Sản xuất hàng hoá là sản xuất để bán. Bán ở đâu? bán trên thị trường. Vậy thị trường là cái tất yếu, là hợp phần bắt buộc của sản xuất hàng hoá.
Trang 1PHẦN I
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG
VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI THỊ TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG:
1 Khái niệm về thị trường:
Sản xuất hàng hoá là sản xuất để bán Bán ở đâu? bán trên thịtrường Vậy thị trường là cái tất yếu, là hợp phần bắt buộc của sản xuấthàng hoá Thị trường là nơi diễn ra sự chuyển nhượng, sự trao đổi, sự mua
- bán hàng hoá
Điều quan trọng để hiểu được thực chất của thị trường là ở chỗ, thịtrường không phải chỉ đơn thuần là lĩnh vực trao đổi, di chuyển hàng hoá,dịch vụ từ người sản xuất sang người tiêu dùng, mà là trao đổi được tổchức theo các quy luật của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ C.Mác
đã từng chỉ ra rằng, lưu thông là quá trình tổng thể của trao đổi và là quátrình hình thành và tích luỹ tiền tệ Trong trao đổi diễn ra sự thay thế trựctiếp, không tách rời sản phẩm này với sản phẩm khác, còn quá trình hìnhthành tích luỹ tiền tệ chỉ diễn ra khi các hành vi mua, bán tách ra cả vềkhông gian, thời gian và cả người thực hiện hành vi đó Lưu thông hànhhoá giả định mua và bán tách ra, tiền và hàng tách ra thành hai cực đối lậpnhau, nhưng không thể thiếu nhau trên thị trường Cực lưu thông hàng hoá
và cực lưu thông tiền tệ Có nghĩa là hàng hoá không tức khắc đượcchuyển thành tiền và tiền thành hàng; Vì thế bản thân sự trao đổi khôngphải đương nhiên thực hiện được Nhằm giải quyết những khó khăn, mâuthuẫn ấy, giữa các chủ thể của sản xuất - lưu thông có những quan hệ thịtrường, để giải quyết tương quan giữa giá cả và số lượng hàng hoá mua -bán Vậy có thể hiểu, thị trường là một quá trình, trong đó, người bán vàngười mua tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng củamột hay nhiều thứ hàng hoá khác nhau Trong đời sống kinh tế, chúng tagặp nhiều loại thị trường khác nhau
Trang 22 Vai trò và phân loại thị trường
2.1 Vai trò:
Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất hàng hoá, kinhdoanh và quản lý kinh tế Tái sản xuất hàng hoá gồm có sản xuất, phânphối, trao đổi và tiêu dùng Thị trường nằm trong khâu lưu thông Như vậythị trường là một khâu tất yếu của sản xuất hàng hoá Thị trường chỉ mấtkhi sản xuất hàng hoá không còn Như vậy, không nên và không thể coiphạm trù thị trường chỉ gắn với nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Thịtrường là chiếc cầu nối của sản xuất và tiêu dùng Thị trường là mục tiêucủa quá trình sản xuất hàng hoá Thị trường là khâu quan trọng nhất củaquá trình tái sản xuất hàng hoá Để sản xuất hàng hoá, xã hội phải chi phísản xuất, chi phí lưu thông Thị trường là nơi kiểm nghiệm các chi phí đó
và thực hiện yêu cầu quy luật tiết kiệm lao động xã hội
Thị trường không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán nócòn thể hiện các quan hệ hàng hoá tiền tệ Do đó thị trường còn được coi
là môi trường của kinh doanh Thị trường là khách quan, từng cơ sở sảnxuất, kinh doanh không có khả năng làm thay đổi thị trường mà ngược lại
họ phải tiếp cận để thích ứng với thị trường Thị trường là ‘ tấm gương
“ để các cơ sở kinh doanh nhận biết nhu cầu xã hội để đánh giá hiệu quảkinh doanh của chính bản thân mình Thị trường là thước đo khách quancủa mọi cơ sở kinh doanh
Trong quản lý kinh tế, thị trường có vai trò vô cùng quan trọng Thịtrường là đối tượng, là căn cứ của kế hoạch hoá Cơ chế thị trường là cơchế quản lý nền kinh tế hàng hoá Thị trường là công cụ bổ sung cho cáccông cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Thị trường là môitrường của kinh doanh, là nơi Nhà nước tác động vào quá trình kinh doanhcủa cơ sở, là nơi quan trọng để đánh giá kiểm nghiệm, chứng minh sựđúng đắn của các chủ trương chính sách và các biện pháp kinh tế của các
cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp
Thị trường là nơi phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh nó cho biếthiện trạng tình hình sản xuất kinh doanh nhìn vào thị trường sẽ thấy đượctốc độ, trình độ và quy mô sản xuất kinh doanh đồng thời thị trường cũngphá vỡ gianh giới của nền kinh tế tự nhiên tự cung , tự cấp để trở thànhmột thể thống nhất trong toàn nền kinh tế quốc dân biến nền kinh tế tựnhiên thành nền kinh tế hàng hoá
2.2 Phân loại thị trường:
Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công trongkinh doanh là sự hiểu biết cặn kẽ tính chất của từng thị trường Nhận biết
Trang 3được đặc điểm và sự hoạt động của từng loại thị trường, các yếu tố thamgia vào hoạt động của thị trường, từ đó thấy rõ đặc điểm hình thành và vậnđộng của giá cả thị trường, do đó cần phải nghiên cứu, phân loại các hìnhthái thị trường.
2.2.1 Phân theo phạm vi lãnh thổ:
Thị trường dân tộc là hoạt động mua bán của những người cùng
một quốc gia và các quan hệ kinh tế diễn ra trong mua bán, chỉ ảnh hưởngtới các vấn đề kinh tế chính trị trong phạm vi của nước đó
Thị trường thế giới là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoágiữa các nước với nhau Các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường thếgiới ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của mỗi nước
Phân biệt thị trường dân tộc và thị trường thế giới không phải ởphạm vi biên giới của những nước mà chủ yếu ở người mua và người bán,
ở các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường Với sự phát triển của kinh tế,của khoa học kỹ thuật và phân công lao động thế giới, kinh tế mỗi nướctrở thành một mắt xích của hệ thống kinh tế thế giới, do đó, thị trường dântộc có quan hệ mật thiết với thị trường thế giới và mỗi thị trường dân tộc
là một bộ phận của thị trường thế giới Thị trường thế giới ảnh hưởng tolớn tới thị trường dân tộc Hàng hoá trên thị trường thế giới, giá cả, tiền tệtrên thị trường thế giới, các hoạt động thương gia trên thị trường thế giớiđều ảnh hưởng, chi phối tới các hoạt động kinh doanh, quan hệ cung cầu,giá cả trên thị trường dân tộc Do vậy, dự báo được sự tác động của thịtrường thế giới tới thị trường dân tộc là sự cần thiết và cũng là những nhân
tố tạo ra sự thành công đối với mỗi nhà kinh doanh trên thị trường dân tộc
2.2.2 Phân loại theo hàng hoá lưu thông:
Vai trò của tư liệu sản xuất trong tái sản xuất xã hội quyết định vaitrò thị trường tư liệu sản xuất Trên thị trường tư liệu sản xuất thường cócác nhà kinh doanh lớn Sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ hơn Quy mô thịtrường lớn Khả năng hình thành thị trường thống nhất toàn quốc lớn Nhucầu trên thị trường không phong phú, đa dạng như nhu cầu trên thị trường
tư liệu tiêu dùng Nhu cầu đó tương đối rõ ràng Khả năng chuyển đổi,thay thế của nhu cầu tuy nhiều tuy có diễn ra nhưng thường bị hạn chếhơn so với tư liệu tiêu dùng Thị trường tư liệu sản xuất bị phụ thuộc nhiềuvào thị trường tư liệu tiêu dùng Thị trường tư liệu sản xuất chủ yếu là thịtrường bán buôn
