1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị tài chính Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

63 546 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 277,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chi tiêu của hộ có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập, khi thu nhập thay đổithì chi tiêu cũng thay đổi qua đó dẫn đến sự thay đổi trong các khoản tiết kiệm của hộ.Tiết kiệm đóng vai trò

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong pháttriển kinh tế tuy nhiên đời sống của người dân vẫn chưa thực sự được cải thiện, đặcbiệt là người dân ở vùng nông thôn Hầu hết các hộ gia đình ở khu vực nông thôn cónguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, một bộ phận nhỏ có nguồn thu nhập từ buônbán, làm thuê, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Một đặc trưng của sản xuất nông nghiệp

là chỉ mang tính thời vụ dẫn tới nguồn thu nhập của các hộ nông dân thường không ổnđịnh Chi tiêu của hộ có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập, khi thu nhập thay đổithì chi tiêu cũng thay đổi qua đó dẫn đến sự thay đổi trong các khoản tiết kiệm của hộ.Tiết kiệm đóng vai trò quan trọng trong việc tái đầu tư nhưng do sản xuất nông nghiệpcòn manh mún, các hộ vẫn còn nghèo về vật chất- kỹ thuật, yếu kém về trình độ,…nênhầu hết thu nhập của hộ chưa tương xứng với sức bỏ ra Thực tế này dẫn tới tình trạngphần lớn hộ nông dân có khoản tiết kiệm không đủ bù đắp thêm cho các chi phí sảnxuất phát sinh làm cho nhiều hộ nông dân rơi vào tình trạng thiếu vốn Mặt khác, nôngnghiệp, nông thôn là khu vực sinh lời thấp, chi phí cao, nhiều rủi ro khách quan (thiêntai, dịch bệnh, khả năng trả nợ của khách hàng thấp…) nên luồng vốn đầu tư, đặc biệt

là vốn thương mại đổ vào khu vực này rất hạn chế Nguồn cung vốn từ các tổ chức tíndụng không đủ đáp ứng nhu cầu vốn của hộ, dẫn tới thực trạng các hộ nông dân phải

đi vay từ các nguồn tín dụng phi chính thức với lãi suất rất cao Thực tế này đang diễn

ra ở rất nhiều vùng nông thôn Việt Nam nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng

Nhận thấy những vấn đề đó nên việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương” là cấp thiết và có ý nghĩa thực tế

2 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về vốn sản xuất của hộ nông dân

Phân tích thực trạng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân tại xã An Phụ,huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương để tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chếtrong huy động vốn sản xuất của hộ nông dân

Đề xuất các giải pháp và kiến nghị để nâng cao khả năng huy động vốn sản xuấtcủa hộ nông dân trên địa bàn xã An Phụ

Trang 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cách tiếp cận của hộ nôngdân với nguồn vốn chính thức và với nguồn vốn phi chính thức thông qua việcphân tích thu nhập, chi tiêu, đầu tư và tiết kiệm của hộ để làm rõ khả năng huyđộng vốn của hộ nông dân trên địa bàn xã An Phụ

• Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài chọn 50 mẫu để quan sát về “Khả năng huy động vốn sản xuấtcủa hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương”

Đề tài nghiên cứu thực trạng huy động vốn của hộ nông dân năm 2011

và đề xuất các giải pháp để tăng cường huy động vốn sản xuất của hộ nông dânđến năm 2015

Thời gian thu thập thông tin cho nghiên cứu bắt đầu từ 18/3/2012 đến19/3/2012

Địa điểm: xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sơ bộ: Phỏng vấn sâu với 2 hộ nông dân được chọn thuận tiện việc

phỏng vấn, ý kiến của các nông dân đưa ra được ghi lại để làm cơ sở cho việc thiết kếbảng câu hỏi Phỏng vấn trực tiếp 3 hộ nông dân dựa trên bảng câu hỏi đã được thiết

kế sẵn, mục đích của việc phỏng vấn này là phát hiện ra những sai sót

Nghiên cứu chính thức: Dựa trên bảng câu hỏi chính thức tiến hành thu thập

dữ liệu sơ cấp thông qua quá trình phỏng vấn trực tiếp đến từng nhà 50 hộ tại khu vực

xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

• Sử dụng phương pháp chọn mẫu: chọn hộ điều tra được thực hiện ngẫu nhiênvới 20 mẫu ở chợ Huề Trì, 30 mẫu khác được chọn thuận tiện ở những nông hộthuộc xã

• Sử dụng phương pháp hồi qui để xem xét mối quan hệ giữa tổng lợi nhuận vàvốn đầu tư cho từng loại hình sản xuất:

Trang 3

A: hằng số

a1, a2, a3, a4, a5, a6, a7, a8: hệ số sinh lời tổng thu nhập trên vốn đầu tư

• Số liệu thứ cấp: Thu thập thông tin từ phòng tín dụng xã An Phụ, huyện KinhMôn, tỉnh Hải Dương, sách, internet, những kiến thức đã học ở trường, thamkhảo những tài liệu có liên quan, tài liệu giảng dạy các của giáo viên, thamkhảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn

5 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vốn sản xuất của hộ nông dân.

Chương 2: Thực trạng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Chương 3: Giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của

hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương và một số kiến nghị.

Trang 4

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN SẢN XUẤT CỦA

Bên cạnh đó, ta cũng cần làm rõ khái niệm hộ nông dân Hộ nông dân là mộtđơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng Sản xuấtcủa hộ nông dân dựa trên công cụ sản xuất thủ công, trình độ canh tác lạc hậu, trình độkhai thác tự nhiên thấp Tuy nhiên, trong thời kỳ nền kinh tế thị trường, kinh tế ViệtNam mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới, hộ nông dân, với tư cách là những đơn

vị kinh tế tự chủ, đã từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, áp dụng các tiến bộkhoa học và công nghệ vào sản xuất, thực hiện liên doanh, liên kết, khai thác hiệu quảcác nguồn lực để sản xuất nông sản đáp ứng nhu cầu xã hội Các hộ nông dân, ngoàihoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức

độ khác nhau Bên cạnh đó, hộ nông dân có sự gắn bó các thành viên về huyết thống,

về quan hệ hôn nhân, có lịch sử và truyền thống lâu đời Hoạt động chủ yếu trong lĩnh

Trang 5

vực nông nghiệp, là lĩnh vực mà chịu sự tác động trực tiếp của điều kiện thời tiết nhưmưa, gió, nắng hạn…là những nguyên nhân khách quan không thể thay đổi vì vậy sảnxuất kinh doanh của hộ nông dân chịu nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khách quan, tuynhiên khả năng khắc phục lại hạn chế Từ những đặc điểm trên ta thấy kinh tế hộ làthành phần kinh tế khá linh động, là cơ sở ban đầu cho việc thực hiện các quy hoạchphát triển kinh tế nước ta.

1.2 Đặc điểm kinh tế hộ nông dân

1.2.1 Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một

đơn vị tiêu dùng.

Với lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời và là hình thức tổ chức sảnxuất trình độ thấp nhất trong các loại hình tổ chức kinh doanh chủ yếu trong nôngnghiệp, hộ nông dân đóng vai trò là đơn vị kinh tế cơ sở Nước ta đang trong thời kỳđổi mới với nhiều khó khăn và thử thách.Với cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần,kinh tế hộ vẫn đóng vai trò quan trọng, vẫn là mục tiêu phát triển chính và chủ yếutrong phát triển nông nghiệp, nông thôn

Mặt khác, kinh tế hộ nông dân nước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ, manh mún, sử dụnglao động gia đình là chính, trình độ sản xuất hạn chế Do đó, sản xuất chủ yếu mangtính tự cấp, tự túc Phần lớn sản phẩm làm ra là để tiêu dùng trong gia đình Khi sảnxuất không đủ tiêu dùng, họ thường điều chỉnh nhu cầu, khi sản xuất dư thừa họ có thểđem sản phẩm dư thừa để trao đổi trên thị trường, nhưng đó không phải là mục đíchsản xuất của họ Vì vậy, hộ vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng

1.2.2 Sản xuất của hộ nông dân dựa trên công cụ sản xuất thủ công, trình độ canh tác lạc hậu, trình độ khai thác tự nhiên thấp.

