản rành mạch,
đa nguyên, phân tán, tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh là cơ sở vi mô của thể chế kinh tế thị trường; tham số giá cả chính xác là
1 Mục tiêu vi mô và chính sách căn bản của chúng ta Xem
s.đ.d., tr.48.
2 Phát biểu khi tiếp cán bộ cấp quàn đoàn trở lên cua bộ đội
giới nghiêm thủ đỗ Xem s.đ.d., tr.306.
3 Mười năm trước chuẩn bị tốt cho mười năm sau Xem s.đ.d.,
tr 16-17.
20
Trang 18phương tiện dỗ thị trường phản phối tài nguyên một cách hợp lý; còn động lực và áp lực bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi ích vật chất, là tiên đõ dô trên thị trường có cạnh tranh có hiệu qua Mơ cưa cũng là yòu cầu nội tại của nền kinh tế thị trường, sự lưu thông hàng hoá chĩ chịu sự chi phối của quy luật giá trị, không
bị hạn chế vê địa phương, cũng không bị hạn chế bởi biên giới quốc gia Như vậy mới có thể phát huy được cái tốt, tránh được điêu dở, mở rộng không gian phân phối tài nguyên, tối ưu hoá việc phân phối tài nguyên, thu được lợi ích so sánh trong trao đổi hàng hoá
1.3 Sử dụng cơ chế thị trường đê làm cho kinh tê' sống động
Sau Hội nghị toàn thê fân thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá XI, Trung ương Đảng đã ban hành một loạt chính sách đế đối nội thì làm cho kinh tế sống động, đối ngoại thì mở cửa Tuy khi ấy mục tiêu tổng thể về cải cách thể chế chưa rõ ràng, nhưng trong thực tiễn cải cách mở cửa thì đá đần đần áp dụng cơ chế thị trường vào đời sống kinh tế
Mở đường cho việc làm sống động hên kinh tế là cải cách, mà trước hết bắt đâu ở nông thôn Ở Trung Quốc, nhân khẩu nông thôn chiếm 8091 đông đảo nông dân có nguyện vọng và yêu cầu tha thiết đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất, xoá bỏ nghèo đói, mong mỏi cải tạo nông thôn Muốn xây dựng đất nước thì phải có lực lượng vật chất hùng hậu, mấu chốt là phải động viên
21
Trang 19và phát huy đây đủ tích cực cua họ Do vậy, đông chí Đặng Tiếu Bình nói: "Nói chung, nội dung cải cách nông thôn là áp dụng chế độ trách nhiệm, vứt bỏ cái lối "ăn cơm chung nồi", động viên tính tích cực của nông dân"1.Trước ngày cải cách, nông thôn rộng lớn ở Trung Quốc nhất loạt áp dụng thể chế công xã nhân dân, chính quyền và công xã hợp nhất, bất kế tình hình lực lượng sản xuất ra sao Công xã gộp quỳên hành chính và quyền hạn kinh tế làm một Dùng biện pháp hành chính đế quản lý kinh tế thì không thê tránh khỏi bệnh quan liêu và chỉ huy bừa bãi trái với quy luật kinh tế và quy luật tự nhiên Đã là chính quỳên và công xã hơp nhất thì mặc dù về danh nghĩa đại đội sản xuất và đội sản xuất là tổ chức kinh tế một cấp, nhưng thực tế thì lại phụ thuộc vê mặt hành chính đối với tổ chức kinh tế cấp trên, không có quýên hạn thích đáng, củng chẳng
có cách nào tránh được những việc làm sai trái, như cào bằng, điều cua nơi này cho nơi khác, và chỉ huy bừa bãi của tổ chức cấp trên Với hình thức kinh doanh tập trung thống nhất ấy, người ta chỉ có thể dùng cách bình công chấm điểm để đánh giá tình hình lao động của các thành viên lao động, rồi xác định số lượng hàng tiêu dùng mà mỗi cá nhân được hưởng khó tránh được chủ nghĩa bình quân trong phân phối "Ra đông thì như ong
vỡ tổ, lậm thì phải gào khản cổ", "góp mặt mà không
1 Vệ chính trị thì ph át triền dẫn chủ, vè kinh tẽ' thì thực hiện
cải cách Xem Văn tuyến Đặng Tiêu Bình, tiếng Trung, Nhà xuất
bản Nhân dân, 1993, quyển '3, tr 117.