Trang 4Tính đa dạng, phong phú của nhu cầu người tiêu dùng cuối cùngquyết định tính đa dạng, phong phú và sôi động của thị trường tiêu dùng.Trên từng thị trường, số lượng người mua và người bán nhiều Thị trườngphổ biến là thị trường cạnh tranh nhưng mức độ cạnh tranh không gay gắtnhư trên thị trường tư liệu sản xuất Khả năng hình thành các “ cửa hàng “
“khu phố” siêu thị của thị trường tư liệu tiêu dùng rất lớn Hình thức muabán trên thị trường cũng rất phong phú Thị trường bán lẻ là thị trường chủyếu của thị trường tư liệu tiêu dùng
2.2.3 Phân loại theo thị trường người bán và thị trường người mua:
Trên thị trường người bán, vai trò quyết định thuộc về người bánhàng Các quan hệ hình thành trên thị trường ( quan hệ cung - cầu; quan
hệ giá cả - tiền tệ; quan hệ cạnh tranh v.v ) hình thành không khách quan.Giá cả bị áp đặt, cạnh tranh bị thủ tiêu hoặc không đủ điều kiện để hoạtđộng các kênh phân phối và lưu thông không hợp lý; nhiều mặt hàng , loạihàng cung ứng ra thị trường không theo yêu cầu của thị trường, vai trò củangười mua bị thủ tiêu
Sự hình thành thị trường người bán, một mặt do sản xuất hàng hoáchưa phát triển, mặt khác, quan trọng hơn là do sự tác động chi phối của
cả hệ thống quản lý kinh tế hành chính, bao cấp Xoá bỏ cơ chế quản lýhành chính bao cấp là yếu tố cực kỳ quan trọng để chuyển từ thị trườngngười bán thành thị trường người mua
Không nên hiểu thị trường người mua là đối lập, là ngược lại đối vớithị trường người bán Trên thị trường người mua, vai trò quyết định trongquan hệ mua bán thuộc về người mua Chính vì vậy, thị trường là yếu tốquyết định cuả quá trình tái sản xuất hàng hoá Khẩu hiệu “ chỉ bán nhữngcái thị trường cần “ cũng được khái quát và kết luận từ thị trường này Cácquan hệ kinh tế trên thị trường ( quan hệ tỷ lệ về sản phẩm, quan hệ cungcầu, quan hệ giá cả và cung cầu v.v ) giá cả được hình thành một cáchkhách quan Thị trường người mua là môi trường khách quan cho sự hoạtđộng của các quy luật kinh tế của thị trường Với thị trường người mua,vai trò của các quy luật kinh tế của thị trường được phát huy tác dụng Thịtrường người mua không phải chỉ là công cụ điều tiết sản xuất xã hội mà
nó còn trở thành “công cụ” để bổ sung cho kế hoạch Đối với thị trườngngười mua, thái độ khôn khéo của nhà kinh doanh để đạt được thành công
là nhận thức, tiếp cận, xâm nhập và khai thác thị trường
Trang 52.2.4 Phân loại theo thị trường trung tâm và không trung tâm:
Thị trường trung tâm là thị trường có khối lượng hàng hoá tiêuthụ trên thị trường này chiếm tuyệt đại bộ phận so với tổng khối lượnghàng hoá được đưa ra tiêu thụ ở các thị trường không trung tâm Trên thịtrường trung tâm có các nhà kinh doanh lớn, số lượng các nhà kinh doanhlớn, sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh cũng gay gắt và phức tạp hơn
Số lượng người mau đông vì người mua thường có tâm lý tin tưởng vàocác quan hệ mua bán và sản phẩm trên thị trường Trên thị trường trungtâm, sản phẩm không những có khối lượng lớn mà chất lượng sản phẩmđược bảo đảm và ổn định Các quan hệ kinh tế, giá cả diễn ra trên thịtrường tương đối ổn định Giá cả trên thị trường trung tâm có ảnh hưởngrất lớn các quan hệ kinh tế và giá cả trên các thị trường khác Các điềukiện dịch vụ cho mua và bán trên thị trường trung tâm cũng tốt hơn, thuậntiện hơn so với các thị trường khác Các cửa hàng siêu thị, khu phố siêuthị v.v thường xuất hiện trên thị trường trung tâm Nhìn chung, khi cácnhà kinh doanh đã xâm nhập được thị trường trung tâm thì quá trình kinhdoanh tương đối an toàn
Do vai trò của thị trường trung tâm trong hệ thống thị trường nênthông tin lấy từ thị trường trung tâm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối vớiviệc ra quyết định trong kinh doanh cũng như trong quản lý kinh tế
2.2.5 Phân loại theo mức độ cạnh tranh:
Đây là dạng phân loại thị trường gắn liền với phương thức hìnhthành và vận động của giá cả thị trường Tiêu chuẩn cơ bản để phân loại ởđây là vai trò của các doanh nghiệp ( người bán ) trong tương quan đối vớitoàn thể thị trường ( tổng cung ) và vai trò của người mua trong tươngquan với tổng cầu hàng hoá Theo cách phân loại này, có các dạng thịtrường sau:
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường, trong đó không mộtngười bán hay mua nào có vai trò lớn trong toàn bộ thị trường của mộthàng hoá nhất định, từ đó không thể có ảnh hưởng quyết định đến giá cảthị trường của hàng hoá đó
+ Điều kiện cần thiết của sự tồn tại thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
Số người tham gia thị trường phải tương đối nhiều, do đó mọi ngườimua, bán chỉ có mối liên hệ,ảnh hưởng rất nhỏ so với toàn thể thị trường.Tức là, nếu một hoặc một nhóm nhỏ người bán hay người mua rút ra khỏi
Trang 6thị trường thì tổng số cung hoặc tổng số cầu thay đổi không đáng kể, giá
cả cũng không thay đổi Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả thịtrường hình thành và vận động độc lập với cả người mua và người bán Họchỉ được coi là “những người nhận giá”, cá nhân họ không có vai trò quyếtđịnh giá cả thị trường
* Hàng hoá mua - bán trên thị trường phải đồng nhất, không cónhiều sự khác biệt với nhau Các yếu tố sản xuất cũng có thể di chuyển dễdàng từ nghành này sang nghành khác, hàng hoá cũng có thể bán ở bất cứ
ở đâu có giá cao hơn
* Không có những hạn chế giả tạo được gây ra trên số cầu, số cung
và giá cả của các hàng hoá và tài nguyên Giá cả tự do thay đổi theo quan
hệ cung - cầu, không bị hạn chế bằng các biện pháp hành chính của nhànước, vì vậy, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả thị trường sẽtiến gần đến mức chi phí trung bình
* Tất cả người mua, người bán đều có sự hiểu biết hoàn toàn vàđược thông tin đầy đủ về tình hình cung - cầu, về điều kiện mua - bán vềgiá cả của thị trường
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là thị trường, trong đó,khối lượng sản phẩm của người bán có nhiều sự khác nhau, dẫn đến vaitrò của mỗi người bán có ảnh hưởng nhiều đến lượng cung ứng và giá cảtrên thị trường Trên thực tế, rất ít sản phẩm thuộc loại thị trường cạnhtranh không hoàn hảo mà phần lớn sản phẩm thuộc loại thị trường cạnhtranh không hoàn hảo Trong thị trường này, phần nào các doanh nghiệp
có thể kiểm soát được giá cả Thị trường cạnh tranh không hoàn hảothường có tác dụng sau:
+ Thị trường độc quyền đơn phương:
Thị trường độc quyền đơn phương là thị trường chỉ có một người,nói đúng hơn là một chủ thể bán ( người sản xuất duy nhất ) không có sảnphẩm khác có thể thay thế Đó là hình thái thị trường độc quyền của mộtngười ( một chủ thể ) duy nhất bán hàng hay còn là độc quyền tự nhiên, ởcác nước trên thế giới cũng như ở nước ta, hình thái thị trường này chỉ tồntại trong một số ngành sản xuất nhất định như điện, nước, bưuđiện Trong hình thái thị trường này, nhu cầu về sản phẩm ít co dãn, nênngười bán có thể kiểm soát hoàn toàn khối lượng hàng hoá, dịch vụ trênthị trường và tự quyết định giá, do đó giá cả thường cao hơn chi phí bình
Trang 7quân trong nọi thời kỳ và doanh nghiệp luôn bảo đảm được lợi nhuận Tuynhiên, doanh nghiệp cũng phải lựa chọn cho mình một mức giá bán thíchhợp với một sản lượng nhất định để có thể đạt lợi nhuận tối đa.