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính ở nông thôn Vì hộ sản xuất kinh doanhnước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ, manh mún nên công cụ sản xuất cũng ở mức độ thô sơ,thủ công Nước ta đi lên từ sau chiến tranh, đời sống người dân còn khổ cực, trình độnăng lực còn rất hạn chế Trước đây, vì trình độ canh tác còn lạc hậu, các hộ chủ yếusản xuất nhỏ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng gia đình, ít mở rộng sản xuất, hầu nhưkhông áp dụng khoa học kỹ thuật Bên cạnh đó, nông nghiệp là ngành mang tính thời

vụ cao, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, trong khi đó, khả năng khai thác tự

Trang 6

nhiên của hộ rất thấp, chủ yếu phụ thuộc hoàn toàn vào nó, dẫn đến tình trạng có nămđược mùa, có năm lại mất trắng, cuộc sống không ổn định.

Hiện nay, trong thời kỳ nền kinh tế thị trường, kinh tế Việt Nam mở cửa hộinhập với khu vực và thế giới Hộ nông dân, với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ,

hộ đã từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, áp dụng các tiến bộ khoa học và côngnghệ vào sản xuất, thực hiện liên doanh, liên kết, khai thác hiệu quả các nguồn lực đểsản xuất nông sản đáp ứng nhu cầu xã hội

1.2.3 Các hộ nông dân, ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.

Đối tượng sản xuất của hộ nông dân chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp, hộsản xuất kinh doanh trồng trọt các loại cây ăn quả, cây trồng lâu năm…; hộ sản xuấtkinh doanh chăn nuôi; hay là hộ sản xuất kết hợp trồng trọt và chăn nuôi các loại câytrồng, vật nuôi khác nhau có tính hỗ trợ cho nhau Thực tế hiện nay, có rất nhiều môhình kết hợp trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao, thu về cho hộ nông dân hàng trămtriệu mỗi năm

Bên cạnh đó, nền kinh tế ngày càng phát triển, đòi hỏi kinh tế hộ phải phát triểnhơn cả về chất và lượng, không chỉ đơn thuần hoạt động sản xuất nông nghiệp mà hộcòn tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh ở các ngành nghề phi nông nghiệp khácvào lúc nông nhàn với quy mô lớn, nhỏ khác nhau để tận dụng triệt để nguồn nhân lực,tránh lãng phí tư liệu sản xuất, đồng thời đa dạng các khoản thu nhập, nâng cao đời

sống người dân 1.2.4 Hộ nông dân có sự gắn bó các thành viên về huyết thống, về

quan hệ hôn nhân, có lịch sử và truyền thống lâu đời.

Với đặc điểm như vậy nên các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trêncác mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối Do thống nhất về lợi íchnên sự gắn kết, tính tự nguyện, tự giác cao trong lao động Trong mỗi nông hộ, bố mẹvừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức hoạt động sản xuất Vì vậy, tổ chức sản xuất trong

hộ nông dân có nhiều ưu việt và có tính đặc thù

1.2.5 Sản xuất kinh doanh chịu nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khách quan, tuy nhiên khả năng khắc phục lại hạn chế.

Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, là lĩnh vực mà chịu sự tác độngtrực tiếp của điều kiện thời tiết như mưa, gió, nắng hạn…là những nguyên nhân khách

Trang 7

quan không thể thay đổi Hiện nay, sự đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn đã chú trọngđến vấn đề này nhưng thực tế vẫn chưa triệt để, nông nghiệp, nông thôn vẫn phải gánhchịu những đợt mất mùa, mưa bão, hạn hán; những đợt dịch bệnh đối với cây trồng,vật nuôi làm ảnh hưởng xấu đến quá trình sản xuất kinh doanh của hộ.

1.2.6 Về tính pháp lý và khả năng tài chính của hộ

Đây là một đặc điểm đứng trên phương diện nghiên cứu hộ là một chủ thể kinh

tế chịu sự tác động của các hoạt động tín dụng

Mọi thành viên trong hộ gia đình đều liên đới trách nhiệm trong quan hệ giaodịch tín dụng Về mặt thủ tục pháp lý trong giao dịch với ngân hàng, chỉ cần người đạidiện hộ đứng tên giao dịch với ngân hàng trên cơ sở ủy quyền của các thành viên trong

hộ

Tài sản của hộ bao gồm cả tài sản chung của các thành viên trong hộ và cả tàisản riêng của các thành viên góp vào sử dụng chung Xét từ góc độ này thì năng lực tàichính của hộ bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của các thành viên Vốn tự có của

hộ chủ yếu là khả năng lao động của hộ, tức là kinh nghiệm cùng khả năng tổ chức vàtrực tiếp tham gia lao động của các thành viên trong hộ

1.3 Các điều kiện phát triển kinh tế hộ nông dân

1.3.1 Điều kiện chủ quan

Là những điều kiện mà cơ sở sản xuất kinh doanh và chủ cơ sở sản xuất kinhdoanh có thể tạo ra được Điều kiện chính và cơ bản nhất là trình độ, năng lực và hiểubiết chuyên môn của chủ hộ nông dân Chủ sản xuất kinh doanh phải là người có trình

độ chuyên môn phù hợp, nhạy bén với thị trường, quyết đoán và linh hoạt trong xử lýcác tình huống Người chủ sản xuất kinh doanh cần phải có những tri thức cần thiếtphục vụ cho kinh doanh và phát triển kinh tế hộ, đó là những kiến thức chung về kinh

tế và quản lý kinh tế, những kiến thức về nghiệp vụ, thu thập thông tin và xử lý thôngtin một cách nhanh, nhạy và chính xác

Bên cạnh trình độ, năng lực và hiểu biết chuyên môn của chủ hộ thì vốn, cácyếu tố vật chất đầu vào, liên kết sản xuất kinh doanh cũng là những điều kiện chủ quanđóng vai trò cực kỳ quan trọng

- Vốn: vốn đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu để thực hiện quá trìnhkinh doanh của hộ trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn Một

Trang 8

hộ nông dân muốn sản xuất kinh doanh cái gì điều đầu tiên phải cần có vốn, lượng vốnnhiều hay ít quyết định quy mô sản xuất của hộ, quyết định qúa trình sản xuất kinhdoanh đấy có được diễn ra liên tục, không bị bỏ dỡ giữa chừng vì thiếu vốn Vốn cũngquyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ Với lượng vốn lớn, hộ nông dân sẽđược tiếp cận với nguồn lực vật chất đầu vào chất lượng, từ đó dẫn đến sản phẩm sảnxuất kinh doanh của hộ đạt chất lượng cao, dẫn đến đạt hiệu quả kinh tế.

