Lưu trữcùng các tài nguyên nhàn rỗi khác để cung cấp một môi trường tính toán có năng lực xử lý lớn, khả năng lưu trữ dồi dào để giải quyết các bài toán lớn, phức tạp khó có thể giảiquyế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TPHCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Báo Cáo Môn Học: Điện toán đám mây
Đề Tài
TÓM TẮT LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY VÀ ỨNG
DỤNG VÀO MÔ HÌNH HƯỚNG DỊCH VỤ (SOA)
GVHD : PGS.TS Nguyễn Phi KhứHọc Viên: Nguyễn Thành Quân
MSHV: CH1301032
MỤC LỤC
Trang 2LỜI CÁM ƠN 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 7
1.1 Thực trạng hiện tại 7
1.2 Mục tiêu đề tài 7
CHƯƠNG II KIẾN THỨC NỀN TẢNG 8
2.1 Khái niệm về điện toán đám mây (Cloud computing) và điện toán lưới (Grid computing) 8
2.2 Các ưu điểm của công nghệ Grid computing 10
2.2.1 Khai thác tài nguyên xử lý 10
2.2.2 Khả năng xử lý song song 10
2.2.3 Sự cộng tác các tài nguyên tổ chức ảo 11
2.2.4 Sự truy cập của các tài nguyên khác 13
2.2.5 Cân bằng tài nguyên 13
2.2.6 Độ tin cậy 14
2.2.7 Khả năng quản lý 15
2.2.8 Khả năng thương mại hóa của Grid computing 16
2.3 Các thành phần của Grid 18
2.3.1 Thành phần quản lý 18
2.3.2 Thành phần donor 19
2.3.3 Phần mềm đệ trình 20
2.3.4 Quản lý phân tán 20
2.3.5 Bộ lập lịch 21
2.3.6 Các thành phần truyền thông 22
2.3.7 Các thành phần quản lý, theo dõi , đo lường 22
2.4 Kiến trúc điện toán đám mây 23
2.4.1 Mô hình kiến trúc tổng quát 23
2.4.2 Các thành phần của điện toán đám mây 23
Trang 32.5 Một số mô hình điện toán đám mây 24
2.5.1 Mô hình kiến trúc điện toán đám mây của IBM 24
2.5.2 Mô hình kiến trúc điện toán đám mây Window Azure của Microsoft 24
2.5.2.1 Windows Azure 24
2.5.2.2 Nền tảng dịch vụ (Azure Services Platform) 25
2.5.2.3 Fabric Controller 25
2.5.2.4 Windows Azure với người sử dụng và lập trình viên 25
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH HƯỚNG DỊCH VỤ(SOA) 27
3.1 Khái niệm 27
3.2 Kiến trúc mô hình hướng dịch vụ 27
3.3 Các tính chất của một hệ thống hướng dịch vụ 28
3.3.1 Liên kết lỏng (Loose coupling) 28
3.3.2 Sử dụng lại dịch vụ 28
3.3.3 Sử dụng dịch vụ bất đồng bộ 29
3.3.4 Quản lý các chính sách 29
3.3.5 Khả năng cộng tác 29
3.3.6 Tự động dò tìm và ràng buộc động 29
3.3.7 Tự hồi phục 29
3.4 So sánh mô hình SOA với các mô hình truyền thống 30
3.4.1 Mô hình SOA và OOP (mô hình hướng đối tượng) 30
3.4.2 Mô hình SOA và Web 30
3.5 Lợi ích và hạn chế của việc sử dụng mô hình SOA 31
3.5.1 Lợi ích 31
3.5.2 Hạn chế 32
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN 33
4.1 Các lợi ích chính của điện toán đám mây 33
4.2 Các hạn chế của điện toán đám mây 33
Tài liệu tham khảo 34
Trang 5LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Phi Khứ về tất những bài giảng bổ íchcủa Thầy Thầy đã tận tâm chia sẻ những kinh nghiệm quý báu và truyền đạt những kiếnthức bổ ích thông qua môn học “Điện toán lưới và đám mây”