Để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, Nhà nước phải tham gia quản
lý vĩ mô đối với loại thị trường này bằng những biện pháp chống độcquyền Các nước thường sử dụng các biện pháp thuế, kiểm soát giá cả,quy định luật lệ cấm liên kết để hình thành độc quyền, bảo vệ tự do cạnhtranh
+ Thị trường độc quyền đa phương:
Thị trường độc quyền đa phương là thị trường, trong đó, số ngườibán vừa đủ để cho những hoạt động của một người có ảnh hưởng đếnlượng cung và giá cả của những doanh nghiệp khác Trên thị trường độcquyền đa phương, những người bán có quạn hệ phụ thuộc tương hỗ nhau
và có thể chia ra làm hai loại:
* Một số người sản xuất cùng một sản phẩm, nhưng số người bán ítlên mỗi người đều có thể ảnh hưởng lớn đến giá cả thị trường hoặc ngườimua ít nên được quyền lựa chọn người bán hàng
* Những người bán hàng , bán sản phẩm có thể thay thế cho nhau
Do trên thị trường độc quyền đa phương còn có cạnh tranh nên giá
cả cũng thường biến đổi; các doanh nghiệp có thể tác động ít nhiều đếncung - cầu và giá cả thị trường sản phẩm
- Thị trường cạnh tranh độc quyền:
Thị trường cạnh tranh độc quyền là thị trường, trong đó, có nhiềungười bán hàng cùng một sản phẩm, nhưng sản phẩm của mỗi người bán ítnhiều có sự khác nhau Trong thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiềungười bán và nhiều người mua, mỗi người có mối liên hệ rất nhỏ, ở đây họbán những sản phẩm khác nhau về chủng loại, quy cách, chất lượng, dịch
vụ cung ứng Tức là các điều kiện mua - bán hàng rất khác nhau, nên giá
cả cũng khác nhau, mỗi người đều có thể tác động đến giá cả và sản lượng
ở một mức độ nhất định Tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi sản phẩm đượcbán trên thị trường và thị hiếu của người mua mà giá cả có thể dao độngtrong phạm vi mức giá giới hạn, tức là trên thị trường cạnh tranh độcquyền giá cả luôn biến động nhưng với mức độ nhỏ
Trang 82.2.6 Phân loại theo thị trường khu vực và thị trường toàn quốc:
Thị trường khu vực bị chi phối nhiều của các nhân tố kinh tế - xãhội, tự nhiên v.v của các khu vực Các quan hệ mua bán chủ yếu diễn ratrong khu vực Sức hút hàng hoá của thị trườngkhông lớn Sự can thiệpcủa Nhà nước trung ương vào thị trườngkhông nhiều Sức chứa thị trườngkhông lớn
Thị trường thống nhất toàn quốc có vai trò quan trọng trong nềnkinh tế Các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường ảnh hưởng lớn đến sựphát triển nền kinh tế quốc dân Sức hút hàng hoá cuả thị trường lớn và nóchi phối sự vận động của các kênh lưu thông trong toàn quốc Trên thịtrường thống nhất thường có các nhà kinh doanh lớn hoạt động Sự tácđộng của Nhà nước vào thị trường để bảo vệ thị trường, bảo vệ giá cả lớn
Sự ổn định của các quan hệ kinh tế trên thị trường này không lớn bằng thịtrường khu vực
II CÁC CHỨC NĂNG VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THỊ
TRƯỜNG:
Chức năng của thị trường là những tác động khách quan vốn có
bắt nguồn từ bản chất của thị trường tới quá trình tái sản xuất và đời sốngkinh tế xã hội
1 Chức năng :
1.1 Chức năng thực hiện:
Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trường.Thực hiện hoạt động này là cơ sở quan trọng có tính chất quyết định đốivới việc thực hiện các quan hệ và hoạt động khác
Thị trường thực hiện: hành vi trao đổi hàng hoá; thực hiện tổng số
cung và cầu trên thị trường; thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ hànghoá; thực hiện giá trị ( thông qua giá cả ); thực hiện việc trao đổi giá trịv.v Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá hìnhthành nên các giá trị trao đổi của mình Giá trị trao đổi là cơ sở vô cùngquan trọng để hình thành nên cơ cấu sản phẩm, các quan hệ tỷ lệ về kinh
tế trên thị trường
Trang 91.2 Chức năng thừa nhận:
Hàng hoá được sản xuất ra, người sản xuất phải bán nó Việc bánhàng được thực hiện thông qua chức năng thừa nhận của thị trường Thịtrường thừa nhận chính là người mua chấp nhận thì cũng có nghĩa là về cơbản quá trình tái sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành Bởi vì bảnthân việc tiêu dùng sản phẩm và các chi phí tiêu dùng cũng đã khẳng địnhtrên thị trường khi hàng hoá được bán
Thị trường thừa nhận: tổng khối lượng hàng hoá ( tổng giá trị sử dụng ) đưa ra thị trường; cơ cấu của cung và cầu, quan hệ cung cầu đối với từng hàng hoá; thừa nhận giá trị sở dụng và giá trị của hàng hoá, chuyển giá trị sử dụng và giá trị cá biệt thành giá trị sử dụng và giá trị
xã hội; thừa nhận các hoạt động mua và bán v.v
Thị trường không phải chỉ thừa nhận thụ động các kết quả của quátrình tái sản xuất, quá trình mua bán mà thông qua sự hoạt động của cácquy luật kinh tế trên thị trường mà thị trường còn kiểm tra, kiểm nghiệmquá trình tái sản xuất quá trình mua bán đó.1.3 Chức năng điều tiết, kíchthích:
Nhu cầu thị trường là mục đích của quá trình sản xuất Thị trường làtập hợp các hoạt động của các quy luật kinh tế cả thị trường Do đó, thịtrường vừa là mục tiêu vừa tạo ra động lực để thực hiện các mục tiêu đó
Đó là cơ sở quan trọng để chức năng điều tiết và kích thích của thị trường
phát huy vai trò của mình.
- Chức năng điều tiết và kích thích thể hiện ở chỗ:
+ Thông qua nhu cầu thị trường, người sản xuất chủ động di chuyển
tư liệu sản xuất, vốn và lao động từ ngành này qua ngành khác từ sảnphẩm này qua sản phẩm khác để có lợi nhuận cao
+ Thông qua các hoạt động của các quy luật kinh tế của thị trường,người sản xuất có lợi thế trong cạnh tranh sẽ tận dụng khả năng của mình
để phát triển sản xuất.gược lại những người sản xuất chưa tạo ra được lợithế trên thị trường cũng phải vươn lên để thoát khỏi nguy cơ phá sản Đó
là những động lực mà thị trường tạo ra đối với sản xuất
+ Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trườngngười tiêu dùng buộc phải cân nhắc, tính toán quá trình tiêu dùng củamình Do đó thị trường có vai trò to lớn đối với việc hướng dẫn tiêu dùng
Trang 10+ Trong quá trình tái sản xuất, không phải người sản xuất, lưu thôngv.v chỉ ra cách chi phí như thế nào cũng được xã hội thừa nhận Thịtrường chỉ thừa nhận ở mức thấp hơn hoặc bằng mức xã hội cần thiết( trung bình ) Do đó thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với kíchthích tiết kiệm chi phí, tiết kiệm lao động
1.4 Chức năng thông tin:
Trong tất cả các khâu ( các giai đoạn ) của quá trình tái sản xuấthàng hoá, chỉ có thị trường mới có thể có chức năng thông tin Trên thịtrường có nhiều mối quan hệ: kinh tế, chính trị, xã hội, dân tộc, v.v Songthông tin kinh tế là quan trọng nhất
Thị trường thông tin về: tổng số cung và tổng số cầu; cơ cấu của
cung và cầu; quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hoá; giá cả thịtrường; các yếu tố ảnh hưởng tới thị trường, đến mua và bán, chất lượngsản phẩm, hướng vận động của hàng hoá; các điều kiện dịch vụ cho mua
Trong quản lý kinh tế, phủ nhận vai trò của thị trường thì cũng cónghĩa là phủ nhận vai trò của thông tin đối với việc ra quyết định
Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau.Mỗi hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năngnày Vì là những tác dụng vốn có bắt nguồn từ bản chất của thị trường, do
đó không nên đặt vấn đề chức năng nào quan trọng nhất hoặc chức năngnào quan trọng hơn chức năng nào Song cũng cần thấy rằng chỉ khi chứcnăng thừa nhận được thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tácdụng
2 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường
2.1 Nhân tố kinh tế:
Các nhân tố kinh tế có vai trò quyết định Bởi vì nó tác động trựctiếp tới cung cầu, giá cả, tiền tệ, quan hệ cung cầu, v.v Các nhân tố thuộc
về kinh tế rất phong phú
Trang 112.2 Nhân tố chính trị - xã hội:
Các nhân tố thuộc về chính trị - xã hội cũng ảnh hưởng to lớn tới thịtrường Các nhân tố này thường được thể hiẹn qua chính sách tiêu dùng,dân tộc, quan hệ quốc tế, chiến tranh và hoà bình v.v Nhân tố chính trị -
xã hội tác động trực tiếp tới kinh tế và do đó cũng tác động trực tiếp tới thịtrường
2.3 Nhân tố tâm - sinh lý:
Các nhân tố tâm, sinh lý tác động mạnh mẽ tới người tiêu dùng và
do đó tác dộng mạnh mẽ tới nhu cầu và mong muốn trên thị trường
2.4 Nhân tố thời tiết:
Cũng như các nhân tố thuộc về tâm - sinh lý, nhân tố thời tiết, khíhậu cũng ảnh hưởng trực tiếp to lớn tới người tiêu dùng, tới nhu cầu vàmong muốn Tuy nhiên thời tiết, khí hậu cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới sảnxuất, tới cung của thị trường
2.5 Nhân tố thuộc quản lý vĩ mô:
Các nhân tố thuộc quản lý vĩ mô là các chủ trương, chính sách, biệnpháp của nhà nước các cấp tác động vào thị trường Thực chất những nhân
tố này thể hiện sự quản lý của nhà nước đối với thị trường, sự điều tiết củanhà nước đối với thị trường
