ƯDCNTT VÀO SOẠN, GIẢNG " BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ- CÓ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH MÔN HÓA HỌC " PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ I/.. Bên cạng đó yêu cầu về đổi mới phương pháp phải lấy người học làm trọn
Trang 1C Kết luận và kiến nghị
9
Trang 2ƯDCNTT VÀO SOẠN, GIẢNG
" BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ- CÓ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM THỰC
HÀNH MÔN HÓA HỌC "
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ I/.
Lý do chọn SKKN
Thực hiện chủ đề năm học " Đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục".
Trong quá trình dạy học môn Hoá học THCS bản thân tôi cũng luôn lo lắng, trăn trở làmthế nào để thực hiện thí nghiệm thực hành trực quan, trừu tượng, khó hiểu mà thí nghiệm
Trang 3giữ vai trò đặc biệt quan trọng Thí nghiệm là cơ sở của việc học hoá và rèn luyện kỹ năngthực hành Thông qua thí nghiệm, học sinh nắm kiến thức một cách hứng thú, vững chắc
và sâu sắc Học sinh được phát triển tư duy logic, phát triển thế giới quan duy vật biệnchứng và củng cố niềm tin vào khoa học Qua đó học sinh được hình thành những đức tínhtốt của người lao động mới: Thận trọng, ngăn nắp, gọn gàng
Đặc trưng môn hoá học là thực nghiệm Thực tế hiện nay hoá chất các phòng thínghiệm ở trường THCS còn thiếu, bảo quản chưa tôt vì chưa có phòng chức năng nênkhông đảm bảo chính xác về mặt khoa học dẫn đến thí nghiệm không thành công
Bên cạng đó yêu cầu về đổi mới phương pháp phải lấy người học làm trọng tâm trong quátrình dạy học làm sao cho đạt hiệu quả nhưng song qua thực tế với yêu cầu đổi mới đòi hỏi
GV phải năng động, sáng tạo, tự học hỏi để ƯDCNTT vào giảng dạy, giúp học sinh tiếpcận với tri thức mới và khó nên làm thế nào để từ những thí nghiệm trừu tượng không thểthực hiện được bằng thực nghiệm sẽ chuyển thành những thí nghiệm ảo qua ƯDCNTTbắng cách sử dụng các phần mềm hoá học để giúp các em bằng trực quan quan sát và rút rađược tri thức cho mình
Tuy nhiên, nếu ứng dụng công nghệ thông tin(CNTT) vào" Soạn và giảng bài giảng
điện tử có sử dụng thí nghiệm thực hành môn hóa học" sẽ tạo điều kiện cho học sinh dễ
sinh động
Bởi thế cho nên tôi đã mạnh dạn khai thác và thiết kế các bài giảng điện tử nhất là "Bài
giảng có sử dụng các phần mềm hỗ trợ cho thí nghiệm thực hành Hóa học ảo"
2/.Thời gian thực hiện và triển khai SKKN
- Từ năm 2008- 2009 chúng tôi đã sử dụng phương pháp soạn, giảng bài giảng điện tử và
đã ứng dụng khá thành công trong quá trình dạy học
- Năm 2009-2010 tôi đã thực hiện chuyên đề này ở cấp tổ KHTN suốt trong năm đều cóhiệu quả rất tốt HS rất hứng thú học tập
nghiệm hóa học ảo tôi thấy phần mềm này khá thú vị khi thực hiện chúng ta thấy như làmthí nghiệm thực ở phòng thí nghiệm hóa nên HS sẽ phấn khởi hơn với những TN khó thựchiện
PHẦN II - NỘI DUNG CỦA SKKN
1.Cơ sở lí luận :
Trong luật giáo dục đã ghi rõ" Giáo dục phổ thông là phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với từng lớp học, môn học, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú trong khi học môn hoá học".
