Quan hệ giữa doanh nghiệp với tổ chức tín dụng
Trang 1Đào Mục lục
Trang 21 Tiền tệ
Định nghĩa: Tiền là bất kỳ một phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho việc giao hàng và thanh toán công nợ Nó là một phương tiện trao đổi.
Chức năng của tiền tệ
Theo Karl Marx và các trường phái kinh tế học cổ điển: Tiền tệ có 5 chức năng:
- Thước đo giá trị: Thước đo giá trị là chức năng cơ bản thứ 1 của tiền tệ thông qua giá trị của tiền tệ để đo lường và biểu hiện giá trị cho các hàng hoá khác và chuyển giá trị của hàng hoá thành giá cả
- Phương tiện lưu thông: Đây là chức năng cơ bản thứ 2 của tiền tệ Với chức năng này tiền được dùng làm trung gian môi giới cho quá trình trao đổi hàng hoá, là phương tiện để thực hiện giá trị của hàng hoá, là phương tiện để tạo sự chuyển hoá CT H-T- H’.
- Phương tiện thanh toán: Tiền trong chức năng phương tiện thanh toán xuất hiện như
1 phương tiện để thanh toán các khoản nợ Đặc điểm của tiền trong chức năng thanh toán là sự vận động của tiền độc lập tương đối với sự vận động của hàng hoá và dịch
vụ, giữa chúng có sự tách rời cả về không gian và thời gian.
- Phương tiện cất trữ: Phương tiện cất trữ là chức năng xã hội vốn có của tiền tệ Trong chức năng này, tiền được rút ra khỏi lưu thông để cất trữ để thoả mãn các nhu cầu mua hàng sau này.
- Tiền tệ thế giới: Tiền tham gia với tư cách là thước đo chung, phương tiện mua hàng và thanh toán chung đồng thời là phương tiện để di chuyển của cải.
Theo trường phái kinh tế hiện đại , tiền tệ cũng có 3 chức năng: Phương tiện trao đổi, đơn
vị đánh giá và phương tiện dự trữ giá trị
Chức năng phương tiện trao đổi
Là một phương tiện trao đổi tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung giantrong việc trao đổi hàng hoá dịch vụ Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phảnánh lý do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá
Như vậy, là một phương tiện trao đổi, tiền đã góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, khi nó tạo thuận lợi cho các giao dịch, làm giảm thời gian bỏ ra co việc giao dịch đồng thời tạo điều kiện cho việc chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội.
- Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:(7 tiêu chuẩn)
Được chấp nhận rộng rãi: Nó phải được con người chấp nhận rộng rãi trong lưưthông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hoá mớiđồng ý đổi hàng hoá của mình lấy tiền
Dễ nhận biết: Con người phải nhận biết nó dễ dàng
Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc trao đổi giữa các hàng hoá có giátrị rất khác nhau
Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng hoá ởnhững khoản cách xa
Trang 3 Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng
Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: Để đảm bảo số lượng của nó đủ dùngtrong trao đổi
Có tính đồng nhất: Các đồng tiền cùng mệnh giá phải có sức mua ngang nhau
Chức năng là đơn vị đánh giá:
Chức năng thứ 2 của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn
vị để do giá trị các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế Qua việc thực hiện chức năngnày, giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khốilượng bằng Kg, đo độ dài bằng m … Nhờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diền rathuận tiện hơn
- Ý nghĩa:
Nếu giá trị hàng hoá không có một đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ đượcđịnh giá bằng tất cả các hàng hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt ahngf trongnền kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêudùng hàng hoá, do phần lớn thời gian đã dnàh cho việc đọc giá hàng hoá Khi giá củacác hàng hoá, dịch vụ được thể hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bánhàng hoá mà việc đọc bảng giá hàng hoá cũng sẽ đơn giản hơn rất nhiều với chi phíthời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch
Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm phương tiệntrao đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm trung gian, các tỷ
lệ trao đổi được hình thành theo tập quán – tức là ngay khi mới ra đời, việc sử dụngtiền làm phương tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá
Đầu tiên những phương tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hoá cũng
có giá trị như các hàng hoá khác Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hoákhác chính là tiền cũng có giá trị sử dụng như các hàng hoá khác ( Theo phân tích củaMarx về sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị hàng hoá: giá trị hàng hoáđược biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá, vật nganggiá chung) Vì vậy trong thời đại ngày nay, mặc dù các phưong tiện được sử dụng làtiền không còn có giá trị như các hàng hoá khác nhưng nó được mọi người chấp nhậntrong lưu thông (có giá trị sử dụng đặc biệt), do đó vẫn được sử dụng để đánh giá giátrị các hàng hoá Trong bất kỳ nền kinh tế tiền tệ nào việc sử dụng tiền làm đơn vị đolường giá trị đều mang tính chất trừu tượng, vừa có tính pháp lý, vừa có tính quy ước
Chức năng là phương tiện dự trữ giá trị:
Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian Khingười ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêungay, tiền là một phương tiện để giúp cho việc cất giữ sức mua trong trường hợp nàyhoặc người ta giữ tiền đơn thuần là việc để lại của cải
Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phưong tiện ngoài tiền như: Cổphiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãicao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao về giá so với việc giữ tiềnmặt Tuy nhiên người ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thểchuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khiđòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang tiền Nhữngđiều đó cho thấy, tiền là một phương tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác
- Ý nghĩa:
Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đên đâu tuỳ thuộc vào
sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định bằng khối lượng hànghoá mà nó có thể đổi được Khi mức giá tăng lên, mức giá của tiền sẽ giảm đi và
