1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích diễn biến lạm phát của việt nam giai đoạn từ 2004 đến 2014

45 2,1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 443 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa lạm phát Lạm phát là một khái niệm kinh tế đã xuất hiện từ lâu, gắn liền với sự ra đời và phát triển của tiền tệ.Các nhà kinh tế học theo trường phái “lạmphát tiền tệ”, đại bi

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phức tạp gắn liền với sự tăng lênđồng loạt của giá cả và sự mất giá của tiền tệ Lạm phát là căn bệnh tiềm ẩnđối với các nước phát triển theo cơ chế thị trường, nó xuất hiện khi nền kinh

tế chứa đựng các dấu hiệu mất cân đối: mất cân đối giữa cung – cầu hànghoá, mất cân đối giữa cung – cầu thị trường… Mỗi lần xuất hiện ở điều kiện

và hoàn cảnh khác nhau th́ì có tác động không giống nhau đến nền kinh tế.Cho nên mỗi lần lạm phát xuất hiện lại đ ̣òi hỏi tâm trí và sức lực của các nhàhoạch định chính sách, các nhà kinh tế và dân chúng Bởi nó ảnh hưởng đếnđiều hành các chính sách vĩ mô, đến hoạch định và kết quả kinh doanh củacác chủ thể kinh tế, đến mức sống và niềm tin của dân chúng

Việt Nam sau khi thống nhất đất nước đã trải qua những thời kỳ

“thăng trầm” của lạm phát Từ cơn bão siêu lạm phát những năm 1986-1988sau đó “im lặng” trong một giai đoạn giảm phát, lạm phát lại bùng trở lại ởnước ta sau khi mở cửa nền kinh tế gia nhập Tổ chức thương mại thế giới

Năm 2007 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 củaWTO, lạm phát phi mã đánh dẫu sự trở lại bằng việc đưa chỉ số giá tiêudùng lên 12,6% Dường như nền kinh tế đang tăng trưởng quá nóng vàkhông hấp thụ được hết những cơ hội của nó Bên cạnh đó là những bất cậptrong hệ thống tài chính tiền tệ cũng như sự thiếu đồng bộ trong các chínhsách của Chính phủ đã dẫn tới tình trạng lạm phát như hiện nay Yêu cầu đặt

ra là phải nghiên cứu xác định được đúng nguyên nhân lạm phát ở nước ta

để có thể “kê đơn đúng bệnh” trong thời gian tới nhằm chuẩn bị một cách tốtnhất cho nền kinh tế trong giai đoạn mở cửa

Trang 2

Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó và qua nghiên cứu tìm hiểu về vấn đềnày trong quá trình học tập cũng như trong thực tế, chúng em đã quyết địnhchọn đề tài thảo luận: “phân tích diễn biến lạm phát của Việt Nam giai đoạn

♦ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề lạm phát trong nền kinh tế

- Phạm vi nghiên cứu: tình hình lạm phát ở Việt Nam từ 2004 đến Nay

Nội dung đề tài gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan về lạm phát

Chương 2: Tình hình lạm phát của Việt Nam từ 2004 – Nay

Chương 3: Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế

Chương 4: Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam

Chương 5: Các giải pháp kìm chế lạm phát ở Việt Nam

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT

I Khái niệm

1 Định nghĩa lạm phát

Lạm phát là một khái niệm kinh tế đã xuất hiện từ lâu, gắn liền với sự

ra đời và phát triển của tiền tệ.Các nhà kinh tế học theo trường phái “lạmphát tiền tệ”, đại biểu tiêu biểu là Keynes và Friedman cho rằng “lạm phát làhiện tượng tiền giấy thừa so với nhu cầu lưu thông hàng hoá và dịch vụ”.Tiền giấy mất giá nên giá cả tăng lên, và “lạm phát ở bất kỳ nơi nào luôn làmột hiện tượng tiền tệ với nghĩa là, nó được và có thể được tạo ra chỉ bằngcách tăng lượng tiền nhanh hơn so với tăng sản lượng”

Trường phái “lạm phát giá cả” hay quan điểm lạm phát của nhà kinh tếhọc nổi tiếng Paul A Samuelson và William D Nordhaus cho rằng lạm phát

là việc giá cả hàng hoá tăng lên, không kể trong dài hạn hay ngắn hạn, mangtính đột xuất hay theo chu kì

Vậy lạm phát là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu hết cácnhà kinh tế học đều đưa ra một đặc điểm chung về lạm phát đó là:

“ Lạm phát là hiện tượng phát hành tiền vào lưu thông quá lớn, vượt quá số lượng tiền cần thiết trong lưu thông, làm cho sức mua của đồng tiền giảm sút không phù hợp với giá trị danh nghĩa mà nó đại diện.”