- Tiềm lực vật chất đầu vào: Là điều kiện cần thiết cho bất kỳ hộ nông dân nàohoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nói chung và kinh doanh nông nghiệpnói riêng Đối với hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp thì sự biểu hiện của nó càngđậm nét hơn vì mối quan hệ giữa các yếu tố trong sản xuất nông nghiệp không chỉ bịchi phối bởi các quy luật kinh tế mà còn bị chi phối bởi các quy luật đặc điểm sản xuấtnông nghiệp, trong đó quy luật sinh học chi phối một cách mạnh mẽ, nhất là đối vớicây trồng, vật nuôi có chu lỳ sản xuất dài, yêu cầu đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốnchậm Tiềm lực vật chất đầu vào cũng quyết định xem quá trình sản xuất kinh doanh

có diễn ra hay không và sản phẩm sản xuất kinh doanh có đạt hiệu quả không, dẫn đếnhiệu quả kinh tế có đạt được không

- Liên kết sản xuất kinh doanh: Mở rộng sự liên kết hợp tác theo hướng đa dạnggiữa các hộ sản xuất trên cơ sở tự nguyện của hộ với sự hỗ trợ của Nhà nước Sự liênkết sản xuất hiệu quả giữa các hộ sẽ giảm được lượng chi phí sản xuất, đồng thời tạo rasản phẩm phong phú, đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường

1.3.2 Điều kiện khách quan

Là những điều kiện vượt ra khỏi phạm vi giải quyết của hộ sản xuất kinh doanhnông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn Bao gồm nhiều điều kiện, trong đó cầnlưu ý các điều kiện sau:

- Điều kiện tự nhiên: Hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông thôn mang tínhthời vụ rõ rệt, lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên thuận lợi thìcây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt làm cho quá trình sản xuất đạt hiệu quảcao Nếu môi trường sinh thái ngày càng xấu đi, điều kiện tự nhiên ngày càng khắcnghiệt hơn sẽ dẫn đến tính rủi ro sản xuất ngày càng cao, tổn thất ngày càng lớn vàkhó lường trước được

Trang 9

- Cơ chế chính sách của Nhà nước: Hệ thống pháp luật, các chính sách quản lýkinh tế ổn định, an ninh đảm bảo, chính sách cho vay thực thi tạo điều kiện để hộ yêntâm sản xuất kinh doanh và kinh doanh có hiệu quả Ngược lại, nó sẽ là nhân tố cản trở

hộ tiếp cận với nguồn vốn vay, với thị trường, từ đó làm giảm hiệu quả kinh doanh củahộ

II/ CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN SẢN XUẤT CỦA HỘ NÔNG DÂN2.1 Khái niệm vốn sản xuất

Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nóiriêng Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất sang phạm vi lưuthông

và trở về sản xuất Hình thức của vốn sản xuất cũng thay đổi từ hình thức tiền tệ sanghình thức tư liệu sản xuất và tiền lương cho nhân công đến sản phẩm hàng hóa và trởlại hình thức tiền tệ…Như vậy, vốn sản xuất trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiềncủa tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp

2.2 Vai trò và đặc điểm của vốn sản xuất với kinh tế hộ nông dân

Vốn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ Vốn là yếu tố cơ bảntrong quá trình phát triển và lưu thông hàng hóa và là điều kiện để cho hộ nông dânthực hiện tốt các khâu sản xuất, chế biến, marketing

Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, vốn sản xuất nông nghiệp có nhữngđặc điểm sau:

- Trong sự cấu thành vốn cố định, ngoài những tư liệu lao động có nguồn gốc

kỹ thuật còn bao gồm cả tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học, như cây lâu năm, súcvật làm việc, súc vật sinh sản Trên cơ sở tính quy luật sinh học, các tư liệu lao độngnày thay đổi giá trị sử dụng của mình khác với tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật

- Sự tác động của vốn sản xuất vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh doanhkhông phải bằng cách trực tiếp mà thông qua đất, cây trồng, vật nuôi Cơ cấu và chấtlượng của vốn sản xuất phải phù hợp với yêu cầu của từng loại đất đai, từng đối tượngsản xuất là sinh vật

- Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp, một mặt làm cho sựtuần hoàn và luân chuyển chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn cố định, tạo ra sựcần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài của vốn lưu động và làm

Trang 10

cho vốn ứ đọng, mặt khác tạo ra sự cần thiết và khả năng tập trung hóa cao về phươngtiện kỹ thuật trên một lao động nông nghiệp so với công nghiệp.

- Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên nên việc sửdụng vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn

- Một bộ phận sản xuất nông nghiệp không qua lĩnh vực lưu thông mà đượcchuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp, do vậy vòngtuần hoàn vốn sản xuất được chia thành vòng tuần hoàn đầy đủ và không đầy đủ Vòngtuần hoàn không đầy đủ là vòng tuần hoàn của một bộ phận vốn không được thực hiện

ở ngoài thị trường mà được tiêu dùng trong nội bộ nông nghiệp khi vốn lưu động đượckhôi phục trong hình thái hiện vật của chúng Vòng tuần hoàn đầy đủ yêu cầu vốn lưuđộng phải trải qua tất cả các giai đoạn, trong đó có giai đoạn tiêu thụ sản phẩm

2.3 Phân loại vốn sản xuất

2.3.1 Vốn cố định

Vốn cố định là số vốn ứng trước để mua sắm tư liệu lao động chủ yếu hoạtđộng trong lĩnh vực nông nghiệp Phương thức luân chuyển và bù đắp giá trị của nó làchuyển dần từng phần giá trị vào sản phẩm mới đến khi tư liệu lao động hết thời hạn

sử dụng thì vốn cố định kết thúc quá trình luân chuyển

2.3.2 Vốn lưu động

Vốn lưu động là vốn bằng tiền ứng trước để dự trữ cho sản xuất, để mua sắmvật rẻ tiền mau hỏng và hình thành vốn lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sảnxuất và tiêu thụ hàng hóa diễn ra một cách bình thường Theo tính chất tham gia củacác yếu tố vào quá trình sản xuất, vốn lưu động được chia thành 3 bộ phận, gồm: vốnlưu động dự trữ cho quá trình sản xuất, vốn lưu động dùng trong quá trình sản xuất vàvốn lưu động trong quá trình lưu thông

- Vốn lưu động dự trữ trong quá trình sản xuất: là biểu hiện bằng tiền toàn bộnguyên nhiên vật liệu, phân bón, thuốc trừ sâu, vật tư cho sản xuất phụ, phụ tùng dựtrữ, chuẩn bị cho vụ sản xuất sau và những vật tư bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quátrình sản xuất có thể tiến hành một cách liên tục

- Vốn lưu động trong quá trình sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của những sảnphẩm sản xuất dở dang, bán thành phẩm và những chi phí chờ phân bổ của ngànhtrồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề

Trang 11

- Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông gồm những khoản nông sản hànghóa, vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán.

2.4 Hình thức huy động vốn sản xuất của hộ nông dân- cung vốn sản xuất của hộ

2.4.1 Vốn của hộ nông dân

Vốn dành cho sản xuất ở hộ nông dân được hình thành từ hai nguồn cơ bản:

- Một phần từ thu nhập thuần của hộ: thu nhập của hộ nông dân được hiểu làphần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động củagia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vàokết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà họ thực hiện Thường thu nhập của

hộ nông dân có thể phân thành 2 loại:

Thu nhập từ nông nghiệp: bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trongnông nghiệp như: trồng trọt (lúa, màu, rau, quả, ), từ chăn nuôi (gia súc, gia cầm, ) vànuôi trồng thủy sản (tôm, cá)

Thu nhập phi nông nghiệp: là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành nghềcông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vậtliệu xây dựng, gia công cơ khí, Ngoài ra thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từcác hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán…

Thu nhập là hàm số theo quy mô sản xuất, chi phí dành cho sản xuất, tiết kiệm,đầu tư mở rộng sản xuất, số người lao động trong gia đình, trình độ học vấn,…

- Một phần từ tiết kiệm của hộ: tiết kiệm của hộ được hiểu là phần thu nhập cònlại sau khi đã trừ chi phí sản xuất, nộp thuế cho chính phủ, chi tiêu tiêu dùng, đầu tư

mở rộng sản xuất, tiền thuê đất,…Tiết kiệm thường được tích lũy dưới nhiều hìnhthức: tiền mặt, vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ,…Trong những điều kiện nhất định, tiếtkiệm còn có thể xem như là khoản dự phòng khi có chuyện cần thiết lấy ra sử dụngcủa hộ nông dân như: ốm đau, cưới xin, Tiết kiệm là khoản tiền nhàn rỗi của hộ nôngdân nếu khoản tiền đó không được đem đi đầu tư hoặc sử dụng thì nó được coi nhưkhoản tài chính chết, tài chính chết là khoản tài chính không đem lại giá trị gia tăngcho người chủ sở hữu nó, nhưng nếu khoản tài chính đó được đem đi đầu tư, sử dụngmột cách hợp lý thì nó sẽ góp phần gia tăng thu nhập Do đó những biến động trong tỷ

lệ tiết kiệm của hộ nông dân theo thời gian cũng được sử dụng để giải thích và dự báothái độ chi tiêu và đầu tư của hộ nông dân Tiết kiệm là một hàm số theo thu nhập, lãi