Trang 4ngược lại Sự mất giá nhanh chóng của tiền sẽ làm người ta ít muốn giữ nó, điều nàythường xảy ra khi lạm phát cao Vì vậy để thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sứcmua của tiền phải ổn định
Sử dụng các chức năng của tiền tệ trong quản lý kinh tế
- Mở rộng và phát triển kinh tế hàng hoá: nhờ có tiền tệ thamg gia trong chức năngthước đo giá trị và phương tiện lưu thông làm cho việc đo lường và biểu hiện giá trịcủa hàng hoá vừa đơn giản, thuận lợi vừa thống nhất làm cho sự vận động hàng hoátrong lưu thông được tiến hành 1 cách trôi chảy, giúp người SXKD hạch toán đượcchi phí và kết quả SX, thực hiện tích luỹ để mở rộng quy mô SX
- Thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế: Tiền tệ trở thành phương tiện cho việcthực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế Nhờ đó mà các mối quan hệ nhiều mặtgiữa các quốc gia trên TG được hình thành và phát triển làm cho xu thế hoà nhập trêncác lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật, tài chính, tiền tệ,… có cơ hội phát triển
Khái quát về ổn định tiền tệ
- Ổn định tiền tệ chính là ổn định giá trị của đồng tiền, theo nghĩa rộng bao gồm ổnđịnh giá trị đối nội và giá trị đối ngoại của tiền tệ
Trong chế độ lưu thông tiền tệ có đầy đủ giá trị, tiền giấy và tiền vàng có giá trị nhưnhau Tiền tệ có giá trị nội tại, có khả năng tự điều hoà số lượng tiền tệ cần thiết tronglưu thông Khi tiền lên giá, dự trữ tiền của các cá thể tăng trong lưu thông và ngượclại Giá trị của tiền tệ thường ngang bằng với sức mua Tuy nhiên sự thống nhất nàychỉ là tương đối Sự ổn định của tiền tệ phụ thuộc vào sự ổn định của chính kim loạitiền tệ Vai trò can thiệp của Nhà nước chủ yếu là tăng khối lượng vàng bạc dự trữ đểsẵn sàng đáp ứng nhu cầu lưu thông tiền tệ
Trong chế độ lưu thông tiền dấu hiệu, giá trị danh nghĩa của tiền tệ bị tách rời khỏi giátrị nội tại của nó và được thể hiện dưới hình thức sức mua: nó có khả năng tự phátđiều hoà số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông như tiền đầy đủ giá trị Vì vậy ổnđịnh tiền tệ chính là ổn định sức mua của tiền tệ Vai trò can thiệp của Nhà nước hếtsức to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – chính trị – xã hội
- Ổn định tiền tệ thể hiện qua việc kiểm soát lạm phát Lạm phát xảy ra khi chỉ số giácủa một năm tăng lên so với năm trước, sức mua của đồng tiền giảm sút Việc kiểmsoát lạm phát và duy trì lạm phát ở mức độ thấp, tiền lương thực tế của người laođộng được đảm bảo, góp phần ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân Lạm phát
ở mức thấp cũng tạo ra sự tin tưởng của các nhà đầu tư, người tiêu dùng vào giá trịcủa đồng tiền, qua đó thúc đẩy mở rộng và chi tiêu đầu tư, tiêu dùng, làm tăng tổngcầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại, khi lạm phát ở mức độ cao, sẽ ảnhhưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế
- Ngoài việc kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ còn bao gồm cả việc chống tình trạngthiểu phát Bởi vì nếu thiểu phát xảy ra, tổng cầu suy giảm, sẽ làm chậm tốc độ tăngtrưởng kinh tế, thu nhập của dân cư giảm, có thể gia tăng thất nghiệp và gây ra hậuquả xấu đối với xã hội
Biện pháp ổn định tiền tệ trong điều kiện lạm phát và thiểu phát
Ổn định tiền tệ trong điều kiện lạm phát
- Lạm phát là sự gia tăng kéo dài trong mức giá chung của nền kinh tế Khi lạm phátxảy ra, sức mua đồng tiền giảm sút, giá cả chung của hàng hoá, dịch vụ tăng lên Nềnkinh tế lạm phát ở mức độ cao sẽ gây ra việc phân phối lại của cải, thu nhập, phá huỷ
hệ thống thông tin – kinh tế, gây mất lòng tiền vào đồng tiền nội tệ, khối lượng sảnphẩm tăng chậm, gây suy thoái nền kinh tế,…
Trang 5- Trong điều kiện lạm phát, ổn định tiền tệ chính là kiểm soát và duy trì lạm phát ở mức
độ hợp lý Để kiểm soát lạm phát, Chính phủ có thể sử dụng các chính sách nhằm tácđộng tới các yếu tố gây nên sự tăng lên của mức giá bao gồm:
+ Chính sách tăng trưởng kinh tế: Chính sách tăng trưởng kinh tế được thực hiệnnhằm phát huy vai trò tự điều tiết của nền kinh tế thị trường và thúc đẩy việc nâng caohiệu quả của nền kinh tế Chính sách tăng trưởng kinh tế tập trung vào việc xây dựng
cơ chế vận hành nền kinh tế, động viên và phát huy các nguồn lực dự trữ của nền kinh
tế tạo điều kiện cho nền kinh tế có thể di chuyển dọc theo đường tổng cung khi tăngtổng cầu
+ Chính sách tài chính: Lạm phát cao bao giờ cũng gắn với sự thâm hụt NSNN ở mứccao Vì vậy, để chống lạm phát cao, chính sách tài chính phải được sử dụng để hạnchế mức độ thâm hụt NSNN bao gồm:
Khai thác tối đa các nguồn thu cho NSNN: Tăng thuế Việc tăng thuế làm hạn chếchi tiêu tiêu dùng, chi tiêu đầu tư, làm giảm tổng cầu, ngăn chặn lạm phát cao
Kiểm soát chi tiêu NSNN: Khi lạm phát cao, Chính phủ thường cắt giảm chi tiêuNSNN Việc cắt giảm chi tiêu NSNN được thực hiện dựa trên quá trình cải cách hànhchính, tinh giảm và nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính, xoá bộ tình trạng bao cấptràn lan đối với các khu vực của nền kinh tế, tiết kiệm, nâng cao hiệu quả chi tiêu,nâng cao hiệu quả cơ chế quản lý và kiểm soát tài chính
Cân đối ngân sách một cách tích cực, ưu tiên khai thác nội lực
+ Chính sách tiền tệ: Sử dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ:
Trong điều kiện nền kinh tế và hệ thống tài chính chưa phát triển, NHTW chủ yếu sửdụng các công cụ trực tiếp như trực tiếp ấn đinh lãi suất, giới hạn KL tín dụng cungcấp:
Ấn định lãi suất: bao gồm việc ấn định lãi suất tiền gửi, ấn định khung lãi suất tiềngửi và cho vay: tăng lãi suất
Ấn định hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng để giảm việc cấp tín dụngcho người vay
Phát hành tín phiếu NHTW: để làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông
Với những nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, hệ thống NH đã phát triển ởmức độ cao, NHTW chủ yếu sử dụng các công cụ gián tiếp:
Dự trữ bắt buộc: Là số tiền mà các TCTD phải duy trì theo quy định của NHTW Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi trong một khoảng thời gian nhất định.
