Trong sách nghiên cứu và giáo trình triếthọc ở Việt Nam, nội hàm của thuật ngữ này được gọi là vấn đề cơ bản của triết học.Thuật ngữ bản thể luận trong các khoa học xã hội và nhân văn th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 2Ý Kiến
Trang 3
Mục lục
Mục lục 4
Giới Thiệu 5
CHƯƠNG 1 Ontology là gì? 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Lịch sử phát triển 7
1.2.1 Kiểu bản thể luận thứ nhất 7
1.2.2 Kiểu bản thể luận thứ hai 11
1.2.3 Có hay không một bản thể luận dung hoà được những hạt nhân tích cực của hai kiểu bản thể luận trên? 15
1.3 Thành phần 20
1.3.1 Các cá thể (Individuals): 21
1.3.2 Các lớp (Classes): 21
1.3.3 Các thuộc tính (Attributes): 22
1.3.4 Các mối quan hệ (Relationships): 22
1.4 Phân loại 23
1.5 Xây dựng Ontology 25
1.5.1 Yêu cầu 25
1.5.2 Phương pháp 26
1.5.3 Bước xây dựng 27
1.5.4 Ngôn ngữ OWL 29
1.5.5 Một số công cụ phát triển Ontology 31
CHƯƠNG 2 Ứng dụng Ontology trong quản lý trang thiết bị y tế 32
Trang 4Giới Thiệu
Thuật ngữ “Ontology” đã xuất hiện từ rất sớm Trong cuốn sách “Siêu hình”(Metaphysics) của mình, Aristotle đã định nghĩa: “Ontology là một nhánh của triếthọc, liên quan đến sự tồn tại và bản chất các sự vật trong thực tế” Hay nói cách khác,đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Ontology xoay quanh việc phân loại các sự vật dựatrên các đặc điểm mang tính bản chất của nó Ontology là một thuật ngữ mượn từ triếthọc được tạm dịch là “bản thể học”, nhằm chỉ khoa học mô tả các loại thực thể trongthế giới thực và cách chúng liên kết với nhau Trong ngành khoa học máy tính và khoahọc thông tin, Ontology mang ý nghĩa là các loại vật và quan hệ giữa chúng trong một
hệ thống hay ngữ cảnh cần quan tâm Các loại vật này còn được gọi là khái niệm, thuậtngữ hay từ vựng có thể được sử dụng trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó.Ontology cũng có thể hiểu là một ngôn ngữ hay một tập các quy tắc được dùng để xâydựng một hệ thống Ontology Một hệ thống Ontology định nghĩa một tập các từ vựngmang tính phổ biến trong lĩnh vực chuyên môn nào đó và quan hệ giữa chúng Sự địnhnghĩa này có thể được hiểu bởi cả con người lẫn máy tính Một cách khái quát, có thểhiểu Ontology là "một biểu diễn của sự khái niệm hoá chung được chia sẻ" của mộtmiền hay lĩnh vực nhất định Nó cung cấp một bộ từ vựng chung bao gồm các kháiniệm, các thuộc tính quan trọng và các định nghĩa về các khái niệm và các thuộc tínhnày Ngoài bộ từ vựng, Ontology còn cung cấp các ràng buộc, đôi khi các ràng buộcnày được coi như các giả định cơ sở về ý nghĩa mong muốn của bộ từ vựng, nó được
sử dụng trong một lĩnh vực mà có thể được giao tiếp giữa người và các hệ thống ứngdụng phân tán khác
Ontology được sử dụng trong trí tuệ nhân tạo, công nghệ Web ngữ nghĩa(Semantic Web), các hệ thống kỹ thuật, kỹ thuật phần mềm, tin học y sinh và kiến trúcthông tin như là một hình thức biểu diễn tri thức về thế giới hoặc một số lĩnh vực cụthể Việc tạo ra các lĩnh vực về Ontology cũng là cơ sở để định nghĩa và sử dụng của
cơ cấu một tổ chức kiến trúc(an enterprise architecture framework)
Trong bài thu hoạch này sẽ giới thiệu thế nào là ONTOLOGY, tại sao lại cầnONTOLOGY Ứng dụng của ONTOLOGY trong việc mô tả sản phẩm y tế
Trang 5CHƯƠNG 1 Ontology là gì?