- Phương pháp tích cực là phương pháp GD – dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động sáng tạo của người học thông qua quan sát ĐDDH(tranh ảnh, mô hình )
Thí nghiệm hoá học thể hiện, rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thínghiệm biểu diễn, thí nghiệm thực hành, thí nghiệm nghiên cứu, thí nghiệm ngoại khoá Mỗi hình thức thí nghiệm đều có ưu điểm riêng, phù hợp với từng đối tượng học sinh vàtừng phần kiến thức mà học sinh cần nắm bắt Bên cạnh đó chương trình còn coi trọng việcbồi dưỡng cho học sinh những kỹ năng cơ bản của bộ môn đó là:
Trang 4- Kỹ năng quan sát thí nghiệm, nhận xét, rút ra kết luận Thi nghiem 37.flv
- Kỹ năng so sánh, phân loại, tập vận dụng kiến thức vào thực tế
- Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu nội dung hoá học
Để rèn cho học sinh những kỹ năng ở trên, đa số các bài giảng đều cần sử dụng đếnthí nghiệm hoá học Trong số các phương pháp sử dụng thí nghiệm hoá học thì phươngpháp sử dụng thí nghiệm nghiên cứu được đánh giá là phương pháp có giá trị trí, đức, dụclớn nhất
Xuất phát từ những nguyên lý giáo dục"Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thựctiễn" để nâng cao hơn khả năng tư duy , logic của HS và vận dụng những gì đã học vàothực tiễn.muốn đạt được mục tiêu giáo dục đòi hỏi người thầy phải không ngừng học tập
để nâng cao tri thức và năng lực sư phạm, chủ động sáng tạo trong việc vận dụng đổi mớiphương pháp dạy và học để cập được với xu thế đổi mới và hội nhập ngày nay.Vì vậy nếu
ứng dụng công nghệ thông tin(CNTT) vào Bài giảng điện tử làm cho HS hứng thú hơn
trong quá trình học HS cảm tưởng như mình xem một bộ phim hay sẽ dễ dàng ghi nhớkiến thức hơn
Mặt khác ứng dụng công nghệ thông tin(CNTT) vào" Soạn và giảng bài giảng điện tử
có sử dụng thí nghiệm thực hành" là một trong những vấn đề rất quan trọng, cấp bách,
cần thiết và không thể thiếu trong các môn học ở các cấp học nói chung và cấp THCS nói
riêng.Nhất là trong cuộc vận dộng " Hai không" hiện nay, đòi hỏi GV thực chất và HS thực
chất Song song với vấn đề trên HS phải nhanh chóng tiếp cận với phương pháp dạy học
mới đang được tiến hành" Học sinh tích cực, chủ động, nghiên cứu tìm tòi,sáng tạo để
lĩnh hội và vận dụng kiến thức vào cuộc sống".
2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
a) Về phía giáo viên:
- Trong những năm gần đây việc ƯDCNTT vào soạn và giảng dạy đang được khuyếnkhích để đổi mới phương pháp dạy và học Tuy nhiên việc sử dụng và ƯDCNTT vào soạn
và giảng bài giảng điện tử trong trường THCS Lý Tự trọng còn gặp rất nhiều khó khănnhư:
+ Chưa có phòng học chức năng bộ môn Hoá riêng
+ GV chưa thực sự nhuần nhuyễn trong việc sử dụng máy tính và các đồ dùng điện tửkhác
+ GV còn hạn chế việc khai thác các thông tin, tài liệu trên mạng intnet để làm tài liệutham khảo và biến nó thành tài liệu của mình
+ Mặt khác một số giáo viên chưa được tiếp cận và được theo học lớp học bài bản nên việcthiết kế bài giảng điện tử còn rất hạn chế
Từ những khó khăn trên bản thân tôi là giáo viên giảng dạy đã lâu năm nên việc cải tiếnphương pháp giảng dạy còn hạn chế xong tôi vẫn mạnh dạn học hỏi và mạnh dạn xây dựngcác giáo án điện tử nhằm tạo điều kiện cho bản thân được học hỏi, tiếp cận và ngày càngnâng cao nhuần nhuyễn hơn trơng việc sử dụng bài giảng điện tử trong giảng dạy
Mà chúng ta đã biết Bài giảng điện tử một đề tài đã và đang có tính thời sự trong công
tác giảng dạy ở các trường học , ở mọi cấp học Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) màđặc biệt việc sử dụng Giáo án điện tử mặc dù còn nhiều điểm mơ hồ với nhiều quan điểm
Trang 5khác nhau cũng như còn nhiều khó khăn xuất phát từ chủ quan lẫn khách quan trong giảngdạy tuy nhiên đó là một xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập và phát triển của giáo dụcnước nhà với giáo dục quốc tế và thực hiện các mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước
ta trong thời đại mới
Bài giảng điện tử không thể thay thế hoàn toàn cho phương pháp giảng dạy truyền
thống, nhưng yếu tố trực quan của nó có khả năng hỗ trợ cho những bài giảng được mởrộng và trở nên sinh động hơn
Với những máy tính có cấu hình mạnh như hiện nay cùng nhiều trang thiết bị hiện đạikhác, các bài giảng sẽ sinh động hơn với nhiều sự minh hoạ của các hình ảnh tĩnh (ảnhchụp) và động, kết hợp âm thanh (phim, video) Hoặc truy cập vào các trang web trên
Bài giảng điện tử có thế mạnh là vậy song việc áp dụng và biến nó trở thành một công
cụ trợ giảng thực sự thì không phải là điều đơn giản Mặc dù hiện nay ở các trường , cáccấp học đã trang bị hệ thống máy vi tính và các thiết bị trình diễn song hầu hết các giáoviên hiện nay còn thiếu kỹ năng sử dụng máy tính và truy cập mạng, còn nhiều hạn chế về
kỹ thuật vi tính ( bố cục, trình bày slide, chèn nhạc , phim , hình ảnh, các minh hoạ động cótính tương tác…), tư duy bảo thủ , ngại đổi mới vẫn còn tồn tại Phần lớn giáo viên mớichỉ tiếp cận và sử dụng máy tính thông qua phềm mềm word và Excel của bộ Office Vìthế việc sử dụng các phần mềm soạn giảng khác gặp rất nhiều khó khăn Chưa nói đến việcmột số phần mềm soạn giảng bài giảng điện tử của các tác giả không trong ngành Giáo dụcnên còn thiếu nhiều tính sư phạm càng làm cho các giáo viên thêm nản chí
Trong giờ học Bài giảng điện tử sẽ giúp các giáo viên rút ngắn rất nhiều thời gian viếtbảng, do đó tăng thời gian cho việc hướng dẫn HS tham gia các hoạt động Công cụ nàycũng giúp cho không khí học tập trong lớp sôi động và tích cực hơn, từ đó giúp học sinhtiếp thu bài giảng đạt hiệu quả cao hơn
Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận ra rằng phương tiện kỹ thuật chỉ hỗ trợ việc giảngdạy chứ không thể thay thế vai trò chủ đạo của giáo viên trong giờ lên lớp Máy móc chỉ làphương tiện giúp cho bài giảng hay hơn , sinh động hơn, song nó không là tất cả Để tiết
dạy thật sự đạt hiệu quả cao, cần sử dụng CNTT “đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ” để
tạo hiệu ứng tốt nhất cho tiết giảng Muốn thế, bản thân người giáo viên còn cần có niềmđam mê thật sự với việc thiết kế vốn đòi hỏi sự sáng tạo, nhạy bén, tính thẩm mỹ, có hiểu
biết nhất định về kỹ thuật vi tính ( bố cục, trình bày Slide, chin nhạc, phim, hình, các minh
hoạ động có tính tương tác…).
b) Về phía học sinh:
Khi triển khai chương trình thay sách và sử dụng phương pháp mới(dạy, học theo
hướng tích cực) thì học sinh thông qua việc đọc thông tin SGK ,học sinh sẽ rèn luyện tính
làm việc độc lập, tự nghiên cứu có hiệu quả tuy nhiên HS có thể do chưa thực sự nghiên
cứu còn chểnh mảng nên chưa lĩnh hội đầy đủ kiến thức dẫn đến còn "hổng kiến thức" dẫn
đến chán nản, không hứng thú học môn Hóa
Bên cạnh đó cũng có nhiều em đã thực sự vươn lên và luôn thể hiện sự tự tin trong họctập để phấn đấu đạt điểm cao trong học tập môn Hoá song vẫn cần phải bổ xung thêm kiếnthức mới Nên tôi đã hướng cho các em biết cách tiếp cận với CNTT hiện đại và làm quenvới cách học mới khi GV sử dụng CNTT trong soạn giảng bài học
Trang 6Từ thực tế trên, mặc dù bản thân không phải là một giáo viên chuyên tin nhưng rất yêuthích việc thiết kế bài giảng điện tử Để thực hiện chuyên đề này, tôi đã tham khảo nhiềutài liệu chuyên ngành, tiếp nhận các ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp, cũng như dựatrên những kinh nghiệm có được của bản thân trong quá trình sử dụng và khai thác bàigiảng điện tử trên Power Point 2003 tại nhà trường THCS Tuy nhiên với kinh nghiệm củabản thân còn hạn chế và điều kiện áp dụng chưa được nhiều cho nên cũng không tránh khỏinhững thiếu sót trong quá trình thực hiện Rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ýkiến của các đồng nghiệp để tôi được hoàn thiện hơn trong những bài soạn giảng sau này.
