Quản lý hoạt động thu BHXH khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI
Chính sách BHXH đối với người lao động làm việc trong khu vực
ngoài nhà nước được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Thực hiện
các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng,
bao gồm Bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với người lao động thuộc các thành
phần kinh tế”[20]
Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế tư nhân
(KTTN) gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã phát triển
rộng khắp trong cả nước, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, huy
động các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân, tăng tích lũy, góp phần giữ vững ổn định chính trị
-xã hội
Kinh tế tư nhân hiện nay ở nước ta còn nhiều hạn chế, yếu kém: quy
mô nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý thấp, sức cạnh tranh yếu ;
nhiều đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện đúng những quy định pháp luật
đối với người lao động, chẳng hạn như hợp đồng lao động, tiền lương, tiền
công, bảo hộ lao động… đối với người lao động đặc biệt là chưa tham gia
BHXH cho người lao động [27]
Vì vậy, vấn đề tham gia BHXH cho người lao động thuộc khu vực
KTTN cần phải được nghiên cứu thỏa đáng nhằm tìm ra những giải pháp để
một mặt nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về việc thực hiện chế
độ chính sách BHXH đối với khu vực này, mặt khác bảo vệ quyền lợi chính
đáng cho người lao động, đồng thời tăng thêm nguồn thu để tăng trưởng và
phát triển quỹ BHXH
Trang 2Đến nay công tác thu BHXH đối với những khu vực truyền thống nhưdoanh nghiệp Nhà nước, hành chính sự nghiệp, liên doanh có vốn đầu tư nướcngoài đã đi vào nền nếp ổn định Các đơn vị thuộc những khối này nhìn chung
có ý thức tự giác trong việc tham gia BHXH Do vậy, ngành BHXH cần tậptrung nguồn lực khai thác thu BHXH ở những khu vực mới, nhiều tiềm năng
có khả năng, triển vọng cũng như nhu cầu tham gia BHXH rất lớn chẳng hạnnhư khu vực KTTN
Trong những năm qua, BHXH tỉnh TT Huế đã có nhiều cố gắng trongviệc triển khai thu BHXH đối với khu vực KTTN Kết quả đã đem lại nhiềukhả quan trong việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH Tuy nhiên, đến sốđơn vị và số lao động tham gia BHXH vẫn còn thấp, chưa tương xứng tiềmnăng Đến thời điểm 31/12/2007, mặc dù đã có nhiều cố gắng, cả nước mới cókhoảng 47.852 đơn vị đã tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) bắt buộc,chiếm 35,99% trong tổng số đơn vị KTTN, và 1.669.466 lao động đã tham giachiếm khoảng 43,33% so với tổng số lao động Với lý do đó chúng tôi thực
hiện nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động thu BHXH khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung: Nhằm góp phần thực hiện tốt công tác thu bảo hiểm xã
hội ở tỉnh Thừa Thiên Huế
2.2 Mục tiêu cụ thể
* Mục tiêu cụ thể của đề tài là:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH để xác định rõ
chức năng, nhiệm vụ của hệ thống BHXH, chỉ ra được phương hướng vànhiệm vụ công tác quản lý thu BHXH khu vực KTTN trong thời gian tới
- Phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý thu BHXH khu vựcKTTN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua; những khó
Trang 3định các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu BHXH khu vực KTTN trên địa bàntỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hoặcchưa tham gia BHXH bắt buộc của doanh nghiệp được điều tra Từ đó, đềxuất phương hướng và hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao quản lý hoạtđộng thu BHXH khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn
đề kinh tế xã hội khu vực KTTN (Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổphần, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh); Công tác triển khai và thựchiện thu BHXH khu vực KTTN của cơ quan BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế;Điều tra 80 chủ sử dụng lao động doanh nghiệp khu vực KTTN đại diện vềnhững yếu tố tác động đến việc tham gia hoặc chưa tham gia BHXH bắt buộccho người lao động
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về nội dung
Nghiên cứu quy trình quản lý thu BHXH, đánh giá thực trạng tham gia
BHXH khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó đưa ra hệ thốngcác giải pháp nhằm nâng cao quản lý hoạt động thu BHXH khu vực KTTN
3.2.2 Phạm vi không gian
Vùng nghiên cứu là địa bàn Thừa Thiên Huế Ngoài ra, do hạn chế vềthời gian nên khi điều tra, phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp khu vựcKTTN để đánh giá những nhân tố tác động đến tham gia BHXH bắt buộc.Chúng tôi chỉ điều tra, phỏng vấn chủ sử dụng lao động của 80 doanh nghiệpđã tham gia và chưa tham gia BHXH bắt buộc theo tỷ lệ 1:1 tại địa bàn thành
Trang 4phố Huế, là nơi có số lượng doanh nghiệp khu vực KTTN chiếm tỷ trọng lớnnhất của tỉnh
3.2.3 Phạm vi thời gian
Các tài liệu phục vụ đánh giá thực trạng được thu thập trong khoảngthời gian từ 2003 đến 2007 Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tradoanh nghiệp năm 2007
3.2.4 Hạn chế của đề tài
Đề tài chưa đánh giá hiệu quả chính sách BHXH đối với khu vựcKTTN, không đánh giá, phân tích được những tác động chính sách BHXH đốivới doanh nghiệp khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 5CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm
Bảo hiểm ra đời, tồn tại và phát triển là do trong thực tế cuộc sống cónhiều rủi ro xảy ra, gây nên tổn thất về người và của Mặc dù con người đãluôn chú ý phòng tránh nhưng những rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy
Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhaunhằm kiểm soát cũng như hậu quả của rủi ro gây ra Hiện nay, theo quan điểmcủa các nhà quản lý rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậuquả do rủi ro gây ra – đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm cácbiện pháp tài trợ rủi ro
- Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh
rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro Các biện pháp này thường đượcsử dụng để ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro
+ Tránh né rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc
sống Mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biệnpháp thích hợp để né tránh rủi ro có thể xảy ra, tức là loại trừ cơ hội dẫn đếntổn thất Chẳng hạn để tránh các tai nạn giao thông người ta hạn chế đi lại,
để tránh tai nạn lao động người ta chọn những nghề không nguy hiểm Tránh
né rủi ro chỉ với nhũng rủi ro có thể tránh né được Nhưng cuộc sống có rấtnhiều rủi ro bất ngờ không thể tránh né được
+ Ngăn ngừa tổn thất - các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các
hành động nhằm làm giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra
Trang 6Ví dụ, để giảm thiểu các tai nạn lao động người ta tổ chức các khóa học nângcao chất lượng các hoạt động đảm bảo an toàn lao động; đề phòng chống hỏahoạn, người ta thực hiện tốt phòng cháy chữa cháy
+ Giảm thiểu tổn thất - người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua
các biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất đã xảy ra Ví dụ, như khi
có hỏa hoạn, để giảm thiểu tổn thất người ta cố gắng cứu các tài sản còn dùngđược hay trong một tai nạn giao thông, để làm giảm thiểu các thiệt hại vềngười và của người ta đưa ngay những người bị thương đến nơi cấp cứu vàđiều trị
Mặc dù biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiệu quả trong việc ngăn chặnhoặc giảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lườnghết được hiệu quả
- Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro: bao gồm các biện pháp chấp nhận
rủi ro và bảo hiểm Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ravới mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có
+ Chấp nhận rủi ro- đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp
nhận khoản tổn thất đó Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro là tựbảo hiểm Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro,tuy nhiên có thể phân chia làm hai nhóm: Chấp nhận rủi ro thụ động và chấpnhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người ta gặp tổn thấtkhông có sự chuẩn bị trước và có thể phải vay mượn để khắc phục hậu quả tổnthất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự trũ, dự phòngvà quỹ này chỉ được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra Tuy nhiên,việc này dẫn đến việc nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặcnếu đi vay thì sẽ bị động và còn gặp phải các vấn đề gia tăng về lãi suất
+ Bảo hiểm – đây là một phần quan trọng các chương trình quản lý rủi
ro của các tổ chức cũng như cá nhân Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi
Trang 7ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng Theo quan điểm xãhội, bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro doviệc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về tổn thất khichúng xảy ra Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây
ra, có hiệu quả nhất Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộcsống, của hoạt động sản xuất kinh doanh