1.1 Khái niệm
Nói một cách đơn giản Ontology là tập từ vựng để mô hình hóa thế giới bên ngoài,
nó đưa ra các khái niệm cơ bản và định nghĩa quan hệ giữa các khái niệm đó trong mộtmiền lĩnh vực Đồng thời Ontology còn cung cấp các ràng buộc, là các giả định cơ sở
về ý nghĩa mong muốn của bộ từ vựng
Ontology được xây dựng nhằm các mục đích sau:
Chia sẻ hiểu biết chung về cấu trúc thông tin giữa con người và phần mềmagent
Sử dụng lại tri thức về một miền lĩnh vực đã được xây dựng từ trước
Hình 1 Ontology
Trong hình trên ta thấy các ứng dụng khác nhau, muốn trao đổi thông tin với nhauthì cần phải có một tri thức chung, vì vậy các ứng dụng này đểu sử dụng một Ontology
để có thể chia sẻ tri thức cho nhau
Ontology được sử dụng rộng rãi trong công nghệ tri thức, trí tuệ nhân tạo, và khoahọc máy tính trong các ứng dụng liên quan đến quản lý tri thức, xử lý ngôn ngữ tự
Trang 6nhiên, thương mại điện tử, tích hợp thông tin, tìm kiếm thông tin, thiết kế cơ sở dữliệu…
1.2 Lịch sử phát triển
Ontology được dịch sang tiếng Việt gọi là Bản Thể Luận
Bản thể luận là một khái niệm căn bản của triết học: Đó là thuật ngữ chỉ rõ quanđiểm của con người nhìn nhận thế giới: Vật chất là khách quan? Nó có trước hay ýthức có trước? Cái nào quyết định cái nào? Trong sách nghiên cứu và giáo trình triếthọc ở Việt Nam, nội hàm của thuật ngữ này được gọi là vấn đề cơ bản của triết học.Thuật ngữ bản thể luận trong các khoa học xã hội và nhân văn thực chất là sự vậndụng, mở rộng nội hàm của vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xã hội và nhânvăn Nếu như trong triết học người ta bàn về quan điểm của con người đối với thế giớivật chất và thế giới tinh thần và về mối quan hệ giữa chúng, thì trong khoa học xã hộibản thể luận chính là quan điểm của con người về mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân(thực tại xã hội là mang tính khách quan hay mang tính chủ quan? Xã hội quy địnhhành vi của cá nhân hay chính các hành vi có ý nghĩa của các cá nhân tạo” thành xãtạo” thành xãhội?); Cũng tương tự như vậy, trong nghiên cứu con người, bản thể luận là thuật ngữbàn về mối quan hệ giữa hành vi và cấu trúc, giữa cái ý thức với cái vô thức, giữa tâm
lý xã hội và tâm lý cá nhân…
Thuật ngữ bản thể luận bao hàm hai vấn đề:
- Cách nhìn nhận thực tế xã hội (là khách quan hay chủ quan?)
- Xã hội quy định hành vi cá nhân hay chính các hành vi của con người tạo thành
sự tồn tại của xã hội (Cái nào quyết định cái nào?)
Thoát thai từ triết học, các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn (tâm lý học, nhânhọc, xã hội học ) đều chịu ảnh hưởng những tư tưởng, những quan điểm của triết họckhi xem xét các sự vật, hiện tượng Đến nay, có nhiều kiểu phát biểu khác nhau về vấn
đề này, nhưng tựu trung lại, có thể được tóm lược thành hai khuynh hướng đối lậpnhau như sau:
Trang 71.2.1 Kiểu bản thể luận thứ nhất
1.2.1.1 Nhìn nhận xã hội và văn hóa như là thực tại khách quan:
Đại biểu cho quan điểm này có thể kể từ Francis Bacon ( 1561-1626 ) - người cha
đẻ của tinh thần thực nghiệm khoa học Nhưng phải đến khi Auguste Comte 1857) đặt tên sociology cho một bộ môn khoa học mới, thì quan điểm coi xã hội là mộtthực tại khách quan và xã hội cũng cần được nghiên cứu bằng những "phương phápkhoa học"- tức được nghiên cứu theo cách của khoa học tự nhiên- mới được thừa nhận
(1798-và phát triển ( Nói theo ngôn từ của A Comte thì khoa học nghiên cứu về xã hội ấyphải được hiểu như là "Vật lý xã hội ")
Trong các nghiên cứu văn hoá của các chuyên ngành như Tâm lý học, Nhân học,
Xã hội học khuynh hướng trên cũng được thể hiện rất rõ
Tiêu biểu cho khuynh hướng này trước hết phải kể đến E Durkheim Thực tại xãhội - theo Durkheim - là thực tại khách quan, tính khách quan đó được thể hiện ở “sựkiện xã hội”, ở “ý thức tập thể” ông cho rằng, “sự kiện xã hội”-những cách thức hànhđộng, kể cả tư duy và cảm giác - có đặc tính đáng chú ý là tồn tại ngoài ý thức của cánhân
Các loại hình hành vi hay tư duy đó chẳng những ở bên ngoài cá nhân, mà còn cósẵn một sức mạnh ra mệnh lệnh và cưỡng bức, nhờ đó mà chúng được áp đặt cho cánhân, dù cá nhân đó muốn hay không Chắc chắn là khi tôi hoàn toàn tự nguyện phùhợp với nó, sự cưỡng bức ấy sẽ không còn làm cho cảm thấy, hoặc chỉ cảm thấy ítthôi, vì vô ích Nhưng nó vẫn là một thực chất bên trong của các sự kiện ấy, chứ không
ít hơn, và bằng chứng là nó tự khẳng định khi tôi cố chống lại
Trong tác phẩm Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo, Durkheim đãcủng cố lý thuyết của mình về sự kiện xã hội bằng cách cấp cho ý thức tập thể nhữngbiểu hiện cụ thể: Tôn giáo cấp cho nhóm tín đồ một tính thống nhất, một sự gắn bó,nuôi dưỡng họ bằng hệ thống biểu tượng như nhau về thế giới, các nghi lễ tôn giáo kếthợp người ta lại trong việc lặp lại những cử chỉ như nhau Cuối cùng, ông đã cố gắngchứng minh rằng, tôn giáo thực chất là một cách biểu trưng của xã hội - thực tại kháchquan - mà thôi
Trong nhân học, L Strauss cũng thể hiện rất rõ quan điểm này khi lập thuyết cấutrúc luận của mình Trước hết, ông cho rằng chính Ferdinand de Saussure là tiền bối
Trang 8trực tiếp của mình bởi nhà ngôn ngữ học cấu trúc ấy đã có cách tiếp cận khách quanhơn cả khi coi ngôn ngữ học chính là tín hiệu học và “cấp cho nó đối tượng là nghiêncứu sự sống của các tín hiệu trong lòng đời sống xã hội”[dẫn theo 6, tr.43] Để chỉ rõhơn tính khách quan của các tín hiệu ngôn ngữ, ông đã phân biệt ngôn ngữ và lời nói.