Dự trữ bắt buộc = Tổng số tiền gửi phải
tính dự trữ bắt buộc x Tỷ lệ dự trữ bắt buộcKhi lạm phát cao, NHTW quy định tăng dự trữ bắt buộc Trong điều kiện các yếu tốkhác không đổi, làm giảm khả năng cho và đầu tư của Tổ chức TD Do đó làm giảmtiền trong lưu thông
Lãi suất chiết khấu: giảm lãi suất chiết khấu
Phát triển thị trưởng mở: NHTW bán giấy tờ có giá trên thị trường tài chính, nhằmmục tiêu giảm lượng tiền trong lưu thông
+ Chính sách thu nhập: là tập hợp các chính sách về giá cả vàtiền lương của Chínhphủ Đẻ chống lạm phát cao, Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát về tiền lương
và giá cả Chính phủ xây dựng hệ thống giá áp dụng cho thị trường và kiểm soát chặtchẽ việc tăng tiền lương Thực tế cho thấy biện pháp kiểm soát trực tiếp giá cả và tiềnlương ko có hiệu quả Lạm phát cao, kéo dài việc kiểm soát trực tiếp của CP có thểkéo theo việc hình thành chợ đen, làm teo nhỏ thị trường chính thức và việc kiểm soátgiá trở lên mất tác dụng
+ Chính sách kinh tế đối ngoại: bao gồm chính sách về quản lý TGHĐ, giao dịch vốn,chính sách ngoại thương, chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài,…Trong điều kiện
Trang 6lạm phát cao, CP sử dụng chính sách này để đẩy mạnh XK, hạn chế NK, ưu tiên thuhút vốn đầu tư nước ngoài và các khoản tài trợ của nước ngoài
Ổn định tiền tệ trong điều kiện thiểu phát
- Thiểu phát xảy ra khi mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống và kéo dài Trongđiều kiện thiểu phát, sức mua của đồng tiền tăng lên, biểu hiện ra bên ngoài là giá cảchung của các hàng hoá giảm xuống, làm cho người tiêu dùng trì hoãn việc mua hàng,làm chi tiêu tiêu dùng , đầu tư giảm, mức cung tiền giảm, thu nhập của người laođộng giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng, nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái
- ổn định tiền tệ trong điều kiện thiểu phát bao gồm những biện pháp thúc đẩy tổng cầu,nâng cao hiệu quả của nền kinh tế
+ Chính sách tài chính:
Tăng chi tiêu của chinh phủ: chi đầu tư phát triển (tập trung vào các DA phát triển
cơ sở hạ tầng, các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng nhu cầu của CP về hànghàng hoá dịch vụ, tạo động lực kích thích tăng chi tiêu tiêu dùng và chi tiêu đầu tư),chi giải quyết công ăn việc làm, chi phúc lợi xã hội
Giảm thuế: để kích thích chi tiêu
+ Chính sách tiền tệ:
Công cụ trực tiếp:
Giảm lãi suất thị trường
Nới lỏng các hạn chế của việc cấp tín dụng cho người đi vay, kích thích đầu tư vàtiêu dùng
Công cụ gián tiếp:
Tập trung và phân phối lại tiền tệ nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn trả
Các tác nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hoá luôn ở trong 2 trạng thái : Tạm thờithừa và tạm thời thiếu vốn Hai thái cực này là mâu thuẫn vốn có của nền kinh tế hànghoá Mẫu thuẫn này được giải quyết bằng hoạt động của các laọi hình tín dụng Việc diềuhoà này của tín dụng hoặc trực tiếp từ nơi thừa sang nơi thiếu tài sản hoặc gián tiếp quacác trugn gian tài chính như qua hoạt động của hệ thống NH Song sự điều hoà này mangtính chất tạm thời (phải hoàn trả sau một thời gian) và thông thuờng phải trả giá - đâycũng là nguyên tắc cao nhất của tín dụng
Như vậy quá trình tập trung và phân phối lại vốn của tín dụng là quá trình tập trung vàphân phối lại nguồn hàng hoá - vật tư, thiết bị và sức lao động trong toàn bộ nền kinh tếquốc dân
Với chức năng phân phối lại của cải trong xã hội, tín dụng có tác động mạnh mẽ đến đờisống kinh tế – xã hội xét cả về mặt tích cực cũng như tiêu cực Nếu việc phân phối lại nàyphù hợp với nhu cầu khách quan cuỉa đời sống kinh tế – xã hội sẽ góp phần thúc đẩy sxkinh doanh phát triển và ngược lại nó sẽ hoặc kìm hãm sản xuất kinh doanh hoặc đẩy sxkinh doanh phát triển quá mức, tiêu dùng vượt quá khả năng hiện thực góp phần tạo ralạm phát hoặc thiểu phát
Giám đốc bằng tiền đối với các hoạt động kinh tế xã hội:
Trang 7Trong quá trình phân phối lại của cải xã hội, các chủ thể tín dụng sẽ thực hiện sự kiểmtra,giám sát lẫn nhau nhằm trước hết là bảo vệ lợi ích của mình Đồng thời sự kiểm tragiám sát ấy sẽ góp phần tác động đến việc thực hiện cấc hạot động kinh tế xa hội theođúng lợi ích của toàn xã hội
Trọng tâm chức năng này là giám sát việc nhận, sử dụng đối tượng tín dụng của người đivay, từ đó mà bảo đảm hoàn trả đối tượng tín dụng một cách toàn vẹn, đúng hạn đã camkết Việc giám sát này không phải thực hiện trước, trong và sau khi người vay nhận tiềnvay cho đến khi người vay hoàn trả xong nợ
Các trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong quá trình này với tư cách là người
đi vay để cho vay Sự giám đốc này không phải chỉ vì lợi ích của bản thân cacs trung giantài chính đó mà còn vì lợi ích của các doanh nghiệp, của dân cư và của toàn xã hội
Vai trò của tín dụng (3)
Thúc đầy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc độ nhanh:
+ Nhờ có tính dụng xã hội có thể tạo dựng các nguồn lực tài chính bổ sung nhưng hếtsức quan trọng để mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường
cơ sở vật chất kỹ thuật
+ Tín dụng góp phần điều chỉnh quy mô sản xuất kinh doanh, cơ cấu ngành nghề phùhợp với sự biến động của chu kỳ SXKD, sự biến động của thị trường trong nước vàthị trường quốc tế
+ Góp phần thúc đầy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong từng đơn vị sản xuất KD,từng ngành, từng nước từ đó tạo ra những DN, tổ hợp DN lớn làm nòng cốt cho sựphát triển quốc gia
Tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế
+ Nhà nước sử dụng tín dụng làm phương tiện cân đối thu chi Ngân sách, đảm bảonguồn lực thực thi các chính sách kinh tế – xã hội