Tùy theo điều kiện cụ thể của từng nước, từng thị trường, từng thời
kỳ mà các chủ trương, chính sách và biện pháp của Nhà nước tác độngvào thị trường sẽ khác nhau Song những chính sách, những biện pháp hayđược sử dụng là: thuế, quỹ điều hoà giá cả, bảo hiểm giá cả v.v Mỗi biệnpháp có vai trò khác nhau tới thị trường Song nhìn chung, các biện phápnày tác động trực tiếp vào hoặc cung hoặc cầu và do đó cũng tác độnggián tiếp vào giá cả Đó là ba yếu tố quan trọng nhất của thị trường.Những nhân tố này tạo ra môi trường cho kinh doanh Đó cũng là nhân tố
mà các cơ sở kinh doanh không quản lý được
2.6 Nhân tố thuộc vi mô:
Những nhân tố thuộc quản lý vi mô là những chiến lược, chính sách
và biện pháp của các cơ sở kinh doanh sử dụng trong kinh doanh Nhữngnhân tố này rất phong phú và phức tạp Những nhân tố này thường là cácchính sách làm sản phẩm thích ứng với thị trường, phân phối hàng hoá,
Trang 12giá cả quảng cáo, các bí quyết cạnh tranh v.v Đó cũng là những chiếnlược, chính sách, biện pháp để các cơ sở kinh doanh tiếp cận và thích ứngvới thị trường, v.v Các cơ sở kinh doanh quản lý được các nhân tố này
III CÁC QUY LUẬT CỦA THỊ TRƯỜNG:
Sản xuất hàng hoá được biểu hiện tập trung và đầy đủ nhất trên thịtrừơng Trên thị trường, có rất nhiều quy luật kinh tế hoạt động Do đó,cần có sự phân loại và giới hạn khi nghiên cứu quy luật kinh tế của thịtrường Trên các loại thị trường đều có sự hoạt động của ba quy luật kinh
tế phổ biến của thị trường là :
1 Quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổihàng hoá Quy luật này yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựatrên cơ sở lượng giá trị hàng hoá hay thời gian lao động xã hội cần thiết.Trong sản xuất, lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá phải phù hợp vớihao phí lao động xã hội cần thiết Trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắcngang giá
Giá cả hàng hoá phụ thuộc vào giá trị và các nhân tố khác như quan
hệ cung cầu, tình trạng độc quyền trên thị trường Giá cả hàng hoá trên thịtrường xoay xunh quanh trục giá trị Tổng giá cả hàng hoá luôn bằng tổnggiá trị của chúng
Quy luật giá trị có tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hànghoá; kích thích lực lượng sản xuất phát triển; thực hiện sự bình tuyển tựnhiên, phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo
2 Quy luật cung cầu:
Cung, cầu là hai phạm trù kinh tế quan trọng của nền kinh tế thịtrường Cung cầu không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà thường xuyên tácđộng qua lại nhau, có quan hệ biện chứng với nhau Quan hệ cung cầu làquan hệ bản chất, thường xuyên lặp đi lặp lại của kinh tế thị trường Nótrở thành quy luật của kinh tế thị trường
Sự tương tác giữa cung và cầu hàng hoá và dịch vụ tạo nên giá cảbình quân Gọi là giá cả bình quân nhưng nó lại luôn luôn giao động trứơctác động trước sự tác động của nhiều lực Cung cầu do tác động của nhiều
Trang 13yếu tố nên thường xuyên biến động, sự biến động này lại làm thay đổi giá
cả bình quân Khi giá cả bình quân của một loại hàng hoá nào đó giaođộng, lai tác động đến giá cả của các loại hàng hoá khác, vì khả năng thaythế và bổ sung lẫn nhau của chúng
Có nhiều trường hợp giá cả không bao giờ ổn định mà chỉ xoayquanh một mức giá bình quân Hiện tượng này do sự dự đoán số lượngcung cầu không sát thực Một yếu tố khác là kỳ vọng của nhà sản xuất, thuhẹp hoặc mở rộng sản xuất, bao gồm kỳ vọng cả sản lượng lẫn giá cả.Người mua cũng có những kỳ vọng riêng của mình Điều đáng quan tâm
là sự thay đổi về những kỳ vọng của người mua hay người bán lại trởthànhđộng cơ quyền lợi riêng tư, đẩy họ vào trạng thái cạnh tranh
Cung cầu cân đối là tạm thời Do đó, các thị trường luôn biến động
Sự biến động đó thể hiện qua thước đo giá cả thị trường Mức cung lớnhơn mức cầu thì giá giảm, mức cung bằng mức cầu thì ta có giá cả bìnhquân, mức cung nhỏ hơn mức cầu thì giá cả tăng lên
3 Quy luật cạnh tranh:
Sự tự do trong sản xuất kinh doanh với nhiều thành phần kinh tếtham gia là nguồn gốc của sự cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật trong nềnkinh tế thị trường Cạnh tranh về mặt kinh tế khác hẳn sự cạnh tranh đểđoạt một giải thưởng Nó là một cuộc chạy đua không phải một lần rồithôi mà là một quá trình liên tục Đó là một cuộc chạy ‘ maratông kinh tế “không có đích cuối cùng, ai cảm nhận thấy đích, người đó trở thành nhịpcầu cho các đối thủ vượt lên phía trước Chạy đua kinh tế phải luôn ở phíatrước để tránh những trận đòn của người chạy phía sau Đó là sự cạnhtranh về chất lượng, hiệu quả, về giá cả, về dịch vụ phục vụ khách hànggiữa người mua và người bán, giữa những người mua và những người bánvới nhau Không thể lẩn trách cạnh tranh, vì như vậy cầm chắc phá sản,phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn sàng, linh hoạt sửdụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh thựchiện bốn chức năng cơ bản: Cạnh tranh làm cho giá cả hàng hoá , dịch vụgiảm xuống; Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá các yếu tốđầu vào của sản xuất, kinh doanh; Cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệpphải không ngừng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; Cạnh tranh là công
cụ tước quyền thống trị, độc quyền về kinh tế trong lịch sử
Trang 144 Quy luật lưu thông tiền tệ:
Quy luật này chỉ ra rằng số lượng ( hay khối lượng ) tiền lưu thôngphải phù hợp với tổng giá trị hàng hoá lưu thông trên thị trường Số lượng
ấy được tính như sau:
Số lượng ( khối lượng ) Tổng giá trị hàng hoá lưu thông
Tiền cho lưu thông Tốc độ quay vòng của tiền
Tiền tệ là phương tiện của trao đổi ( lưu thông ), là thứ dấu mỡ bôitrơn cho quá trình trao đổi Nếu vi phạm quy luật này sẽ dẫn tới ách tắctrong lưu thông hoặc lạm phát, gây khó khăn, dẫn đến mất ổn định nềnkinh tế
Sản phẩm theo quan điểm của Marketing là sản phẩm cho ngườimua, người sử dụng Sự mở rộng, chuyển hoá, thay thế phát triển của nhucầu ở người tiêu dùng là rất đa dạng và phong phú, nó mở ra một phạm vikhai thác rộng lớn của Marketing sản phẩm Chính sách sản phẩm trongMarketing có nội dung rất rộng nó bao gồm một số hướng chủ yếu sauđây:
- Chính sách chủng loại:
Trong kinh doanh hiện nay, rất hiếm có doanh nghiệp nào chỉ có một sảnphẩm duy nhất Điều đó rất nguy hiểm cho doanh nghiệp trong điều kiệnthị trường luôn luôn thay đổi theo không gian, thời gian giới tính tuổi tác,nghề nghiệp, thu nhập v.v Với độc nhất một loại sản phẩm doanhnghiệp khó tránh khỏi rủi ro và không thể nào thực hiện được mục tiêu an
Trang 15toàn Vì thế họ phải quan tâm đến việc soạn thảo một chính sách chủngloại thích hợp bao gồm:
có ưu thế về kỹ thuật, còn người tiêu dùng khi đã quen và tín nhiệm nhãnhiệu sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ ít chịu tác động của yếu tố thịtrường
+ Chính sách hạn chế chủng loại
Sau một thời gian tung một loại sản phẩm ra thị trường có tính chất thửnghiệm và cũng sau một thời gian nghiên cứu hiệu chỉnh cá thông số củasản phẩm doanh nghiệp nhận được luồng thông tin phản hồi từ thị trườnggiúp cho doanh nghiệp nhận biết được sản phẩm nào được người tiêu dùng
ưa chụng nhất, doanh nghiệp có thể khẳng định được một chủng loại hạnchế những sản phẩm cung cấp cho thị trường với những ưu thế chẳng hạnnhư giảm mức tiêu hao nhiên liệu trong chế tạo, giảm trọng lượng, tăng độ
an toàn và khả năng thích dụng, việc hạn chế chủng loại sản phẩm chophép doanh nghiệp chuyên môn hoá sâu giảm chi phí mà vẫn bán đượcsản phẩm
+ Chính sách biến đổi chủng loại tiếp tục
Là chính sách thay đổi thể thức thoả mãn nhu cầu, nhờ đó doanhnghiệp có thể nâng cao số lượng người tiêu thụ Sự biến đổi chủng loạikhông nhất thiết đòi hỏi doanh nghiệp phải có những sản phẩm hoàn toànmới Doanh nghiệp có thể tạo ra những sản phẩm mới trên một số kíchthước, hình thức, mầu sắc, mùi vị của sản phẩm gốc đang được tiêu thụrộng rãi trên thị trường bằng cách làm khác đi ít nhiều so với cái đã có.Giá cả của những sản phẩm mới này có thể giữ như giá sản phẩm gốchoặc có thể nâng lên chút ít để tạo ra sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng
Trang 16Chính sách biến đổi chủng loại còn bao gồm cả việc cải tiến về hình dáng,vật liệu và cách trang trí bao bì Trong nhiều trường hợp, các đặc tính kỹthuật và sử dụng của bản thân sản phẩm vẫn giữ nguyên như cũ song chỉ
có thay đổi về bao bì cũng có thể mang lại cho doanh nghiệp những cơ hộitiêu thụ lớn như một số sản phẩm đồ hộp
- Chính sách hoàn thiện và nâng cao các đặc tính sử dụng của các sản phẩm trong thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng.