Do nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển vàkhông thể thiếu đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia Ngàynay, sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữ các quốc gia càng phát triển thì bảo hiểmcũng ngày càng mở rộng [19]
1.1.2 Lợi ích của bảo hiểm
- Trước hết bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham giatrước tổn thất do rủi ro gây ra
- Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sốngcon người an toàn hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp
- Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách Nhà nước
- Bảo hiểm còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinhtế – xã hội
- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa cácnước thông qua hoạt động tác bảo hiểm
- Bảo hiểm thu hút một số lượng lao động nhất định của xã hội, gópphần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội Đồng thời hoạt động bảohiểm cũng góp phần giải quyết đời sống cho bộ phận lao động làm việc trongngành bảo hiểm; góp phần tạo ra một bộ phận tổng sản phẩm trong nước(GDP) của quốc gia
- Cuối cùng, bảo hiểm là chổ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chứckinh tế – xã hội; giúp họ yên tâm trong cuộc sống, sinh hoạt và trong hoạt
Trang 8động sản xuất kinh doanh Bởi vì, với một giá khiêm tốn (phí bảo hiểm), bảohiểm có thể giúp đỡ các gia đình, các tổ chức khắc phục hậu quả những rủi rokhôn lường [33]
1.1.3 Bản chất của bảo hiểm
Hoạt động bảo hiểm đã có từ lâu và cho đến nay cũng đã có rẩt nhiềuđịnh nghĩa về bảo hiểm, cụ thể:
- Dưới góc độ tài chính người ta định nghĩa: “Bảo hiểm là quá trình lậpquỹ dự phòng bằng tiền nhằm phân phối lại những chi phí, mất mát khôngmong đợi”
- Dưới góc độ pháp lý: “Bảo hiểm là sự cam kết bồi thường hoặc chi trả
về mặt kinh tế, trong đó người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm phải đóngmột khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho đối tượng được bảo hiểm theo cácđiều kiện bảo hiểm đã quy định Ngược lại, người bảo hiểm có trách nhiệmbồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro, sựcố bảo hiểm”
- Trên phương diện Thống kê toán, người ta định nghĩa: “Bảo hiểm làhoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thốngkê) cho người tham gia bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm
vi với điều kiện người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho chính anh tahoặc cho người thứ ba”
- Trên phương diện kinh tế – xã hội, các chuyên gia Pháp định nghĩa:
“Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợcấp nhờ vào một khoản đóng góp của mình hoặc cho người thứ ba trongtrường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức chi trả, tổ chứcnày có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù thiệt hại theo cácphương pháp thống kê”
Trang 9- Nếu xem xét một cách toàn diện thì: “Bảo hiểm là một hoạt động được tổ chức hợp lý bởi tập hợp những người có cùng chung rủi ro có thể xảy
ra hoặc các sự kiện bảo hiểm, các khoản đóng góp về tài chính của họ cho phép bồi thường hoặc chi trả theo quy luật thống kê những thiệt hại mà một số người trong tập hợp hoặc người thứ ba phải gánh chịu khi tổn thất hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra” [33]
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.2.1 Khái niệm, đặc trưng và vai trò của bảo hiểm xã hội
1.2.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
“BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính, do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội” [33].
Tuy nhiên, tùy từng giác độ tiếp cận theo chuyên môn đã có cách hiểukhác nhau về BHXH Ví dụ:
- Từ giác độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người laođộng, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động vàđược sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người đượcbảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, TNLĐ,thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết
- Từ giác độ tài chính: BHXH là cách thức chia sẻ rủi ro về tài chínhgiữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật
Trang 10- Từ giác độ quản lý vĩ mô: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảmbảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi
ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội [33]
1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của bảo hiểm xã hội
- Bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động Nóicách khác, khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, người lao động được bảohiểm cho đến lúc chết
- Các sự kiện bảo hiểm và các “rủi ro xã hội” của người lao động cóliên quan trực tiếp đến thu nhập của họ như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết Do những sự kiện và rủi
ro này mà người lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập Họ cần phải cókhoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống Đây là đặc trưng rất cơbản của BHXH
- Người lao động muốn được quyền hưởng trợ cấp BHXH thì phải cónghĩa vụ đóng phí BHXH Người chủ sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng phíBHXH cho người lao động mà mình thuê mướn Sự đóng góp của các bêntham gia BHXH là nguồn hình thành quỹ BHXH Quỹ BHXH dùng để chi trảcác trợ cấp khi có các nhu cầu phát sinh về BHXH
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, cácchế độ BHXH cũng do luật định và Nhà nước bảo hộ các hoạt động BHXH [33]
1.2.1.3 Vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và đối với xã hội
Đối với người lao động: BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho những người
lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh, nhanh chóng khắc phục những khó khănbằng cách tạo cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện sinh hoạtthuận lợi giúp họ ổn đinh cuộc sống, yên tâm trong công tác, tạo cho họniềm tin vào tương lai, từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao
Trang 11động cũng như tinh thần nỗ lực vì sự phát triển của doanh nghiệp, cơ quan họđang làm nói riêng và cho toàn xã hội nói chung
Đối với xã hội: Trước hết, cần phải khẳng định rằng, BHXH là một loại
dịch vụ công Hoạt động BHXH giống như một “doanh nghiệp” sản xuất ranhững dịch vụ “bảo hiểm” cho người lao động, một loại dịch vụ cần cho mọingười chứ không phải chỉ là cán bộ, công nhân viên chức Khi các tổ chứcnày sản xuất và cung ứng ngày càng nhiều loại dịch vụ bảo hiểm, đáp ứng đadạng các nhu cầu người dân, thì giá trị của những dịch vụ này ngày càng tăngvà là một bộ phận trực tiếp làm gia tăng tăng tổng sản phẩm xã hội Dưới giácđộ này, BHXH được xem là một ngành dịch vụ quan trọng của nền kinh tế
Thứ hai, với tư cách là một trong những chính sách kinh tế- xã hội củaNhà nước, BHXH sẽ giải quyết những “trục trặc”, “rủi ro” xảy ra đối vớingười lao động, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làmviệc, khả năng sáng tạo của họ và tác động trực tiếp đến việc nâng cao năngsuất lao động xã hội Thông qua sự trợ giúp của BHXH đối với người laođộng khi họ gặp rủi ro, bằng cách tạo ra thu nhập thay thế, BHXH đã gián tiếptác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia, kích thích tiêu dùng của xã hội,
hổ trợ và bổ sung các chính sách vĩ mô khác của Chính phủ
Thứ ba, với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh
mẽ tới hệ thống tài chính quốc gia, tới hoạt động của hệ thống tín dụng, tiềntệ, ngân hàng Chính vì vậy, trong các hoạt động của BHXH, luôn đặt ra mộtyêu cầu: quỹ BHXH phải tự bảo tồn và phát triển bằng nhiều hình thức khácnhau, trong đó có hình thức đầu tư phát triển phần “nhàn rỗi” của quỹ Đây làmột trong những kênh vốn quan trọng, có tác động không nhỏ tới quá trìnhphát triển kinh tế của đất nước, là một trong những nguồn đầu tư lớn tạo ranhững cơ sở sản xuất kinh doanh mới, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho
Trang 12người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng thu nhập cá nhân chongười lao động và tăng tổng sản phẩm quốc dân.
Thứ tư, BHXH cũng là một chính sách nhằm thực hiện công bằng xãhội, là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Sựphân phối lại thu nhập này được tiến hành qua hai cách: phân phối lại giữangười khỏe và người già, người làm việc và người đã về nghỉ hưu, người trẻtuổi và người cao tuổi, giữa nam và nữ, người đang hưởng trợ cấp và ngườichưa được hưởng trợ cấp Đây được gọi là phân phối lại theo chiều ngang.Còn phân phối lại theo chiều dọc là thực hiện điều tiết giữa người có thu nhậpcao và người có thu nhập thấp, giữa người giàu và người nghèo Đây là mộtmục tiêu quan trọng trong các chính sách kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô [33]
1.2.2 Chức năng và tính chất bảo hiểm xã hội
1.2.2.1 Chức năng bảo hiểm xã hội
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham giabảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngườitham gia BHXH
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nângcao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội
- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữangười lao động với xã hội [33]
1.2.2.2 Tính chất của bảo hiểm xã hội
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gianvà không gian
Trang 13- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tínhdịch vụ.
Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành,bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phảiđược quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích Mức đóng góp của các bênphải được tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợpngười lao động tham gia BHXH Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp chongười lao động theo các điều kiện của BHXH Thực chất, phần đóng góp củamỗi người lao động là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớnkhi gặp rủi ro Đối với người sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vàoquỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động mà mình sử dụng Xét dướigóc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trangtrải cho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động Với Nhànước BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹBHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xãhội của nó thể hiện rất rõ Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều
có quyền tham gia BHXH Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảohiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độtuổi lao động Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó.Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính chất xãhội hóa của BHXH cũng ngày càng cao [33]
1.3 NHỮNG KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRONG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.3.1 Cơ chế thu bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới
Trang 14Hệ thống BHXH được thực hiện nguyên tắc: Có tham gia BHXH mớiđược hưởng các chế độ BHXH Nguồn thu của hệ thống BHXH được tập hợpchủ yếu từ các khoản đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động.Ngoài ra ở một số nước còn có sự hổ trợ của Chính phủ với mức đóng góp vàhình thức đóng góp khác nhau phụ thuộc vào quy định của Luật pháp
Bảng 1.1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới
ĐVT: %
Tên nước Chính phủ
Tỷ lệ đóng gópcủa người laođộng so vớitiền lương
Tỷ lệ đóng góp củangười sử dụng laođộng so với quỹlương
Malaixia Chi toàn bộ chế độ ốm
( Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới)
Mức đóng góp vào quỹ BHXH của mỗi nước rất khác nhau phụ thuộcvào tiềm năng kinh tế của mỗi nước Về việc phân chia trách nhiệm đóng gópcho người lao động và chủ sử dụng lao động cũng khác nhau Đa số các nướcbắt buộc chủ sử dụng lao động phải đóng góp nhiều hơn người lao động Mộtsố nước như CHLB Đức, CH Pháp, Inđônêxia, Philipin được Chính phủ trảchi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại của người lao động vàngười sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau Một sốnước khác lại quy định chẳng hạn như nước Malaixia thì Chính phủ chi toànbộ chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động [24]
1.3.2 Những bài học rút ra từ kinh nghiệp hoạt động bảo hiểm xã hội của
Trang 15Qua nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của các nước có nền kinh tế pháttriển cũng như các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi,
có thể rút ra một số kinh nghiệm trong công tác thu BHXH như sau:
Bài học thứ nhất: Xây dựng chính sách BHXH phải dựa vào khả năng
kinh tế và xã hội cụ thể của mỗi nước
Bài học thứ hai: Việc thực hiện BHXH thông qua hệ thống thuế không
cần đến một hệ thống BHXH riêng biệt và thu thuế tính trên cơ sở tiền lươngcủa người lao động từ bản thân người lao động và chủ sử dụng lao động như ởThụy Điển không phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam
Bài học thứ ba: Qua kinh nghiệm của Mỹ, Anh và một số nước cho
thấy, hoạt động BHXH phải thực hiện theo nguyên tắc bắt buộc để thu hútcàng được nhiều đối tượng càng đảm bảo an toàn cho quỹ BHXH [24]
1.3.3 Cơ chế thu bảo hiểm xã hội nước ta từ năm 1995 đến nay
1.3.3.1 Quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội
Tháng 1/1997, quy định về quản lý thu BHXH được thực hiện theo Quyếtđịnh số 177/BHXH ngày 30/12/1996 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam
Tháng 1/2000, căn cứ Quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hộiViệt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 26/01/1998 củaThủ tướng Chính phủ; Thông tư số 85/1998/QĐ-BTC ngày 25/06/1998 của BộTài chính hướng dẫn Quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội ViệtNam; quy trình quản lý thu được thực hiện theo Quyết định số 2902/1999/QĐ-BHXH ngày 23/11/1999 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Quyết địnhnày đã quy định rõ hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm, của các bên tham gia BHXHtrong việc thu nộp BHXH; về quản lý và tổ chức thu BHXH
Tháng 7/2003, căn cứ Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Bảo hiểm xã hội Việt Nam; căn cứ Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày02/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ban hành về Quy chế quản lý
Trang 16tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam; quy trình quản lý thu BHXH,BHYT bắt buộc được thực hiện theo Quyết định số 722/QĐ-BHXH-BT ngày26/5/2003 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Tháng 01/2007 Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 có hiệulực thi hành; căn cứ Quyết định số 41/2007QĐ-TTg ngày 29/3/2007 của Thủtướng Chính phủ về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam; quy trìnhquản lý thu BHXH, BHYT được ban hành theo Quyết định số 902/QĐ-BHXH-BT ngày 26/6/2007 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam phù hợpvới quy định Luật BHXH Đến tháng 01/2008 BHXH Việt Nam ban hànhQuyết định số 1333/QĐ-BHXH ngày 26/02/2008 về việc sửa đổi bổ sung mộtsố điều được quy định tại Quyểt định 902/QĐ-BHXH-BT ngày 26/6/2007
Như vậy từ năm 1995 đến nay, Bảo hiểm xã hội Việt nam đã 5 lần thayđổi quy định về công tác quản lý thu BHXH Đây là vấn đề tất yếu khách quannhằm chuẩn hóa hệ thống tổ chức và quản lý thu BHXH sao cho phù hợp vớitình hình thực tế, đồng thời phản ánh ngành BHXH ngày càng lớn mạnh cả vềlượng và chất; bên cạnh đó cũng cho thấy rằng công tác quản lý thu nói chungvà đối với khu vực KTTN nói riêng ngày càng đa dạng và phức tạp
1.3.3.2 Mục đích thu bảo hiểm xã hội
- Tạo lập quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở đóng góp của ngườisử dụng lao động, người lao động và Nhà nước, tách quỹ độc lập với ngânsách nhà nước và thực hiện nguyên tắc hạch toán cân đối thu chi và được Nhànước bảo hộ Quỹ BHXH được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính củaNhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các chế độ BHXH, giảm dần sự cấpphát từ ngân sách Nhà nước
- Tạo lập mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH
Trang 17- Thực hiện nguyên tắc có đóng có hưởng, đảm bảo sự công bằng giữacống hiến và hưởng thụ Góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyếtchế độ chính sách BHXH.
1.3.3.3 Đối tượng thuộc diện thu bảo hiểm xã hội
Hệ thống BHXH bắt đầu hoạt động từ tháng 07/1995, đối tượng thuBHXH bắt buộc bao gồm những người lao động trong các doanh nghiệp khuvực KTTN có sử dụng từ 10 lao động trở lên [11]
Đến tháng 1/2003, Nghị định 01/NĐ-CP ngày 09/01/2003 đã mở rộngcác doanh nghiệp có dưới 10 lao động và cả những lao động ký hợp đồng laođộng (HĐLĐ) từ 3 tháng trở lên hoặc HĐLĐ dưới 3 tháng sau đó tiếp tục kýHĐLĐ mới thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc [12]; Riêng thu BHYT, thựchiện theo Nghị định 58/1998/NĐ-CP ngày 13/08/1998 của Chính phủ đốitượng thuộc diện thu BHYT bắt buộc áp dụng đối với những doanh nghiệp cósử dụng từ 10 lao động trở lên [13]
Nghị định số 63/2003/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ đã mởrộng đối tượng thuộc diện thu BHXH,BHYT bắt buộc đối với doanh nghiệp
có sử dụng dưới 10 lao động [14]
Đối tượng thuộc diện thu BHXH, BHYT bắt buộc khu vực KTTN baogồm: Người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, hợpđồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên đối với doanh nghiệp thànhlập hoạt động theo Luật doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác [34]
1.3.3.4 Mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Mức đóng BHXH hàng tháng bằng 20% mức tiền lương, tiền công ghitrong hợp đồng lao động trong đó: Người lao động đóng 5%; Người sử dụnglao động đóng 15% [17];
Mức đóng BHYT hàng tháng bằng 3% mức tiền lương, tiền công tháng,trong đó: Người lao động đóng 1% ; Người sử dụng lao động đóng 2% [14]
Trang 18Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, người sử dụnglao động có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT trên quỹ tiền lương, tiền côngcủa người lao động; đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng của từngngười lao động để đóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH
mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước, trong đó: nộp 23% tiền lương,tiền công đối với toàn bộ số lao động thuộc đối tượng thu BHXH, BHYT; Chỉnộp 3% tiền lương, tiền công đối với những người thuộc đối tượng thu nêutrên nhưng đang trong thời gian nghỉ thai sản, nghỉ ốm trên 14 ngày trongtháng; nghỉ ốm dài ngày, nghỉ chờ việc không hưởng lương, nghỉ việc dochuyển công tác hoặc nghỉ việc mà chưa trả lại thẻ BHYT[17]
Từ tháng 01/2007 người lao động có mức tiền lương, tiền công cao hơn
20 tháng tiền lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóngBHXH bằng 20 tháng lương tối thiểu chung [34]
1.3.3.5 Trình tự công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc
Kể từ khi bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp có trách nhiệm lập 02 bản
“Danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH, BHYT bắt buộc”(Mẫu số 02a-TBH) Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ký HĐLĐhoặc quyết định tuyển dụng, người sử dụng lao động phải nộp toàn bộ hồ sơ(Bản sao Quyết định thành lập hoặc chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặcgiấy phép hoạt động; HĐLĐ hoặc quyết định tuyển dụng cùng 03 bản “ Tờkhai tham gia BHXH, BHYT bắt buộc” (Mẫu số 01-TBH) hoặc sổ BHXHngười lao động (nếu có) cho cơ quan BHXH
Người sử dụng lao động tham gia BHXH, BHYT đóng trụ sở chính ởđịa bàn nào thì đăng ký tham gia đóng BHXH, BHYT tại địa bàn đó theophân cấp quản của cơ quan BHXH
Trang 19Hàng tháng doanh nghiệp có trách nhiệm thu phần phải đóng của ngườilao động để chuyển cùng với phần đơn vị phải đóng vào quỹ BHXH theo tàikhoản thu chuyên thu của cơ quan BHXH.