+ Nhà nước sử dụng tín dụng làm công cụ điều hành quá trình lưu thông tiền tệ, bảođảm sự cân đối tiền hàng, ổn định thị trường, giá cả và sức mua của đồng tiền, đồngthời phát huy cao độ vai trò tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội của tín dụng trong việc
sử dụng tiền trong sản xuất KD cũng như trong phân phối và tiêu dùng sản phẩmtrong xã hội
+ Nhà nước SD tín dụng làm công cụ thực thi các quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủcác nguồn lực tài chính từ bên ngoài, phát huy vai trò đối tác tin cậy của cộng đồngquốc tế
Góp phần nâng cao đồi sống vật chất – văn hoá của người lao động
Đặc điểm của TDTM: 3 đặc điểm
- Thứ nhất: Đối tượng của TDTM là hàng hoá Nghĩa là vốn cho vay còn tồn tại dướiđạng hàng hoá, là một bộ phận của vốn sản xuất được chuyển hoá thành tiền (H’ – T’)chứ chưa phải là tiền nhàn rỗi
- Thứ hai: Người đi vay và cho vay là các doanh nghiệp đang trực tiếp tham gia vàoquá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Trong quan hệ này người cho vay là ngườibán chịu, người chủ nợ Còn người đi vay là người mua chịu, là con nợ
Trang 8- Thứ ba: Quá trình vận động và phát triển của tín dụng thương mại gắn liền với sựvận động của quá trình tái sản xuất xã hội Bởi vì khối lượng TDTM lớn hay nhỏ tuỳthuộc và tổng giá trị của khối lượng hàng hoá được đưa ra mua bán chịu
TDTM là khâu không thể thiếu được của quá trình tái sx xh Nó giúp cho quá trình tái sx
xh không bị gián đoạn, bởi vì các đơn vị vay chưa có tiền nhưng vẫn có hàng hoá để tiếptục quá trình sản xuất Còn các đơn vị bán không sợ hàng hoá ứ đọng, vì chúng được tiêuthụ ngay khi chu kỳ sx chưa kết thúc Như vậy mua bán chịu làm cho quá trình sx xh đảmbảo được tính liên tục
Hạn chế của TDTM:
- Thứ nhất : TDTM bị giới hạn về quy mô tín dụng, nghĩa là nó bị giới hạn bởi khốilượng hàng hoá bán chịu Đơn vị cho vay không thể bán quá số hàng mà mình có, vàđơn vị đi vay không thể mua quá số hàng mà mình muốn mua Như vậy mâu thuẫngiữa nhu cầu và khả năng cung cấp hàng hoá bán chịu – cho vay trong TDTM là hiệntượng tất yếu
- Thứ hai: TDTM là tín dụng ngắn hạn, nó không thể thoả mãn nhu cầu của người xinvay dài hạn Bởi vì vốn cho vay- số lượng giá trị hàng hoá bán chịu chưa thoáy khỏichu kỳ sx để chuyển hoá thành tiền, cho nên số vốn này chưa phải là tiền nhàn rỗitheo đúng nghĩa của nó Do đó, người cho- bán chịu cũng chỉ có thể bán chịu trognmột thời gian ngắn, sau đó phải thu hồi vốn về một mặt để tiến hành quá trình sx tiếptheo, mặt khác để lấy ra một phần lợi nhuận để đàu tư vào mục đích khác
- Thứ ba: TDTM chỉ đầu tư một chiều chứ không có quan hệ cho vay ngược lại Nghĩa
là hàng hoá của đơn vị bán chịu chỉ có thể là nguyên liệu của đơn vị mua chịu, hoặc làđơn vị mua chịu tiếp tục quá trình tiêu thụ sản phẩm của đvị bán chịu Chính vì thếTDTM ko thể mở rộng đầu tư vào mọi ngành trong nền kinh tế quốc dân
Công cụ lưu thông của TDTM: Thương phiếu
Thương phiếu cũng là một trong những phương tiện chuyển tái giá trị và là một loại dấu hiệu giá trị được luật pháp thừa nhận, nhưng nó bị giới hạn bởi thời gian và phạm vi sử dụng.
Đặc điểm của thương phiếu;
Trừu tượng: Thương phiếu không nêu rõ nguyên nhân dẫn đến quan hệ tín dụng, màchỉ ghi các yếu tố: Tổng số tiền nợ, người được hưởng, người mắc nợ và thời hạnhoàn trả
Bắt buộc: Hay còn gọi là không tranh cãi, nghĩa là trên thương phiếu luôn có dòngchữ ‘lệnh trả tiền vô điều kiện’ Đến hạn thanh toán, người mắc nợ phải thanh toánngay cho chủ nợ, mà không được trình bày bất cứ khó khăn gì về tài chính Điều nàyđược luật pháp của nhà nước bảo hộ
Lưu thông: Trong thời gian hiệu lực, thương phiếu được sử dụng làm phương tiệnthanh toán, chúng được chuyển từ người này sang người khác Mỗi lần chuyển là một
số nợ được thanh toán
Phân loại thương phiếu:
Dựa vào phương thức ký chuyển nhượng:
+ Thương phiếu vô danh: Không ghi tên người hưởng Loại này không cần ký chuyểnnhượng Tất cả những người cầm nó một cách hợp pháp đều có quyền đòi tiền ngườinhận nợ khi đến hạn thanh toán
+ Thương phiếu đích danh: Ghi rõ tên người hưởng số tiền trên thương phiếu Loạinày không được ký chuyển nhượng, người mặc nợ chỉ chấp nhận thanh toán chongười có tên trên thương phiếu
+ Thương phiếu ký danh: Cũng ghi tên người được hưởng, nhưng nó khác thươngphiếu đích danh ở chỗ người sở hữu có quyền ký chuyển nhượng cho người khác.Loại thương phiếu này được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế thị trường
Trang 9Dựa trên cơ sở ngưòi lập thương phiếu:
+ Lệnh phiếu thương mại: Do người mua chịu lập, cam kết sau một thời gian sẽ thanhtoán toàn bộ số nợ cho người bán chịu
+ Hối phiếu: Do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịu khi đến hạn, phải thanhtoán tiền ngay cho người bán chịu hay cho bất cứ người nào xuất trình hối phiếu này
Phân biệt hối phiếu và lệnh phiếu
“Thương phiếu” là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh
toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định Thương phiếugồm hối phiếu và lệnh phiếu
“Lệnh phiếu” là chứng chỉ có giá do người phát
hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một
số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời
gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
“Hối phiếu” là chứng chỉ có giá do người ký
phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
Lệnh phiếu phải có đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Từ “Lệnh phiếu” được ghi trên mặt trước của
lệnh phiếu;
b) Cam kết chi trả không điều kiện một số tiền xác
định;
c) Thời hạn thanh toán lệnh phiếu;
d) Địa điểm thanh toán lệnh phiếu;
đ) Tên và địa chỉ của người thụ hưởng;
e) Địa điểm và ngày ký phát hành;
g) Tên, địa chỉ và chữ ký của người phát hành.