22
Trang 20góp sức" là hiện tượng rất phô biến trong thê chó’ phân phối bình quản chu nghĩa, nông dán không có động lực phát triển san xuất Trong mười năm "Cách mạng văn hoá”, tư tương cực tả tác oai tác quái, đê nhấn mạnh thống nhất kinh doanh, người ta dưa ra khâu hiệu
"không chặn được các ngả đường lên chủ nghĩa tư ban thì không thế có được bước tiến lên chù nghĩa xã hội", thế là những mảnh đất phần trăm, nghê phụ gia đình, tất thảy đêu bị coi là "cái đuôi của chủ nghĩa tư bản", đất phần trăm bị thu sạch, nghé phụ bị cấm tiệt Vậy
là càng không thê phát huy được tính tích cực san xuất của nông dân, thu nhập càng giảm Muốn động viên được tính tích cực sản xuất của nông dán thì phải cải
cách thể chế kinh tế ở nông thôn Mũi nhọn cải cách
trước hết nhằm vào thể chế phân phối bình quản chủ nghĩa, cái trực tiếp làm hại lợi ích của nông dân, làm tổn thương tính tích cực của nông dân
Hội nghị toàn thế lan thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá XI đã khẳng định đất phần trăm cùa xã viên, nghề phụ gia đình, chợ nông thôn là bộ phận bổ sung cần thiết cho kinh tế xã hội chủ nghĩa, không ai được can thiệp bừa bãi, hội nghị còn vạch rõ: các tổ chức kinh tế các cấp của công xá phải thật sự thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, phải tính thù lao theo số lượng và chất lượng lao động, khắc phục chủ nghĩa bình quân Muốn thù lao theo số lượng và chất
lượng lao động trong sản xuất ở nông thôn chỉ có cách
là thù lao theo sản phẩm cuối cùng Đế thực hiện được
23
Trang 21thuận tiện, phải chia thành các đơn vị lao động nho, như vậy sẽ có thể khoán công đến tận tổ Năm 1978, cuộc thảo luận trong phạm vi cả nước về "thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý" đã giải phóng
tư tưởng cho các cán bộ cơ sở ở nông thồn, dấy lên phong trào tích cực, tìm tòi hình thức chế độ trách nhiệm thích hợp với sản xuất nông nghiệp Một số công
xã, đội sản xuất ở nông thôn các tỉnh An Huy, Tứ Xuyên, Quý Châu, Ninh Hạ, Thanh Đảo lặng lẽ áp dụng chế độ trách nhiệm Mùa xuân năm 1977, bị hạn hán đe doạ,
có đội sản xuất ở An Huy, như đội sản xuất Lưu Đài
thuộc công xã Tào Lão Tập ở huyện cổ Trân, đã khoán
sản phẩm tới hộ đối với một số cây trồng Kết quả là sản lượng cao không ngờ Thành công ở một nơi đã có hiệu ứng làm gương cho các nơi khác Tới cuối năm
1979, toàn tỉnh An Huy đã có 38.000 đội sản xuất khoán sản phẩm tđi hộ, chiếm 10% số đội sản xuất trong tỉnh Kết quả là sản lượng tăng lên một cách ngạc nhiên Tại những huyện có 85% số đôi sản xuất trở lên khoán sản phẩm tđi hộ, sản lượng lương thực năm ấy tăng từ 15- 43% so vđi năm trước, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân trong tỉnh là 6,9%, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân trong cả nước là 4,4% Do vậy, mặc dù cuộc tránh luận vê "phương hướng và sản lượng" vẫn đang diễn ra quyết liệt, nhưng đến cuối năm 1980, số đội sản xuất trong toàn tỉnh An Huy thực hiện hai khoán (khoán sản phẩm tứi hộ, khoán việc tói hộ) vẫn tăng vọt lên trên 70% Mùa thu năm ấy, cả nước đã có 20% số đội
24
Trang 22sản xuất-thực hiện hai khoán, có khoảng 200 triệu nhân khẩu (tương đương với số nhân khẩu nông nghiệp có thu nhập bình quân dưới 50 đông bấy giờ) kinh doanh theo chế độ khoán tới hộ.
Cải cách nông thôn chẳng những đã khiến lương thực và cây công nghiệp tăng mạnh, mà còn tạo ra loại hình doanh nghiệp hương trấn, một hình thức mới mang màu sắc Trung Quốc là nông dân rời đất không rời quê,
thay đổi kết cấu ngành nghề ở nông thôn Doanh nghiệp
hương trấn ra đời, ở nông thôn bỗng có nhiều ngành nghề (chủ yếu là công nghiệp) xuất hiện, kinh tế hàng hoá sôi động hẳn lên, giúp giải quyết vấn đê thừa sức lao động do năng suất lao động nông nghiệp tăng lên sau khi khoán sản phẩm tứi hộ, không còn tình trạng nông dân chi có một con đường là chạy ra thành thị,
họ bắt tay xây dựng hàng loạt thị trấn kiểu mới
Trong khi nông dân phát huy tinh thần sáng tạo tìm tòi các hình thức chế độ trách nhiệm thì Trung ương Đảng tiếp thu bài học kinh nghiệm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, đặc biệt là kinh nghiệm thay đổi trong khu vực kinh tế xã hội chù
nghĩa ở nông thôn; một mặt tôn trọng ý nguyện của
nông dân và thực tiễn mà họ đã sáng tạo ra, tạo ra môi trường chính trị, dư luận giải phóng tư tưởng đế nông dân tìm tòi, khẳng định và khơi gợi hơn nữa tinh thần sáng tạo của họ; mặt khác tích cực lãnh đạo hàng trăm triệu nông dân đi sâu cải cách toàn diện kinh tế nông thôn Trung ương Đảng liên tiếp ra thông tư khẳng định
25
Trang 23các hình thức chế độ trách nhiệm trong đó lấy hai khoán tới hộ làm chính đê chúng được hợp pháp hoá.
Theo đà cuộc cải cách ở nông thôn lấy chế độ khoán sản phẩm tới hộ làm trung tâm thu được kết quả rõ rệt, lực lượng sản xuất ở nông thôn được giải phóng mạnh
mẽ, sản xuất và lưu thông hàng hoá được khôi phục và phát triển nhanh chóng Đứng trước sự thật, lý luận vê hạn chế, xoá bỏ sản xuất hàng hoá và thị trường tự đổ
vỡ Người ta càng nhận ra rằng chỉ có kinh tế kế hoạch thì không đủ, cần phải bổ sung bằng sự điều tiết của thị trường
Tháng 11-1979, khi trao đổi với Phó tổng biên tập
"Bách khoa toàn thư Brétơn" của Mỹ, lân đâu tiên đông chí Đặng Tiểu Bình đè cập quan hệ giữa kinh tế kế hoạch và kinh tế thị trường Sau đó, năm 1980, tại hội nghị cán bộ do Trung ương triệu tập, đông chí Đặng Tiểu Bình vạch ra rằng: vê mặt phát triển kinh tế, chúng
ta "phát huy tác dụng điều tiết bổ trợ của thị trường dưới sự chí đạo của kinh tế kế hoạchyđó là con đường phù hợp với thực tế Trung Quốc, có thể nhanh hơn, tiết kiệm hơn"1 Mô hình cải cách mà đông chí Đặng Tiểu Bình thai nghén bấy giờ là "kinh tế kế hoạch là chính,
có kết hơp với kinh tế thị trường"2 Có thể nói rằng,
1 Tình hình vù nhiệm vụ trước mắt Xem Văn tuyển Đặng Tiếu
Bình (1975-1982), tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân dân, 1983, tr.211.