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
a, Về phía giáo viên:
Cũng như các môn học khác, môn học Hóa học nhằm trang bị cho lớp trẻ một trình
độ văn hóa trong một tổng thể của chương trình giáo dục toàn diện
Muốn làm được điều đó giáo viên cần ứng dụng CNTT trong giảng dạy bộ môn củamình vì đó là một sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy ở cấp THCS Hiện nay, ngoàicác thiết bị nghe - nhìn rất phong phú và hiện đại; các phần mềm cũng được phát triểnkhông ngừng Việc nghiên cứu và ứng dụng một chức năng nhỏ trong các phần mềm ấyđưa vào trong việc hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm ảo rất thuận tiện bởi tính năngchung của các phần mềm này là rất dễ sử dụng, không đòi hỏi người dùng phải có kiếnthức chuyên sâu về máy tính, người sử dụng chỉ cần tiếp cận và khai thác một vài lần là cóthể sử dụng thành thạo Bên cạnh đó, ngoài sự hỗ trợ của các thiết bị nghe - nhìn, giáo viên
có thể kết hợp các phần mềm này trong giáo án điện tử, đảm bảo việc truyền giảng kiếnthức và luyện tập kỹ năng cho học sinh sẽ được thực hiện một cách linh động, giờ học Hóacũng như giờ học khác sẽ được thực hiện một cách nhẹ nhàng nhưng không kém phần sinhđộng, học sinh sẽ cảm thấy thích thú khi thực hành bộ môn và kết quả giờ học sẽ đượcnâng cao rõ rệt
b, Về phía học sinh:
- Theo tôi học sinh muốn làm tốt hoạt động này thì bản thân giáo viên cần phải nắm bắt chính xác và đánh giá được mức độ kiến thức đọng lại ở mỗi học sinh trong mỗi tiết dạy đểchuẩn bị lên kế hoạch phụ đạo, thết kế nội dung tiết dạy sao cho có hiệu qủa nhất, muốn vậy thì cần phải biết rõ căn cứ, hiểu và kết hợp giải quyết được các vấn đề sau:
+ Tìm hiểu tại sao học sinh sợ, chán, học yếu kém học môn hóa học và tìm cách giải tỏa tâm lí này ở một số em
+ Hướng dẫn học sinh tự đánh giá hiểu biết của bản thân về môn học và tự rèn luyện ý thức học tập
+ Giáo viên xác định được khối lượng kiến thức đối với từng bài học cụ thể cho đối tượng học sinh yếu kém, để đề ra nội dung, hình thức và phương pháp dạy thích hợp nhấtMặt khác giáo viên luôn có sự chuẩn bị chu đáo trước giờ lên lớp: soạn giáo án, chuẩn bị nội dung trình chiếu, phiếu học tập và các thí nghiệm thực (nếu có) để kết hợp cho nhuần nhuyễn và hợp lý với thí nghiệm ảo xây dựng trên phần mềm
II,Giải pháp thực hiện
Trên đây là một phần rất nhỏ trong vai trò của CNTT - Phần mềm dạy học Việc vậndụng hiệu quả những tính năng này vào một giờ lên lớp và soạn giáo án điện tử ở trườngTHCS có thể đúc kết thành một qui trình cụ thể để thiết kế bài giảng điện tử như sau:
Trang 7Bước1: Tìm hiểu kĩ nội dung bài dạy
Đây là công việc cần làm đầu tiên và quan trọng của người GV dù là soạn giáo ántrên giấy hay trên các phần mềm Điều này càng quan trọng đối với việc soạn giáo án trênmáy tính bởi nắm chắc ý đồ của tác giả và đối tượng học sinh mà giáo viên phát huy hếttính năng của các phần mềm dạy học mà bình thường việc soạn giáo án trên giấy không thểthực hiện được
Ví dụ:
- Khi chuẩn bị nội dung cho tiết dạy thực hành: Tiết 59- Tính chất hóa học của nước, cầnnhững thiết bị hỗ trợ để vẽ hình dụng cụ thí nghiệm hoặc đoạn băng hình thí nghiệm Chuẩn bịnhững phương án khác nhau trong quá trình phân tích hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiếnthức mới Có thể bóc tách vấn đề ra thành những phần đơn lẻ
Lựa chọn nội dung, kiến thức, kĩ năng cần đạt được qua tiết dạy Thu thập những tàiliệu có liên quan đến nội dung bài dạy nhằm bổ sung mở rộng kiến thức, phù hợp với trình
độ nhận thức của HS
Bước2: Viết kịch bản sư phạm cho việc thiết kế bài giảng và thể hiện kịch bản trên máy.