“Lời nói là cá nhân, cụ thể và ngẫu nhiên Trái lại, ngôn ngữ là có tính chất xã hội, trìutượng và tất yếu Muốn làm thành một khoa học ngôn ngữ học phải lấy đối tượng làngôn ngữ, là cái duy nhất có thể tiếp cận một cách duy lý, và gạt bỏ lời nói Như vậy làcon người nói năng, cái chủ thể kinh nghiệm luận bị loại trừ” Trong nghiên cứu nhânhọc, Strauss đã lấy giao tiếp tín hiệu như là một thực tế khách quan để khảo cứu, đó là
“ngôn ngữ huyền thoại, tín hiệu bằng miệng, và bằng cử chỉ tạo nên nghi lễ, qui tắchôn nhân, các hệ thống thân tộc, các tục lệ, một vài dạng thức của những trao đổi kinhtế” [dẫn theo sđd, tr.50] ông đã khái quát hoá xã hội - cái thực tại khách quan, có thểquan sát được - bằng định nghĩa sau: Một xã hội là gồm những cá nhân và những nhómMột xã hội là gồm những cá nhân và những nhómgiao tiếp với nhau”
Ngoài ra, có thể kể đến những quan điểm trong nhân học của R C Brown, hayPrichart về “thể chế xã hội”, "cấu trúc xã hội " và "liên hệ xã hội ", những nghiên cứutâm lý học của E Fromm về "Tính cách tập thể " hay của K G Jung về " Vô thức tậpthể " Tất cả đều thể hiện rất rõ quan điểm: Coi xã hội và văn hóa là thực tại kháchquan
1.2.1.2 Xã hội quy định hành vi của cá nhân
Trong các chuyên ngành nghiên cứu văn hoá, đặc biệt là trong nhân học và xã hộihọc, kiểu bản thể luận thứ nhất thường được thể hiện ở việc lựa chọn lý thuyết tổng thểluận, coi xã hội là một cấu trúc hữu cơ, tồn tại khách quan và quy định hành vi của cácthành viên trong xã hội Xã hội học cấu trúc - chức năng của Talcott Parsons chẳnghạn: Trong lý thuyết này, ông không phủ nhận rằng các chủ thể cá nhân trong xã hội
đã có những giá trị, những niềm tin, những động cơ và những thái độ tương đối riêng,nhưng các phân tích của Parsons cho rằng các khía cạnh này của kinh nghiệm và ýnghĩa của nó đến từ bên ngoài cá nhân
Thái độ và hành vi cá nhân trước tiên và trên hết là những phản chiếu hoặc nhữngbiểu đạt của một văn hóa tập thể không - cá nhân làm phát sinh những mong đợi, niềmtin và thực hành Như vậy hệ thống văn hóa được coi như ở bên ngoài ý thức cá nhân,
Trang 9những thành phần cấu trúc của nó, đặc biệt tập hợp thiết chế những chuẩn mực của nó,cưỡng buộc các cá nhân xử sự theo một cách riêng biệt.
Bởi vậy, kiểu phân tích này cho rằng các cấu trúc xã hội, với tư cách là những cáiquyết định hành vi, không thể bị giảm xuống thành những hành động cá nhân kín đáohoặc được xác định bằng những hành động đó
Có thể đưa ra một vài ví dụ về vấn đề này:
- E.Durkhem có thể được coi là đại biểu thứ nhất cho quan điểm phương pháp luậnnày ông luôn cho rằng, xã hội tồn tại khách quan và độc lập với cá nhân, có thểnghiên cứu được bằng những phương pháp khoa học Theo ông, mối quan hệ giữa cánhân và xã hội là: các cá nhân bị cưỡng ép phải chấp nhận nền văn hoá của họ chính vì
họ là thành viên của nền văn hoá đó Xã hội nào cũng thế, các cá nhân không hànhđộng một cách tuỳ tiện, tự do, vô lối, mà trong những hoàn cảnh, tình huống nhất định,trong những tương quan vai trò nhất định, nó phải ứng xử theo những khuôn mẫu nhấtđịnh Quan điểm phương pháp luận này đã được Durkhem thể hiện khá rõ nét ở tácphẩm Tự tử: Sự tự tử không phải là hành vi cá nhân (mặc dầu theo quan niệm thôngthường, đây là hành vi mang tính cá nhân nhất ), ngược lại, đó là hành vi mang bảnchất xã hội Bởi chỉ có sự "điều chỉnh tinh thần" của xã hội mới có thể giải thích đượcnhững biến đổi trong tỷ lệ tự tử ở các dân cư, các nhóm xã hội khác nhau, điều mànhững giải thích tâm lý học về tự tử không làm được
- Ferdinand Toennies cũng tuân thủ phương pháp luận này khi phân tích mốitương quan giữa các kiểu xã hội và các tính cách điển hình Ví dụ, ông cho rằng, trongcác kết cấu xã hội kiểu "cộng đồng" (Khái niệm này chỉ toàn bộ thực tế của một xã hộitiền công nghiệp, trong đó sự chung sống được xác định bởi sự gần gũi thân thiện, sựgắn bó và các nhận thức chung, các mối quan hệ giữa con người chưa trở nên xa lạ.Các mối quan hệ họ hàng, láng giềng bạn bè, hành vi của con người trong xã hội nàyđược nẩy sinh từ nội lực cá nhân và không chịu ảnh hưởng của bên ngoài) thì kiểu đàn
bà điển hình là nặng về tình cảm, rụt rè, có nhiều năng khiếu mỹ thuật Nhưng khi xãhội công nghiệp làm tan rã hình thức cuộc sống cộng đồng đó và hình thành một kếtcấu xã hội kiểu mới (Toennies dùng thuật ngữ " xã hội" để chỉ kiểu kết cấu xã hội này)thì “đàn bà trở nên thông tuệ, lạnh lùng và tự tin Không còn gì như họ xưa kia, dù cónhiều biến cải vẫn luôn xa lạ với tự nhiên bẩm sinh, rõ là ghê gớm Không có gì có thể
Trang 10đặc trưng hơn và có ý nghĩa hơn thế đối với quá trình hình thành và tan rã của cuộcsống cộng đồng".