2 Trích yếu chuyên đê đông chí Đặng Tiêu Bình luận giãi về
xây dựng chu nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, tiếng Trung, Nhà
xuất bàn văn kiện của Trung ương, 1992, tr.95.
26
Trang 24lúc đầu đông chí chưa nghĩ rằng phai cai cách kinh tế
kế hoạch một cách căn bản, mà mới chỉ cho rằng sử dụng CƯ chế thị'trường nhiều hơn trên tiền đê thực hiện kinh tế kế hoạch
Năm 1981, báo cáo công tác cua chính phủ tại Hội nghị Tân t,hứ tư Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc vạch ra rằng: "Phương hướng cơ bán của công cuộc cảicách thê’ chế kinh tế ở nước ta phải là: phát huy tácdụng điều tiết bổ trợ của thị trường trên tiền đê giữ vững hên kinh tế kế hoạch xã hội chu nghĩa, khi hoạch định kế hoạch nhà nước phải tính toán tới và vận dụng quy luật giá trị; đối với các hoạt động kinh tế có tính chất toàn cục, quan hệ tới quốc kế dân sinh thì phảităng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất của nhànước; đối VỚI các hoạt động kinh tế cua các doanh nghiệp thì phai giao cho họ quỳên quyết định vởi mức độ khác nhau, đông thời mở rộng quỳên dân chủ quản lý doanh nghiệp của công nhân viên chức; thay đổi cách quản lý chỉ đơn thuần dựa vào biện pháp hành chính, phải kết hợp biện pháp kinh tế với biện pháp hành chính chú ý
sử dụng các đòn bầy kinh tế, pháp quy kinh tế đê quản
lý kinh tế"
Năm 1982, báo cáo của Đại hội XIII của Đảng vạch
ra rằng: "Quán triệt một cách đúng đắn lấy kinh tế kế hoạch làm chính, lấy sự điều tiết của thị trựờng làm bổ trợ, đó là vấn đề có tính chất căn bàn trong công cuộc cải cách thê chế kinh tế" "Chúng ta áp dụng kinh tế
kế hoạch trên cơ sớ chế độ công hữu, Sàn xuất và lưu thông có kế hoạch là chủ thể cua nền kinh tế quốc dân
27
Trang 25Trung Quốc Đồng thời, cho phép không đặt kế hoạch cho việc sản xuất và lưu thông một số san phẩm, bộ phận sản phẩm này do thị trường điều tiết, tức là tuỳ theo tình hình cụ thể trong các thời kỳ khác nhau, nhà nước có kê' hoạch thống nhất đế cho quy luật giá trị điều tiết một cách tự phát trong phạm vi nhất định Bộ phận này là bộ phận bổ sung cho sản xuất và lưu thông
có kế hoạch, là bộ phận lệ thuộc, thứ yếu, nhưng lại cần thiết, có ích"
Điều đó chứng tỏ, vê quan hệ giữa kế hoạch và thị trường, ở mức độ nhất định, chúng ta đâ thấy được khuyết tật của thế chế truỳên thống, cho phép lấy cơ chế đìèu tiết của thị trường làm "bộ phận lệ thuộc, thứ yếu, nhưng lại cần thiết, có ích", có tác dụng bổ sung cho kinh tế kế hoạch, bộ phận chiếm vai trò chủ thể, dùng phương thức khoanh vùng, tức là dành ra một phạm vi nhất định để cho thị trường điều tiết, từ đó bước một bước đi đâu tiên thoát khỏi quan niêm truyền thống Song, cũng cần thấy rằng, sự kết hợp này vẫn chưa động chạm tới bộ khung của kinh tế kế hoạch, cọn phải cải cách sâu sắc hơn nữa
2 Kết hợp kinh tế k ế hoạch với kinh tế th ị trường
Công cuộc cải cách diên ra ngày càng sâu sắc Năm
1984, "Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chế kinh tế" của Hôi nghị toàn thể Tân thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá XII đã vạch
Trang 26ra phương hướng phát trien của công cuộc cai cách thê chế kinh tế Quyết định viết:**Cải cách thế chế kế hoạch trước hết phải thoát khoi quan niệm truyền thống đối lập kinh tế kế hoạch với kinh tế hàng hoá, phải thấy được rằng kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa phải tự giác dựa vào và vận dụng quy luật giá trị, là kinh tế hàng hoá có kế hoạch dựa trên cơ sở công hữu Phát triển đây đủ kinh tế hàng hoá là giai đoạn không thề
bỏ qua đế phát triển nền kinh tế xã hội" Công lao lý luận lđn nhất của "Quyết định" là đả thoát khỏi quan niệm truỳên thống đối lập kinh tế kế hoạch với kinh tế hàng hoá Quan niệm truyền thống cho rằng, kinh tế xã hội chủ nghĩa là kinh tế kế hoạch và kinh tế hiện vật, kinh tế hàng hoá là kinh tế tư bản chủ nghĩa Quan niệm như vậy là phủ định cơ chế điều tiết cơ bản của kinh tế hàng hoá - vai trò và tác dụng của cơ chế thị trường trong nên kinh tế xã hội chủ nghĩa Sau này tuy
đã để cho cơ chế thị trường có tác dụng điều tiết trong phạm vi do kế hoạch quy định, nhưng vẫn chưa coi sự dieu tiết của thị trường là vật nội tại của kinh tế xã hội chủ nghĩa Bây giờ nói rằng kinh tế xã hội chủ nghĩa
là kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa, có nghĩa là thừa nhận rằng kinh tế hàng hoá và cơ chế điều tiết của nó
là vật nội tại của kinh tê' xã hội chủ nghĩa Đó là bước tiến lớn Đồng chí Đặng Tiểu Bình đánh giá cao vai trò lịch sử của "Quyết định" ấy Đồng chí nói: "Tôi có ấn tượng là đã viết ra bản thảo ban đâu vê chính trị kinh
Trang 27tế học chính trị kinh tế học kết hợp nguyên lý cơ ban cua chủ nghĩa Mác với thực tiền xã hội chủ nghĩa ờ Trung Quốc"1.