Đây là bước rất quan trọng trong việc thiết kế bài giảng điện tử Khi thực hiện bướcnày đòi hỏi người GV phải hình dung được toàn bộ nội dung và các hoạt động sư phạmtrên lớp của tiết dạy để xác định được phần nào của bài cần sự hỗ trợ của máy vi tính và sửdụng phần mềm nào để trình chiếu nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Các nội dung líthuyết, nội dung bài tập, kiến thức, kĩ năng cần chú ý, các đoạn băng hình hoặc âm thanh đikèm phải được chuẩn bị một cách chính xác, sinh động, hấp dẫn và đặc biệt là phải thểhiện được tiến trình bài dạy
Bước 3: Xem xét điều chỉnh và thể hiện thử (dạy thử)
Chạy thử (từng phần hoặc tất cả các Side) để điều chỉnh các sai sót về kĩ thuật trênmáy tính Dạy thử trước HS hoặc GV để điều chỉnh về nội dung hay hình thức trước khidạy chính thức Để làm công đoạn này, phải hiểu rõ và phối hợp linh hoạt thiết kế giáo án
đã xây dựng Hiểu được các cách và công đoạn trình chiếu thể hiện nội dung bài giảng Kết hợpvới việc sử dụng phương tiện dạy học khác như bảng, phấn … một cách phù hợp Nângcao hiệu quả bài giảng
Hiểu những ưu nhược điểm của phương tiện dạy học đang sử dụng như sự ổn địnhtrong thiết bị (điện, máy móc và cả sự thu hút thái quá của những hình ảnh âm thanh vớimột số học sinh khi theo dõi bài giảng)
Để làm nên một bài giảng điện tử đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức cơ bản về tinhọc, kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng sử dụng các công cụ để tạo nên các bài giảng,giáo án điện tử Phải có kỹ năng cần thiết để tạo ra các bài giảng điện tử có chất lượng vớiphần mềm soạn thảo trình chiếu MS PowerPoint cùng với các phần mềm hỗ trợ khác
NHỮNG KINH NGHIỆM KHI SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
Dưới đây là những kinh nghiệm sử dụng bài giảng điện tử tác giả muốn chia sẽ với các bạn
để sử dụng bài giảng điện tử phục vụ giảng dạy hiệu quả.
1 Xác định tâm lý người học
Trang 8Sử dụng bài giảng điện tử là sử dụng một phương pháp truyền đạt mới với công nghệ tin học vì vậy người giảng phải xác định tâm lý cho người học trước khi bắt đầu là cách theo dõi, cách ghi chép, cách chuẩn bị bài trước ở nhà
2 Vấn đề màu sắc
Bài giảng điện tử nên sử dụng những màu nhẹ sáng, không nên dùng hình nền có quá nhiều màu và việc phối màu phải phù hợp với cường độ ánh sách của đèn chiếu, cường độ ánh sách của phòng học.
Mỗi bài giảng nên chuẩn bị 2 bản với những màu nền, màu chữ sáng tối khác nhau để phù hợp với không gian ánh sách khác nhau Ví dụ nơi phòng học tối dùng dùng màu chữ sẫm màu hơn để người đọc dễ nhìn.
3 Về nội dung
Bài giảng điện tử phải mô tả được nội dung thành các sơ đồ, hình ảnh minh họa, nên hạn chế tối đa cách trình bày gạch đầu dòng Bài giảng điện tử yêu cầu người soạn phải có tính sáng tạo để kết hợp những tiện ích của công nghệ tạo ra bài giảng dễ hiểu, sinh động hơn so với phương pháp dùng bảng đen.
5 Sử dụng font chữ, cỡ chữ
- Trong bài giảng điện tử nên sử dụng các font chữ chân phương, sử dụng các font chữ thuộc bảng mã Unicode Bạn nên dùng font: Verdana, Arial, Tahoma Không nên sử dụng
font News Times Roman, font này chỉ sử dụng cho các bảng để in như trong MS Word
thôi, không nên sử dụng cho bài giảng điện tử
- Cỡ chữ thích hợp trong bài giảng điện tử từ 18pt đến 24pt Không nên dùng chữ quá lớn
sẽ mất thẩm mỹ và quá nhỏ thì người ngồi phía sau sẽ không nhìn rõ.
6 Sử dụng hiệu ứng
Sử dụng hiệu ứng cầu kỳ sẽ làm cho người học tò mò theo dõi sự thể hiện của các hiệu ứng
mà không chú trọng đến nội dung bài giảng và kết quả bài học sẽ không cao.