Những người theo bản thể luận này (bao gồm 2 điểm 1.1 và 1.2.) được gọi lànhững người theo thực chứng luận (positivism) Vì vậy, có thể nói rằng, thực chứngluận là một kiểu bản thể luận
Chính kiểu bản thể luận của nhà nghiên cứu sẽ quyết định quan điểm phương phápluận và cả sự lựa chọn các phương pháp nghiên cứu của anh ta Ai nhìn nhận các hiệntượng xã hội (văn hoá cũng là hiện tượng xã hội) là thực tại khách quan, người đó sẽlựa chọn phương pháp luận tổng thể- cấu trúc- thực chứng cho nghiên cứu của mình.Thực tại xã hội (văn hoá cũng thế) - theo quan điểm thực chứng luận, coi xã hội làtồn tại khách quan - được cấu tạo bằng những hiện tượng liên kết lẫn nhau một cáchnhân quả
Cái gì là "thực" chỉ có thể chứng minh là thực do quy chiếu vào bằng cứ thựcnghiệm về sự tồn tại của nó Trong khi các loại giải thích khác rõ ràng là tồn tại, thìđối với các nhà khoa học thực chứng luận, chúng không thể chấp nhận được trừ phichúng dựa trên cơ sở những bằng cứ có tính thực nghiệm, có thể quan sát được
Như vậy, các nghiên cứu về xã hội và văn hoá là nhằm vào sự khám phá ra nhữngmối quan hệ nhân - quả giữa các hiện tượng (hay giữa các thành tố trong một sự vật,hiện tượng) trong thực tế Nói cách khác là chúng phải đi tìm những qui luật khoa họctrong các mối tương liên nhân - quả ấy Theo cách đó, các sự kiện trong tương lai cũng
có thể được dự báo
Tiếp theo, những nghiên cứu tuân thủ phương pháp luận này phải đưa ra nhữnggiả định về cấu trúc và những quan hệ nhân - quả vẫn còn chưa được chứng minh củađối tượng nghiên cứu Đó là giả thuyết Giả thuyết có thể được xây dựng thành một
lý thuyết nếu nó được kiểm chứng
1.2.2 Kiểu bản thể luận thứ hai
1.2.2.1 Nhìn nhận xã hội và văn hóa như là thực tại chủ quan :
Quan niệm này có gốc rễ đầu tiên ở nền triết học và khoa học xã hội Đức cuối thế
kỷ XIX-đầu XX Các học giả Đức như Sombart, Dilthey, Rickert và Weber, tất thảyđều quan tâm theo nhiều cách phân biệt các khoa học "nhân văn" hoặc "văn hoá" với
Trang 11các khoa học tự nhiên Họ cho rằng, khác với khoa học tự nhiên (có đối tượng nghiêncứu là những sự vật tồn tại khách quan, và tìm ra qui luật nhân quả của những sự kiện
"bên ngoài" là mục đích của các nghiên cứu),"đặc trưng của "khoa học nhân văn" (hay
"triết học đời sống") là quan tâm đến tri thức bên trong của "cách cư xử có ý nghĩa",hoặc, quan tâm đến sự "nắm bắt ý nghĩa" của một kinh nghiệm cá nhân về thế giới.Một nhà xã hội học đã phát biểu quan điểm của mình về vấn đề này như sau:
Con người không phải là những "sự vật" phải được nghiên cứu theo cách người tanghiên cứu cây cỏ hoặc đá, mà là những sinh vật kèm theo giá trị, ý nghĩa mà phảiđược hiểu như là những chủ thể và được biết như là chủ thể Xã hội học đề cập đếnhành động có ý nghĩa, và mọi sự hiểu biết, giải thích, phân tích, hoặc bất cứ gì khác,phải được tiến hành với sự cân nhắc tới những ý nghĩa đang khiến cho sắp xếp hànhđộng con người trở nên khả thể áp đặt những ý nghĩa thực chứng luận lên lĩnh vựccác hiện tượng xã hội, đó là bóp méo bản chất cơ bản của sự tồn tại con người
Theo quan điểm này, nhiều nhà nghiên cứu văn hoá đã nhấn mạnh đến khía cạnhchủ quan của chủ thể ở từng xã hội cụ thể, cho rằng, văn hoá của một xã hội chỉ đượccấu thành và biểu thị thông qua sự tác động qua lại giữa những chủ thể cụ thể (nhữngcon người cụ thể, trong nhóm cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, và ở một xã hội cụthể) Có thể dẫn ra ở đây một số ví dụ về cách nhìn nhận thực tại văn hóa theo quanđiểm này:
- Khác với một người thường, một nhà nhân học văn hóa khi quan sát sẽ cố gắngtìm hiểu để phân biệt sự khác biệt của một cái nháy mắt với một cái chớp mắt Các nhànhân học sẽ dựa vào những hiểu biết về văn cảnh mà hành động được quan sát diễn ra
và cá nhân ấy để phân biệt ý nghĩa của những tín hiệu dường như giống nhau ấy: hoặc
ý nghĩa ấy sẽ là “tôi đang đùa”, hay “em đẹp thật”, hoặc “được đấy” …
- Chúng tôi xin dẫn lại từ cuốn “Nhập môn xã hội học” một ví dụ khác Sau khidẫn quan diểm của W I Thomas (cho rằng, hành vi xã hội của con người là sản phẩmcủa cái mà họ cho là đang có xung quanh họ và là cái mà họ coi là ý nghĩa trongnhững hành vi của những người khác), các tác giả viết:
Ở cấp độ đơn giản nhất, điều này có nghĩa là, nếu ta thấy một người mặc váy, ta sẽcho rằng người đó là phụ nữ, và ta sẽ hành động trên cơ sở quyết định đó; hay chorằng ai đó đang gào hết sức và đang trong trạng thái kích động hay giận dữ, và ta cóthể hành động tương ứng với suy luận đó Trong thực tế thì người phụ nữ đó có thể làtạo” thành xã Một xã hội là gồm những cá nhân và những nhóm
Trang 12một người đóng giả đàn bà hay một diễn viên thủ vai phụ nữ trên đường tới nhà hát;người đang “giận dữ hay “kích động” có thể là người bị điếc, hay một ai đó đang gọiMột xã hội là gồm những cá nhân và những nhómbạn mình ở phía xa Những cái “sự thực” ở đây không phải là điều quan trọng; vấn đề
là, chúng ta, những con người, cần thiết phải có những quá trình suy luận khi tiếp xúcvới những người khác, cũng như ngược lại khi họ gặp gỡ chúng ta Từ quan điểm đó,
xã hội là một tập hợp những hoạt động như vậy và trật tự xã hội là trật tự của nhữngquy ước
Chính vì thế, những nghiên cứu theo quan điểm bản thể luận này không nhằm vàoviệc giải thích các hiện tượng, quá trình văn hoá bằng những qui luật xã hội Họ chorằng, bằng việc "hiểu" các ý nghiã ở những quan hệ tương tác cụ thể, người ta mới cóthể tránh được những áp đặt có tính cách phương pháp luận và lý giải được nhữngkhác biệt và những đặc thù của các nền văn hoá Đại diện cho khuynh hướng này cóthể kể đến B Malinowski khi ông cho rằng mục tiêu cuối cùng của các nhà dân tộchọc - nhân học là “nắm bắt cách nhìn nhận của người bản địa, mối quan hệ của họ vớiđời sống, hiểu được sự nhìn nhận của họ về thế giới của họ” và những nhà nhân họcvăn hóa nổi tiếng khác như F Boas (khi ông nhấn mạnh vào tính duy nhất của mỗi nềnvăn hóa ) Trong Xã hội học những đại biểu cho khuynh hướng này là M Weber(người đã ngưòi phát triển từ ngữ Verstehen thành một thuật ngữ điển hình chophương pháp “hiểu biết có tính chất giải thích” của phản thực chứng luận),
1.2.2.2 Thế giới được cấu thành thông qua sự tác động qua lại giữa những
chủ thể
Những người theo quan điểm này cho rằng, "Thực tại xã hội được tạo ra một cách
có ý thức và tích cực bởi các cá nhân có ý định làm các chuyện này chuyện nọ và gánnhững ý nghĩa cho hành vi những người khác Vậy là, về mặt bản thể luận, thực tại xãhội chỉ tồn tại như sự tác động qua lại có ý nghĩa giữa các cá nhân "
Những ngôn từ trên giống như tuyên ngôn của kiểu bản thể luận thứ hai: Không có
sự tồn tại của xã hội hay văn hoá một cách chung chung, trừu tượng, ngược lại chỉ khi
có những con người cụ thể giao tiếp với nhau trong những hoàn cảnh cụ thể mới tạo rathực tại xã hội
Những người bị chi phối bởi kiểu bản thể luận thứ hai này được coi là nhữngngười theo phản - thực chứng luận, họ luôn cố gắng "xem xét thế giới qua những đôimắt của chủ thể và đem ý nghĩa cho nó qua những phương tiện họ sử dụng, bởi lẽ
Trang 13không có thế giới xã hội nào ngoài cái thế giới này" Như vậy, phản- thực chứng luận
Những người phản - thực chứng luận luôn cố gắng "xem xét thế giới qua nhữngđôi mắt của chủ thể và đem ý nghĩa cho nó qua những phương tiện họ sử dụng, bởi lẽkhông có thế giới xã hội nào ngoài cái thế giới này" (Các nhà thực chứng luận thườngđặt ra trước những giả thuyết về các mối quan hệ nhân quả và như thế, họ thường nhìncác sự kiện, hiện tượng bằng đôi mắt của chính mình rồi áp đặt một cấu trúc hoàn toànchủ quan vào đối tượng khảo cứu )
Do vậy, nhiệm vụ chính của các nhà phản thực chứng "không phải sự đo lườngcác mối quan hệ được coi là nhân quả giữa các biến cố, mà là sự nắm bắt cách thức mà
cá nhân tạo ra thực tế trong mối tác động qua lại với những người khác "
Tuy nhiên, trên thực tế, quan điểm phương pháp luận này rất hiếm khi được thựcthi một cách triệt để: thực chứng luận có thể ảnh hưởng ngay từ khi bắt tay vào thiết kếnghiên cứu (ví dụ vẫn có những giả thiết nghiên cứu hay đánh giá sơ bộ giả thuyếtnghiên cứu ấy), nó cũng có thể tác động vào quá trình phân tích, giải thích thực tế (ví
dụ, mặc dù báo cáo nghiên cứu có tính cách chủ đạo là định tính, nhưng nó vẫn khôngthể từ chối những bằng cứ mang tính định lượng công khai hoặc ngấm Nói như cáchcủa một số nhà xã hội học thì những nghiên cứu kiểu này đi theo con đường phản thực