Hối phiếu phải có đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Từ “Hối phiếu” được ghi trên mặt trước của hối phiếu;
b) Lệnh yêu cầu thanh toán không điều kiện một số tiền xác định;
c) Thời hạn thanh toán hối phiếu;
d) Địa điểm thanh toán hối phiếu;
đ) Tên và địa chỉ của người bị ký phát;
e ) Tên và địa chỉ của người thụ hưởng;
g) Địa điểm và ngày ký phát hành;
h) Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát Người phát hành lệnh phiếu có nghĩa vụ thanh toán
lệnh phiếu cho người thụ hưởng khi đến hạn
Người ký phát chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc ký phát hành hối phiếu và có nghĩa vụ thanh toán số tiền trên hối phiếu nếu người bị ký phát từ chối chấp nhận một phần hoặc toàn bộ số tiền trên hối phiếu khi hối phiếu được xuất trình đề nghị chấp nhận đúng hạn.
1 Cho đến khi tới hạn thanh toán, người thụ hưởng có thể xuất trình hối phiếu cho người
bị ký phát để chấp nhận Người bị ký phát thực hiện việc chấp nhận ngay khi hối phiếu được xuất trình Hối phiếu được coi là bị từ chối chấp nhận, nếu không được người bị ký phát ký chấp nhận ngay khi xuất trình
2 Người thụ hưởng phải xuất trình hối phiếu cho người bị ký phát để đề nghị chấp nhận trước khi chuyển nhượng hoặc trong trường hợp hối phiếu được thanh toán sau thời hạn xác định, kể từ ngày hối phiếu được chấp nhận.
Trang 10Nghĩa vụ của người chấp nhận Bằng việc chấp nhận một hối phiếu, người chấp nhận có các nghĩa vụ sau đây:
1 Cam kết thanh toán hối phiếu theo các nội dung đã chấp nhận;
2 Công nhận sự tồn tại của người ký phát và
sự thanh toán đúng hạn hối phiếu của người
ký phát cho người thụ hưởng đã được chuyển nhượng hối phiếu theo các quy định tại Chương IV của Pháp lệnh này.
Tác dụng của TDTM:
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã góp phần hoàn thiện quan hệ TDTM vềnhiều mặt Ngược lại, TDTM có tác dụng tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế thịtrường Thể hiện:
- TDTM góp phần đẩy nhanh quá trình sx và lưu thông hàng hoá, vì nó đã làm chochu kỳ sx rút ngắn lại
- TDTM tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa các doanh nghiệp một cách trựctiếp, không thông qua một cơ quan trung gian nào
- TDTM góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông và do đó giảm chiphí lưu thông xh
Tín dụng Ngân hàng:
Tín dụng NH là quan hệ tín dụng giữa một bên là NH, còn một bên là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm của TDNH:
- Huy động vốn và cho vay đều được thực hiện dưới hình thức tiền tệ
Tất cả những nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi hoặc nhàn rỗi lâu dài trong nền kinh tếquốc dân, bằng những cơ chế thích hợp, NH huy động về quỹ của mình đê hình thànhnguồn vốn cho vay Trên cơ sở nguồn vốn đã có, NH cũng bằng những cơ chế và chínhsách phù hợp, tiến hành cho các tác nhân và thể nhân vay để bổ xung vào nguồn vốn sx
và kinh doanh Huy động vốn và cho vay dưới hình thức tiền tệ là loại hình tín dụng phổbiến, linh hoạt và đáp ứng với mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân
- Các NH đóng vai trò là tổ chức trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vayHoạt động TDNH bao gồm 2 nghiệp vụ độc lập tương đối : Huy động vốn và cho vay.Thực hiện nghiệp vụ huy động vốn, NH là người đi vay Sử dụng nguồn đầu tư cho cáctác nhân và thể nhân, NH là người cho vay Như vậy, NH là người đóng vai trò là tổ chứckih tế trung gian: Đi vay để cho vay
- Quá trình vận động và phát triển của TDNH độc lập tương đối với ự vận động và pháttriển của quá trình tái sx xh
Vốn TD là một bộ phận không thể thiếu được của quá trình tái sx xh Như vậy nếu khốilượng hàng trong lưu thông tăng lên, thì nhu cầu vốn trong đó có vốn TDNH cũng tănglên trường hợp này, vốn của TDNH vận động phù hợp với sự vận động và phát triển củaquá trình tái sx xh Nhưng trong nhiều trường hợp, vốn TDNH khồng tham gia vào quátrình sx và lưu thông hàng hoá Màchúng được sử dụng vào mục đích phi sx như tái chiếtkhấu hoặc tái cầm cố các thương phiếu ‘khống’ , các loại trái khoán chính phủ Hoặctrong thời kỳ kinh tế bị khủng hoảng, sx và lưu thông hàng hoá bị co hẹp, nhưng nhu cầutín dụng vẫn gia tăng nhưng không phải cho mục đích tái sx mà để trả nợ Ngược lại trong
Trang 11thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sx, hàng hoá luân chuyển và tăngrất mạnh nhưng TDNH lại không đáp ứng kịp
Công cụ lưu thông của TDNH: rất đa dạng và phong phú Để tập trung các nguồn tiền tệ
trong xã hội NH sử dụng các công cụ như kỳ phiếu NH, chứng chỉ tiền gửi, các số tiếtkiệm,…Để cung ứng tín dụng cho các DN, NH sử dụng công cụ chủ yếu là các khế ướcvay, hợp đồng tín dụng,…
Tác dụng của TDNH (ưu thế hơn so với TDTM)
- TDNH mở rộng cho mọi đối tượng xã hội, xâm nhập vào các ngành, các lĩnh vực vớicác quy mô lớn, nhỏ khác nhau
- TDNH có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế với số lượng rất lớn, với nhiều thời hạnkhác nhau đáp ứng vốn KD, nâng cao năng lực SX của các DN, đẩy nhanh tốc độ pháttriển của nền kinh tế
- Có tác động và ảnh hưởng lớn đối với tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước: nhờhoạt động TDNH vốn tiền tệ của xã hội được huy động và sử dụng tối đa cho nhu cầuphát triển kinh tế, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn là điều kiện quan trọng để ổnđịnh lưu thông tiền tệ, ổn định giá cả thị trường
Tín dụng Nhà nước
Định nghĩa: TDNN là quan hệ vay mượn giữa NN và xh và do NN là ngtười tổ chức thực hiện để phục vụ cho việc thực thi các chức năng của NN
Đặc điểm:
Công cụ lưu thông: Trái phiếu Nhà nước
Tác dụng của TDNN: Đáp ứng nhu cầu chi tiêu NS của NN trong điều kiện nguồn thukhông đủ để đáp ứng
- TDTD là công cụ quan trọng góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của dân cư
và từ tác dụng này, TDTD tác động tích cực đến sx kinh doanh
Để TDTD phát triển mạnh và lành mạnh, điều quan trọng là phải nắm được khả nằn thunhập hiện tại cũng như tương lai của người vay Ngoài ra, người cho vay phải định ra lãisuất hợp lý có sức thuyết khuyến khích người tiêu dùng mạnh dạn sử dụng TDTD
Lãi suất TD
Định nghĩa: Lãi suất TD là tỷ lệ so sánh giữa số lợi tức thu được với số vốn cho vay phát
ra trong một thời gian nhất định Tỷ số này còn gọi là suất lợi tức tín dụng.