Hàng tháng hoặc tháng đầu của kỳ sau (đơn vị đóng theo kỳ), căn cứ hồ
sơ đăng ký tham gia BHXH, BHYT và hồ sơ bổ sung (nếu có), các chứng từchuyển tiền đóng BHXH, BHYT của đơn vị; giấy báo có của Ngân hàng hoặcKho bạc Nhà nước trong tháng, trong kỳ để kiểm tra, đối chiếu và xác định sốngười tham gia BHXH, BHYT, tổng quỹ lương lương, số tiền phải đóng, sốtiền đã đóng, số tiền đóng thừa, thiếu và số tiền lãi chưa đóng, chậm đóng(nếu có) Cơ quan BHXH lập 02 bản “ Thông báo kết quả đóng BHXH,BHYT bắt buộc” (Mẫu 08-TBH) gửi 01 bản cho đơn vị sử dụng lao độngtrước ngày 10 tháng sau, 01 bản lưu tại đơn vị [30]
1.3.3.6 Phân cấp quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Quyết định số 177/BHXH ngày 30/12/1996 và Quyết định số2902/1999/QĐ-BHXH ngày 23/11/1999 chưa phân cấp trách nhiệm của Bảohiểm xã hội Việt Nam trong công tác thu Từ Quyết định số 722/QĐ-BHXH-
BT ngày 26/5/2003 và Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 mớiquy định rõ trách nhiệm
Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Chỉ đạo, hướng dẫn, và kiểm tra tình hình
thực hiện công tác quản lý thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong toàn ngành;Đối chiếu tình hình thu nộp BHXH, BHYT, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT; Thẩmđịnh số thu BHXH, BHYT bắt buộc hàng năm; Xác định mức lãi suất bìnhquân trong năm của hoạt động đầu tư quỹ BHXH và thông báo cho BHXHtỉnh [29]
Bảo hiểm xã hội tỉnh:
- Căn cứ tình hình thực tế của địa phương để phân cấp quản lý thuBHXH, BHYT cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
Trang 20- Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu liên quan đến người lao động thamgia BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh
- Xây dựng kế hoạch và hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện côngtác thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT theo phân cấp quản lý và quyết toán số tiềnthu BHXH, BHYT đối với BHXH huyện theo định kỳ quý, 6 tháng, năm vàlập “Biên bản thẩm định số liệu thu BHXH, BHYT bắt buộc” (Mẫu số 12-TBH) [29]
Bảo hiểm xã hội huyện, thành phố: Tổ chức, hướng dẫn thực hiện thu
BHXH, BHYT; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT đối với người sử dụng lao động vàngười lao động theo phân cấp quản lý [29]
1.3.3.7 Lập và giao kế hoạch thu hàng năm
Bảo hiểm xã hội huyện: Căn cứ tình hình thực hiện năm trước và khả
năng mở rộng người lao động tham gia BHXH, BHYT trên địa bàn, lập 02bản “Kế hoạch thu BHXH, BHYT bắt buộc” năm sau (Mẫu số 13-TBH), gửi
01 bản đến BHXH tỉnh trước ngày 05/11 hàng năm.
Bảo hiểm xã hội tỉnh
- Lập 02 bản dự toán thu BHXH, BHYT đối với người sử dụng lao
động do tỉnh quản lý, đồng thời tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản “Kế hoạch thuBHXH, BHYT bắt buộc” năm sau (Mẫu số 13-TBH), gửi BHXH Việt Nam
01 bản trước ngày 15/11 hàng năm
- Căn cứ dự toán của BHXH Việt Nam giao, tiến hành phân bổ dự toánthu BHXH, BHYT cho các đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh và BHXH huyệntrước ngày 20/01 hàng năm
Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch năm
trước và khả năng phát triển lao động năm sau của các địa phương, tổng hợp,lập và giao dự toán thu BHXH, BHYT cho BHXH tỉnh và BHXH thuộc Bộ
Trang 21Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ trước ngày 10/01 hàngnăm [29].
1.3.3.8 Quản lý tiền thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
- Thu BHXH, BHYT bằng hình thức chuyển khoản Trường hợp ngườisử dụng lao động hoặc người lao động đóng BHXH bằng tiền mặt thì cơ quanBHXH phải hướng dẫn thủ tục nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quanBHXH Nếu người sử dụng lao động hoặc người lao động nộp tiền mặt trựctiếp tại cơ quan BHXH thì chậm nhất sau 3 ngày làm việc, cơ quan BHXHphải nộp vào tài khoản chuyên thu mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
- BHXH tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH,BHYT vào bất cứ mục đích gì (trường hợp đặc biệt phải được Tổng giám đốcBHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản)
Bảo hiểm xã hội huyện chuyển tiền thu BHXH, BHYT về tài khoảnchuyên thu của BHXH tỉnh vào ngày 10 và ngày 25 hàng tháng Riêng thángcuối năm chuyển toàn bộ số tiền thu BHXH, BHYT của huyện về BHXH tỉnhtrước 24 giờ ngày 31/12 [29]
1.3.3.9 Thông tin báo cáo
BHXH tỉnh, huyện mở Sổ chi tiết thu BHXH, BHYT bắt buộc (Mẫu số07-TBH); thực hiện ghi sổ theo hướng dẫn sử dụng mẫu biểu
BHXH tỉnh, huyện thực hiện chế độ báo cáo tình hình thu BHXH,BHYT bắt buộc (Mẫu số 09,10,11-TBH) định kỳ tháng, quý, năm; BHXHnhư sau:
+ BHXH huyện: Báo cáo tháng trước 22 hàng tháng; báo cáo quý trướcngày 20 tháng đầu quý sau; báo cáo năm trước ngày 25/01 năm sau
+ BHXH tỉnh: Báo cáo tháng trước 25 hàng tháng; báo cáo quý trướcngày cuối tháng đầu quý sau; báo cáo năm trước ngày 15/02 năm sau[29]
1.3.3.10 Quản lý hồ sơ, tài liệu
Trang 22- BHXH tỉnh, huyện cập nhật thông tin, dữ liệu của người tham giaBHXH, BHYT để phục vụ kịp thời cho công tác nghiệp vụ và quản lý.