Trang 14chứng nhưng “trước khi đến cuối một tý thì dừng phắt lại” Điều này cũng không phải
là ngoại lệ với M Weber - ngưòi phát triển thuật ngữ Verstehen thành một thuật ngữđiển hình cho phương pháp “hiểu biết có tính chất giải thích” của phản thực chứngluận - đúng như một nhà xã hội học đã nhận xét:
Như chúng ta sẽ thấy về sau, Weber không ăn khớp rõ ràng với quan niệm phảnthực chứng phác hoạ dưới đây, bởi vì, mặc dù ông quan tâm đến việc xã hội học phảixem xét các ý nghĩa nằm phía sau hành động xã hội, ông vẫn tin rằng một kiểu giảithích theo thực chứng luận cho một hành động như vậy là điều khả thể
Trong nghiên cứu văn hoá đương đại, với bản thể luận phản- thực chứng, nhiềunhà khoa học đã đạt được những thành tự mang tính đột phá, đặc biệt trong lĩnh vựcnghiên cứu tộc người và nhân học sinh thái Thành tựu ở lĩnh vực này được thể hiện ởmột loạt những thuật ngữ mang tính lý thuyết mới như bản thể luận tham dự(participatory ontology), liên chủ thể (intersubjecktivity), liên nhân (interperson), [xem thêm 3]: Bằng cách này mà các nhà nhân học có thể phát hiện ra, hiểu được vàdiễn giải được những vấn đề quan trọng của thế giới quan bản địa của những tộc ngườikhác nhau (mà kiểu bản thể luận tách biệt -ontology of detachment- phân tách chủ thể
và khách thể, không thể nào hiểu và diễn giải được) Từ đó, những ý tưởng mới mẻcho việc nghiên cứu và công cuộc tuyên truyền- vận động bảo vệ môi trường đượchình thành và hiện thực hoá Vì vậy có thể coi quan điểm nhìn nhận thế giới theo cáchtách biệt chủ thể- khách thể hay tham dự là một tiêu chí mới để phân biệt quan điểmbản thể luận của từng nhà nghiên cứu
1.2.3 Có hay không một bản thể luận dung hoà được những hạt nhân tích cực
của hai kiểu bản thể luận trên?
Văn hoá/ xã hội - dù nhìn từ góc độ nào - cũng phải thông qua hoạt động người, vìthế nó là một thực tại hai mặt: Nó là thực tại khách quan của sự khách thể hoá nhữngsuy tư, kinh nghiệm của con người ở những hành vi xã hội, ở những vai trò xã hội, ởngôn ngữ, ở những thể chế và ở hệ thống biểu tượng; Mặt khác, văn hóa/ xã hội cũng
là thực tại chủ quan, bởi nó được tiếp nhận, được sáng tạo và trở thành có ý nghĩa nào
đó bởi chính từ các cá nhân (chứ không phải văn hóa/ xã hội là những gì hoàn toànmang tính khách quan, áp đặt vào tất cả các thành viên trong xã hội ở một cường độ vàtrình độ như nhau, phản ứng của các thành viên trong xã hội đối với một biểu thị vănhóa không giống nhau như những phản ứng của các người máy ) Tuy nhiên điều đó
Trang 15không có nghĩa là có hai thực tại văn hóa/ xã hội, mà chỉ có hai mặt của một thực tại,giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Bởi, xét cho đến cùng, chẳng có một cá thể người nào sống biệt lập một cách tuyệtđối, (cho dù những cá nhân sống biệt lập với xã hội như Rôbinson thì cũng vẫn phảithực hành những văn hóa mà xã hội đã áp lên anh ta trước đó), mà nó phải sống, hoạtđộng trong nhóm, trong một tập thể, trong một xã hội nhất định Đúng là, trong một xãhội có những khác biệt cá thể, nhưng điều đó không có nghĩa là cứ có bao nhiêu cá thể
là có bấy nhiêu sự khác biệt, mà trong một chừng mực nào đó những khác biệt tưởngnhư cá thể ấy đã được qui nạp thành một số loại hạng, nhóm xã hội xác định Như thế,
dù cá nhân có phát triển đến thế nào thì nó cũng bị khuôn hạn bởi những điều kiệnnhất định của xã hội, hay ít nhất cũng bị áp chế bởi những nhóm xã hội mà nó sởthuộc A L Kroeber đã chứng minh rằng, văn hóa dù là do các cá nhân sáng tạo ranhưng nó vẫn manh tính xã hội - khách quan Ví dụ nổi tiếng của ông là: những đặcđiểm cơ bản của quần áo phụ nữ xuất hiện, sau đó trở nên lỗi thời là một việc bìnhthường và có thể dự đoán trước và những khuôn mẫu này độc lập với những nhà thiết
kế riêng lẻ và ông còn nói thêm một ví dụ khác: ở điều kiện của các xã hội nguyênthuỷ thì một thiên tài như Mozar không thể sáng tạo nổi dù chỉ là một bản sonat