Lãi suất được tính theo CT sau:
Lãi suất TD trong kỳ = Tổng số lợi tức thu được trong kỳ x 100
% Tổng số vốn cho vay phát ra trong kỳ
Các loại lãi suất:
Dựa vào tiêu thức thời gian vay mượn: Lãi suất ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
Dựa vào tiêu thức biến động của giá trị tiền tệ trong vay mượn: lãi suất danhnghĩa, lãi suất thực
- Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất mà người cho vay được hưởng, không tính đến sựbiến động của giá trị tiền tệ
Trang 12- Lãi suất thực: Là lãi suất sau khi đã loại trữ sự biến động của giá trị tiền tệ, nhưlàm phát hoặc lên giá tiền tệ
Căn cứ vào tiêu thức loại tiền vay mượn: lãi suất nội tệ, lãi suất ngoại tệ
Căn cứ vào mức độ ưu đãi đối với người vay: lãi suất thương mại, lãi suất ưu đãi
Căn cứ vào tiêu thức dao động của lãi suất trong thời hạn vay mượn: lãi suất cốđịnh, lãi suất khả biến
Căn cứ vào tiêu thức quản lý: lãi suất chỉ đạo và lãi suất kinh doanh
- Lãi suất chỉ đạo do Ngân hàng Trung ương công bố dưới các dạng như lãi suất táichiết khấu, lãi suất trần, lãi suất sàn, lãi suất cơ bản,…Tác dụng của lãi suất chỉđạo dùng để điều khiển hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân,làm căn cứ cho việc xác định lãi suất kinh doanh
+ Lãi suất tái chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTW dành cho cácNHTM, trong trường hợp tái cấp vốn cho NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiếtkhấu và giấy tờ có giá Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc của các NHTM để từ
đó các NHTM ấn định nên lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khunglãi suất được phép
+ Lãi suất sàn và lãi suất trần: Là lãi suất thấp nhất và cao nhất trong một khunglãi suất nào đó mà NHTW ấn định cho các NHTM Hoặc do NHTM quy địnhtrong hệ thống của mình nhằm thống nhất các hoạt động trong toàn bộ nền kinh tếquốc dân
+ Lãi suất cơ bản: là lãi suất do NHTW công bố làm cơ sở cho các NHTM và cácTCTD ấn định lãi suất kinh doanh
- Lãi suất kinh doanh do các tổ chức tín dụng, trong đó các ngân hàng TM quy định
để triển khai các hoạt động đi vay và cho vay
Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng
- Cung cầu tín dụng: Cung TD là lượng NV được dùng để cho vay Cầu TD là lượngvốn mà XH đòi hỏi cho vay Tương quan cung và cầu TD trong điều kiện nhất định lànhân tố quyết định đến mức lãi suất Nừu cung > cầu thì mức lãi suất sẽ hạ xuống vàngược lại
- Suất doanh lợi bình quân của xã hội: Hoạt động của DN là nền tẳng của hoạt động
TD Do đó mức doanh lợi bình quân của xã hội là nền tảng để xác định lãi suất tíndụng Nhìn chung lãi suất TD không thể lớn hớn mức doanh lợi bình quân của XH
- Sự ổn định của tiền tệ và mức lạm phát: Sự tăng, giảm mức lạm phát kép theo sự mấtgiá của tiền, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người cho vay Nừu lạm phát tăng thìlãi suất TD phải tăng theo và ngược lại
- Sự biến động của TGHĐ và giá vàng:
- Vai trò can thiệp của NN: NN thông qua NHTW can thiệp vào TTTD nhằm duy trì sựvận động TD trong một giới hạn nhất định Nhà nước có thể can thiệp trực tiếp nhưcông bố biểu lãi suất chung cho từng thời kỳ, can thiệp gián tiếp qua công bố lãi suất
cơ bản, lãi suất tái chiết khấu,…
NH Hồng Kông – Thượng Hải 1865,…
- Sau chiến tranh thế giới 1 đến 8/1945, một số NH mở chi nhánh ở VN và 1 số NHcủa các nhà tư bản VN
- Từ năm 1945 đến 1975 trên VN tồn tại 2 hệ thống các tổ chức TD của CQ cách mạng
và chính quyền TD Pháp + chính quyền Nam Việt Nam Hệ thống các tổ chức TD
Trang 13của CQ thực dân Pháp trước CM tháng 8/45 tồn tại đến 5/1955 khi TD Pháp rút vềnước Từ 5/1955 đến T4/975, CQ miền Nam VN đã tạo dụng 1 hệ thống TD của nềnktế thị trường phân thành 2 cấp rõ rệt: NH quốc giá VN đóng vai trò là NHTW, các
tổ chức TD là các NH và các tổ chức TD phi NH Đến 30/4/75, hệ thống TD này sụp
đổ hoàn toàn
- Hệ thống tổ chức tín dụng của CQCM hình thành từ 8/1945 với các định chế như:Nông nghiệp tín dụng thuộc Bộ Canh nông (1945), Kinh tế tín dụng thuộc Bộ Kinh tế(1945),…
+ NH quốc gia VN thành lập 6/5/51 9/1960 mang tên là NHNN VN Cùng với sự rađời của NHNN VN các tổ chức TD cũng được thành lập như HTX tín dụng (1956),
NH kiến thiết VN (1957) NHNN VN được tổ chức theo 1 cấp vừa quản lý vừa kinhdoanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng và thanh toán Từ năm 1988, bằng quyết định
số 53/ HĐBT và 2 pháp lệnh NH (23/5/90), hệ thống NHVN có sự chuyển đổi sâu sắc
từ NH 1 cấp thành hệ thống NH 2 cấp của nền ktế thị trường NH NN VN thực hiệnchức năng quản lý NN về tiền tệ – tín dụng đối nội và đối ngoại NHTM và các tổchức tín dụng khác thực hiện chức năng KD tiền tệ và các dịch vụ NH dưới sự quản