Nhờ những kiến thức quí báu mà Thầy đã chia sẻ, em đã nâng cao được kiến thứccủa mình, qua đó có cái nhìn mới mẻ về trào lưu công nghệ mới hiện nay đặc biệt lànhững vấn đề liên quan đến điện toán đám mây
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay con người ngày càng phát triển cùng với đó là sự bùng nổ của khoa họccông nghệ, công nghệ là mấu chốt cho sự thành công của cuộc sống Song với quá trìnhphát triền ngày càng tăng, ngày càng có nhiều bài toán mới , đòi hỏi các năng lực xử lýcũng được tăng theo Tuy hiện nay các công nghệ cũng đã phần nào đáp ứng được nhucủa con người nhưng đó không phải là sự lựa chọn khôn ngoan và lâu dài cho sự pháttriển khoa học công nghệ
Công nghệ Grid computing ra đời đời đánh dấu một bước phát triển quan trọngtrong lĩnh vực điện toán hiệu năng cao Nó cho phép tận dụng năng lực xử lý Lưu trữcùng các tài nguyên nhàn rỗi khác để cung cấp một môi trường tính toán có năng lực xử
lý lớn, khả năng lưu trữ dồi dào để giải quyết các bài toán lớn, phức tạp khó có thể giảiquyết được với các công nghệ hiện hành hoặc đòi hỏi chi phí rất cao
Grid computing tận dụng tối đa tài nguyên, tăng cường sự hợp tác, giảm chi phíđầu tư trong khi vẫn cung cấp năng lực tính toán như mong muốn Trong những năm vừaqua thì nhiều tập đoàn công nghệ thông tin lớn đã tìm đến Grid computing là giải phápchiến lược cho sự phát trển Công nghệ này ngày càng thu hút sự quan tâm chú ý từ khắpnới trên thế giới
Trang 7CHƯƠNG I TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1 Thực trạng hiện tại.
Các công ty và tổ chức lớn đang sử dụng những mạng máy tính quy mô lớn phục
vụ cho việc liên lạc và xử lý thông tin Ứng dụng chạy trên những mạng máy tính này rất
đa dạng và xử lý nhiều loại công việc khác nhau, từ kiểm soát các quy trình nội bộ, trìnhbày nội dung web cho đến hỗ trợ khách hàng Trong khi đó nhu cầu tính toán di độngcũng gia tăng nhanh khi mà nhân viên doanh nghiệp cần tương tác và trao đổi dữ liệuthường xuyên với cơ quan khi họ không ở nhiệm sở Từ đó xuất hiện thêm hàng loạt thiết
bị như máy tính xách tay, PDA, điện thoại di động dùng những công nghệ không dây rấtkhác nhau để truy cập tài nguyên thông tin của tổ chức
Sự phức tạp ngày càng gia tăng của các mạng máy tính như vậy là yếu tố cản trởlớn nhất đối với sự mở rộng của chúng, đồng thời khiến cho công việc quản lý truyềnthống trở nên khó khăn, tiêu tốn thời gian và mắc nhiều sai sót Công nghệ tính toán lưới
“Grid computing” ra đời đã phần nào giải quyết được những yêu cầu hiện tại của côngnghệ
1.2 Mục tiêu đề tài.
- Nghiên cứu kiến trúc, mô hình điện toán đám mây, tìm hiểu ưu, nhược điểm vàứng dụng của mô hình
- Trình bày ưu điểm của công nghệ tính toán lưới (Grid computing)
- Nghiên cứu mô hình hướng dịch vụ, tìm hiểu ưu, nhược điểm và ứng dụng của môhình