Trang 12

suất, chi phí dành cho sản xuất, tập quán sinh hoạt, đầu tư mở rộng sản xuất, lạmphát…

2.4.2 Vốn vay

Vốn vay ở nông thôn hiện nay được huy động từ nhiều nguồn khác nhau:

- Nguồn chính thức: là hệ thống tín dụng thường thấy giữa các cá nhân và các

tổ chức tín dụng được pháp luật thừa nhận và hoạt động dưới sự quản lý của pháp luật

- Nguồn phi chính thức: thường là các quan hệ tín dụng giữa các cá nhân vàkhông được qui định trong luật pháp Những hình thức tín dụng trong hệ thống phichính thức không chịu sự quản lý của nhà nước, hoạt động trên cơ sở tin tưởng lẫnnhau

Đặc điểm của 2 nguồn tín dụng:

- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT): được thành

lập năm 1988 và chính thức đi vào hoạt động vào tháng 12/1990, sau khi hai pháp lệnhNgân hàng có hiệu lực Mạng lưới hoạt động của NHNo&PTNT ngày càng tăng, năm

2003 có 1726 chi nhánh, phòng giao dịch, đến nay, NHNo&PTNT có hơn 2000 chinhánh nằm rải rác khắp cả nước

- Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH): được thành lập theo Quyết định số

131/2002/QĐ – TTg ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ nhằm tách tín dụngchính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụngười nghèo Qua gần 6 năm hoạt động, NHCSXH là ngân hàng có mạng lưới lớn thứhai trong hệ thống ngân hàng Việt Nam với 65 chi nhánh cấp tỉnh và Sở giao dịch; 601phòng giao dịch cấp huyện, 8.649 điểm giao dịch cấp xã và trên 180.000 tổ tiết kiệm

và vay vốn Hoạt động của NHCSXH đang từng bước được xã hội hoá, ngân hàng

Trang 13

luôn có sự phối hợp chặt chẽ với các hội, đoàn thể để thực hiện nghiệp vụ uỷ thác chovay vốn ưu đãi để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Chính phủ.

- Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND): bắt đầu từ một chương trình thí

điểm chịu sự giám sát của NHNN vào tháng 7/1993, là hình thức hợp tác xã tiết kiệm

và tín dụng cấp xã xây dựng theo mô hình Caisse Populaire ở Quebec, Canada Khi đó,một trong những mục tiêu quan trọng của NHNN là khôi phục lòng tin của người dânđối với hệ thống tín dụng nông thôn sau sự sụp đổ của hàng loạt hợp tác xã tíndụng(1) QTDND là loại hình tín dụng hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ – tíndụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu ở nông thôn Mục tiêu hoạt động là nhằm huy độngnguồn vốn tại chỗ để cho vay tại chỗ, tương trợ cộng đồng, vì sự phát triển bền vữngcủa các thành viên Theo thống kê, hiện nay, cả nước có 989 QTDND hoạt động vớitổng nguồn vốn gần 14.000 tỷ đồng (chưa tính QTDND Trung ương và 24 chi nhánh),tổng dư nợ hơn 12.000 tỷ đồng, thu hút gần 1,3 triệu thành viên là đại diện hộ gia đình

Để hiểu rõ hơn về khả năng huy động vốn của hộ nông dân, ta cần hiểu rõ hơn

về cơ chế tín dụng đối với hộ nông dân

+ Cho vay ngắn hạn: đối với người đi vay vay vốn ngắn hạn nhằm đáp ứng nhucầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống được xác định phù hợp với chu kỳsản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của người đi vay tối đa đến 12 tháng

+ Cho vay trung, dài hạn: đối với người đi vay vay vốn trung, dài hạn nhằmthực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống Thời hạncho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả

nợ của người đi vay và tính chất nguồn vốn cho vay của người cho vay (>12 tháng)

- Mức cho vay:

Trang 14

+ Đối với hình thức cho vay có thế chấp, giá trị món vay luôn được xác địnhtrên cơ sở giá trị tài sản thế chấp.

+ Đối với hình thức cho vay theo tín chấp, mức cho vay là số tiền tối đa mà các

tổ chức tín dụng có thể cho người cần vốn vay

- Thời gian thu hồi vốn vay: là thời gian bắt đầu từ khi người vay nhận đượckhoản vay đến khi thực hiện trả lần đầu tiên về lãi hoặc nợ gốc

2.6 Hình thức sử dụng vốn sản xuất của hộ nông dân- cầu vốn sản xuất của hộ:

Sử dụng vốn để sản xuất hay còn gọi là đầu tư, là việc hộ nông dân bỏ vốn,nhân công lao động, quản lý vào quá trình canh tác, sản xuất kinh doanh trên cơ sởtính toán kinh tế, xã hội Hay nói cách khác, cầu vốn sản xuất của hộ chính là cáckhoản chi phí mà hộ phải trang trải trong quá trình sản xuất như: chi phí mua giống,phân bón, thức ăn, tiền thuê làm đất, làm cỏ,…

Một hộ nông dân có mức đầu tư hợp lý sẽ tiết kiệm chi phí sản xuất, gia tăngthu nhập Đầu tư là hàm theo quy mô sản xuất, thu nhập, tài sản dành cho sản xuất, tiếtkiệm, khấu hao, tập quán sinh hoạt, thuế, trình độ học vấn,…

(1a), (1b), (1c): 1 phần thu nhập thuần được dùng để chi tiêu hàng ngày, 1 phần

thu nhập thuần để đầu tư sản xuất, phần thu nhập dư ra để tiết kiệm

Thu nhập thuần

Chi tiêuTiết kiệm

Đầu tư

Trang 15

(2a), (2b): trong quá trình chi tiêu hoặc đầu tư, nếu thiếu tiền hộ nông dân có

thể lấy tiền tiết kiệm để tài trợ

(3a), (3b): trong quá trình đầu tư sản xuất, nếu thừa tiền, một phần hộ nông dân

có thể bổ sung thêm nguồn tiết kiệm hoặc bổ sung thêm cho chi tiêu

(4): trong quá trình đầu tư sản xuất, nếu thiếu tiền mà hộ nông dân không còn

tiền tiết kiệm để tài trợ, hộ sẽ dùng nguồn đi vay để tài trợ

(5): trong quá trình đầu tư sản xuất, chi tiêu hàng ngày, nếu hộ dư thừa tiền tiết

kiệm, để kiếm thêm thu nhập, hộ có thể đi vay

Như vậy, quá trình tạo ra thu nhập thuần và phân bổ thu nhập thuần cho mụcđích chi tiêu hàng ngày, đầu tư sản xuất và tiết kiệm của hộ nông dân sẽ phát sinh nhucầu cần vay vốn khi hộ bị thiếu vốn và hiện tượng dư thừa vốn khi hộ còn dư nguồntiết kiệm mà không phải phân bổ cho đầu tư hoặc chi tiêu Khi dư thừa vốn, hộ có thểgửi tiết kiệm ngân hàng, cho người thân vay (tạo thành nguồn tín dụng phi chính thức)hoặc đầu tư vào các kênh khác Khi thiếu vốn, hộ có thể vay các tổ chức tín dụng(nguồn tín dụng chính thức) hoặc vay người thân Tuy nhiên, khi vay các tổ chức tíndụng, người nông dân bị gặp nhiều khó khăn như ràng buộc về tài sản đảm bảo, thủtục vay rườm rà, số vốn vay bị hạn chế, nên tình trạng các hộ nông dân tìm đếnnguồn tín dụng phi chính thức và phải chịu lãi suất cao đang là vấn đề nhức nhối ởnhiều địa phương nước ta