Một sản phẩm với tư cách một hàng có nhiều công dụng Côngdụng của hàng hoá làm cho hàng hoá có giá trị sử dụng, song sở dĩ hànghoá đó có được những công dụng khác nhau vì nó có được những đặc tính
sử dụng khác nhau
Các đặc tính này sẽ thoả mãn những nhu cầu khác nhau trong việctiêu dùng chúng Tổng hợp tất cả các đặc tính đó lại, tức là tổng hợp tất cảnhững năng lực nhiều mặt vốn có của sản phẩm cho ta một năng lựcchung, tổng quát thoả mãn được nhu cầu nhiều mặt của người tiêu dùng.Năng lực đó gọi là chất lượng sản phẩm Có rất nhiều lĩnh vực quan tâmnghiên cứu chất lượng sản phẩm Người sản xuất đôi khi chỉ thiên về khíacạnh kỹ thuật của chất lượng sản phẩm, nghĩa là quan tâm đến nhữngtham số chất lượng sản phẩm, có thể đo lường được bằng các công cụ đolường vật lý, hoá học song ít khi người ta đặt ra câu hỏi để hoàn thiện haynâng cao một tham số chất lượng sản phẩm ( các đặc tính sử dụng ) sẽphải tốn kém ra sao và mức chất lượng đã đạt được phù hợp và thoả mãntới mức độ nào nhu cầu người tiêu dùng, liệu có mang lại lợi lộc gì tronghoạt động cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm Marketing sản phẩmnghiên cứu các đặc tính sử dụng và chất lượng sản phẩm trong mối quan
hệ biện chứng giữa hai quá trình: Kỹ thuật và kinh tế, đó là: Sản phẩmhoàn thiện về các thông số kỹ thuật, các đặc tính sử dụng phải phù hợp vớiyêu cầu của người tiêu dùng thông qua việc họ chấp nhận mua nó và nhưvậy mà người sản xuất, người bán thu được lợi nhuận Quan điểmMarketing ở đây luôn là: “ Các đặc tính sử dụng và chất lượng sản phẩm “cho người tiêu dùng và người tiêu dùng sẽ hoàn trả laị sự cố gắng củadoanh nghiệp trong việc nâng cao các đặc tính sử dụng và chất lượng sảnphẩm Nếu điều đó không xảy ra thì chính sách sản phẩm đã đi lệchhướng Chính sách hoàn thiện và nâng cao các đặc tính sử dụng của sảnphẩm được triển khai theo các hướng sau:
+ Hoàn thiện về cấu trúc kỹ thuật của sản phẩm
Trang 17+ Nâng cao các thông số về độ bền vận hành, độ an toàn, khả năngchống thấm nước, chống ẩm v.v
+ Thay đổi kiểu dáng, kích thước cỡ sản phẩm
+ Quan tâm đặc biệt đến màu sắc, mùi vị sản phẩm
+ Thay đổi các vật liệu chế tạo
+ Hạn chế hoặc vứt bỏ những chi tiết hay hỏng, ít phù hợp với côngchúng, thay vào đó những bộ phận, chi tiết phù hợp với đòi hỏi của kháchhàng
- Chính sách đổi mới chủng loại
Chính sách đổi mới chủng loại hướng vào việc phát triển một số sảnphẩm mới cho thị trường hiện nay hay phát triển một số sản phẩm mới chokhu vực mới của khách hàng Chính sách này mang lại kết quả khá cao.Nhìn chung trong giai đoạn trưởng thành của các sản phẩm ghi trong danhmục chế tạo của doanh nghiệp, việc đổi mới các chủng loại làm cho khốilượng tiêu thụ tăng lên, giúp cho doanh nghiệp chẳng những củng cố đượckhu vực thị trường hiện tại mà còn có khả năng tấn công vào những đoạnmới của thị trường hoặc vươn ra các khu vực thị trường mới vì nó mởrộng khả năng thoả mãn nhu cầu bằng những sản phẩm mới, những sảnphẩm được hoàn thiện về các thông số kỹ thuật và các đặc tính sử dụng;tăng cường khả năng trao đổi các khu vực tiêu dùng, hạn chế sự suy thoáinhanh của sản phẩm
2 Chính sách giá
Chính sách giá đối với mỗi sản phẩm của các đơn vị sản xuất kinhdoanh là việc qui định mức giá bán hoặc trong một số trường hợp là nhữngmức giá bán ( khi doanh nghiệp quyết định thay đổi giá cả sản phẩm nàytheo loại khách hàng, theo các thời kỳ trong năm, theo số lượng mua )mức giá cần qui định có thể là mức giá bán cho người tiêu dùng cuối cùnghoặc cho các khâu trung gian Vì vậy, việc xác lập một chính sách giáđúng đắn là điều kiện cực kỳ quan trọng đối với các đơn vị sản xuất kinhdoanh nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi, có hiệu quả vàchiếm lĩnh thị trường Tuy nhiên giá cả chịu tác động của rất nhiều nhân
tố Sự hình thành và vận động của nó rất phức tạp Việc xác lập một chínhsách giá hợp lý đòi hỏi phải giải quyết tổng thể nhiều vấn đề
Trang 18- Luật pháp và chính sách chế độ quản lý giá cả của Nhà nước
Các đơn vị kinh tế cơ sở khi xác lập chính sách giá cho sản phẩmriêng của mình phải tuân theo các chính sách, chế độ, các qui định tronglĩnh vực hình thành giá của Nhà nước Đó là các nguyên tắc và phươngpháp hình thành giá chung; điều lệ hạch toán giá thành và chi phí lưuthông, là chính sách thuế và các biểu thuế
Căn cứ vào vị trí của hàng hoá trong nền kinh tế Nhà nước có thểcan thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc định giá Trừ một số ít mặt hàngđộc quyền quản lý của Nhà nước, giá cả do Nhà nước trực tiếp qui địnhcòn đa số mặt hàng nhà nước chỉ quản lý gián tiếp bằng các luật pháp quiđịnh ở trên.Trong đó những mặt hàng mà nhà nước qui định khung giáchuẩn, các cơ sở sản xuất lưu thông có quyền quyết định mọi giá bán cuốicùng trên tinh thần thoả thuận và gắn với các điều kiện mua bán nằm trongphạm vi khung giá đó Còn đối với các mặt hàng khác, Nhà nước khôngqui định giá chuẩn hay khung giá thì đơn vị kinh tế cơ sở có toàn quyềnquyết định hoặc thoả thuận giá trong hợp đồng kinh tế theo luật định
- Những yêu cầu bắt buộc về phía thị trường
Mức độ cạnh tranh trên thị trường là một yếu tố khách quan tácđộng trực tiếp đến giá cả Cùng với quan hệ cung cầu trên thị trường, mức
độ cạnh tranh tạo nên mức giá thống trị trên thị trường.Cường độ cạnhtranh và sự thay đổi cung cầu sẽ làm cho mức giá trên thị trường thay đổi.Phần lớn những thay đổi này là chịu sự tác động trực tiếp chủ quan củacác đơn vị kinh tế cơ sở Thông thường cạnh tranh càng khốc liệt thì giácàng giảm và các chi phí cho các hoạt động xúc tiến, yểm trợ càng tăng
Vì vậy, trên thực tế, các đơn vị kinh tế cơ sở phải tự thích nghi vớigiá đang thống trị trên thị trường, tức là ít có ảnh hưởng đến giá cạnhtranh.Mặc dù khi qui định giá sản phẩm của mình doanh nghiệp không cóquan hệ gì với giá thực tế của những người cạnh tranh nhưng doanhnghiệp không thể không xét đến những giá cạnh tranh.Bởi vì quyết địnhgiá của doanh nghiệp chịu tác động vật chất của hoạt động của nhữngngười cạnh tranh
Gía của doanh nghiệp có khả năng tách rời ít nhiều so với giá củacạnh tranh nhưng khả năng này thay đổi theo từng loại sản phẩm Thôngthường những sản phẩm càng”thông thường”(tức là ít khả năng phân biệtvới sản phẩm canh tranh) thì ít có khả năng tách rời với giá cạnh tranh
Trang 19Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp kiểm soát được một bộ phận quantrọng hàng hoá cung ứng ra thị trường và áp dụng các biện pháp khác thìdoanh nghiệp có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường.Điều đó cónghĩa là doanh nghiệp đã có vị trí dẫn đầu về giá và có thể ảnh hưởngmạnh mẽ đến mức giá cạnh tranh
Điều quan trọng nữa khi xác lập chính sách giá để tung sản phẩm rathị trường là doanh nghiệp phải hiểu biết, phân tích và dự đoán được tiềmnăng của thị trường Tiềm năng của thị trường là khả năng thị trường hấpthụ một loạt hàng hoá nào đó theo một mốc giá nào đó và trong mộtkhoảng thời gian nhất định Khi nói đến tiềm năng thị trường tức là nóiđến nhu cầu có khả năng thanh toán về một loại hàng hoá nào đó, quan hệgiữa nhu cầu và giá cả, sự đàn hồi của cầu dưới ảnh hưởng của các yếu tốkhác v v Tiềm năng thị trường về hàng hoá hình thành khách quan vớidoanh nghiệp
Khi qui định giá bán, doanh nghiệp phải ước đoán được dung lượngthị trường, xác định được tỷ lệ khối lượng sản phẩm do mình cung ứng rathị trường sẽ chiếm là bao nhiêu để thoả mãn tổng số nhu cầu có khả năngthanh toán về hàng hoá đó Nói cách khác, doanh nghiệp phải xác địnhphần thị trường của mình hay mức độ thoả mãn nhu cầu của thị trường
+ Những yêu cầu bắt buộc về phía xí nghiệp
Trong những chừng mực nhất định, đây là những yếu tố có thể chiphối được
* Cơ cấu chi phí sản xuất sản phẩm
Giá bán có mối quan hệ hữu cơ với chi phí sản xuất Tuy nhiên mốiquan hệ này không đơn giản Trước tiên giá bán phải được hình thành trên
cơ sở cơ cấu chi phí sản xuất sản phẩm Đối với doanh nghiệp, giá bánphải bù đắp đủ chi phí đã bỏ ra và có lãi Các chi phí này bao gồm chi phíphát sinh trong sản xuất sản phẩm, bao bì, đóng gói, các chi phí bán hàng,phân phối, chi phí hỗ trợ Marketing như chi quảng cáo, xúc tiến bán hàng.Những chi phí này thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp nhưng chỉ cógiơí hạn Họ cần biết rõ chi phí là bao nhiêu Mặt khác chi phí sản xuấtkhông phải là con số độc lập với giá bán mà phụ thuộc một phần vào giábán bởi vì giá bán có ảnh hưởng đến khối lượng bán và đến lượt mình,khối lượng bán lại có ảnh hưởng đến chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm Do
đó, quan hệ “ chi phí sản xuất - gía bán” không phải chỉ là một chiều mà làquan hệ biện chứng Khi qui định giá bán, các đơn vị kinh tế cơ sở phải
Trang 20tính đến cơ cấu chi phí sản xuất tức là quan hệ giữa tổng chi phí và các bộphận của nó với khối lượng sản xuất cũng như chi phí sản xuất đơn vị sảnphẩm.