Trang 8CHƯƠNG II KIẾN THỨC NỀN TẢNG
2.1 Khái niệm về điện toán đám mây (Cloud computing) và điện toán lưới (Grid computing).
Điện toán đám mây xuất hiện bắt nguồn từ ứng dụng điện toán lưới (gridcomputing) trong thập niên 1980, tiếp theo là điện toán theo nhu cầu (utility computing)
và phần mềm dịch vụ (SaaS) Điện toán đám mây là hình mẫu trong đó thông tin đượclưu trữ thường trực tại các máy chủ trên Internet và chỉ được được lưu trữ tạm thời ở cácmáy khách, bao gồm máytính cá nhân, trung tâm giải trí, máy tính trong doanh nghiệp,các phương tiện máy tính cầm tay,
Grid computing là một loại hệ thống phân tán, bố trí song song, cho phép linh hoạtchia sẻ, tuyển lựa và tập hợp các nguồn tài nguyên độc lập và rải rác về địa lý, tùy theokhả năng sẵn có, công suất, hoạt động, chi phí và yêu cầu về chất lượng dịch vụ củangười sử dụng
Điện toán mạng lưới có nghĩa là tất cả hoặc một phần của một nhóm máy tính,máy chủ và thiết bị lưu trữ trong mạng doanh nghiệp, được “ảo hóa” (virtualize) thànhmột cỗ máy tính lớn Vì điện toán mạng lưới giải phóng những khả năng tính toán khôngđược sử dụng vào một thời điểm bất kỳ, chúng có thể cho phép các doanh nghiệp tăngcường rất nhiều về tốc độ, sức mạnh xử lý thông tin và sự liên kết, thúc đẩy các quy trìnhtính toán mật độ cao Trong khi đó, chi phí vẫn sẽ được giữ ở mức thấp vì điện toán mạnglưới có thể được xây dựng từ chính hạ tầng hiện có, góp phần đảm bảo sự huy động tối
ưu các khả năng tính toán
Điện toán mạng lưới cho phép ảo hóa các chức năng tính toán phân tán cũng nhưcác nguồn xử lý, băng thông mạng và khả năng lưu trữ, để từ đó tạo ra một hệ thống đơnđồng nhất, cho phép người sử dụng và các ứng dụng truy cập thông suốt vào các tínhnăng điện toán rộng lớn Giống như người lướt web xem một nội dung thống nhất qua
Trang 9web, người sử dụng điện toán mạng lưới cũng nhìn thấy một máy tính ảo cực lớn duynhất.
Hình 1: Sự ảo hóa với nhiều cấp độ
Hình trên mô tả từng cấp độ của sự ảo hóa từ đơn giản đến phức tạp khi đi theochiều từ trái sang phải Ở hình trái nhất là tổ chức đồng nhất đơn tài nguyên Tài nguyên
ở đây có thể là CPU, ổ lưu trữ, các thiết bị và chương trình Tiếp đến là hệ thống hỗn hợpgồm nhiều tài nguyên khác nhau Cấp độ ảo hóa phức tạp hơn là ảo hóa trong một xínghiệp Hình bên phải là mức độ ảo hóa cao nhất vơi phạm vi trên toàn mạng internet,gồm các đa tổ chức hỗn hợp
Trọng tâm của điện toán mạng lưới dựa trên một tập hợp mở của nhiều chuẩn vàgiao thức, ví dụ kiến trúc dịch vụ lưới mở (OGSA), cho phép liên lạc qua nhiều môitrường hỗn tạp và phân tán về địa lý Với điện toán mạng lưới, các tổ chức và doanhnghiệp có thể tối ưu hóa khả năng tính toán và các nguồn dữ liệu, tập trung chúng lạithành những khối sức mạnh lớn, chia sẻ chúng qua mạng và thúc đẩy sự phối hợp, tươngtác
Trang 10Giả dụ, khi một người có chiếc máy tính cá nhân tham gia đóng góp sức mạnh xử
lý trong một mạng lưới grid muốn chạy một ứng dụng đòi hỏi thêm sức mạnh xử lý thìcông việc đang được giải quyết trên chiếc máy đó sẽ được tự động tái phân bổ tới mộtmáy khác trong lưới đang “rảnh rỗi” và không bị trưng dụng sức mạnh tính toàn vào côngviệc nào
Xây dựng một lưới grid có thể đơn giản như việc cho phép một số lượng nhỏ PChoặc server hoặc mạng lưu trữ tận dụng những khả năng chưa được khai thác hết Từ mộtquy mô triển khai ban đầu nhỏ, người sử dụng có thể dần dần hoặc lập tức mở rộng lướitùy theo nhu cầu của doanh nghiệp Lưới này không chỉ có thể liên kết các quy trình hoạtđộng của một bộ phận mà có thể phối hợp các phòng ban với nhau hoặc thậm chí liên kếtsức mạnh hạ tầng của một số doanh nghiệp độc lập