- BHXH tỉnh xây dựng hệ thống mã số đơn vị tham gia BHXH áp dụngtrong địa bàn tỉnh theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam Mã số tham giaBHXH cấp cho đơn vị để đăng ký tham gia BHXH được sử dụng thống nhấttrên hồ sơ giấy tờ; sổ sách và báo cáo nghiệp vụ
- BHXH các cấp tổ chức phân loại, lưu trữ và bảo quản hồ sơ, tài liệuthu BHXH, BHYT đảm bảo khoa học để thuận tiện khai thác; sử dụng Thựchiện ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý người tham gia BHXH, BHYT,cấp sổ BHXH, thẻ BHYT cho người tham gia BHXH, BHYT bắt buộc [29]
1.4 TÌNH HÌNH THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
1.4.1 Đặc điểm của khu vực kinh tế tư nhân
Khu vực KTTN ở nước ta hiện nay theo tinh thần nghị quyết Đại hộiĐảng IX bao gồm: 1) Kinh tế cá thể, tiểu chủ và 2) kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế cá thể: là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cánhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và laođộng của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn lao động làm thuê
Kinh tế tiểu chủ: là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý vàđiều hành, hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và
có sử dụng lao động thuê mướn ngoài lao động của chủ; quy mô vốn đầu tưnhỏ, sử dụng lao động có tính chất mùa vụ, khoán việc
Kinh tế tư bản tư nhân: bao gồm toàn bộ hoạt động của các doanhnghiệp đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu là của cácthể nhân hoặc pháp nhân trong nước, vốn đó có thể là của tư nhân, của mộtpháp nhân không phải Nhà nước hoặc của một pháp nhân mà vốn Nhà nước <
Trang 2350% vốn cổ phần hoặc Nhà nước không nắm cổ phần chi phối hoặc cổ phầnđặc biệt Thành phần kinh tế này bao gồm:
+ Doanh nghiệp tư nhân được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp.+ Công ty trách nhiệm hữu hạn có một thành viên mà chủ sở hữu vốnkhông phải là Nhà nước; hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viêntrở lên là thể nhân và pháp nhân không phải Nhà nước được thành lập và hoạtđộng theo Luật doanh nghiệp
+ Công ty cổ phần mà các bên góp cổ phần là tư nhân hoặc Công ty cổphần được cổ phần hóa từ doanh nghiệp Nhà nước mà Nhà nước giữ cổ phần
< 50% hoặc không nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt đượcthành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp
+ Công ty hợp danh được thành lập và hoạt động theo Luật doanhnghiệp[8]
1.4.2 Những đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân
- Đóng góp lớn nhất và quan trọng nhất của khu vực kinh tế tư nhân(KTTN) là tạo công ăn việc làm Trong điều kiện ở nước ta, vấn đề lao độngvà việc làm đang là vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách Hệ thống các doanhnghiệp nhà nước ở nước ta hiện đang trong quá trình cải cách không tạo thêmđược nhiều làm mới; khu vực hành chính đang giảm biên chế và tuyển dụngmới không nhiều Do đó khu vực KTTN chính là nơi thu hút, tạo việc làmmới cho xã hội Các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể (phi nông nghiệp)đã sử dụng khoảng 16% lực lượng lao động xã hội với khoảng hơn 6 triệungười.Trong 3 năm (2000-2002), các doanh nghiệp dân doanh và hộ cá thểmới thành lập đã tạo ra khoảng 1,5 triệu chỗ việc làm[27]
- Khu vực KTTN đã đóng góp quan trọng vào GDP và thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Thực tiễn cho thấy, trong kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 thànhphần kinh tế tư nhân phát triển với tốc độ cao, tỷ trọng đóng góp vào ngân
Trang 24sách nhà nước lớn Theo số liệu thống kê, công nghiệp ngoài quốc doanh (baogồm cả kinh tế tư nhân) tuy vẫn là khu vực nhỏ nhất so với các khu vực khác,nhưng có nhịp độ tăng trưởng cao nhất: năm 2000 chiếm 24,6% trong giá trịsản xuất theo giá thực tế của toàn ngành công nghiệp, năm 2003 là 27,5%,năm 2004 tăng lên 28,5% và năm 2005 đạt trên 37% [36]
- Đóng góp về xuất khẩu và tăng nguồn thu ngân sách Theo số liệuthống kê của Bộ Thương mại, đến năm 2002, khu vực KTTN trong nước đãđóng góp khoảng 48% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam [27]
- Đóng góp của các doanh nghiệp dân doanh vào ngân sách nhà nướcđang có xu hướng tăng nhanh, từ khoảng 6,4% năm 2001 lên hơn 7% năm
2002 Thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm
2002 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2001 Ngoài ra, khu vựcKTTN còn góp phần tăng nguồn thu ngân sách như thuế môn bài, VAT trongnhập khẩu và các khoản phí khác [27]
- Khu vực KTTN đã có đóng góp rất lớn trong việc thu hút các nguồnvốn đầu tư xã hội Tính đến cuối năm 2003, đầu tư của khu vực KTTN chiếm27% tổng đầu tư xã hội của Việt Nam (khoảng 10 tỷ USD), cao hơn tỷ trọngđầu tư của doanh nghiệp nhà nước Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dândoanh đã đóng vai trò là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh têđịa phương Chẳng hạn, năm 2002 đầu tư của các doanh nghiệp ở thành phốHồ Chí Minh đã chiếm 38% tổng số vốn đầu tư xã hội trên địa bàn, cao hơn tỷtrọng vốn đầu của doanh nghiệp nhà nước và ngân sách gộp lại (36,5%)[27]
- Khu vực KTTN góp phần quan trọng tạo môi trường kinh doanh, thúcđẩy phát triển cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy
nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, xóa đói giảm nghèo.
Trang 25Sự phát triển của khu vực KTTN là nhân tố chủ yếu tạo môi trườngcạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, phá bỏ dần tính độc quyền của một sốdoanh nghiệp nhà nước Cơ chế kinh tế thị trường ngày càng thích ứng hơnvới cơ chế kinh tế mới Các loại thị trường bắt đầu hình thành và phát triển(thị trường hàng hóa – dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trườngbất động sản, thị trường khoa học và công nghệ) Quá trình hội nhập kinh tếquốc tế của nước ta sẽ không thể thực hiện nếu không có sự tham gia của khuvực KTTN [27].
1.4.3 Một số hạn chế của kinh tế tư nhân Việt Nam
Một là, hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN ở nước ta mới
được thành lập, hơn 90% là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, kinh nghiệmvà năng lực cạnh tranh thấp nên dễ bị tổn thương Theo số liệu của PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam, hơn 61% doanh nghiệp mới thành lậpthiếu nguồn lực cơ bản như vốn, năng lực quản lý, thị trường, đất đai, khó tiếpcận với nguồn cung ứng hổ trợ
Hai là, Khu vực KTTN ở nước ta nhìn chung năng lực cạnh tranh thấp,
trình độ công nghệ và năng lực quản lý kém
Ba là, Các DNTN mới chủ yếu tập trung kinh doanh trong các ngành
thương mại và dịch vụ sơ cấp Số lượng doanh nghiệp trong các ngành công
nghiệp chế biến và dịch vụ cao cấp còn rất ít.
Bốn là, KTTN, nhất là các doanh nghiệp mới tập trung phát triển ở một
số thành phố lớn Trong khi đó, ở nhiều vùng nông thôn, miền núi hầu như
có rất ít các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN
Năm là, nhiều đơn vị KTTN chưa thực hiện tốt những quy định của
pháp luật về lao động, hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm, tiền lương, tiền
Trang 26công, bảo hộ lao động, giờ làm việc đối với người lao động Nguyên nhâncủa tình trạng này xuất phát từ cả phía chủ doanh nghiệp lẫn người lao động.