2.1 Cải cách là một cuộc thử nghiệm
Cuối những năm 70 đâu những năm 80, thành quả cải cách nông thôn đã khiến lòng tin từ trên xuống dưới
ở trong cả nước tăng lên gấp bội Sau khi Quỵết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được công
bố cải cách từ nông thôn lan ra thành thị Một cuộc cải cách với phạm vi rộng lớn hơn, với nhiều lĩnh vực hơn bắt đâu Đó cũng là một cuộc thử nghiêm kinh tế thị trường trong phạm vi rộng lớn hơn Cuộc cải cách
"theo hướng thị trường" được đẩy mạnh trên nhiều mặt
"Cải cách ở thành thị thực tế là cải cách toàn bộ thế chế kinh tế, đó là một sự mạo hiểm lớn"2
Thực chất cải oách thế chế kinh tế ở Trung Quốc
là cải tạo thể chế kế hoạch truỳên thống để nó chuyển hoá từ chò lấy kinh tế tự nhiên, kinh tế hiên vật làm
cơ sở, tập trung cao độ, gạt bỏ thị trường, theo hướng
sử dụng cơ chế thị trường, theo đòi hỏi của hên kinh
tế thị trường, của quy luật giá trị Đó là cuộc cải cách theo hướng thị trường trong đó chuyên từ chỗ gạt bỏ, hạn chế tác dụng của cơ chế thị trường đối với việc
1- Phát biêu tại Hội nghị lần thứ ba Uy ban cố vấn Trung ương Xem Ván tuyên Đặng Ttẽu Bình, tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân
dân, 1993 quyến 3, tr.83.
2 Cái cách mơ cưa là cuộc thư nghiệm lớn Xem s.đ.đ., tr.130.
Trang 28phân phối tài nguyên sang phát trièn và tâng cường tác dụng cua cơ chế thị trường Cuộc cai cách này chu yêu tiến hành ở bốn lĩnh vực sau:
Một /à, kiên trì lấy chế độ công hữu làm chủ thể
nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển Bên trong khu vực kinh tế công hđu đã có những điêu chinh với các mức độ khác nhau Như giao quyền chia lãi cho các doanh nghiệp nhà nước ở thành thị nhằm thay đói tình trạng doanh nghiệp là vật phụ thuộc cua cơ quan hành chính cấp trên, đẻ họ trở thành người san xuất và kinh doanh hàng hoá xã hội chủ nghĩa tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm đối với kết qua san xuất và kinh doanh,
tự cải tạo, tự phát triển Cuộc cải cách này đã tìm ra kết cấu sở hữu và phương thức kinh doanh thích ứng với c,ơ chế thị trường, xác định rõ ràng hơn nữa chu thề trực tiếp gia nhập thị trường, đông thời cũng tạo ra không khí cạnh tranh giữa các thành phán kinh tế
Hai là, trong khi giảm mạnh các chi tiêu pháp lệnh
thì đông thời sử dụng cả hai thế chế kế hoạch và thị trường, gây đựng và phát triển thị trường các yếu ,tố sản xuất, tăng phạm vi và tỷ trọng điều tiết cua thị trường Cuộc cải cách này đã tìm ra được hình thức kết hợp có hiệu quả kế hoạch và thị trường, tạo thêm môi trường thị trường
Ba là, ra sức phát triển kinh tế theo mô hình hướng
ngoại Hàng hoá không có biên giới quốc gia, chúng đòi hỏi phá bỏ hàng rào phong toả giữa các khu vực, lập ra
Trang 29các đặc khu kinh tế, khu phát triển, mớ cứa các thành phố ven biên, tích cực phát triến các doanh nghiệp chung vốn giữa trong nước và nước ngoài, nhập kỹ thuật
và thiết bị tiên tiến của nước ngoài, tiếp nhận kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, gia tăng lĩnh vực và không gian phát triển kinh tế thị trường
Bốn là, trong khi đẩy mạnh cải cách theo hướng thị
trường thì đông thời chúng ta đã tìm cách giảm bớt sự quản lý trực tiếp đối với kinh tế vi mô, hoàn thiện sự quản lý lấy sự điêu tiết gián tiệp làm chính, kết hợp sử dụng các đòn bẩy kinh tế, pháp luật và biện pháp hành chính Cùng một lúc triển khai cải cách giá cả, cải cách tài chính tiền tệ, cải cách thuế, cải cách ngoại thưomg nhằm đáp ứng yêu cầu nội tại cua cơ chế thị trường
2.2 Mở cửa cũng là một cuộc thử nghiệm cần không ngừng tổng kết kinh nghiệm, kiên định tiến lên