- Chất lượng và uy tín của sản phẩm
Đây cũng là một yêu cầu phải tính đến khi xác định giá bán bởi vìnếu sản phẩm có chất lượng cao, độc đáo thường cho phép định giá báncao hơn những sản phẩm cùng loại Trong nhiều trường hợp sự chênh lệch
về gía bán do chất lượng sản xuất ra những sản phẩm có nhiều sự chênhlệch về chi phí để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng khác nhau
đó Uy tín sản phẩm cũng có tác động đến giá tương tự như vậy Ngườitiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn nhiều cho những sản phẩm mà họ tínnhiệm trên thị trường
- Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa chính sách giá cả và các chính sách khác của doanh nghiệp.
Chính sách giá cả là một bộ phận của Marketing hỗn hợp, nó nằmtrong tổng thể các chính sách khác của doanh nghiệp Vì vậy luôn luônphải gắn chính sách giá với chính sách khác một cách chặt chẽ nhằm thựchiện mục tiêu của chiến lược chung Marketing Chính sách giá phải hướngvào việc phục vụ mục tiêu của chiến lược tài chính bởi vì hiệu quả kinh tếcuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận chỉ có thể được thực hiện thôngqua giá bán hàng hoá Nhiều chính sách khác của doanh nghiệp như phânphối, quảng cáo, giao lưu truyền cảm sản phẩm đều nhằm tăng sức mạnh,
uy tín của sản phẩm và qua đó tăng giá bán sản phẩm trên thị trường.Biểu hiện cụ thể của những yêu cầu bắt buộc đối với chính sách giá củadoanh nghiệp là gía mỗi hàng hoá thường nằm trong một vùng giá nhấtđịnh Nghĩa là đối với mỗi hàng hóa trên thị trường nào đó thường có giágiới hạn cao và giới hạn thấp Việc xác định giới hạn cao và giới hạn thấpcủa giá dựa trên cơ sở phân tích tình hình chi phí sản xuất, dự đoán khốilượng bán và nghiên cứu tình hình thị trường cũng như những qui định củaNhà nước Cụ thể giới hạn giá được hình thành dưạ vào các yếu tố sau:
-Quy chế quản lý giá của Nhà nước(khung giá, mức giá chuẩn do Nhà nước khống chế)
-Mức giá thống trị trên thị trường cạnh tranh
-Cơ cấu chi phí sản xuất Trong nhiều trường hợp chi phí sản xuất sản phẩm được coi là giới hạn thấp của giá bán(giá bán hoàn vốn)
- Yêu cầu mục đích thâm nhập thị trường của doanh nghiệp.
Trang 21Như vậy hầu như tất cả các loại sản phẩm đều có một vùng giá nhấtđịnh mà trong đó có sự cạnh tranh về giá cả của những người sản xuấtcùng loại hàng hoá đó và cung ứng ra thị trường Tất nhiên, trong nhữngtrường hợp cá biệt, do điều kiện đặc thù, doanh nghiệp có thể qui định giábán sản phẩm của mình ngoài vùng giá thực tế nghĩa là cao hơn giá giớihạn cao hoặc thấp hơn giá giới hạn thấp.Việc xác đinh vùng giá là điềukiện cần thiết để doanh nghiệp xác lập và lựa chọn những mức giá bán cụthể trong một vùng giá nhất định Điều đó đảm bảo cho chính sách giáđược xây dựng có ý nghĩa thực tế đầy đủ.
3 Chính sách phân phối - vận động hàng hoá.
Chính sách phân phối vận động hàng hoá là một bộ phận trọng yếucủa chính sách thị trường đồng bộ được quản lý bằng nhà nước và baogồm một tổ hợp các định hướng, nguyên tắc, biện pháp và qui tắc hoạtđộng được các tổ chức Marketing chấp nhận và tôn trọng thực hiện đối vơíviệc lựa chọn các kênh phân phối - vận động, phân công xã hội các nhiệm
vụ Marketing giữa các chủ thể tham gia khác nhau và những ứng xử cơbản được chấp nhận của chúng theo định hướng thoả mãn tối ưu nhu cầuthị trường của nhân dân và các tổ chức Xã hội chủ nghĩa
Trong phạm vi của chính sách thị trường đồng bộ, chính sách phânphối, vận động được phát triển không những chỉ trong những hoạt đọnglĩnh vực vĩ mô mà còn cả trong lĩnh vực vi mô
Các giai đoạn nội dung và nhân tố hình thành một chính sách phânphối về cơ bản qua các bước sau:
- Xác định khách thể, mục tiêu của nhà sản xuất
- Những ủng hộ cần có từ kênh phân phối
- Vấn đề thoả mãn những mong muốn của các nhà buôn lại
- Tác động qua lại của người sản xuất - người trung gian
4 Chính sách giao tiếp và khuyếch trương.
Giao tiếp và khuyếch trương là để cho cung và cầu gặp nhau ( ngườibán và người mua gặp nhau ), để người bán thoả mãn tốt hơn nhu cầu củangười mua và giảm được chi phí, giảm được rủi ro trong kinh doanh Mặtkhác với các biện pháp giao tiếp và khuyếch trương, các nhà kinh doanhkhông chỉ bán được nhiều hàng hoá hơn mà cái quan trọng hơn là qua đó
Trang 22để tác động vào thay đổi cơ cấu tiêu dùng, để tiêu dùng tiếp cận phù hợpvới sự thay đổi của khoa học kỹ thuật và để gợi mở nhu cầu Hiệu quả củaquá trình kinh doanh tăng lên rõ rệt khi thực hiện các biện pháp giao tiếp
và khuyếch trương mặc dù các nhà kinh doanh cũng phải bỏ ra một lượngchi phí to lớn cho công tác này
Giao tiếp được thể hiện qua xúc tiến và yểm trợ Xúc tiến trongMarketing là xúc tiến bán hàng và nó được thể hiện khi các chính sách sảnphẩm, giá cả và phân phối đã khẳng định, được triển khai thực hiện Do đó
có thể nói rằng xúc tiến là một trong những điểm nút rất quan trọng củahoạt động Marketing Ở điểm nút này, người ta có thể kiểm tra được khảnăng thích ứng của sản phẩm, sự hợp lý của chính sách giá cả và chínhsách phân phối Cũng ở điểm nút đó, người bán có thể kiểm tra được nhucầu thị trường
Kuyếch trương bao gồm các biện pháp và nghệ thuật mà các nhàkinh doanh dùng để thông tin về hàng hoá, tác động vào người mua, lôikéo người mua về phía mình và các biện pháp hỗ trợ cho việc bán hàng.Thông qua hoạt động khuyếch trương để các nhà kinh doanh làm chongười tiêu dùng cuối cùng biết được thế lực của mình và để bán đượcnhiều hàng hơn và bán nhanh hơn Xúc tiến và khuyếch trương bao gồmcác nội dung chủ yếu sau đây:
- Quảng cáo
- Các hoạt động yểm trợ
- Xúc tiến bán hàng
Phần II
Trang 23THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨMCỦA CÔNG TY XĂNG DẦU HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
CÔNG TY XĂNG DẦU HÀNG KHÔNG VIỆT NAM.