- Chức năng trung gian thanh toán ko dùng tiền mặt: thể hiện qua việc NHTM cung cấpdịch vụ thanh toán cho KH Thay thế cho việc thanh toán trực tiếp, khách hàng có thểnhờ NH thực hiện việc thanh toán thông qua TKTG của họ tại NH
- Chức năng tạo tiền, hình thành tồn quỹ tại NHTM: Ban đầu, với khoản tiền dự trữnhận từ NHTW, NHTM sử dụng để cho vay Sau đó, một phần những khoản tiền này
sẽ quay trở lại NHTM dưới hình thức tiền gửi ko kỳ hạn Quá trình huy động TG vàcho vay của NHTM dựa trên cơ sở lượng tiền do NHTM cung ứng sẽ kéo dài và chỉdừng lại khi toàn bộ lượng tiền do NHTW cung ứng ban đầu đã quay trở về NHTMdưới dạng TG dự trữ bắt buộc Khi đó, NHTM đã có 1 số dư rất lớn trên TK TG ko kỳhạn
- Tại môi trường và điều kiện thuận lợi để NHTW thực hiện chính sách tiền tệ
- Tạo điều kiện để phát triển tín dụng NH và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Các tổ chức TD khác
Tổ chức tín dụng phi NH là loại hình tổ chức TD được thực hiện 1 số hoạt động NH như
là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng ko được nhận tiền gửi ko kỳ hạn, kho làm dịch vụ thanh toán Tổ chức TD phi NH bao gồm cty TC, cty cho thuê TC và các tổ chức
Trang 14Công ty tài chính thường do các Công ty KD lớn lập ra, người ta gọi cty này là công
ty tài chính phụ thuộc Ngoài ra 1 số cty khác thì hoạt động độc lập và được tổ chứcdưới dạng cty cổ phần
Nguồn vốn chủ yếu của Công ty tài chính là phát hành các tín phiếu và trái phiếutrung và dài hạn, hoặc vay từ các trung gian tài chính khác hoặc vay từ công ty mẹ.Loại hình đầu tư chủ yếu là cung cấp tín dụng, cung cấp các hợp đồng cho thuê TC,đầu tư chứng khoán và các hợp động TD tiêu dùng cho dân cư
Công ty cho thuê TC: Là một tổ chức TD phi NH với nhiệm vụ cơ bản là SD NV tự
có, vốn huy động và các NV khác để cho thuê TC, cung ứng các dịch vụ tư vấn cho
KH về những vấn đề có liên quan đến NV cho thuê tài chính và các hoạt động khácđược pháp luật cho phép
Công ty cho thuê TC có thể là Cty thuộc các tổ chức TD, trực thuộc NN, Công ty tàichính cổ phần, liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài
Hoạt động chủ yếu là huy động vốn dưới hình thức nhận tiền giửi có kỳ hạn trên 1năm, phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi trên 1 năm, cho thuê TC, mua và chothuê lại, thực hiện các dịch vụ uỷ thác có liên quan đến hoạt động cho thuê TC
Công ty bảo hiểm: là tổ chức tài chính trung gián thực hiện huy động vốn bằngcách bán các hợp đồng BH đồng thời sử dụng vốn vào các hoạt động đầu tư, bù đắpcho người mua bảo hiểm khi có RR xảy ra
Các quỹ trợ cấp: là tổ chức tài chính trung gian thực hiên huy động vốn bằngcác khoản đóng goáp của những người tham gia, đồng thời sử dụng vốn đó vào mụcđích chi trả trợ cấp thường xuyên và đầu tư vào các tài sản tài chính Phần lớn vốn củaquỹ dùng để đầu tư trung và dài hạn dưới cacs hình thức như mua trái phiếu Nhànước, trái phiếu công ty hoặc gửi vào NHTM loại có kỳ hạn để kiếm lãi
Quỹ đầu tư: là tổ chức tài chính thực hiện việc huy động vốn của các nhà đầu tưthông qua việc bán cổ phần và dùng số tiền thu được để đầu tư chứng khoán Quỹ đầu
tư thường tổ chức dưới dạng công ty cổ phần Vốn hoạt động là vốn cổ phần đượcdùng để đầu tư chứng khoán dài hạn có lãi suất cao: cổ phiếu quỹ, trái phiếu Nhànước
Quỹ đầu tư được tổ chức theo 2 dạng:
Quỹ đầu tư mở: Quỹ bán ra với số lượng cổ phần ko hạn chế, sẵn sàng mua lại cổphẩn của cổ đông bất kỳ lúc nào với giá xác định Giá mua lại và giá bán gắn liền vớigiá trị tài sản có của quỹ tại thời điểm mua, bán
Quỹ đầu tư đóng: Quý có số lượng cổ phần bán ra cố định, ko thực hieenj việc mualoại cổ phần của cổ động Giá do thị trường quyết định
Quỹ tín dung: là tổ chức TD do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyệnthành lập và hoạt động theo luật
Đặc điểm:
Mục đích nhằm tương trợ giúp đỡ các thành viên phát triển SX và nâng cao đời sống Phạm vi hoạt động chủ yếu là địa bàn nông thôn, các tụ điểm dân cư gắn với địa bàn
xã, phường hoặc liên xã, liên phường
Hoạt động trong một hệ thống liên kết với các Quỹ tín dụng khác có hệ thống từ TƯđến cơ sở
Ưu điểm là bám sát khách hàng nên có thể cung cấp các dịch vụ một cách nhanhchóng và có hiệu quả
NH chính sách xã hội: là tổ chức tín dụng đặc thù, hoạt động ko vì mục tiêu lợinhuận.Nhà nước bảo hộ và tài trợ ưu đãi cho các NH này
Phân bịêt điểm giống và khác nhau giữa tổ chức tín dụng là NH và tổ chức tín dụng phi NH:
- Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo luật các tổ chức tín dụng vàcác quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ NH với
Trang 15vụ thanh toán HIện nay, nước ta có các loại hình NH gồm: NHTM, NH đầu tư vàphát triển, ngân hàng chính sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác.