Những nét cơ bản về mở cửa ra nước ngoài của Trung Quốc hình thành vào giữa những nám 80 Đặc điểm mở cửa ở giai đoạn này là lấy bốn đặc khu kinh tế, như Thẩm Quyến, Tàm quân tiên phong", lấy các thành phố mở cửa ở ven biển làm cốt cán, lấy các vùng mở cửa ở ven biển làm vành đai phát triển, từng bước phát triển từ Nam sang Bắc Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta trong việc phát triển kinh tế theo mô hình mở cửa, chấp nhận cuộc thách thức của cuộc cách mạng kỹ thuật mới trong phạm vi thế giới
Đông chí Đặng Tiếu Bình là người tích cực đê xướng,
Trang 30khuyến khích và ung hộ việc thành iập các đặc khu
kinh tế và mơ cửa các thành phố ven biên Đóng chí
nói: "Chúng ta áp dụng nhiêu hình thức mơ cưa ra nước ngoài, gôm xây dựng các đặc khu kinh tế, mớ cửa mười bốn thành phố ven biển"1 Trong đó, dặc khu kinh tế là thử nghiệm đâu tiên của Trung Quốc trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường
Lấy Thầm Quyến làm ví dụ Thấm Quyến là đặc khu kinh tế đầu tiên ở Trung Quốc do đông chí Đặng Tiểu Bình đích thân thiết kế, chỉ đạo Đồng chí nói: "Lúc đâu Quảng Đông đê nghị lập ra đặc khu tôi đông ý và nói rằng gọi là đặc khu kinh tế" Đặc khu kinh tế áp dụng chính sách kinh tế và thể chế quan lý kinh tế đặc thù
Vê xây dựng đặc khu kinh tế lấy việc thu hút, sử dụng vốn nước ngoài làm 'chính; về chế độ sở hữu thì áp dụng kết cấu đa nguyên lấy chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa làm chính; vê hoạt động kinh tế thì lấy sự điều tiết của thị trường làm chính, dưới sự chỉ đạo, điều tiết vĩ mô của nhà nước, đối với đâu tư của các hãng nước ngoài thì ưu đãi và tạo thuận lợi; đặc khu kinh tê' có quýên quản lý kinh tế khá lớn Bấy giờ, môi trường và những điều kiên này đã giúp cho Thẩm Quyến mạnh dạn thử nghiệm cải cách thể chế kinh tế theo hướng thị trường
Vè mặt cải cách chế độ quýên tài sản và chuyển đổi
cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp, Thẩm Quyến
1 Đẩy mạnh cóc bước cai cách Xem Vãn tuyến Đặng Tiểu Binh,
tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân dân, 1993, quyến 3, tr.239.
33
Trang 31tham khao theo loại doanh nghiệp có ba nguồn vốn, học tập và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm về cơ chế vận hành và quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp phương Tây vào việc cải tạo thê chế quản lý và cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, nâng cao được trình độ quản lý và kinh doanh của các doanh nghiệp Năm 1987 họ đi đầu cả nước trong việc thành lập tổ chức quản lý tài sản nhà nước - công ty quản lý đâu tư, rút chức năng quản lý tài sản nhà nước khỏi cơ quan quản lý hành chính của nhà nước Đồng thời, cũng
đi đâu cả nước trong việc thí điểm cải tạo theo chế độ
cổ phần
Vê mặt gây dựng thị trường, Thẩm Quyến cũng đã bước đâu hình thành được một hệ thống thị trường tràn trê sức sống Đồng thời, vê cơ bản họ thả nổi giá, trừ một số ít mặt hàng và các khoản thu họ áp dụng giá có kiểm soát ra, còn lại đa số các hàng hoá đêu do quy luật giá trị và quan hệ cung cầu hình thành mức giá, vê cơ bản đã hình thành cơ chế giá lấy giá do thị trường hình thành làm chính
Vê các mặt chuyển đổi chức năng của nhà nước và cải cách phương thức điều tiết kinh tế, Thẩm Quyến giao quỳên theo hệ thống dọc, phân quỳên theo hệ thống ngang, nhà nước đã dần dân chuyển từ chỗ trực tiếp diều tiết kinh tế sang điều tiết gián tiếp là chính, sử dụng nhiều hơn các biện pháp kinh tế như thuế, tài chính, ngoại thương và chính sách ngành để điều tiết thị trường, hướng dẫn các doanh nghiệp, bước đâu đã
Trang 32tách chức nâng nhà nước ra khoi chức năng doanh nghiệp.