1-/ Quá trình hình thành
Hoạt động của ngành hàng không mang tính dây chuyền, nó đượccấu thành bởi nhiều ngành nghề khác nhau, các ngành nghề đó có mốiquan hệ mật thiết với nhau, không thể thiếu và tách rời nhau, mọi hoạtđộng đan xen nhau, hỗ trợ nhau tồn tại và phát triển Trong đó ngànhXăng dầu có nhiệm vụ cung ứng nguồn nhiên liệu cho mọi hoạt độngHàng không Có thể nói, Xăng dầu là nguồn nhiên liệu chính cho các thiết
bị Hàng không hoạt động ở cả trên không và mặt đất Vì lẽ đó, ngành xăngdầu hàng không ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển củangành Hàng không
Ngày 11/02/1975, trên cơ sở cục hàng không dân dụng việt nam,quyết định thành lập tổng cục hàng không Dân dụng Việt nam được đặtdưới sự lãnh đạo của Quân uỷ trung ương và bộ quốc phòng
Năm 1981, Công ty Xăng dầu Hàng không được thành lập và trựcthuộc Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam
Năm 1984, thành lập Cục Xăng dầu hàng không và công ty xăngdầu hàng không trực thuộc cục xăng dầu hàng không
Ngày 22/04/1993, Bộ giao thông vận tải có quyết định số768QĐ/TCCB-LĐ thành lập Công ty Xăng dầu Hàng không ( trên cơ sởcủa Nghị định số 338/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởngnay là Chính phủ )
Công ty Xăng dầu Hàng không Việt Nam được thành lập lại theothông báo số 76/CB ngày 06/06/1996 của Thủ tướng Chính phủ và quyếtđịnh số 847QĐ/TCCB-LĐ ngày 09/06/1994 của Bộ giao thông Vân tải
Công ty xăng dầu Hàng không Việt Nam là một doanh nghiệp nhànước độc lập hạch toán, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được mở tài khoảntại ngân hàng ( kể cả tài khoản tại ngân hàng ngoại thương ), được sửdụng con dấu riêng
Trang 24Công ty Xăng dầu Hàng không Việt nam có tên giao dịch quốc tếlà: Vietnam Airpetrol Company ( VINAPCO ) Trụ sở chính đặt tại sânbay Gia Lâm, thuộc huyện Gia Lâm - Hà Nội.
2-/ Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty:
+ Chức năng chủ yếu của Công ty Xăng dầu Hàng không Việt nam làcung cấp nhiên liệu dầu JET.A1 cho các hãng Hàng không nội địa và cáchãng hàng không quốc tế cất cánh, hạ cánh tại các sân bay của Việt nam
+ Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty:
Thực hiện xuất nhập khẩu xăng dầu, kinh doanh và vận tải xăngdầu, mỡ, dung dịch đặc chủng hàng không, các loại xăng dầu khác và thiết
bị, phương tiện phụ tùng phát triển ngành xăng dầu Các dịch vụ có liênquan đến chuyên ngành xăng dầu
+ Quyền hạn chủ yếu của Công ty:
Công ty được quyền ký hợp đồng kinh tế với các đơn vị trong vàngoài nước Được quyền liên doanh, liên kết kinh tế với các tổ chức, cánhân trong và ngoài nước Công ty được quyền khai thác các nguồn vật tư
kỹ thuật trong và ngoài nước Được quyền nhượng bán hoặc cho thuênhững tài sản không dùng đến hoặc chưa dùng hết công suất Công tyđược quyền hoàn thiện cơ cấu tài sản cố định theo yêu cầu đổi mới côngnghệ, phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Được quyền
mở các cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm do Công ty thực hiện nhiệm
vụ kinh doanh xăng, dầu, mỡ hoặc do liên doanh, kết kinh tế tạo ra
3-/ Cơ cấu tổ chức:
Công ty xăng dầu Hàng không Việt Nam tổ chức các hoạt động xuấtnhập khẩu xăng dầu và vận tải xăng dầu, dung dịch đặc chủng Hàng không
+ Xí nghiệp xăng dầu miền Bắc, Trung , Nam:
Đảm bảo cấp phát xăng dầu, tra nạp nhiên liệu cho các máy bay tạicác sân bay ở khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam Các xí nghiệp nàyhạch toán nội bộ, có tư cách pháp nhân uỷ quyền của Giám đốc Công ty
+ Xí nghiệp dịch vụ vận tải vận tư kỹ thuật xăng dầu hàng không:
Vận tải các loại xăng dầu từ cảng biển hoặc kho đầu nguồn về bể chứahàng của Công ty
+ Các chi nhánh bán lẻ xăng dầu Hàng không :
Trang 25Thực hiện bán lẻ trực tiếp xăng dầu cho khách hàng thông qua cáccửa hàng.
+Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh:
Làm công tác văn phòng tại khu vực miền Nam
Mô hình tổ chức hoạt động của Công ty
II-/ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG CỦA
CÔNG TY XĂNG DẦU HÀNG KHÔNG VIỆT NAM.
1-/ Đặc điểm xăng dầu Hàng không:
Hàng không dân dụng là một ngành kinh doanh dịch vụ đặc thù, hoạtđộng kinh doanh khép kín Mỗi bộ phận cấu thành ngành Hàng không cómối quan hệ khăng khít với nhau, đòi hỏi phải tuyệt đối an toàn, không chophép xảy ra những sơ xuất dù là rất nhỏ Đặc biệt là xăng dầu, đòi hỏi thông
số kỹ thuật rất cao Xăng dầu sử dụng cho máy bay đòi hỏi phải trải qua mộtcông nghệ tiên tiến, được tinh lọc kỹ lưỡng, hệ số an toàn cao hơn hẳn vớimột số loại xăng dầu khác
Nhiên liệu dùng cho các loại máy bay chủ yếu là dầu JET-A1 DầuJET-A1 là sản phẩm kỹ thuật cao của công nghệ hoá dầu, là sản phẩm củanhiều Công ty tham gia chế biến và được áp dụng các kỹ thuật của nền khoahọc công nghệ mới Nhiên liệu dùng cho máy bay thường được kiểm trathường xuyên nghiêm ngặt Vì, theo tài liệu của “ Tổ chức Hàng không thế
Công ty xăng dầu Hàng không Việt
Xí nghiệp xăng dầu miền Nam
Xí nghiệp DV-VT-Vt- KT
Các chi nhánh bán lẻ xăng dầu
Văn phòng đại
diện tại
Tp.HCM
Trang 26giới “ (ICAO) đã tổng kết thì 45% tai nạn là do sự cố ý phá hoại của conngười, 37% do thời tiết xấu, 15% do kỹ thuật và 3% do các nguyên nhân khác.
Dầu JET-A1 là sản phẩm dễ cháy, dễ nổ, dễ bị bay hơi, có tính lưuđộng cao ( gấp 10 lần nước ), dễ bị dò rỉ, chiều cao ngọn lửa không có khói,hàm lượng lưu huỳnh và nhựa ( cácbon thơm ) thấp Do những đặc tính cănbản trên, nên trong công tác vận chuyển và bảo quản phải hết sức chặt chẽđảm bảo không để ảnh hưởng tới chất lượng nhiên liệu Dầu JET-A1 đượcchứa trong các bồn bể, đảm bảo yếu tố kỹ thuật: Không bị ôxy hoá, không có
gỉ sắt, không có các tạp chất khác nhằm ảnh hưởng tới đường dẫn xăng dầutrên động cơ máy bay Thông thường hiện nay chúng ta chứa dầu trong cácthùng sắt có tráng Eboxi không gỉ Do yêu cầu bảo quản cao nên chi phí chobảo quản khá lớn Hiện nay, chi phí dành cho bảo quản của Công ty là2,3USD/tấn nhien liệu
Từ những đặc tính riêng của dầu JET-A1 ở trên, đòi hỏi Công ty xăngdầu Hàng không muốn đạt được hiệu quả kinh doanh cao, thì việc bảo quản
và vận chuyển dầu JET-A1 phải có sự điều phối nhịp nhàng, hợp lý giữa việcvận chuyển ở các bồn, bể kho chứa nhiên liệu đi các nơi tiêu thụ Việc vậnchuyển này phải phù hợp với khả năng tiêu thụ ở từng nơi, tránh sự vậnchuyển bất hợp lý gây lãng phí mất thời gian Do điều kiện địa lý tự nhiêncủa Việt Nam dài, nên hình thành ba khu vực sân bay ở ba miền: Bắc, Trung,Nam Song, có một điều bất lợi cho Công ty xăng dầu Hàng không là hiệnnay có các sân bay lẻ ở xa các trung tâm sân bay quốc tế ( Nội bài, Đà nẵng,Tân sơn nhất ) Do điều kiện của Công ty còn hạn chế, nên ở các sân bay nàykhông có bồn, bể chứa nhiên liệu dự trữ Nếu có máy bay đến sân bay lẻ, doyếu tố nào đó bị thiếu nhiên liệu thì Công ty phải vận chuyển bằng ôtô đến
để cung ứng lượng nhiên liệu cho các máy bay này, điều đó rất phiền hà vàtốn kém Mặt khác, do Công ty không có hệ thống ống để vận chuyển xăngdầu từ cảng đầu nguồn về các bể chứa nên Công ty phải vận chuyển bằng ô
tô, do đó vừa không an toàn mà còn bị hao hụt nhiên liệu trong quá trình vậnchuyển Hao hụt trong quá trình nhập và tiêu thụ nhiên liệu là 2,136 USD/tấnnhiên liệu
2-/ Đặc điểm thị trường tiêu thụ sản phẩm xăng dầu hàng không:
Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất trong quá trình sản xuấtkinh doanh, có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp Muốn tiêu thụđược sản phẩm trên thị trường, các doanh nghiệp phải điều tra nghiên cứuđặc điểm riêng biệt sản phẩm của mình, để có chiến lược tiêu thụ hợp lý,thì việc chiếm lĩnh thị trường sẽ mang lại hiệu quả cao, đảm bảo cho quátrình tái sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao
Trang 27Ngay từ khi mới thành lập, Công ty đã rất chú trọng đến vấn đề tiêuthụ sản phẩm xăng dầu sao cho được nhiều nhất, có hiệu quả nhất Đốitượng khách hàng của Công ty Xăng dầu Hàng không Việt Nam chủ yếu
là các hãng Hàng không nội địa và các hãng Hàng không quốc tế
Nhu cầu đi lại bằng Hàng không ngày càng tăng do sự phát triển cuảnền kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá ngày nay Mạng lưới đường bay củangành hàng không được mở rộng không ngừng hiện có là 43 đường bay,
độ dài tổng cộng là 87.132 Km với 21 đường bay trong nước và 22 đườngbay quốc tế
- Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam ( VIETNAM AIRLINES )
- Công ty hàng không cổ phần ( PACIFIC AIRLINES )
- Công ty bay dịch vụ Hàng không ( VASCO )
- Tổng công ty bay dịch vụ dầu khí ( SFC )
Các hãng Hàng không quốc tế bay đến Việt Nam hàng năm tiêu thụkhoảng 19% sản lượng dầu JET.A1 bán ra của Công ty, là bạn hàng lớnthứ hai của Công ty
Kể từ khi đất nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay, đã có rấtnhiều nước đặt quan hệ vận chuyển Hàng không với nước ta Đến năm
2001, đã có 22 hãng Hàng không nước ngoài có đường bay hoặc thuêchuyển thường lệ đến Việt Nam Hầu như các Hãng Hàng không quốc tế
Trang 28có đường bay thường lệ đến nước ta đều ký hợp đồng mua dầu JET.A1với Công ty Xăng dầu Hàng không Việt Nam, gồm các hãng sau:
Ngoài hai đối tượng chủ yếu kể trên Công ty Xăng dầu Hàng khôngViệt Nam còn mở rộng kinh doanh ra lĩnh vực xăng dầu dân dụng bằngcách xây dựng hai chi nhánh kinh doanh bán lẻ xăng dầu ở hai miền đất
nước là: Chi nhánh bán lẻ xăng dầu Miền Bắc và Chi nhánh bán lẻ xăng
dầu Miền Nam đồng thời còn kết hợp vơí những người có điều kiện để mở
những cây xăng ở những nơi thuận lợi, bằng phương thức người liêndoanh góp đất đai, nhân lực còn Công ty góp vốn và hỗ trợ về mặt kỹthuật ăn chia lợi nhuận theo tỷ góp vốn
3-/ Đặc điểm về trang thiết bị kỹ thuật và tài sản cố định
3.1 Tài sản cố định:
Tính đến ngày 31/12/2001, tổng TSCĐ của Công ty Xăng dầu Hàngkhông Việt Nam là 80.478 tỷ đồng, trong đó bao gồm nhà cửa, đất đai,kho bể, máy móc, thiết bị quản lý, phương tiện vận tải tra nạp và một sốtài sản cố định khác
Trang 29Biểu 01: Tài sản cố định của Công ty Xăng dầu Hàng không
Việt nam năm 2001
Đơn vị tính: Triệu đồng
STT Tên tài sản Nguyên giá Hao mòn Giá trị còn lại KHCB (%) Tỷ lệ
I Tài sản đang dùng trong SXKD
1 Nhà cửa, vật kiến trúc 10.365 2.188,6 8.176,4 4
3 Thiết bị, phương tiện vận tải 53.320 24.034,6 29.285,4 15
4 Thiết bị, máy móc văn phòng 3.111 1.391 1.720 15
5 Tài sản cố định khác 4.813 1.508,3 3.304,7 10
Cộng 80.478 33.578,7 46.899,3
3.2 Số lượng và giá trị trang thiết bị:
Do đặc thù của mặt hàng kinh doanh nên những phương tiện chủyếu phục vụ trực tiếp quá trình kinh doanh của Công ty là kho bể vàphương tiện vận tải
+ Kho bể:
Kho bể là tài sản cố định có giá trị của Công ty, chiếm khoảng 7%tổng giá trị tài sản cố định Công ty có bốn khu vực bể chính:
- Khu vực kho bể của Xí nghiệp xăng dầu miền Bắc gồm có các kho
ở sân bay Nội bài, Gia Lâm chứa được 16.000 m3 = 12.720 tấn
- Khu vực kho bể của Xí nghiệp xăng dầu miền nam: chứa được12.000 m3 = 9540 tấn
- Khu vực kho bể của Xí nghiệp xăng dầu miền Trung chứa được:
Trang 30tốt Các kho ở khu vực Nội Bài, Gia lâm được xây dựng vào cuối nhữngnăm 1980, đến nay chất lượng sử dụng vẫn tốt.
Với sức chứa tối đa nhiên liệu ở các kho thuộc Công ty Xăng dầuHàng không là 27.825 tấn, đủ khả năng bán và dự trữ nhiên liệu cho hoạtđộng bay
+ Phương tiện vận tải, tra nạp:
Đây là tài sản cố định lớn nhất của Công ty xăng dầu Hàng khôngdùng trong kinh doanh, chiếm khoảng 66% tổng giá trị tài sản cố định củaCông ty Công ty có khoảng 20 xe tra nạp xăng dầu trong đó:
- 8 xe Gassite ( Của Mỹ ) loại 23 m3
- 8 xe TZ 22 ( cuả Liên xô ) loại 22 m3
- 4 xe ATZ ( của liên xô ) loại 8 m3
Hiện nay, Công ty có một xí nghiệp vận tải xăng dầu gồm 26 chiếc
xe Tex các loại chuyên làm nhiệm vụ vận chuyển xăng dầu từ các cảngđầu nguồn về các kho bể chứa của Công ty
Như vậy, với số lượng, chất lượng và chủng loại xe trên, Công ty đủkhả năng phục vụ cho việc vận chuyển và tra nạp nhiên liệu máy bay Tuynhiên, một số xe của Liên xô cũ vì thời gian khai thác đã lâu nên cũ, nhiều
xe đã hết khấu hao hoặc khấu hao đến 80 - 90% giá trị Do vậy, trongtương lai công ty Xăng dầu hàng không việt nam đã có hướng đầu tư,nâng cấp thay thế mới những loại xe đã cũ bằng những xe mới, hiện đại
4-/ Đặc điểm về lao động:
Hiện nay, Công ty Xăng dầu Hàng không Việt nam có tổng số cán
bộ nhân viên là 1.097 người, bao gồm nhân viên chính thức và công nhânhợp đồng:
5-/ Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý:
- Giám đốc Công ty và phó giám đốc trực tiếp điều hành các phòngban chức năng, các xí nghiệp, các chi nhánh bán lẻ xăng dầu, các vănphòng đại diện của công ty Giám đốc trực tiếp quản lý Công ty và chịuhoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật
- Phòng tài chính - kế toán: Giám đốc về tài chính, hạch toán chi
phí toàn Công ty
- Phòng kinh doanh - xuất nhập khẩu: Lập kế hoạch kinh doanh
tìm đối tác, thị trường nhập xăng dầu, trực tiếp kinh doanh xăng dầu
Trang 31- Phòng kế hoạch - đầu tư: Lập kế hoạch chiến lược toàn Công ty,
kế hoach sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư xây dựng các kho cảng
- Phòng tổ chức cán bộ: Làm công tác tổ chức nhân lực, tiền
lương, các chế độ chính sách
- Phòng Thống kê - tin học: Làm công tác thống kê và tin học hoá
công tác quản lý trong công ty
- Phòng Kỹ thuật - Công nghệ: Đảm bảo trang thiết bị kỹ thuật
cho toàn Công ty
- Xí nghiệp xăng dầu miền Bắc, miềnTrung, miền Nam: Đảm
bảo cấp phát xăng dầu tra nạp cho máy bay tại các sân bay tại khu vựcmiền Bắc, miền Trung, miền nam, các xí nghiệp này hạch toán nội bộ, có
tư cách pháp nhân theo uỷ quyền của tổng giám đốc Công ty
- Xí nghiệp Dịch vụ - vận tải - vật tư - kỹ thuật xăng dầu Hàng không: Vận tải các loại xăng dầu từ cảng biển hoặc từ kho đầu nguồn về
kho chứa của Công ty
- Văn phòng - Đối ngoại: Làm công tác văn phòng và công tác đối
ngoại cho Công ty
- Văn phòng đại diện của Công ty ở thành phố Hồ chí Minh :
Làm công tác văn phòng, đại diện cho Công ty tại miền Nam
- Mối quan hệ: Tổng giám đốc điều hành trực tiếp các phòng chức
năng, các xí nghiệp, các chi nhánh bán lẻ xăng dầu, các văn phòng đạidiện Hoặc thông qua các phòng chức năng để điều hành các xí nghiệp, chinhánh Đây là mối quan hệ lãnh đạo
- Quan hệ của các phòng chức năng với các xí nghiệp, các chi nhánhbán lẻ là mối quan hệ chỉ đạo về từng phần nghiệp vụ được phân công
- Quan hệ giữa các phòng ban chức năng với nhau là quan hệ hiệp đồng.Với mô hình một đơn vị kinh doanh mang tính đặc thù và gắn vớicác cảng Hàng không, trải dài khắp ba miền nhưng phải tinh gọn Công tyXăng dầu Hàng không bố trí hợp lý mô hình tổ chức kinh doanh, quản lýthống nhất từ Công ty xuống cơ sở một cách tương đối phù hợp với tìnhhình thực tiễn ở Việt Nam hiện nay