- Từ chủ doanh nghiệp, hoặc là không biết (do thiếu thông tin, trình độthấp), hoặc là biết mà không thực hiện (do tính răn đe của pháp luật khôngnghiêm hoặc không có chế tài cụ thể để thực hiện Luật)
- Từ người lao động, hoặc là không biết (do trình độ thấp, do thiếuthông tin hoặc do biết nhưng không dám đòi hỏi)
Sáu là, một số doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể vi phạm pháp luật,
trốn lậu thuế, kinh doanh trái phép, chưa thực hiện đúng Luật doanh nghiệpvà các quy định về đăng ký kinh doanh
Bảy là, quản trị nội bộ của nhiều doanh nghiệp còn yếu kém, bất cập
như; thiếu chiến lược và kế hoạch kinh doanh, chưa thực hiện đầy đủ chế độbáo cáo tài chính theo quy định [27]
1.4.4 Đặc điểm lao động khu vực kinh tế tư nhân
Khu vực KTTN đã thu hút 95% lao động xã hội Tuy nhiên, lực lượnglao động này chủ yếu trong lĩnh vực nông, lâm ngư nghiệp thuộc các hộ kinhdoanh cá thể với lao động thủ công Do đó, chất lượng lao động chưa được cảithiện, năng suất lao động thấp và chưa góp phần tích cực vào việc giải quyếtthất nghiệp ở thành thị và nông thôn.[27]
Vẫn còn nhiều định kiến, tâm lý về so sánh vị trí giữa người lao độngtrong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước với người lao động trong khu vựcKTTN Do đó, đại bộ phận lao động khu vực KTTN mặc cảm với chính mình.Không chỉ trong thời kỳ bao cấp mà ngay cả trong thời kỳ chuyển sang cơ chếthị trường, người dân chỉ muốn con em mình được vào các cơ quan, doanhnghiệp nhà nước, và họ vẫn còn quan niệm vào được biên chế nhà nước mớiđược gọi là có việc làm Tâm lý đó cũng tác động vào lớp trẻ, có trình độ,
Trang 27không muốn vào làm việc khu vực KTTN mặc dù thu nhập và các chế độkhác không hề kém khu vực nhà nước
Vì vậy, người lao động mang tâm lý làm việc tạm thời, bất đắc dĩ,thường có mặc cảm khi làm việc tại khu vực này Ngoài ra những đơn vịKTTN có tính bền vững thấp, hay gặp rủi ro trong kinh doanh, cơ chế quản lý,tiền lương chưa thực sự tạo được sự gắn bó giữa người sử dụng lao động vàngười lao động nên số lao động có trình độ chuyên môn luôn tìm cơ hội dichuyển sang làm việc ở khu vực nhà nước hoặc những khu vực vốn đầu tưnước ngoài có thu nhập cao Do đó lao động khu vực KTTN thường xuyênbiến động, tập trung chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, chưa cótay nghề Nhìn chung hầu hết số lao động này chưa được đào tạo cơ bản vềnghề nghiệp: 75% lao động trong các doanh nghiệp tư nhân chưa tốt nghiệpphổ thông; trong toàn bộ khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ có 18% laođộng có trình độ đại học [27] Đây là một khó khăn cho công tác quản lý thuBHXH đối với khu vực này, những lao động có trình độ thấp này gặp nhiềukhó khăn trong khi tìm việc làm đã tạo ra tâm lý sẵn sàng chấp nhận việc làmvới mức tiền công thấp và bị chủ sử dụng lao động lợi dụng để trốn tránh thựchiện các nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định của Luật BHXH
Trong lực lượng lao động, đáng quan tâm hơn cả là lao động quản lý,trước hết là chủ doanh nghiệp Theo số liệu điều tra cho thấy có tới 50% chủdoanh nghiệp không thuộc thành phần kinh tế nhà nước không có bằng cấpchuyên môn; trong số đã qua đào tạo cơ bản về quản lý chỉ có 31% có bằng từcao đẳng trở lên Song số được đào tạo cơ bản này hầu hết đã ở tuổi ngoài 40,đặc biệt là số công chức đã nghỉ hưu; số đông chủ doanh nghiệp xuất thân từhộ kinh doanh cá thể chưa được đào tạo cơ bản [32]
Trình độ và kỹ năng quản lý còn yếu, không thu hút được tay nghềcao, chưa quan tâm đào tạo cơ bản đội ngũ lao động tay nghề cao Bản thân
Trang 28các chủ doanh nghiệp do mới ra khỏi thời kỳ bao cấp, nên còn chịu nhiều ảnhhưởng của sự trông chờ, mong đợi sự giúp đỡ che chở của Nhà nước Một sốhoạt động của một bộ phận KTTN còn mang tính “chụp giật” không ổn địnhlâu dài, chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh Điều này sẽ ảnh hưởngkhông nhỏ đến ý thức tự giác tham gia BHXH, BHYT bắt buộc cho người laođộng của các doanh nghiệp khu vực KTTN.
1.4.5 Khu vực kinh tế tư nhân tham gia bảo hiểm xã hội là tất yếu khách quan
Xu hướng và mục tiêu phấn đấn của BHXH hiện đại là thực hiện mộtsự bảo vệ phổ cập và đồng nhất, mở rộng đến toàn thể cộng đồng bằng nhiềuchế độ đa dạng Mọi người đều có quyền bình đẳng trong lao động và hưởngthụ, đều có cơ hội như nhau để vươn lên, đồng thời đều có nguy cơ gặp phảinhững bất trắc, những rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống Vì vậy, hệ thốngBHXH cần phải thực hiện sự che chắn xã hội cho mọi công dân trước nhữngnhững biến cố này
Người lao động trong các thành phần kinh tế, đặc biệt là KTTN cócống hiến rất lớn đối với nền kinh tế, đồng thời thực hiện nghĩa vụ đóng gópvới Nhà nước Điều này góp phần tăng thêm nguồn tài chính để thực hiện cácchính sách xã hội, trong đó có chính sách BHXH Nếu như trước kia, nguồntài chính BHXH chủ yếu từ ngân sách Nhà nước và việc thực hiện BHXH làđơn tuyến: Nhà nước- đối tượng, thì nay nguồn tài chính BHXH đã đa dạnghơn và việc thực hiện BHXH được thông qua nhiều kênh khác nhau như Nhànước, doanh nghiệp, hiệp hội các đoàn thể, cộng đồng, cá nhân, quốc tế Nhưvậy, lưới an toàn xã hội sẽ có nhiều tầng khác nhau, đáp ứng được các nhucầu của các đối tượng khác nhau trong xã hội
Cũng như các khu vực kinh tế khác, khu vực KTTN có mối quan hệgiữa người sử dụng lao động và người lao động nên cần có sự can thiệp của
Trang 29Nhà nước thông qua chính sácch BHXH để đảm bảo hài hòa lợi ích của haibên Khu vực KTTN cũng phải được bình đẳng với các khu vực kinh tế khác
về các chính sách, pháp luật Do đó, khu vực này cũng phải được hưởng cácquyền lợi do chính sách BHXH mang lại cũng như phải thực hiện nghĩa vụđóng góp vào quỹ BHXH
Trong điều kiện kinh tế thị trường, khu vực KTTN ngày càng pháttriển Ở các nước, KTTN là khu vực kinh tế chủ yếu nên việc tham gia BHXHcủa khu vực này là tất yếu Mọi đối tượng trong xã hội đều được tham giaBHXH theo các hình thức bắt buộc và tự nguyện Đối với loại hình bắt buộcthì các chủ sử dụng lao động có từ 1 lao động trở lên; còn đối với đối tượng tựnguyện là những người lao động tự do
Ở nước ta trong một thời gian dài, do điều kiện kinh tế còn hạn chế, lạiphải trải qua chiến tranh kéo dài nên BHXH mới chỉ thực hiện được cho mộtbộ phận dân cư là công nhân viên chức nhà nước, quân đội và những người cócông trong hai cuộc chiến tranh Đến nay, trong bối cảnh mới, nền kinh tế đấtnước đã có những nét khởi sắc Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, Việt Namđã từng vươn lên, đời sống dân cư có những cải thiện đáng kể, nhiều người dânđã có tích lũy Trong bối cảnh đó, BHXH có điều kiện để mở rộng đối tượng,phạm vi và mức độ mới từ nhiều nguồn (Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân)
Trong những năm gần đây, khu vực KTTN ở nước ta có tốc độ pháttriển rất nhanh và nhiều tiềm năng, huy động ngày càng nhiều lao động mớivà lao động dôi dư từ quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, tỷ trọng laođộng thuộc khu vực này trong tổng lao động xã hội ngày càng tăng trong khi
tỷ trọng tương ứng của khu vực nhà nước ngày càng có xu hướng giảm Do
đó, nhu cầu, khả năng và điều kiện tham gia BHXH của khu vực này sẽ ngàycàng lớn
Trang 30Vì vậy, khai thác lao động thuộc khu vực KTTN tham gia BHXH sẽlàm tăng tỷ trọng lao động xã hội tham gia đóng góp vào quỹ BHXH Mộtmặt làm tăng trưởng và phát triển quỹ BHXH; mặt khác bảo đảm quyền lợicho người lao động, nhất là với tình trạng ngày càng nhiều chủ sử dụng laođộng thuộc khu vực này đang vi phạm các quyền lợi cơ bản của người laođộng trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.Thêm vào đó, người lao động và người sử dụng lao động ở khu vực KTTNtham gia BHXH thực chất là làm cho đối tượng tham gia BHXH được mởrộng Đây là một định hướng đúng của ngành BHXH và của Nhà nước tatrong những năm gần đây và trong tương lai Điều đó góp phần thực hiệnnguyên tắc số đông bù số ít của BHXH.