2.3 Kết }ựỉp kê hoạch V()i thi trưtmg cang giai phóng được lực lượng sản XI Lất
Từ năm 1984 đến năm 1988, cuộc cai cách theo hướng thị trường có bước tiến triển lớn Thành quả cua cuộc cải cách này chủ yếu biêu hiện ư chỗ thè chế kinh
tế và phương thức vận hành tiến bộ theo hướng thị trường: theo đà cải cách chế độ sơ hữu và việc hình thành tình hình nhiều thành phần kinh tế cung tôn tại trong đó lấy chế độ công hữu làm chủ thế nhà nước giảm kế hoạch pháp lệnh và giam điêu tiết trực tiếp, tăng kế hoạch có tính chất hướng dẫn và chức năng, tác dụng điều tiết của thị trường Trong các mặt sản xuất công nông nghiệp, lưu thông vật tư hàng hoá, xác định giá cả, mậu dịch đối ngoại, tài chính tiên tệ, việc làm và phân phối thu nhập, tỷ trọng điều tiết của thị trường tăng lên không ngừng, thậm chí có tác dụng chủ đạo trong một số lĩnh vực
Tiến trình cải cách theo hướng thị trường cung cấp cho mọi người những tư liệu mới, rất phong phú đê nhận thức tốt hơn tác dụng của thị trường trong điều kiện
xã hội chủ nghĩa, khiến mọi người thấy rõ ràng trong các lĩnh vực kinh tế - kinh tế nông nghiệp, kinh tế tư doanh cá thể, kinh tế hùn vốn trong và ngoài nước, doanh nghiệp hương trấn, do có bước đi cải cách nhanh mạnh, mở cửa, cơ chế thị trường có tác dụng điều tiết chủ yếu cho nên đêu có sức sống kinh tế mạnh mẽ; ở
Trang 33những nơi nào, như Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang, Giang Tô, Sơn Đông, phát huy đây đủ tác dụng điều tiết của thị trường, thì ở nơi đó có thể tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ Người ta củng thấy hiện tượng trong khu vực kinh tế nhà nước "hễ buông ra là liền sống động, hễ quản là cứng đờ", và những nơi xa lánh thị trường hơn, hoặc các nhân tố thâm nhập vào thị trường
ít hơn, sử dụng cơ chế thị trường kém hơn thì kinh tế phát triển tương đối chậm
Đứng trước tình hình một mặt thì thí điểm cải cách theo hướng thị trường khiến kinh tế phát triển với tốc
độ cao, một mặt thì quan niệm của nhiều nơi, nhiều người vẫn bị quan niệm truyền thống và thể chế truyền thống trói buộc, không cải cách, tháng 10-1985 và tháng 2-1987 đông chí Đặng Tiểu Bình nêu ra qưan điểm cho rằng kế hoạch và thị trường đêu là phương pháp phát triển lực lượng sản xuất Khi trưởng đoàn đại biểu cấp cao các nhà doanh nghiệp Mỹ hỏi giữa kinh tế thị trường
và chế độ xã hội chủ nghĩa có mâu thuẫn tiềm tàng rất khó giải quyết hay không, đông chí Đặng Tiểu Bình nói:
"Giứa chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường không có mâu thuẫn cơ bản Vấn đè là dùng phương pháp nào thì mới phát triển lực lượng sản xuất một cách mạnh mẽ hơn Trước đây chúng tôi áp dụng kinh tế kế hoạch, nhưng thực tiễn nhiều năm cho thấy xét trên ý nghĩa nào đó, chỉ áp dụng kinh tế kế hoạch thì sẽ trói buộc
sự phát triển của lực lượng sản xuất Kết hợp kinh tế
kế hoạch với kinh tế thị trường thì sẽ giải phóng được
Trang 34lực lượng san xuất,, đây mạnh kinh tố phát triôn"1 Sau này, khi trao đổi với một số dông chí lánh đạo trong Trung ương, dõng chí Đặng Tiêu Bình lại một Tân nữa nói rằng: "cớ sao hễ nói tới thị trường là liền cho rằng
đó là chủ nghĩa tư bản, chỉ có kế hoạch mới là chu nghĩa
xã hội? Kế hoạch và thị trường đêu là phương pháp ca Một khi có lợi cho phát triển lực lượng sản xuất thì có thể áp dụng được Nó phục vụ chủ nghĩa xã hội thì là của chủ nghĩa xã hội, phục vụ chủ nghĩa tư bản thì là của chủ nghĩa tư bản"2
Trong một thời gian dài trước, đây, do bị quan niệm truyền thống trói buộc, chúng ta cho rằng kinh tế kế hoạch là đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội, đối lập với cạnh tranh thị trường và tình trạng vô chính phủ trong hên sản xuất tư bản chủ nghĩa Do vậy, mặc
dù đã thừa nhận khái niệm kinh tế hàng hoá xã hội cbủ nghĩa, người ta vẫn áy náy, e ngại kinh tế thị trường tăng lên thì sẽ sinh ra chủ nghĩa tư ban, khó thoát khỏi
sự trói buộc vê tư tưởng, không coi kinh tế kế hoạch và kinh tế thị trường là phạm trù thuộc chế độ cơ bản của
xã hội Đồng chí Đặng Tiểu Bình cho rằng, kế hoạch và thị trường đêu là phương tiện tố chức hên sản xuất lớn
xã hội hoá, đêu là phương pháp phát triển lực lượng sản
1 Giữa chủ nghĩa xã hội và kinh tề thị trường không có mâu
thuẫn cơ bản Xem Vãn tuyên Đặng Tiêu Bình, tiếng Trung, Nhà
xuất bản Nhân dân, 1993, quyền 3, tr.148.
2 K ế hoạch và thị trường đêu là phương pháp phát triền lực
lượng sàn xuất, xem s.đ.d., tr.203.
Trang 35xuất Điều đó đả phá vỡ quan niệm truyền thống, mờ đường cho việc xây dựng thể chế kinh tê thị trường xã hội chủ nghĩa.