Sức mạnh của bài giảng là ở khả năng mô hình hóa nội dung bằng hình ảnh, sơ đồ để người học dễ hiểu chứ không phải ở các hiệu ứng trình chiếu, lợi dụng các hiệu ứng trình chiếu sẽ làm giảm hiệu quả của bài học.
III
Những điểm cần chú ý khi soạn giảng có ứng dụng CNTT và phần mềm dạy học :
- Phải hiểu rõ được chức năng của các phần mềm khi sử dụng, hình ảnh đưa lên phải phù hợp, tránh lạm dụng mang tính chất trình chiếu
Trang 9- Hiểu rõ được nội dung bài giảng, sưu tầm những tài liệu, băng hình, âm thanh Phát huy hết chức năng của các phần mềm Tạo cho học sinh có cảm giác đang xem một cuốn phim hấp dẫn Hình thành phương thức học tập mới, một ý thức tự giác tích cực cho mỗi học sinh.
- Vận dụng phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của trường, với đối tượng học sinh.
- Phối hợp chặt chẽ, linh hoạt các phương pháp dạy học.
- Ngoài nội dung, còn phải lưu ý đến hình thức , màu sắc , kiểu chữ , bố cục phù hợp, các hiệu ứng hợp lý để cho bài giảng sống động Một bài giảng điện tử không đơn thuần chỉ là những dòng chữ hoặc công thức lần lượt hiện ra để học sinh ghi lại
- Người soạn bài giảng điện tử lại càng không nên quá lạm dụng các hiệu ứng màu sắc, hình ảnh ,… quá rườm rà làm học sinh mất tập trung, không chú ý nội dung bài học mà chỉ lo quan sát , nghe nhìn.
- ở khâu thiết kế, số lượng Slide không nhiều hơn mức cần thiết, tốc độ lật nhanh gây cho HS cảm giác không kịp tiếp thu Slide không nên chứa quá nhiều chữ với kích cỡ nhỏ, làm cho HS không nhìn rõ hoặc phải căng mắt ra gây mệt mỏi, HS không ghi chép kịp - Việc phối màu không chuẩn và thiếu các nguyên tắc cơ bản về
độ sáng/tối, độ đậm/nhạt, độ tương phản khiến cho các Slide không đạt tới sự hài hoà cần thiết, gây ức chế tâm lý cho học sinh.
- Lạm dụng các hiệu ứng chuyển động là vấn đề thường gặp nhất ở các GV mới bắt đầu sử dụng Các hiệu ứng về text và graphic có thể gây sự “ chú ý không chỉ định” nơi học sinh, nếu quá nhiều sẽ gây phản tác dụng Âm thanh là một yếu tố gây nhiễu bài giảng của GV nếu bị lạm dụng.
- Cuối cùng là khâu dạy học ở trên lớp, quá phụ thuộc vào công nghệ và thiết bị , đến mức mất khả năng linh hoạt, coi việc chuẩn bị nội dung của mình là cố đinh, cứ thế mà làm bất kể tình huống trên lớp đòi hỏi phải điều chỉnh thay đổi
Vì thế , để có một tiết dạy thật sự với sự trợ giúp của giáo án điện tử , giáo viên cần phối hợp giữa các phương pháp truyền thống và hiện đại để làm mới hơn , hấp dẫn hơn, hiệu quả hơn giờ dạy mà không làm mất đi , hoặc sai lệch về mục đích, mục tiêu giảng dạy trong nhà trường.
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM "CROCODILE CHEMISTRY 605"
VÀO THÍ NGHIỆM HÓA HỌC ẢO
I GIỚI THIỆU VÀ CÀI ĐẶT PHẦN MỀM:
1 Giới thiệu:
Crocodile Chemistry 605 là phần mềm ứng dụng dùng để mô phỏng thí nghiệm hóa học Crocodile Chemistry 605 có thể thực hiện hầu như đa số các phản ứng vô cơ và hữu cơ
thông dụng
Trang 10Download phần mềm tại địa chỉ http://www.Crocodile Chemistry -clips.com/file/CH
605.exe Hoặc địa chỉ http://www.Crocodile Chemistry -clips.com/en/Downloads/
2.Cài đặt phần mềm
Bước 1:Download phần mềm về chạy tệp CH605.exe
Bước 2: Chọn Next/ Đánh dấu mục I accept the tems in the license agreement/Next/Next