2.2 Các ưu điểm của công nghệ Grid computing.
2.2.1 Khai thác tài nguyên xử lý.
Một trong những tính năng cơ bản của tính toán mạng lưới là khả năng chạy mộtchương trình trên nhiều máy tính khác nhau Trong một mạng lưới bao gồm nhiều máytính, có một số máy ở trạng thái bận do khối lượng công việc lớn, một số khác ở trạngthái rỗi do khối lượng công việc nhỏ Trong hầu hết các tổ chức, luôn có những khốilượng lớn những tài nguyên dùng để tính toán Trung bình mỗi ngày, mỗi máy tính cóthời gian trung bình ở trạng thái thái bận là 5% Điều đó chứng tỏ khối lượng tài nguyênrỗi trong một mạng là rất lớn Grid cung cấp một khung làm việc (framework) để tậndụng những tài nguyên rỗi này và vì thế có thể tăng hiệu quả trong việc sử dụng các tàinguyên Ngoài tài nguyên xử lý, tài nguyên lưu trữ cũng được sử dụng hiệu quả hơn nhờGrid computing Grid tận dụng các dung lượng đĩa cứng còn trống trong các máy tính đểtập hợp thành một tài nguyên lưu trữ ảo trong mạng
2.2.2 Khả năng xử lý song song
Trang 11Khả năng kết hợp nhiều CPU cùng xử lý song song là một tính năng hấp dẫn củaGrid computing Các chương trình chạy trên môi trường Grid sử dụng các thuật toán đểphân chia công việc xử lý thành nhiều thành phần độc lập Mỗi CPU trên một máy tínhtrong mạng đảm nhận việc xử lý một hay nhiều thành phần đó Tính độc lập của cácthành phần càng cao thì chương trình càng dễ dàng mở rộng trên phạm vi mạng lướinhiều máy tính hơn Một mạng lưới được gọi là hoàn hảo nếu với mười máy tính, tốc độ
xử lý chung của mạng tăng lên gấp mười lần Tuy nhiên, trên thực tế không có mạng lướihoàn hảo Có 2 lý do chính để mạng lưới trên thực tế không thể trở thành hoàn hảo
Thứ nhất là việc sử dụng thuật toán phân chia công việc ảnh hưởng lớn đến hiệunăng tính toán chung của mạng
Thứ hai là các thành phần của công việc không hoàn toàn độc lập với nhau Khôngphải ứng dụng nào cũng có thể chuyển đổi để Grid có thể xử lý song song Hơnnữa, không có một công cụ nào có thể chuyển đổi một ứng dụng bất kỳ sang đangchạy song song trên Grid Khả năng xử lý song song của một chương trình trênmạng lưới phụ thuộc vào người thiết kế và đó không phải là công việc đơn giản
2.2.3 Sự cộng tác các tài nguyên tổ chức ảo.
Một khả năng khác của Grid computing là tạo nên môi trường cộng tác rộng lớnđồng nhất Mỗi môi trường đó được gọi là một tổ chức ảo Grid computing thậm chí cókhả năng tạo nên một môi trường rộng lớn hơn bằng cách kết hợp các tổ chức ảo, khôngđồng nhất với nhau để cùng cộng tác với nhau
Trang 12Hình 2: Mạng grid ảo không đồng nhất
Hình trên mô tả môi trường đồng nhất đó Mỗi người sử dụng mạng lưới đượcphân bổ vào một tổ chức ảo nào đó Các tổ chức ảo này có thể chia sẻ tài nguyên vớinhau như một mạng lưới lớn Chia sẻ tài nguyên bắt đầu với dữ liệu dạng tệp hay cơ sở
dữ liệu Lưới dữ liệu có thể mở rộng dữ liệu theo nhiều cách khác nhau Đầu tiên, tệp hay
cơ sở dữ liệu có thể được trải rộng trên nhiều hệ thống tạo nên dung lượng lớn hơn rấtnhiều so với hệ thống đơn Cách trải dữ liệu này có thể tăng tốc độ truyền dữ liệu vớicông nghệ striping
Dữ liệu thường xuyên được sao lưu phục vụ cho việc khôi phục dữ liệu Ngoàiviệc chia sẻ tài nguyên là các tệp và cơ sở dữ liệu, ta có thể chia sẻ nhiều tài nguyên khác,như các thiết bị chuyên dụng, phần mềm, dịch vụ, Những tài nguyên này được “ảo hóa”
để giữ chúng đồng bộ trong một hệ thống mạng luới không đồng nhất Các tài nguyên đóđược gọi là tài nguyên ảo
Trang 13Những người tham gia hay sử dụng grid là một thành viên trong một tổ chức nào
đó Grid có thể yêu cầu người dùng đó tuân thủ các luật lệ, quyền hạn sử dụng, từ đó cóthể giải quyết được các vấn đề về ưu tiên , bảo mật …