- Tổ chức tín dụng phi NH là loại hình tổ chức TD được thực hiện 1 số hoạt động
NH như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng ko được nhận tiền gửi ko kỳhạn, kho làm dịch vụ thanh toán Tổ chức TD phi NH bao gồm cty TC, cty cho thuê
TC và các tổ chức TD phi NH khác
1 Mục đích Kinh doanh và lợi nhuận Kinh doanh và lợi nhuận
2 Chủ thể t.g Là các DN và dân cư Là các doanh nghiệp và dân
cư
3 Phạm vi Thực hiện các NV vi mô và các
nghiệp vụ của tổ chức TD phi NH
Chỉ thực hiện các nghiệp vụ vimô
4 Chức năng - Huy động vốn có thời hạn và
không có thời hạn, cho vay
- Làm dịch vụ thanh toán
- Huy động vốn có kỳ hạn, kođược huy động vốn ko có thờihạn
- Không làm dịch vụ thanhtoán
5 Vai trò - Là trung gian đi vay – cho vay - Cấp TD có kỳ hạn trên cơ sở
3 Quan hệ giữa doanh nghiệp với tổ chức tín dụng
Quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp với ngân hàng
Những vấn đề cơ bản trong cho vay
Nguyên tắc cho vay
Cho vay là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu, mang lại phần lớn thu nhậpcho ngân hàng Để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng, góp phần hạn chế rủi ro, ngânhàng cần thiết phải đề ra và thực hiện các nguyên tắc nhất định trong quá trình cho vay.Hiện nay, theo quyết định 1627/QĐ-NHNN ban hành ngày 31/12/2001 về quy chế chovay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng đã quy định 2 nguyên tắc cho vay:
Nguyên tắc 1: Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Nguyên tắc 2: Hoàn trả gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Điều kiện cho vay
Điều kiện cho vay là cơ sở để ngân hàng xem xét và quyết định cho vay Đồng thời là căn
cứ để ngân hàng theo dõi, giám sát và xử lý các tình huống xảy ra trong một quy trình chovay Theo các văn bản hiện hành, điều kiện vay vốn gồm:
Khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
Có khả năng tài chính bảo đảm trả nợ trong thời hạn đã cam kết
Trang 16 Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi và có hiệu quảhoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định củapháp luật
Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ vàhướng dẫn của ngân hàng Nhà nước
Thời hạn cho vay
Đ/n: Thời hạn cho vay là một trong những nội dung quan trọng của hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Thông thường, thời hạn cho vay tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Trong một số trường hợp đặc biệt, thời hạn cho vay là khoảng thời gian do ngân hàng và khách hàng cùng thỏa thuận và xác định, ví dụ như cho vay theo hạn mức tín dụng hay cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
Cách xác định thời hạn cho vay:
Ngân hàng và khách hàng thường căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồivốn vay, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của ngân hàng
Người ta chia thời hạn cho vay thành 2 loại là thời hạn cho vay chung và thời hạn cho vaytrung bình
Thời hạn cho vay chung được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận khoản tiên vay đầutiên cho đến thời điểm trả hết nợ vay cho ngân hàng Tùy theo từng nhu cầu vay vốn củakhách hàng mà thời hạn cho vay chung có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn
Đối với trường hợp cho vay ngắn hạn ngân hàng thường căn cứ vào chu kỳ luân chuyểnvốn của đối tượng xin vay và khả năng trả nợ của khách hàng để xác định thời hạn chovay chung:
Thời hạn giải ngân là khoảng thời gian mà bên vay vốn chưa tiến hành sản xuấtkinh doanh, chưa có nguồn thu để trả nợ ngân hàng Thời hạn giải ngân thườngđược tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến khi dự án đầu tư hoànthành
Thời hạn ân hạn (thời hạn ưu đãi) được xác định theo thỏa thuận giữa ngân hàng
và khách hàng Trong mỗi hợp đồng tín dụng có thể có hoặc không có thời hạn ânhạn Thường thì thời hạn ân hạn hay rơi vào thời gian sản xuất thử, trong khoảngthời gian này vốn vay đã được rút hết nhưng khách hàng vẫn chữa phải trả nợngân hàng
Thời hạn trả nợ là khoảng thời gian được tính từ khi dự án đầu tư của khách hàng
đi vào hoạt động ổn định (sau thời gian ân hạn) cho đến khi trả hết nợ ngân hàng.Thời hạn trả nợ có thể được chia ra các kỳ hạn trả nợ khác nhau tùy thuộc vào tìnhhình thu nhập cũng như khả năng trả nợ của khách hàng
Việc xác định thời hạn trả nợ cho mỗi hợp đồng tín dụng căn cứ vào khả năng trả nợ củakhách hàng:
Thời hạn trả nợ(số kỳ trả nợ) =
Tổng số tiền cho vayMức trả nợ một kỳMức trả nợ một kỳ = Nguồn trả nợ một năm
Số kỳ trả nợ một năm
Thời hạn cho vay trung bình là khoảng thời gian mà toàn bộ tiền vay thực tế được sửdụng Thời hạn trung bình là mục tiêu chất lượng về thời hạn của mỗi khoản tiền vay màbên vay phải đạt tới Việc xác định thời hạn trung bình giúp khách hàng vay quy tính toàn
bộ các chi phí tín dụng ra mức chi phí hàng năm so với khoản vay theo phí suất năm.Thời hạn cho
vay trung bình =
Thời hạntrung bình của
kỳ rút vốn
+ Thời hạnân hạn +
Thời hạntrung bình của
kỳ trả nợ