Trang 16

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA HỘ NÔNG DÂN

XÃ AN PHỤ

I Một số thông tin chung về hộ nông dân xã An Phụ

1.1 Một số thông tin chung về xã An Phụ

An Phụ là xã miền núi thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tổng diện tích

tự nhiên 785,16 ha, gồm 5 thôn với 9150 nhân khẩu, 2544 hộ Phía đông xã giáp xãHiệp An và xã Long Xuyên, phía nam giáp sông Vận và sông Phúc Thành, phía tâygiáp xã Thượng Quận, phía bắc giáp xã An Sinh và Hiệp Sơn Ngăn cách giữa xã AnPhụ với xã Hiệp Sơn, xã An Sinh là cánh rừng phòng hộ có diện tích 124,8 ha

Về địa hình : do An Phụ là xã miền núi nên địa hình không bằng phẳng, ruộngđất khu cao, khu trũng đã gây nhiều khó khăn trong việc tưới tiêu Mặt khác, đất đaicủa xã kém mầu mỡ, năng suất cây trồng thấp Muốn thâm canh đạt hiệu quả, khâuquan trọng nhất là phải làm tốt công tác thủy lợi và cải tạo đồng ruộng Thế mạnh của

xã là chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, 1 năm có 2 vụ lúa và 1 vụ màu

Về hệ thống thủy lợi : dọc theo đường tỉnh lộ có hệ thống sông Phùng Khắc làkênh lưu thoát nước cho đồng ruộng

Về giao thông : có trục đường tỉnh lộ chạy từ đầu tới cuối xã tạo điều kiện giaothông đi lại bằng đường bộ Các tuyến đường liên thôn và đi vào ngõ xóm đều được bêtông hóa

Về đời sống nhân dân : ở mức ổn định, sản xuất lương thực là chính 76% sảnxuất nông nghiệp còn lại là tiểu thủ công nghiệp, thương mại- dịch vụ

1.2 Một số thông tin chung về 50 hộ điều tra

Cơ cấu kinh tế của 50 hộ điều tra :

Qua điều tra: số hộ nông dân sống bằng nghề trồng lúa chiếm đến 80%, trồngrau màu 16 %, chăn nuôi 20%, nuôi trồng thủy sản 10%, buôn bán 22%, nghề phụ 6%,làm thuê 34%, hoạt động tạo thu nhập khác 16% trên tổng số 50 hộ điều tra

Trang 17

Ta thấy sự phân công lao động xã An Phụ vẫn nặng về nông nghiệp và cụ thể làtrồng lúa Riêng trong lĩnh vực chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trong thời gian qua đãphát triển đáng kể nhờ chuyển đổi những diện tích trồng lúa năng suất thấp và tậndụng những phế phẩm từ trồng trọt và đời sống hàng ngày.

Bên cạnh đó hệ thống thủy điện, giao thông được phủ khắp xã tạo điều kiệnthuận lợi cho việc đi lại cũng như phát triển kinh tế nông thôn được dễ dàng Đặc biệt

là người dân có điều kiện tiếp thu tiến bộ khoa học –kỹ thuật, những mô hình chănnuôi, trồng trọt đạt hiệu quả từ những hộ nông dân khác thông qua chương trình làmbạn với nhà nông nhờ vậy mà sản xuất ngày càng đạt hiệu quả hơn góp phần gia tăngthu nhập cho kinh tế hộ

Chăn nuôi chủ yếu tập trung vào các loại gia súc và gia cầm phổ biến như: gà,vịt, heo,…nhưng thời gian qua do dịch cúm gia cầm, những nhóm hộ nông dân có thunhập chủ yếu từ chăn nuôi bị ảnh hưởng đáng kể, làm cho thu nhập không những đãthấp mà còn phải lâm vào cảnh nợ nần

Buôn bán, nghề phụ (dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp ) tập trung ở những khu vựcđông dân cư, khu vực chợ phát triển mạnh vì đây là ngành mang lợi nhuận cao, do vậy

số lượng hộ nông dân tham gia không ngừng tăng lên

Bên cạnh hộ có nguồn thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán… thì làmthuê tập trung ở số hộ không có đất canh tác hoặc diện tích đất canh tác thấp (thu nhậpthấp thường tập trung vào nhóm hộ này), những hộ có máy móc phục vụ sản xuất nôngnghiệp: máy cày, máy tuốt lúa, máy bơm nước… Ngoài ra một số hộ còn có nguồnthu khác từ trợ cấp xã hội, làm công ăn lương

II Thực trạng sử dụng vốn sản xuất- cầu về vốn sản xuất của hộ nông dân

2.1 Thực trạng thu nhập của các hộ nông dân xã An Phụ :

2.1.1 Thực trạng thu nhập hộ nông dân phân theo hoạt động sản xuất :

Sắp xếp thu nhập của 50 hộ quan sát theo thứ tự từ thấp đến cao và phân thành

4 nhóm bằng nhau:

- Thu nhập nhóm cao nhất từ 3 triệu đồng/người/tháng trở lên

- Thu nhập nhóm khá từ 1,5 triệu đồng/người/tháng- 3 triệu đồng/người/tháng

- Thu nhập nhóm trung bình từ 700ngàn đồng/người/tháng- 1,5triệuđồng/người/ tháng

Trang 18

- Thu nhập nhóm thấp nhất từ 700 ngàn đồng/người/tháng trở xuống

Cuối cùng, trong khoảng hộ đều nhau đó tính thu nhập trung bình của mỗinhóm Mục đích của việc phân nhóm hộ theo mức thu nhập này để xác định được cácyếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm, đầu tư của từng nhóm hộ sẽ như thếnào

Bảng : Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất :

Nhóm hộ thu nhập trung bình

Nhóm hộ thu nhập thấp Nghìn

Kết quả khảo sát cho thấy:

- Nhóm hộ thu nhập cao có nguồn thu chính chủ yếu từ trồng lúa 3,711 triệuđồng/người/tháng (chiếm 71,9%), nuôi trồng thủy sản là 800 triệu đồng/người/thángchiếm (15,5%)

- Nhóm hộ thu nhập khá có nguồn thu chủ yếu là từ trồng lúa 1,128 triệuđồng/người/tháng (chiếm 59,1%), chăn nuôi 450 ngàn đồng/người/tháng (chiếm23,5%), buôn bán 165 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 8,6%)

- Nhóm hộ thu nhập trung bình có nguồn thu chủ yếu là từ trồng lúa 711,5 ngànđồng/người/tháng (chiếm 65,7%) chăn nuôi 90,9 ngàn đồng/người/tháng (chiếm8,4%), nghề phụ (thủ công nghiệp, dịch vụ, ) 89,9 ngàn đồng/người/tháng (chiếm8,3%)

Trang 19

- Nhóm hộ thu nhập thấp nhất thì nguồn thu chủ yếu từ trồng lúa 211ngànđồng/người/tháng (chiếm 43,8%), làm thuê 134 ngàn đồng/người/tháng (chiếm27,8%), chăn nuôi 53 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 11%)

Hầu hết các nhóm hộ có mức thu nhập chênh lệch khác nhau khá xa, thu nhậpnhóm hộ cao nhất đạt 5,162 triệu đồng/người/tháng cao gấp 2,7 lần so với nhóm hộkhá là 1,911 triệu đồng/người/tháng, gấp 4,8 lần so với nhóm hộ trung bình là 1,083triệu đồng/người/tháng và gấp 10,7 lần so với nhóm hộ thu nhập thấp là 482 ngànđồng/người/tháng

Trong thời gian qua nhờ việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuấtnên năng suất lúa không ngừng tăng lên cùng với việc đa canh, đa dạng hóa hoạt độngsản xuất trong nông nghiệp được phát triển rộng khắp trong vài năm gần đây Vì vậythu nhập hộ nông dân ngày càng tăng