2.2.4 Sự truy cập của các tài nguyên khác.
Ngoài CPU và tài nguyên lưu trữ, Grid còn có thể truy nhập đến những tài nguyênkhác Các tài nguyên này có thể được cung cấp dưới dạng số lượng hoặc khả năng lưutrữ, băng thông Ví dụ, nếu một người muốn tăng băng thông truy nhập Internet để thựchiện việc khai thác dữ liệu tìm kiếm, công việc này có thể phân chia giữa các máy trongmạng grid có đường truyền Internet không phụ thuộc nhau Trong trường hợp này, khảnăng tìm kiếm được nhân lên, khi mỗi máy có đường truyền riêng biệt Nếu các máy chia
sẻ đường kết nối Internet, thì nó sẽ không tăng băng thông Trong một mạng lưới, một sốmáy tính có thể được cài đặt những phần mềm đắt tiền, có bản quyền mà một máy kháckhông có Người sử dụng máy tính không cài đặt phần mềm đó có thể sử dụng phần mềmnày bằng cách gửi công việc đến máy tính được cài phần mềm để yêu cầu xử lý Đó làkhả năng tận dụng phần mềm của Grid
Một vài máy tính có thể có những thiết bị đặc biệt, chẳng hạn như máy in Hầu hếtcác máy in được sử dụng từ xa Grid có thể chia sẻ được những thiết bị đặc biệt này.Thậm chí Grid có thể chia sẻ những thiết bị, tài nguyên phức tạp như máy chuẩn đoánbệnh hay robot hỗ trợ phẫu thuật
2.2.5 Cân bằng tài nguyên.
Grid liên kết các tài nguyên từ nhiều máy khác nhau tạo thành một hệ thống duynhất Grid có thể thực hiện cân bằng tài nguyên trong các chương trình bằng cách lập lịchlàm việc cho các công việc Chức năng này có ý nghĩa rất lớn trong việc xử lý các trượnghợp quá tải về xử lý, tính toán trong một tổ chức Chức năng cân bằng có thể được thựchiện theo 2 cách sau
Những điểm quá tải được đưa đến những máy rỗi trên mạng lưới Nếu toàn mạnggrid đã bận, những công việc có độ ưu tiên thấp được tạm thời ngừng lại nhường chỗ chonhững công việc khác có độ ưu tiên cao Đôi khi có những công việc đột ngột được tăng
Trang 14độ ưu tiên do cần hoàn thành gấp Grid không thể xử lý được những công việc cần hoànthành quá gấp Tuy nhiên grid có thể phân chia nó thành nhiều công việc nhỏ và huyđộng một lượng lớn tài nguyên để xử lý nó một cách nhanh nhất
Hình 3: Chia sẻ công việc trong mạng
Một lợi ích khác khi dùng grid là cân bằng tải Khi một công việc liên lạc với mộtcông việc khác, với Internet, hoặc các tài nguyên khác, Grid có thể lập lịch cho chúng để
có thể giảm thiểu tối đa lưu lượng đường truyền cũng như khoảng cách truyền Điều nàygiúp Grid có thể giảm thiểu tắc nghẽn mạng Cuối cùng, Grid có khả năng thương mại tàinguyên Các trạng thái của tất cả các tài nguyên trong mạng được Grid quản lý Các tổchức trên Grid có thể tạo tài khoản và trả tiền để sử dụng các tài nguyên này khi cần thiết.Điều này tạo nên các tài chính mạng lưới
2.2.6 Độ tin cậy.