Năm 1987, Đại hội XIII của Đảng đã vạch ra rằng thể chế kinh tế hàng hoá có kế hoạch xã hội chủ nghĩa
là "thể chế thống nhất nội tại giữa kế hoạch và thị trường", đại hội cúng đưa ra quyết định xây dựng cơ chế vận hành kinh tế mới trong đó", nhà nưđc điều tiết thị trường, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp" Tháng 3-
1988, tại Hội nghị Đại hội đại biểu nhân toàn quốc khoá VII, báo cáo công tác của Chính phủ lại một lân nữa tuyên bố mục tiêu của thế chế này
Từ Đại hội XII đến Đại hội x m của Đảng, từ chỗ
"kinh tế kế hoạch là chính, sự điều tiết của thị trường
là bổ trợ" tói chỗ "kế hoạch và thị trường có sự thống nhất nội tại" là một bước tiến về nhận thức đối với quan
hệ giữa kế hoạch và thị trường Điều đó biểu hiện ở chỗ: 1) Vạch ra rõ ràng rằng sự điều tiết bằng kế hoạch và
sự điều tiết của thị trường là hai hình thức và phương tiện vận hành của nền kinh tế hàng hoá xã hôi chủ nghĩa, cả hai đêu bao trùm toàn xã hội, từ đó lân đâu tiên đã lý giải tương đối rành mạch quan hệ giữa hai phương tiện điều tiết kinh tế đối với toàn bộ hình thái kinh tế'x ã hội chủ nghĩa; 2) Lần đâu tiên vạch ra ĩĩiột cách rõ.ràng công tác kế hoạch phải được xây dựng trên
cơ sở trao đổi hàng hoá và quy luật giá trị, đó là nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện kết hợp sự điều tiết
Trang 36bằng kế hoạch và sự điêu tiết cùa thị trường; 3) Một Tân nữa nhấn mạnh không thê đánh đông sự điêu tiết, bằng kế hoạch với kế hoạch pháp lệnh, đã vạch ra rằng phải quá độ theo hướng lấy quản lý gián tiếp làm chính Điêu đó đã cung cấp căn cứ lý luận và chỗ dựa chính sách cho việc cải tạo thể chế kế hoạch truỳên thống, xây dựng thể chế quản lý mới là kết hợp một cách hứu
cơ kế hoạch với thị trường Mô hình mục tiêu do Đại hội Đảng đê ra này hoàn toàn thống nhất với "quan diêm phương tiện" và "quan điếm kết hợp" mà đông chí Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh trong thời kỳ ấy Bấv giờ thị trương không còn chỉ là cái bổ sung ngoài thế chế kế hoạch nữa, mà là bộ phận tổ thành hữu cơ cũa cơ chế vận hành trong nền kinh tế hàng hoá công hứu Như vậy, sản xuất và lưu thông trong xã hội đêu được tiến hành theo thế chế kết hợp chặt chẽ hai loại điêu tiết với nhau Mục tiêu cải cách theo hướng thị trường trở nên rõ ràng hơn trước
3 Kinh tế th ị trường xã hội chủ nghĩa
Sau Đại hội XIII của Đảng, công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đứng trước một số tình hình mới, vấn đê mới Sau đó mấy năm, trong và ngoài nước nổ ra một loạt sự kiện quan trọng Những đìêu đó đã thôi thúc đông chí Đặng Tiếu Bình tổng kết, đánh giá toàn diện thực tiễn cải cách từ Hội nghị làn thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá XI tới bây giờ Nếu nói rằng, từ giữa những năm 80 trử vê trước, đông chí Đặng Tiểu
Trang 37Ẹình chu yếu chỉ nói suy nghĩ của mình về vấn đê kê hoạch và thị trường trong khi tiếp khách nước ngoài, thì cuối những năm 80 đến đâu những năm 90, những Tân đông chí nói về vấn đê kế hoạch và thị trường đêu
là nói khi trao đổi với các đông chí phụ trách trong Đảng, Nhà nước và khi đi thị sát ở các 'địa phương Trong thời gian này, phạm vi mà đông chí nghĩ tới càng rộng, vấn đê nghĩ tới càng nhiều , càng cụ thể, lý giải
vê kinh tế thị trường càng hoàn chỉnh Có thể nói rằng,
trải qua hơn mười năm cải cách, mọi người dân đần đã nhận thấy và tiếp nhận tính tấ t yếu và tính khả thi của thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
3.1 Cải cách khống được dừng lại, dừng lại sẽ khổng
có lối thoát
Giữa lúc mùa xuân chuyển sang mùa hè năm 1989,
ở Trung Quốc nổ ra vụ động loạn chính trị Sau khi dập tắt vụ đòng loạn, Trung ương Đảng không vì thế mà thay đổi quyết định lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm
và cải cách mở cửa Đồng chí Đặng Tiểu Bình vạch ra rằng đường lối, phương châm, chính sách vạch ra từ Hội nghị làn thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá XI trở đi đêu đúng, "Một trung tâm, hai điểm cơ bản" đêu đúng, phải kiân định tiếp tục thực hiện Đảng ta không cho phép cơn bão táp chính trị lớn ấy quấy phá phán đoán đúng đắn về tình hình cải cách mở cửa Điêu đó chứng tỏ Đảng đã vững vàng vê chính trị, thành thục
vê lý luận
Sau năm 1989, tình hình th ế giới thay đổi nhanh,
Trang 38Đông Âu sụp đô Liên Xô tan rã, từ chỗ dối kháng giữa hai cực bá quỳên chuyên sang đa cực hoá Đông chí Đặng Tiểu Bình và Trung ương Đảng đả ý thức được một cách đây đủ rằng đây là cơ may hiếm có đê Trung Quốc đẩy mạnh công cuộc cải cách mở cửa và thực hiện hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa Đầu nhứng năm 90, khi trao đổi với một số đông chí phụ trách trong Trung ương, dòng chí Đặng Tiểu Bình vạch ra rằng: "Nhìn toàn cục, bất kể có những thay đổi như thế nào, chúng ta phải thật sự nắm thật chắc mười năm xây dựng này, không được bỏ lỡ Trong mười năm này chúng ta có thể thực hiện tăng trưởng kinh tế gấp đôi Tân thứ hai, đó
là thắng lợi phi thường của chúng ta", "phải nắm chắc thời cơ, quyết sách kịp thời"1 Muốn nắm vững thời cơ thì phải cải cách thế chế kinh tế sâu sắc hơn nữa, áp dụng hình thức kinh tê' thị trường, đón nhận thách thức trên thị trường thế giới và trong cạnh tranh quốc tế.Thực tiễn cụ thê của công cuộc cải cách bấy giờ cho thấy, tuy Đại hội XII của Đảng đã đê ra thế chế có sự thống nhất nội tại giữa kế hoạch và thị trường và cho rằng tác dụng của kế hoạch và thị trường đêu bao trùm lên hoạt động kinh tế trong toàn xã hội, nhưng vê hình thức kết hợp cụ thể thì lại có mâu thuẫn và có bất đông
về nhận thức, đưa ra nhiều mô hình lý luận Như quan điếm của "thuyết điều tiết hai lân" Theo quan điểm này
1 Tỉnh hỉnh quốc tế với vấn đê kinh tế Xem Vãn tuyến Đặng
Tiểu Bỉnh, tiếng Trung, Nhà xuất bản Nhân dàn, 1993, quyển 3, tr
354-355.