1.4.6 Chính sách bảo hiểm xã hội đối với khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người lao động thuộc cácthành phần kinh tế, hoạch định những chính sách xã hội trong đó có chínhsách BHXH cho mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phù hợp với điều kiện phát triểnkinh tế của đất nước Chính sách BHXH đối với khu vực KTTN có thể chialàm hai thời kỳ sau:
ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với ngườilao động”
Mặc dù Đại hội VI (tháng 12/1986) đánh dấu một bước ngoặc đối với
Trang 31kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhànước, kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc nhưng nhìn chung vẫn còn hạn chế, chophép tồn tại có mức độ và có giới hạn Do vậy, lao động thuộc khu vực KTTNvẫn chưa được tham gia BHXH.
Chính sách BHXH đối với người lao động làm việc trong các doanhnghiệp ngoài quốc doanh, ngoài công lập được Đảng đề ra ngay từ năm 1991
trong Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII “ Đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều đóng góp vào quỹ BHXH Từng bước tách quỹ BHXH đối với công nhân viên chức khỏi Ngân sách Nhà nước và hình thành quỹ BHXH chung cho mọi người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế”.
Các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quantrọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường.Bước đầu Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP ngày 22 tháng 6 năm 1993
về việc quy định tạm thời chế độ BHXH, như sau: Quy định 5 chế độ BHXHđối với người lao động khu vực nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh
có từ 10 lao động trở lên; Quỹ BHXH đượcc hạch toán riêng biệt khỏi ngânsách nhà nước và được Nhà nước bảo hộ; Chuẩn bị thành lập một tổ chức
“BHXH Việt Nam” để quản lý quỹ Trong đó quy định đối tượng tham giaBHXH bắt buộc bao gồm những người lao động làm việc hưởng lương hoặctiền công ở những doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao độngtrở lên
1.4.6.2 Thời kỳ từ năm 1995 đến nay
Sau khi Bộ Luật lao động có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 trong đó cóchương XII quy định về BHXH Theo đó ngày 26/1/1995 Chính phủ đã banhành Điều lệ BHXH kèm Nghị định 12/CP thực hiện đối với cán bộ, công
Trang 32chức viên chức Nhà nước và người lao động làm việc trong các thành phầnkinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.
Để tạo tiền đề vững chắc, đưa chính sách BHXH tiếp tục chuyển biếnrõ rệt, và tạo cơ sở cho ngành BHXH phát triển, ngày 26/5/1997, Bộ Chính trịđã có Chỉ thị số 15/CT-TW “Về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độBHXH” trong đó nhấn mạnh việc tập trung chỉ đạo, phát huy vai trò lãnh đạocủa các tổ chức đảng ở các doanh nghiệp khu vực KTTN trong việc thực hiệncác chế độ BHXH đối với người lao động
Quan điểm chỉ đạo phát triển KTTN của Đảng tại Nghị quyết Trungương 5 (khóa IX) đã chỉ rõ: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọngcủa nền kinh tế quốc dân Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trongphát triển kinh tế nhiều thành phần, định hướng XHCN, góp phần quan trọngthực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa,hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc Nhànước định hướng, hổ trợ, dẫn dắt và bảo hộ sự phát triển của KTTN trong mốiquan hệ bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, điều tiết và quản và quản lý sựphát triển bằng chính sách và pháp luật Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đánggiữa người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở pháp luật và tinhthần đoàn kết tương thân tương ái
Ngày 19/1/1998 Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo đối với hệthống BHXH Việt Nam về việc triển khai hoạt động BHXH ở khu vực ngoàiquốc doanh
Ngày 09/01/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ-CP đã
mở rộng đối tượng tham gia BHXH đối với khu vực ngoài quốc doanh có sử
Trang 33hợp tác Nghị định này quy định cụ thể về hình thức ký HĐLĐ đóng bao gồmnhững người lao động làm việc theo HĐLĐ có thời hạn đủ từ 3 tháng trở lênvà HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ dưới 3 tháng nhưng khi hết hạn lạitiếp tục làm việc hoặc giao kết HĐLĐ mới đối với doanh nghiệp, tổ chức, cánhân đó thuộc diện đóng BHXH bắt buộc.
Luật BHXH số 71/2006/QH 11 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2007, cơ
sở pháp lý cao nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thuộc khu vựcKTTN tham gia BHXH bắt buộc
Như vậy qua hơn 20 năm đổi mới, nhận thức và quan điểm của Đảngvà Nhà nước về thành phần KTTN đã từng bước hoàn thiện
1.5 TÌNH HÌNH THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM
1.5.1 Sự chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
- Tổ chức triển khai: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính
phủ về việc triển khai hoạt động BHXH ở khu vực KTTN tại Thông báo số12/TB-VPCP ngày 19/01//1998 của Văn phòng Chính phủ; tháng 03/1998,BHXH Việt Nam tổ chức hội thảo về thực hiện BHXH đối với doanh nghiệpngoài quốc doanh tại thành phố Hồ Chí Minh với sự tham gia của ngành thuế,Bảo Việt thành phố Hồ Chí Minh, một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh vàmột số đơn vị có số lượng lao động lớn thực hiện tốt công tác BHXH Ngày02/6/1998, tổ chức hội nghị toàn quốc ngành BHXH triển khai thực hiệnBHXH khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
- BHXH các tỉnh, thành phố đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chínhquyền địa phương có những văn bản chỉ đạo, tổ chức các hội nghị phổ biến,triển khai thực hiện; phối hợp vớp các ngành, các cấp, các đoàn thể tuyêntruyền, vận động điều tra, khảo sát, hướng dẫn, kiểm tra các doanh nghiệp
Trang 34ngoài quốc doanh trong việc thực hiện BHXH đối với người lao động Cácđịa phương làm tốt công tác này là thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, BìnhDương, Thanh Hóa, Hà Giang, Hà Tây, Quảng Nam, Quảng Bình, Gia Lai,Thừa Thiên – Huế, Thái Bình, Đà Nẵng
- Chỉ đạo về văn bản: Ngày 05/04/1999 Tổng Giám đốc BHXH Việt
Nam đã có công văn số 348/BHXH-QLT gửi UBND các tỉnh, thành phố quantâm, chỉ đạo thực hiện chế độ BHXH khu vực KTTN; Cùng ngày Tổng Giámđốc BHXH Việt Nam đã có Chỉ thị số 349/BHXH-QLT chỉ đạo BHXH cáctỉnh thành phố về việc tăng cường thực hiện chế độ BHXH đối với người laođộng trong các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh Ngày28/6/1998 BHXH Việt Nam đã có công văn số 724/BHXH-QLT chỉ đạo vàhướng dẫn nghiệp vụ đối với BHXH các tỉnh thành phố về triển khai công tácBHXH khu vực ngoài quốc doanh
1.5.2 Kết quả đạt được
Trong những năm qua, ngành BHXH đã đạt được những kết quả đáng
kể trong quá trình triển khai thực hiện quản lý thu BHXH khu vực KTTN.Điển hình số doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN tham gia BHXH ngày càngtăng lên qua các năm
Tổng số đơn vị sử dụng lao động thuộc khu vực KTTN tham giaBHXH ngày càng tăng qua các năm thể hiện bảng sau:
Bảng 1.2: Tình hình đơn vị KTTN tham gia BHXH tại Việt Nam
Chỉ tiêu Đơn vị
tính 2003 2004 2005 2006 2007Tổng số đơn vị KTTN đơn vị 64.526 84.003 105.569 123.392 132.652 Số đơn vị đã tham gia đơn vị 12.115 20.466 29.338 38.635 47.852
Trang 35Tỷ lệ % KTTN năm
sau so với năm trước % 100 168,93 143,35 131,69 123,85
Tỷ lệ % so với tổng số
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam;Tổng cục thống kê 2007)
Số liệu bảng 1.2 cho thấy số đơn vị khu vực KTTN tham gia BHXHnăm 2007 đã tăng 46.637 đơn vị, tăng gần gấp 4 lần so với năm 2003, nămđầu tiên ngành BHXH thực hiện Luật BHXH, tốc độ tăng bình quân42%/năm
Năm 2007, Bảo hiểm xã hội 10 tỉnh thành phố có số đơn vị khu vựcKTTN tham gia BHXH nhiều nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố HàNội, thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Bình Dương, ĐồngNai, Tiền Giang, Cần thơ, Bà Rịa – Vũng Tàu, , Khánh Hòa Các tỉnh này đãquản lý 34.571 đơn vị, chiếm 72,24% so với tổng số đơn vị sử dụng lao độngthuộc khu vực KTTN đã tham gia BHXH trong cả nước
Tỷ trọng các đơn vị tham gia BHXH khu vực KTTN có xu hướng tăngdần, từ năm 2003 chiếm 18,77% trong tổng số các đơn vị khu vực KTTN đếnnăm 2007 đã chiếm 35,99%, xem sơ đồ 1.1
0 20000
Trang 36Cùng với số doanh nghiệp tham gia BHXH ngày càng tăng thì số laođộng trong khu vực KTTN tham gia BHXH cũng tăng lên rất nhanh.