Trong lĩnh vực trồng lúa có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm quan sáttrong đó:

- Thu nhập nhóm hộ cao nhất từ trồng lúa đạt 3,711 triệu đồng/người/tháng

- Thu nhập nhóm hộ khá đạt 1,128 triệu đồng/người/tháng

- Thu nhập nhóm hộ trung bình từ trồng lúa đạt 711,5 ngàn đồng/người/tháng

- Thu nhập nhóm hộ thấp nhất từ trồng lúa đạt 211 ngàn đồng/người/tháng.Như vậy, nhóm hộ cao nhất có thu nhập từ trồng lúa cao gấp 3,3 lần nhóm hộthu nhập khá, cao gấp 5,2 lần so với nhóm hộ có thu nhập trung bình và cao gấp 17,6lần so với nhóm hộ thấp nhất, sở dĩ có sự chênh lệch về thu nhập này là do sự cách biệt

về diện tích đất canh tác giữa các nhóm hộ:

- Nhóm có diện tích đất canh tác cao nhất đạt 1800 ha

- Nhóm có diện tích đất canh tác thấp nhất là 15 ha

Ngoài ra để bù đắp những thiếu hụt từ trồng lúa, nhiều hộ nông dân còn cóthêm thu nhập từ hoạt động sản xuất khác như: trồng rau màu, chăn nuôi, nuôi trồngthủy sản, buôn bán, làm thuê, nghề phụ,…và xu hướng này ngày càng mở rộng Tổnggiá trị nuôi trồng thủy sản của các nhóm là 851 triệu đồng/người/tháng trong đó:

- Nhóm thu nhập cao là 800 triệu đồng/người/tháng

- Nhóm hộ khá là 51 ngàn đồng/người/tháng

Sở dĩ nuôi trồng thủy sản chỉ tập trung ở nhóm hộ có thu nhập cao nhất là vì:

Trang 20

- Đòi hỏi phải có nhiều vốn, trình độ hiểu biết, kỹ thuật nuôi trồng.

- Có khả năng gặp nhiều rủi ro vì chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: dịchbệnh, chất lượng con giống, giá cả đầu ra…

Vì vậy, một số hộ từ con cá, tôm mà làm giàu thì cũng có một số hộ vì nó phảiphá sản lâm vào cảnh nợ nần từ hộ giàu trở thành hộ nghèo Buôn bán tập trung nhữngkhu vực đông dân cư, chợ thu nhập trung bình của từng nhóm quan sát cụ thể như sau:

- Nhóm thu nhập cao 237 ngàn đồng/người/tháng

ở nhóm hộ thấp nhất có nguồn thu nhập chính khác cũng rất quan trọng đó là làm thuê

134 ngàn đồng/người/tháng Đây là nhóm thường tập trung những hộ không có đấtcanh tác hoặc có diện tích đất canh tác thấp, vì vậy làm thuê được coi như là hoạt độngchính nhằm mang lại nguồn thu nhập cho gia đình, tuy nhiên thu nhập của nhóm hộnày thường không ổn định, bấp bênh vì chỉ mang tính thời vụ Ngoài ra, các nhóm hộcòn có nguồn thu khác từ hoa màu, nghề phụ, dịch vụ, phụ cấp… mặc dù đây là mộtkhoản thu không lớn chỉ tập trung ở một số hộ nhưng nó cũng rất quan trọng đối vớiviệc đầu tư nông nghiệp của hộ nông dân đặc biệt là nhóm hộ có thu nhập thấp, thườngthì nhóm hộ này chỉ cần 100 – 500 ngàn đồng là có thể đầu tư cho chăn nuôi, trồng trọtgóp phần gia tăng thu nhập Nhìn chung, nguồn thu nhập chính của hộ nông dân xã AnPhụ chủ yếu từ các nguồn trồng lúa, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, buôn bán, làmthuê Ngoài ra một số hộ còn có nguồn thu từ trồng hoa màu, dịch vụ, tiểu thủ côngnghiệp, phụ cấp….Việc chênh lệch về diện tích đất canh tác, nuôi trồng càng tạokhoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm hộ ngày càng rõ rệt ảnh hưởng chung đến sựphát triển kinh tế - xã hội của xã và việc giảm sự cách biệt về giàu nghèo ở nông thônngày càng khó khăn

Trang 21

Bảng : Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất của 50 hộ nông dân điều tra

năm 2011

Đơn vị : nghìn đồng

Hoạt động sản xuất

Giống: Chất lượng giống cây trồng, vật nuôi kém gây ảnh hưởng rất nhiều đến

quá trình sản xuất cũng như sản lượng thu hoạch và quá trình tiêu thụ sản phẩm gặpkhó khăn Từ đó làm giảm thu nhập với mức độ ảnh hưởng của từng nhóm cụ thể là:

- Nhóm thu nhập cao chiếm 44%

Giá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn: Đây là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến

quá trình sản xuất và cũng như thu nhập của các nhóm hộ:

- Nhóm thu nhập cao chiếm 96%

Trang 22

nhập của người nông dân cũng bị ảnh hưởng theo Sản lượng cung cấp ra thị trường vìthế cũng hạn chế Từ đó có thể dẫn đến việc nông dân hạn chế đầu tư thâm canh hoặc

sẽ chuyển đổi hệ thống sản xuất, lựa chọn những cây trồng, vật nuôi ít chịu tác độngcủa giá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn đồng thời áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹthuật để tăng năng suất lao động, giảm thiểu chi phí sản xuất

Vốn: Đây là yếu tố có tác động lớn nhất trong quá trình sản xuất, đặc biệt ở

nhóm các hộ nông dân có thu nhập thấp và trung bình thường gặp nhiều khó khăntrong việc đầu tư vốn sản xuất cụ thể:

- Nhóm hộ có thu nhập cao chiếm 56%

Nhân công lao động: Do sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ nên chỉ khi

nào đến mùa vụ thì những người làm thuê mới có thu nhập còn vào những thời giankhác lao động nhàn rỗi, vì vậy để có được thu nhập ổn định hơn lực lượng lao độngchủ yếu ở nông thôn tập trung về các thành phố, các nhà máy chế biến thủy sản hoặcvào khu công nghiệp nên bắt đầu mùa vụ sản xuất, thu hoạch lực lượng lao động trởnên khan hiếm Điều đó gây khó khăn cho các nông hộ, phải thuê mướn lao động vớigiá cao làm chi phí sản xuất tăng lên Tác động cụ thể trên từng nhóm như sau:

- Nhóm hộ thu nhập cao thuờng xuyên gặp khó khăn nhất vì quy mô sản xuấtlớn chiếm 52%

- Nhóm hộ thu nhập khá 40%

- Nhóm hộ thu nhập trung bình 20%

- Còn đối với nhóm hộ có thu nhập thấp thì hoàn toàn không ảnh hưởng là dothu nhập chủ yếu của nhóm hộ này chủ yếu từ làm thuê

Máy móc phục vụ sản xuất: Máy cày, máy tuốt lúa, máy bơm nước, máy sấy

lúa… cũng làm cho hộ nông dân gặp không ích khó khăn khi đến mùa vụ sản xuất:

- Nhóm thu nhập cao là 40%

Trang 23

- Nhóm hộ thu nhập khá 32%.