Những hệ thống tính toán mạnh sử dụng phần cứng đắt tiền để tăng độ tin cậy.Chúng sử dụng bộ xử lý kép để khi hỏng hóc có thể thay thế bộ xử lý thứ hai mà khôngcần tắt hệ thống Các nguồn và hệ thống làm mát cũng đều được nhân bản Hệ thống còn
sử dụng một nguồn đặc biệt có thể phát điện khi nguồn điện bị mất Tất cả chúng tạo nênmột hệ thống tin cậy, tuy nhiên, giá thành cho hệ thống này rất cao Trong tương lại, mộtmạng lưới có thể có khả năng thay thế một hệ thống đáng tin cậy như thế Grid mới chỉbắt đầu công nghệ này Mô hình máy chủ đáng tin cậy sử dụng Grid có thể được mô tả
Trang 15như một mạng lưới gồm nhiều máy tính được phân bố khắp nơi Do đó, khi có một sự cốtại một nốt mạng nào đó trên mạng lưới, các điểm khác sẽ không bị ảnh hưởng Khi mộtmáy tính bị hỏng hóc, phần mềm quản lý trong Grid có thể tự động chuyển công việc xử
lý từ máy này đến một máy nào đó trong mạng Trong trường hợp quan trọng, nhiều bảnsao của công việc được tạo ra và được chuyển đến nhiều máy khác nhau trên mạng luớinhư hình 4 dưới đây
Hình 4: Các bản sao của công việc
Những hệ thống grid như thế sẽ tạo nên khả năng tính toán tự động Nó là mộtdạng phần mềm có khả năng tự sửa lỗi trên grid, trước khi thông báo cho bộ xử lý hayngưởi quản lý biết Về nguyên tắc, hầu hết những hệ thông tin cậy đắt tiền ngày nay dựavào phần cứng hoàn toàn cũng có thể dùng phần mềm để tạo nên sự tin cậy
2.2.7 Khả năng quản lý.
Việc ảo hóa tài nguyên và nhiều hệ thống hỗn hợp được tạo ra trên Grid sẽ tạo nênquy mô rộng hơn, các thiết bị được phân phối nhiều hơn Nó làm cho các nhà doanhnghiệp dễ dàng quản lý chi phí và tài nguyên tính toán trên phạm vi lớn Grid quản lý độ
ưu tiên giữa các dự án Trước đây, mỗi dự án quản lý riêng tài nguyên và chi phí của nó
Trang 16Có thể những tài nguyên đang rỗi trong khi các dự án khác gặp sự cố, cần thêm những tàinguyên khác Với tầm nhìn bao quát, grid có thể giải quyết dễ dàng các tình huống này,nhà quản lý có thể thay đổi các quyền hạn với các tài nguyên để các tổ chức khác có thểchia sẻ hay sử dụng.
Hình 5: Các nhà quản trị có thể điều chỉnh chính sách thích hợp với tài nguyên
2.2.8 Khả năng thương mại hóa của Grid computing.
Các nhà cung cấp giải pháp điện toán hàng đầu thế giới như Oracle, IBM, HP,Dell, Microsoft và Sun đều đã và đang có sách lược đầu tư lớn vào việc phát triển các sảnphẩm và dịch vụ điện toán mạng lưới
Trang 17Thiết lập một hệ thống điện toán mạng lưới không đơn thuần chỉ là có một mạngmáy tính tốc độ cao Yếu tố quan trọng nhất chính là một nền phần mềm điều phối sứcmạnh của các máy tính tham gia đóng góp sức mạnh nhiều dạng khác nhau trong lưới.
Trên thị trường đã xuất hiện những nền phần mềm thương mại hoặc dịch vụ phục
vụ cho việc này Ví dụ, Oracle đã tung ra thị trường Application Server 10g, được coi là
phần mềm trung gian đầu tiên giúp đơn giản hóa việc quản lý các ứng dụng chạy trên môitrường điện toán mạng lưới Đây là một bộ sản phẩm gồm khoảng 600 cải tiến trong ứngdụng tích hợp và cơ sở hạ tầng các dịch vụ Web
Hình 6: Ứng dụng của Grid computing trong thương mại
Oracle Application Server 10 được xây dựng dựa trên các chuẩn mở, tạo ra mộtnền tảng thống nhất cho các khả năng hỗ trợ yêu cầu đa dạng của một doanh nghiệpthương mại điện tử, bao gồm các chức năng hỗ trợ như phần mềm cổng dành cho doanhnghiệp, lưu trữ tốc độ cao, tình báo doanh nghiệp, quản lý đồng nhất, phát triển ứng dụng