Bảng 1.3: Tình hình lao động KTTN tham gia BHXH
Chỉ tiêu Đơn vị
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Số liệu bảng 1.3 cho thấy số lao động trong các doanh nghiệp khu vựcKTTN tham gia BHXH qua các năm liên tục tăng Nếu như năm 2003 mớichỉ có 483.182 lao động thuộc doanh nghiệp khu vực KTTN tham gia BHXHthì đến năm 2007 đã có 1.669.466 lao động tức là gấp 3,5 lần so với năm
2003 Tốc độ tăng lao động khu vực KTTN trong 04 năm 2003-2007 bìnhquân tăng 36,61%, đặc biệt trong 02 năm 2004-2005 tăng trên 44% Nguyênnhân do Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2003 đã mở rộng doanhnghiệp có sử dụng dưới 10 lao động, Lao động ký kết hợp đồng từ 03 thángtrở lên thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc Từ đó dẫn đến lao động trongkhu vực KTTN tham gia BHXH so với tổng số lao động của khu vực này quacác năm ngày càng tăng, nếu như năm 2003 chiếm 23,57% thì đến năm 2007chiếm 43,33% (xem sơ đồ 1.2)
Trang 370 500000
Sơ đồ 1.2: Tình hình lao động tham gia BHXH khu vực KTTN
Tuy nhiên lực lượng lao động tham gia BHXH phân bố không đều.Năm 2006, các tỉnh có số lao động tham gia BHXH thuộc khu vực KTTNnhiều nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh 409.639 người, thành phố Hà Nội207.922 người, tỉnh Bình Dương 87.715 người, thành phố Hải Phòng 40.995người, tỉnh Đồng Nai 36.950 người Số lao động thuộc khu vực này tham giaBHXH tập trung vào 41 tỉnh, thành phố quản lý với tổng số 1.267.178 ngườichiếm tỷ lệ 95,43%; 23 tỉnh còn lại có số lao động thuộc khu vực này thamgia BHXH rất thấp, chỉ chiếm 4,57% Riêng BHXH tỉnh Lai Châu mới chỉ có
329 lao động khu vực này tham gia BHXH
Với số doanh nghiệp và lao động thuộc khu vực KTTN tham giaBHXH ngày càng tăng nên số tiền đã thu BHXH khu vực này ngày càng lớn
Bảng 1.4: Tình hình thực thu BHXH khu vực KTTN tại Việt Nam
Chỉ tiêu Đơn vị
Trang 38năm 2003
Tỷ lệ % so với
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Số tiền người lao động các doanh nghiệp khu vực KTTN đóng vào QuỹBHXH có tốc độ tăng trưởng khá, năm sau đều cao hơn năm trước Nếu sosánh tốc độ tăng các năm so với năm trước thì số thu BHXH doanh nghiệpkhu vực KTTN năm 2004 đã bằng 2,42 lần so với năm 2003, năm 2004 bằng
4 lần, năm 2005 bằng 6,52 lần Đặc biệt năm 2007 là 4.176 tỷ đồng, tăng 3.75
tỷ đồng bằng 982,59% (gấp hơn 9,82 lần) so với năm 2003, tăng 150,59% sovới năm 2006 Trong khi đó tốc độ tăng của tổng số thu BHXH bình quân giaiđoạn 2003-2007 chỉ tăng 25,91%
Tỷ trọng thu BHXH khu vực KTTN so với tổng thu BHXH tăng dầnqua các năm, nếu như năm 2003 chiếm 4.32% so với tổng thu thì đến năm
2007 chiếm 17,01% so với tổng thu BHXH
1.4.3 Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
- Đa số các tỉnh, thành phố còn nhiều doanh nghiệp thuộc khu vựcKTTN chưa tham gia BHXH cho người lao động
- Hơn 70% số đơn vị KTTN và trên 60% số lao động khu vực nàychưa tham gia BHXH
- Thu BHXH khu vực KTTN còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng thuBHXH của cả nước
- Tình trạng nợ đọng, chậm đóng BHXH vẫn còn tồn tại ở không ít cácđơn vị khu vực KTTN
Bảng 1.5: Tình hình nợ BHXH khu vực KTTN của nước ta
Trang 39vị tínhSố tiền phải thu
BHXH tỷ.đ 563,5 1.148,61 1.927,181 3.154,707 4.642,461Số tiền nợ đóng
BHXH tỷ.đ 139,672 117,333 226,672 381,413 466,461
Tỷ lệ % nợ so
với số phải đóng % 24,78 10,21 11,76 12,09 10,04
(Nguồn: BHXH Việt Nam)
Qua bảng 1.4 cho thấy bình quân hàng năm giai đoạn 2003-2007 nợchiếm 14% trên tổng số tiền phải thu BHXH khu vực KTTN Tuy nhiên sốtiền nợ BHXH của các doanh nghiệp khu vực KTTN có chiều hướng giảmdần Nếu như năm 2003 nợ 139,672 tỷ đồng chiếm 24,78% trong tổng số tiềnphải đóng thì đến năm 2007 nợ 466,461 tỷ đồng chiếm 10,04% so với tổng sốtiền phải thu BHXH
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tình hình phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Thừa Thiên Huế
2.1.1.1 Tăng trưởng doanh nghiệp
Dưới tác động của chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế pháttriển theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Trong những năm qua kinh tế
tư nhân tỉnh Thừa Thiên Huế đang tăng nhanh về số lượng, vốn kinh doanh,thu hút lao động, nhất là loại hình doanh nghiệp, công ty Kinh tế tư nhân pháttriển rộng khắp trong các ngành nghề mà pháp luật không cấm Các doanh
Trang 40nghiệp này đã tạo ra mức tăng trưởng khá cao, đóng góp không nhỏ vào tốcđộ phát triển kinh tế của tỉnh.
Doanh nghiệp tư nhân thực hiện đăng ký kinh doanh từ khi có Luậtcông ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Năm 1992, toàn tỉnh mới chỉ có 5doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN nhưng đến nay con số này đã lên đến1.529 doanh nghiệp
Bảng 2.1: Tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế 2007)
Qua bảng 2.1 cho ta thấy giai đoạn 1992 – 1999 thực hiện theo LuậtDoanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty, bình quân mỗi năm có 23 doanhnghiệp được thành lập (gần 2 doanh nghiệp/tháng) Giai đoạn 2000 – 2006,thực hiện theo Luật Doanh nghiệp năm 2000 bình quân mỗi năm có 170doanh nghiệp được thành lập mới (14 doanh nghiệp/tháng), gấp 7 lần so vớibình quân giai đoạn 1992 – 1999, và đặc biệt thời gian thực hiện Luật doanhnghiệp 2005 có hiệu lực từ 01/7/2006 chỉ trong vòng 01 năm 2007 đã có 327doanh nghiệp mới thành lập, bình quân mỗi tháng có 27 doanh nghiệp đượcthành lập mới gần gấp 2 lần giai đoạn thực hiện Luật doanh nghiệp 2000
Cùng với sự gia tăng số lượng doanh nghiệp thì qui mô vốn của loạihình kinh tế này cũng có sự phát triển một cách nhanh chóng Từ lượng vốnchỉ khoảng 715 triệu đồng vào năm 1992 đến nay tổng lượng vốn của toàn bộkhu vực kinh tế này đã lên đến 2.728.618 triệu đồng, bình quân vốn trên một