- Nhóm hộ thu nhập trung bình 12%

- Nhóm hộ thu nhập thấp 8%

Những số liệu trên cho thấy yếu tố máy móc tác động phần lớn lên các nhóm hộ

có thu nhập cao, khá do quy mô và diện tích canh tác lớn, còn đối với các nhóm hộ cóthu nhập trung bình, thấp thì diện tích đất canh tác nông nghiệp ít nên các yếu tố máymóc không có tác động lớn đến nhóm hộ này

Thời tiết: Bất lợi gây khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất đặc biệt chịu

ảnh hưởng nhiều nhất có thể nói đến là trồng lúa, nuôi trồng thủy sản… Việc thời tiếtthất thường khi nóng quá, khi mưa nhiều đã làm giảm sản lượng thu hoạch và sự tácđộng này thường gây ảnh hưởng lớn nhất đối với nhóm hộ có thu nhập cao chiếm 60%

vì quy mô sản xuất nhóm hộ này tương đối lớn và đa dạng

Dịch bệnh: Ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất như: dịch ốc bưu

vàng, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa, dịch cúm trên gia cầm, lở mồm long móngtrên gia súc, bệnh đốm trắng trên cá… gây thiệt hại nặng đến cây trồng, vật nuôi Do

đó, việc hiểu biết và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phòng và trị dịchbệnh là yếu tố rất cần thiết để tăng năng suất cải thiện thu nhập

Kỹ thuật canh tác, nuôi trồng: Bón phân khi nào, hàm lượng thuốc trừ sâu

bao nhiêu là đủ và an toàn, áp dụng máy móc vào trong quá trình sản xuất, đối vớitừng loại bệnh trên cây trồng, vật nuôi thì phải biết sử dụng loại thuốc nào cho phùhợp Vì vậy kỹ thuật canh tác nuôi trồng là khâu quyết định đến năng suất, chất lượnghàng nông sản cung cấp ra thị trường

Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: trình độ quản lý, tay nghề lao động…cũng gây khó khăn đến quá trình sản xuất

Trang 24

2.1.3 Nguyên nhân dẫn tới thu nhập thấp của hộ nông dân và hệ quả đối với từng nhóm hộ :

Nguyên nhân dẫn đến thu nhập

ứng dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuậtKhả năng tiếp cận thị trường thấp Không nắm bắt được giá cả và

nhu cầu thị trường nên bịthương buôn ép giá dẫn đến lợinhuận thu được thấp

Trình độ canh tác thấp Năng suất thấp

đảm bảo chất lượng

Năng suất thấp, thu nhập giảm

Thiếu lao động Khó khăn trong quá trình sản

xuất

xuất

2.2 Thực trạng đầu tư của hộ nông dân xã An Phụ :

2.2.1 Các hình thức đầu tư của hộ nông dân xã An Phụ :

Từ các nguồn thu nhập của hộ nông dân, có thể chia ra 2 hình thức đầu tư là:Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp (lúa, rau màu, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản) chiếm86% và đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp (buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,làm thuê…) chiếm 34% Đa số hộ nông dân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp (chiếm86%) vì:

- Đây được coi là lĩnh vực dễ đầu tư

- Mang lại nguồn thu nhập tương đối ổn định

Trang 25

- Đây còn là ngành nghề truyền thống của gia đình.

- Không đòi hỏi trình độ cao và hơn thế nữa những hộ nông dân không tìmđược ngành nghề mới để thay thế

Một số hộ nông dân đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm 34% là do:

- Không có đất canh tác, nuôi trồng

- Ngành nghề hiện tại không đem lại lợi nhuận, ngành nghề mới phát triển đemlại lợi nhuận cao

- Bên cạnh thu nhập từ nông nghiệp họ muốn đầu tư thêm lĩnh vực khác để giatăng thu nhập cho gia đình

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư của hộ nông dân xã An Phụ :

Vốn: Trong tất cả các nhóm hộ từ nhóm có thu nhập thấp đến nhóm có thu

nhập cao thì nguồn vốn luôn là vấn đề quan tâm nhất khi quyết định đầu tư:

Lợi nhuận: Mặc dù vốn là vấn đề mà các nhóm hộ cho là rất ảnh hưởng khi

quyết định đầu tư nhưng một yếu tố khác cũng rất quan trọng đó là lợi nhuận:

Trang 26

Nhu cầu thị trường: Đối với yếu tố này thì chỉ có 3 nhóm cho là có ảnh hưởng

nhiều đến quyết định đầu tư:

Tiết kiệm: Khi quyết định đầu tư tiếp tục hoặc mở rộng sản xuất thì buộc các

nhóm hộ phải có vốn Thường vốn chủ yếu từ 2 kênh là: số tiền tiết kiệm mà bấy lâunay của hộ nông dân dành dụm và đi vay Vì vậy, đối với nhóm hộ có tiết kiệm khiquyết định đầu tư thì ít nhiều chịu ảnh hưởng, nhiều nhất là hai nhóm thu nhập cao vàthu nhập khá cùng là 96%, còn nhóm thu nhập trung bình là 40%

Chi tiêu: Ảnh hưởng đến đầu tư của nhóm hộ thu nhập cao 72%, hộ có thu

nhập khá 88%, hộ có thu nhập trung bình 68% và hộ có thu nhập thấp 40% Nhóm hộcho rằng chi tiêu có ảnh hưởng đến đầu tư thì có hai xu hướng trái ngược nhau:

- Một là chi tiêu nhiều hơn, tập trung ở nhóm hộ thu nhập cao và khá (cácnhóm hộ này lý giải do mở rộng sản xuất nên phải thuê mướn thêm nhân công, do đócác chi phí sinh hoạt như đi lại, ăn uống cũng phải tăng.)

- Hai là chi tiêu thấp hơn, tập trung ở nhóm hộ thu nhập trung bình và thấp (cácnhóm hộ này cho rằng do giá cả ngày càng đắt đỏ nên họ quyết định đầu tư mở rộngtrồng trọt, chăn nuôi ngoài việc kiếm thêm thu nhập họ có thể tự phục vụ cho nhu cầutiêu dùng hàng ngày của gia đình mình

Lãi suất: Việc tiếp tục hay mở rộng quy mô sản xuất chỉ được thực hiện được

khi có vốn trong tay Nhiều khi vốn tự có cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên các hộnông dân thường phải vay mượn từ bên ngoài Vì vậy lãi suất cũng là một yếu tố quantrọng cho việc tính toán chi phí để đưa ra quyết định đầu tư Ảnh hưởng của yếu tố lãi

Trang 27

suất trên các nhóm hộ nông dân như sau: nhóm hộ có thu nhập thấp 92%, nhóm thunhập cao 44%.

Chi phí bỏ ra: Cho các yếu tố sản xuất đầu vào như: giống, phân bón, thuốc

trừ sâu, thức ăn…gây ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất cho tất cả các nhóm hộ:

Khấu hao: Chỉ ảnh hưởng đến nhóm hộ có thu nhập cao 32%, thu nhập khá

28%, thu nhập trung bình 24%, do trong quá trình hoạt động sản xuất để đáp ứng nhucầu sản xuất đặt ra nên một số hộ đã mua máy móc: máy cày, máy tuốt lúa, máy bơmnước….Bên cạnh việc tự phục vụ sản xuất cho mình, trong những lúc nhàn rỗi họ cóthể làm thuê để gia tăng thu nhập cho gia đình Vì vậy đối với các nhóm hộ có máymóc sản xuất thường chịu tác động bởi yếu tố khấu hao

Kỹ thuật: Cũng là một yếu tố được quan tâm đặc biệt là nhóm hộ canh tác

trong lĩnh vực trồng hoa màu, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và nhóm hộ có diện tíchtrồng lúa lớn Nhóm thu nhập cao 36%, thu nhập khá 12%, thu nhập trung bình 20%,thu nhập thấp 8% Việc sản xuất không đúng kỹ thuật đã ảnh hưởng không nhỏ đếnquá trình sản xuất cũng như tiêu thụ chẳng hạn như:

- Chi phí sản xuất cao nhưng năng suất lại thấp

- Các sản phẩm thu hoạch không bán được do nồng độ các chất hóa học caohơn mức cho phép, không đạt tiêu chuẩn đề ra nên phải bán đổ, bán tháo ảnh hướngđến thu nhập

Bên cạnh yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng các nhóm hộ trong quá trình sản xuất nócũng là yếu tố ngăn cản các hộ nông dân muốn đầu tư mở rộng sản xuất đặc biệt lànhững lĩnh vực đòi hỏi phải có kỹ thuật