Về vấn đề này, nhiều nhà xã hội học đã cố gắng đưa ra một cách nhìn nhận biệnchứng đối với thực tế, ví dụ như Anthony Giddens trong cuốn “Sự tổ chức xã hội”(1985) Ở đây, một mặt chống lại những lập trường cực đoan của thực chứng luận,Giddens cho rằng, thực tế xã hội không thể được xem như là một vũ trụ có trước, màđúng ra phải hiểu nó như một sản phẩm đang xẩy ra của các chủ thể tạo lập một cách
có ý thức thế giới của họ với tư cách là các tác nhân lịch sử Mặt khác, cùng một lúcông lại lý luận rằng, các chủ thể bị kiềm chế bởi các điều kiện cấu trúc trong đó họđang sống và mặc dù con người sản sinh ra xã hội nhưng họ vẫn không có quyền lựachọn khi làm điều đó Ở đây, ông đã đưa ra phương án “hoà giải” giữa hai kiểu bảnthể luận thông qua mối quan hệ giữa cấu trúc và hành động như sau: Một mặt, các cấutrúc được cấu tạo bởi hành động; mặt khác, hành động được cấu tạo về mặt cấu trúc.[xem 1, tr.466] Quan điểm này của Giddens càng ngày càng nhận được sự ủng hộ củagiới khoa học, ví dụ các nghiên cứu của Paul Willis: Học tập và lao động (1997) vàVăn hóa trần tục (1978), ở những công trình này ông đã xem xét cung cách trong đó
Trang 16con người - với tư cách là những cá nhân hay những nhóm - đáp ứng với các hoàncảnh cấu trúc của họ như thế nào.
Trong các khoa học nghiên cứu văn hóa ngày nay, quan điểm biện chứng ấy vềthực tại văn hóa đã được thể hiện trong những lý thuyết kiểu như lý thuyết tương táctượng trưng, phương pháp luận dân tộc học…hay ở những thuật ngữ mang tínhphương pháp luận như tiểu văn hóa, tâm lý nhóm, tâm lý tộc người, kiểu tâm lý hướngngoại và kiểu tâm lý hướng nội
Chúng ta đều biết rằng, mỗi quan điểm bản thể luận đều có những mặt hợp lý và
ưu thế của mình nhưng nhà nghiên cứu lại khó có thể cùng một lúc sử dụng cả haiphương pháp luận cho cùng một nghiên cứu (bởi, nhiều khi đó là hai quan điểm tráingược nhau và chúng quyết định việc sử dụng những phương pháp nghiên cứu khácnhau) Vấn đề là ở chỗ, có thể tìm được mối quan hệ biện chứng giữa hai quan điểmđối lập này không?
Khi quan niệm: Văn hóa - đối tượng nghiên cứu của văn hóa học - là một hiệntượng xã hội tổng thể Điều đó cũng có nghĩa là: Văn hóa học - theo quan điểm củachúng tôi - cần lựa chọn bản thể luận thực chứng là phương pháp luận chủ đạo Tuynhiên, những yếu tố hợp lý của bản thể luận phản thực chứng cũng sẽ được lưu ý, tiếpthu hợp lý trong tổng thể của một quy trình nghiên cứu khoa học: Từ bản thể luận tới
hệ thống lý thuyết, tới phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Theo chúng tôi,
sự tiếp thu này có thể được diễn ra ở hai cấp độ:
a- Cấp độ lý thuyết - phương pháp luận: Về căn bản, Văn hóa học phải coi đốitượng nghiên cứu là thực tại khách quan và đặt nó vào mối quan hệ với cái tổng thể vàlấy phương pháp luận chủ đạo là phương pháp luận cấu trúc - thực chứng Tuy nhiên,cần luôn lưu ý đến những hạt nhân hợp lý của các lý thuyết phản thực chứng, đó là:
- Các lý thuyết phản thực chứng nhấn mạnh vào việc phân tích khả năng cá nhânhiểu và suy luận ý nghĩa của những hành động của các cá nhân khác trong cùng một xãhội Cơ sở của khả năng đó (khả năng biểu nghĩa - tương tác xã hội) là ngôn ngữ (ngônngữ nói, ngôn ngữ cử chỉ, kiểu lối, ) của xã hội ấy Theo các nhà lý thuyết này, conngười (cá nhân) trong một xã hội không chỉ đơn thuần tiếp thu nền văn hóa đã có sẵncủa xã hội (một cách thụ động) - như cách tuyệt đối hoá của một số quan điểm thựcchứng luận, mà có sự lựa chọn và sáng tạo Nói cách khác, trong các nghiên cứu vănhóa và xã hội, những quy luật xã hội hoá được coi là những nguyên tắc phương pháp
Trang 17luận căn bản, nhưng vẫn cần lưu ý đến vai trò của cá nhân, bởi “ xã hội hoá không baogiờ chỉ đơn giản là vấn đề tiếp thu những quy luật xã hội có sẵn” và “về bản chất, xãhội hoá cũng là một phương tiện tạo ra sự thay đổi do con người học được hành vi chứkhông phải hành vi được xã hội khoác lên con người”
Như vậy, mối quan hệ biện chứng ở đây là: Cá nhân, trước hết là sản phẩm của xãhội, nhưng cá nhân lại cũng có thể khởi xướng ra hành động mới và đổi mới ý thức[xem sđd, tr 38] Chính điều này giải thích được những biến động trong lĩnh vực tưtưởng, đặc biệt trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật: cùng một mặt bằng kinh tế, cùngchịu chung những cưỡng chế xã hội, cùng tiếp thu một truyền thống, thậm chí cùngtrình độ học vấn nhưng lại có những cá nhân vượt trội lên trên những người khác trởthành những nhà tư tưởng có tính cách cách mạng, hoặc những nghệ sỹ sáng lập ranhững trào lưu nghệ thuật mới Và chính những đột biến tưởng chừng cá thể ấy đã làmthay đổi có khi là cả một xã hội