Trang 39thì thị trường điêu tiết Tân thứ nhất các hoạt động cua nền kinh tế quốc dân, trọng điểm cua Fan điều tiết này
là giải quyết việc phân phối tài nguyên cho tốt và vấn
đê hiệu suất vận hành kinh tế; trên cơ sở đó, kế hoạch điều tiết Fan thứ hai, trọng điếm của Fan điều tiết này
là giải quyết vấn đê công bằng xã hội và vấn đê phối hợp lợi ích Có một loại quan điếm khác gọi là "thuyết cấp độ" Theo quan điểm này thì chia nền kinh tế quốc dân thành cấp độ kinh tế vĩ mô và cấp độ kinh tế vi
mô Điêu tiết cấp độ kinh tế vĩ mô thì chủ yếu là quản
lý kế hoạch gián tiếp; điều tiết đối vứi cấp độ kinh tế
vi mô thì chủ yếu do thị trường điều tiết dưới sự chỉ đạo của kế hoạch Còn một loại quan điểm khác gọi là
"thuyết luân phiên" Quan điểm của thuyết này cho rằng,
do bị chế ước bởi nhiêu nhân tố, như trình độ phát triển lực lượng sản xuất, tình hình phát triển của kinh tế hàng hoá, và tình hình gây dựng thị trường, thê chế kê' hoạch và mức đô cải cách, cho nên phương thức kết hợp
kế hoạch với thị trường không thể hễ kết hợp là được ngay mọi việc, mà là có tính dao động, tính giai đoạn
và tính tiệm tiến Bởi vậy, sự kết hơp ấy vê đại thể được tiến hành theo thứ tự luân phiên: lấy sự phối hợp theo bản Fề làm khởi điểm, từ đó quá độ lên kết hợp ba hình thức quản lý là kế hoạch pháp lệnh, kế hoạch hướng dẫn và điều tiết của thị trường, đê cuối cùng đạt được
sự kết hợp thẩm thấu vào nhau, hoà tan vào nhau Tuy những quan điểm này đêu có chỗ hợp lý, nhưng vì đêu
chi dừng lại ở biện pháp điêu tiết, chứ không đi vào thê
chê kinh tế, do vậy, chúng khó giải quyết được vấn đê
42
Trang 40liên kết kế hoạch và thị trường trong quá trình thay đôi thê chế Thí'dụ: do việc cải cách thê chế kế hoạch và việc gây dựng cơ chế thị trường, hệ thống thị trường chưa đạt tới mục tiêu dự kiến, sự liên kết giữa kế hoạch
và thị trường có một "khoảng trống", làm cho sự vận hành hên kinh tế quốc dân bị hụt hẫng với mức độ nhất định; nhà nưđc can thiệp vào kinh doanh dưới vai trò biến tướng, doanh nghiệp phải gánh vác các đảm phụ
xã hội, "kinh tế chư hầu" phát sinh trong khoán ngân sách địa phương, sự "nhầm chỗ" trong việc liên kết giữa
kế hoạch và thị trường mà đặc trưng là điều tiết lung tung nảy sinh từ chế độ hai giá; do kế hoạch hướng dẫn không có hình thức thực thi có hiệu lực và các điều kiện đồng bộ với nhau, cho nên trong thực tiễn không biến thành kế hoạch pháp lệnh thì củng là hứu danh
vô thực, mà đó chính là sự "chuyển chỗ" giữa kế hoạch
và thị trường; do không có hệ thống bảo hiểm xã hội có tính chất tổng hợp và các điều kiện bảo đảm về pháp chế, có nhiều "chỗ trống" trong việc liên kết kế hoạch
và thị trường Tất cả những điều đó nói lên rằng, cần
có một mục tiêu cải cách thể chế rõ ràng vê tính chất
để chỉ ra hướng tiến của sự liên kết giữa kế hoạch và thị trường Nếu không vẫn khó giải quyết tốt quan hệ giữa kế hoạch và thị trường
3.2 Việc xác định mục tiêu thể chế kinh té' thị trường
xã hòi chủ nghĩa
Việc xử lý không thoả đáng quan hệ giữa kế hỡạch
và thị trường đã trở thành trở ngại chủ yếu bước phát