Trang 28

Ngoài ra, còn một số yếu tố khác gây ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư như:nhân công lao động, trình độ quản lý, cơ sở hạ tầng… chiếm một tỷ lệ nhỏ so với cácyếu tố khác

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp là rất phong phú và đa dạng Vì vậycác yếu tố ảnh hưởng đến nó cũng phong phú và đa dạng Đối với các nhóm hộ khácnhau thì mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến quá trình đầu tư cũng khác nhau Do

đó khi bắt đầu sản xuất một sản phẩm gì cần tính đến các yếu tố trên

2.2.3 Cầu về vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ năm 2011 :

Bảng : Chi phí đầu tư phân theo hoạt động sản xuất của 50 hộ nông dân điều tra

năm 2011 :

Đơn vị : nghìn đồng

Hoạt động sản xuất Chi phí đầu tư

Trang 29

III Thực trạng huy động vốn sản xuất- cung về vốn sản xuất của hộ nông dân

3.1 Nguồn vốn tự có của hộ

3.1.1 Phần từ thu nhập trong năm của hộ nông dân :

Bảng: Sử dụng thu nhập sau khi trừ chi phí đầu tư.

(đơn vị: %)

Hoạt động Nhóm hộ thu

nhập cao

Nhóm hộ thu nhập khá

Nhóm hộ thu nhập trung bình

Nhóm hộ thu nhập thấp

- Nhóm hộ thu nhập cao và thu nhập khá cùng chiếm 10%

- Nhóm trung bình chiếm 5%

- Còn đối với nhóm hộ có thu nhập thấp việc đủ tiền trong chi tiêu hàng ngày vàtiếp tục đầu tư sản xuất đã là một điều khó khăn nên không tính đến tích lũy

Ngoài số tiền dùng để chi tiêu hàng ngày, đầu tư tiếp tục sản xuất, tích lũy thì

hộ nông dân còn phải chi thêm một khoản đó là trả nợ vay, số tiền mà hộ nông dân đãvay các tổ chức tín dụng, người thân, hàng xóm… trong quá trình sản xuất cũng nhưchi tiêu Cụ thể:

- Nhóm thu nhập cao chiếm 3%

- Nhóm hộ thu nhập khá chiếm 8%

- Nhóm hộ thu nhập trung bình chiếm 10%

- Nhóm hộ thu nhập thấp chiếm 20%

Trang 30

Còn một khoản chi khác chiếm số lượng không nhiều nhưng lại chiếm mộtphần thu nhập đáng kể của hộ nông dân như: sửa chữa nhà cửa, mua xe, những rủi robất thường (đau ốm, bệnh tật)…

Bảng: Chi tiêu hộ nông dân

và gấp 3,8 lần nhóm hộ có thu nhập thấp332 ngàn đồng/người/tháng Ta thấy, khoảngcách giữa nhóm chi tiêu cao nhất là1,25 triệu đồng/người/tháng và chi tiêu thấp nhấtlà332ngàn đồng/người/tháng Đây là mức chi tiêu tương đối chêch lệch, ảnh hưởngđến sự tăng trưởng kinh tế xã và khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các nhóm hộngày càng rõ nét Điều đó có thể thấy rằng những hộ nông dân có thu nhập khá và caothì nhu cầu không chỉ dừng lại ở ăn no, mặc ấm nữa mà là ăn ngon, mặc đẹp Còn đối

Trang 31

với nhóm hộ có thu nhập trung bình và thấp thì nhu cầu chi tiêu chỉ dừng lại ở ăn no,mặc ấm là đã đủ Hộ có thu nhập cao có mức chi tiêu cho ăn uống đạt 718 ngànđồng/người/tháng gấp 3,9 lần so với nhóm hộ có thu nhập thấp là 183 ngànđồng/người/tháng Bên cạnh chi tiêu cho việc ăn uống thì đi lại, học hành, mua sắm,đám tiệc, du lịch… cũng chiếm một khoản khá lớn trong tổng chi tiêu của các nhómhộ.

Chi tiêu ở các khu vực và nhóm dân cư cũng có sự khác nhau Nhóm hộ nôngdân thuần nông có mức chi tiêu thấp hơn so với nhóm hộ ở khu vực chợ là vì: Nhóm

hộ sống bằng nông nghiệp có thể tận dụng được những phế phẩm từ sản xuất lúa vàtrong cuộc sống hằng ngày để trồng trọt và chăn nuôi thêm để phục vụ cho nhu cầu ănuống hàng ngày

Để làm rõ hơn, ta xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ nông dân:

Thu nhập: Thật vậy thu nhập là yếu tố rất quan trọng trong cuộc sống hằng

ngày nó chi phối hầu hết các yếu tố khác trong đó có chi tiêu, 100% số hộ từ thu nhậpthấp nhất đến thu nhập cao đều cho rằng chi tiêu chịu ảnh hưởng bởi thu nhập

Lạm phát: Chỉ có 28% số hộ nhóm thu nhập cao và 44% thu nhập khá cho

rằng lạm phát ảnh hưởng đến chi tiêu Trong khi đó hai nhóm còn lại chiếm tỷ lệ caohơn cụ thể: Nhóm hộ thu nhập trung bình là 68%, thu nhập thấp là 80%

Giá cả hàng hóa: Việc giá cả hàng hóa tiêu dùng trong hàng ngày trong thời

gian qua liên tục tăng đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu như: lương thực, thực phẩmcũng đã ảnh hưởng phần nào đến mức chi tiêu của các nhóm hộ Cụ thể:

- Nhóm thu nhập cao là 52%

- Nhóm thu nhập khá có 56%

Nhóm này cho rằng do thói quen chi tiêu như vậy, thì dù giá cả sinh hoạt cótăng nhưng họ vẫn giữ ở mức chi tiêu cũ Hơn thế nữa, mặc dù giá cả hàng hóa có tăngnhưng thu nhập mà họ thu được từ sản xuất kinh doanh cũng tăng tính qua tính lạicũng chẳng thấy có ảnh hưởng gì

Còn hai nhóm còn lại thì việc giá cả hàng hóa tăng ảnh hưởng nhiều đến chitiêu:

- Nhóm thu nhập trung bình là 96%

- Nhóm thu nhập thấp 100%

Ngày đăng: 20/05/2015, 12:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.6. Hình thức sử dụng vốn sản xuất của hộ nông dân- cầu vốn sản xuất của hộ: - luận văn quản trị tài chính  Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
2.6. Hình thức sử dụng vốn sản xuất của hộ nông dân- cầu vốn sản xuất của hộ: (Trang 14)
Bảng : Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất : - luận văn quản trị tài chính  Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
ng Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất : (Trang 18)
Bảng : Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất của 50 hộ nông dân điều tra năm 2011 - luận văn quản trị tài chính  Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
ng Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất của 50 hộ nông dân điều tra năm 2011 (Trang 21)
Sơ đồ trên cho thấy các hộ có thể giao dịch trực tiếp với tất cả các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động trên địa bàn xã An Phụ - luận văn quản trị tài chính  Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
Sơ đồ tr ên cho thấy các hộ có thể giao dịch trực tiếp với tất cả các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động trên địa bàn xã An Phụ (Trang 36)
Bảng : Đánh giá của hộ nông dân về lượng vốn vay và thời gian cho vay của các tổ chức tín dụng chính thức - luận văn quản trị tài chính  Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
ng Đánh giá của hộ nông dân về lượng vốn vay và thời gian cho vay của các tổ chức tín dụng chính thức (Trang 42)
Bảng : kết quả ước lượng hồi quy - luận văn quản trị tài chính  Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
ng kết quả ước lượng hồi quy (Trang 46)
BẢNG PHỎNG VẤN HỘ NÔNG DÂN  Xã An Phụ, huyện Kinh Môn, Hải Dương. - luận văn quản trị tài chính  Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
n Phụ, huyện Kinh Môn, Hải Dương (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w