- Chính các quan điểm phương pháp luận hành vi - phản thực chứng tránh đượccái nhìn chủ quan, mang tính áp đặt của các nhà nghiên cứu đối với đối tượng khảocứu, điều mà L Strauss đã cảnh báo đối với các nhà xã hội học thực chứng: “Khi mộtnhà xã hội học Pháp của thế kỷ XX khởi dựng một lý thuyết đại cương về đời sốngtrong xã hội, thì lý thuyết ấy sẽ luôn xuất hiện và theo cách hợp thức nhất ( ), là tácphẩm của một nhà xã hội học Pháp của thế kỷ XX"[dẫn theo 2, tr.23] Đây cũng là sựkhuyến cáo xác đáng đối với giới khoa học ở nước ta: Không thể áp dụng một cáchmáy móc, y nguyên một chương trình nghiên cứu, hay nhỏ hơn là một bộ câu hỏi điềutra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho người Việt Nam Cũng tương tự như thế,không thể áp dụng y nguyên những gì đã dùng để nghiên cứu người Việt (ở đồng bằngBắc Bộ chẳng hạn) cho người Việt ở vùng khác, lại càng không thể như thế đối vớinhững đối tượng khảo sát là đồng bào các dân tộc ít người
Ở nước ta, đây là vấn đề không chỉ mang tính lý thuyết thuần tuý, mà nó còn có ýnghĩa rất quan trọng trong quá trình nhận thức và tác động đến thực tiễn Thực tiễn vănhóa - xã hội ở Việt Nam trong nhiều năm qua đã cho thấy, nhiều chính sách xã hộinhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống cho đồng bào cácdân tộc ít người đã không phát huy được tác dụng, sở dĩ như vậy là những người đề rachính sách đã không thực sự “hiểu” được con người, văn hóa, xã hội của đồng bào dântộc, thậm chí lại lấy chính những tiêu chí về văn hóa - xã hội của người Việt để áp đặt
Trang 18vào cuộc sống của họ: Ví dụ, nhiều buôn làng ở Tây Nguyên được nhà nước hỗ trợ đểđịnh cư, trồng lúa nước hai vụ, đào giếng nước, xây nhà văn hóa, ở theo lối nhà củangười Việt, thậm chí, có nơi đồng bào còn thờ cúng tổ tiên như người Việt vv Rõràng là, nếu có những nghiên cứu dân tộc học, nhân học theo cách “thâm nhập” và
“hiểu” đồng bào các dân tộc thì chúng ta sẽ biết rằng, nhiều tộc người không phải ducanh, du cư (như chúng ta thường diễn đạt), mà là chuyển canh theo cách hiểu khoahọc của từ này: Họ có ý thức về địa lý, sở hữu và thổ nhưỡng của những khu đất mà họcanh tác; họ hiểu rằng khi nào thì phải chuyển địa điểm canh tác, khi nào thì những địađiểm đã được khai thác lại có thể canh tác trở lại được
- Nhiều khi những nghiên cứu theo quan điểm thực chứng thường ưu tiên cho mụcđích khái quát hoá, tìm ra cái chung và tính qui luật của hiện tượng mà không lưu ýđúng mức tới cái riêng, cái đặc thù của hiện tượng, do đó nhiều khi dẫn tới những kếtluận khoa học khái quát có tính khiên cưỡng
Các nghiên cứu dân tộc học, nhân học về hiện tượng Totem là một ví dụ Khởiđầu, một thông dịch viên đưa vào ngôn từ dân tộc học danh từ Totem, gần 100 nămsau, Mac Lennan đã đưa danh từ này trở thành một thuật ngữ dân tộc học nổi tiếng vớicông thức:
Đạo vật tổ= Thờ vật+ kết hôn ngoại tộc+ mẫu hệ
Từ đó, các nhà nghiên cứu càng ra sức khái quát hoá thuật ngữ này và đã có lúc,nhiều nhà nghiên cứu đã coi những cố gắng ấy như những tiên đề lý thuyết có tínhphổ quát Sau này, nhờ những tư liệu đa dạng hơn, phong phú hơn, chi tiết và mangtính thâm nhập hơn, người ta đã nhận ra rằng: Totemism không phải là hiện tượngphổ biến, toàn cầu như người ta tưởng, và nhiều hiện tượng mà bề ngoài tưởng nhưgiống Totem, nhưng thực chất không phải là thế Vì thế, nhiều nhà khoa học đã phảnbác lại lý thuyết trên, ví dụ, Goldenweiser cho rằng không thể xác định một cách tuyệtđối đạo vật tổ được, bởi nó “không có tính cách hệ thống và tổng quát” [sđd,tr 33];Hoặc như Lowie (trong cuốn Primitive Society) cũng cho rằng, thuyết vật tổ tỏ ra quátham lam và quá tổng quát
Rõ ràng là, nếu các nhà nghiên cứu biết kết hợp quan điểm phản thực chứng ở đâythì sẽ tránh được cách nhìn ngộ nhận về thực tại văn hóa ấy - hiện tượng Tôtem