Lạm phát là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hóatiền tệ, còn sản xuất hàng hóa và lưu thông tiền tệ thì còn lạm phát Vấn đềchỉ là kiềm chế lạm phát ở mức độ nào là hợp lý, bởi lạm phát ở mức hợp lýcòn có tác dụng kích thích sản xuất và tiêu dùng

Trang 4

2 Phân loại lạm phát

Lạm phát vừa phải (Moderate inflation) là loại lạm phát mà tốc độ

tăng giá cả chậm, ở mức dưới một con số (dưới 10%) mỗi năm Khi đó, tiền

tệ mất giá không nhiều và người ta tin tưởng vào giá trị của đồng tiền Ở hầuhết các nền kinh tế thị trường, lạm phát vừa phải luôn tồn tại Lạm phát ởmức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế

Lạm phát phi mã (Galloping inflation) là lạm phát xảy ra khi giá cả

tăng với tốc độ 2 hoặc 3 con số (30%, 50%, 100%, 500% ) Khi đó, tiềnmất giá trị một cách nhanh chóng và người ta chỉ nắm giữ một lượng tiền tốithiểu để đảm bảo cho các giao dịch hàng ngày Loại lạm phát này khi ở đỉnhcao sẽ gây ra những hiệu quả kinh tế nghiêm trọng

Siêu lạm phát (Hyper inflation) là hiện tượng tốc độ tăng mức giá

hết sức nhanh chóng, có khi tới vài trăm phần trăm một tháng hay vài nghìnphần trăm mỗi năm Siêu lạm phát không thể kéo dài trong quá nhiều năm

do tiền gần như mất hết giá trị, các doanh nghiệp không thể hoạt động được

và phá sản, người dân không dùng tiền trong các giao dịch nữa và quốc giagặp phải tình trạng này buộc phải cải tổ chính sách kinh tế nước mình và tìmcách chấm dứt lạm phát

3 Các phương pháp đo lường lạm phát

CPI được sử dụng một cách phổ biến trong việc đánh giá mức lạm phát CPI

đo lường mức giá trung bình 1 nhóm hàng hóa và dịch vụ cần cho tiêu dùngcủa các hộ gia đình trong 1 giai đoạn nhất định

Tỷ lệ lạm phát được tính như sau:

Trong đó: gp là tỷ lệ lạm phát (%) Ip là chỉ số giá cả của thời kỳ gốc

In là chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu

Trang 5

Ưu điểm: Cho phép so sánh sự biến động mức giá tiêu dùng theo thời gian.Nhược điểm: Không phản ánh được sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dung, đồngthời cũng không phản ánh được sự thay đổi về chất lượng của hàng hóa vàdịch vụ.

Ở Việt Nam CPI được tính cho toàn quốc và cho từng địa phương, chỉ số giábình quân được thông báo hàng tháng, tổ hợp của nhiều tháng, cho cả năm

và được công bố cùng chỉ số giá vàng, chỉ số đô la Mỹ Trong thực tế, tỷ lệlạm phát thường được biểu hiện qua các chỉ số giá cả:

a Chỉ số giá tiêu dùng (CPI- Consumer Price Index) được sử dụng rộng rãi

nhất để tính tỷ lệ lạm phát CPI đo lường mức giá bình quân của một nhómhàng hoá, dịch vụ trong một khoảng thời gian Số lượng, chủng loại hànghoá nào được lựa chọn lại tuỳ theo quy định của từng nước Để tính toán chỉ

số giá tiêu dùng, người ta phải thực hiện các bước sau:

1 Cố định giỏ hàng hóa: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượnghàng hóa, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua

2 Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hóatại mỗi thời điểm

3 Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hóa bằng cách dùng sốlượng nhân với giá cả của từng loại hàng hóa rồi cộng lại

4 Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêudùng bằng công thức sau:

Trang 6

hàng hoá, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu Sau đó quyền số này đượcdùng để tính chỉ số giá tiêu dùng cho các thời kỳ sau CPI thường được tínhhàng tháng và hàng năm CPI còn được tính toán cho từng nhóm hàng hóahoặc một số nhóm hàng hóa tùy theo mục đích sử dụng.

Tuy nhiên, khi sử dụng chỉ số giá tiêu dùng, ta cũng gặp phải một sốvấn đề Do sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đềchính dẫn đến hạn chế của CPI sau đây:

Thứ nhất, CPI không phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng

giỏ hàng hoá cố định Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so vớicác mặt hàng khác thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng nhữngmặt hàng đã trở nên quá đắt đỏ mà tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt

đỏ hơn Yếu tố này làm CPI đã đánh giá cao hơn thực tế mức giá Ví dụ khithịt gà trở nên mắc hơn do dịch cúm thì người tiêu dung sẽ chuyển sang ăn

cá biển với mục đích là cung cấp chất đạm cho cơ thể

Thứ hai, CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá

mới vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuấthiện thì một đơn vị tiền tệ có thể mua được các sản phẩm đa dạng hơn Ví dụ

ở TP.HCM khi mọi người đều có điện thoại di động, giá của mặt hàng nàyđang giảm theo thời gian nhưng nó lại không nằm trong rổ hàng hóa CPIkhông phản ánh được sự gia tăng sức mua này của đồng tiền nên vì thế lạiđánh giá mức giá cao hơn thực tế

Thứ ba, CPI không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng

hoá vì nếu mức giá của một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhưng chất lượngcũng tăng tương ứng thậm chí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng.Chất lượng hàng hoá dịch vụ nhìn chung đều có xu hướng được nâng caonên CPI cũng đã phóng đại mức giá

Trang 7

b Chỉ số giảm phát GDP, còn gọi là Chỉ số điều chỉnh GDP (D GDP -GDP deflator) là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các

loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước Chỉ số điều chỉnh GDP cho biếtmột đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêuphần trăm so với mức giá của năm cơ sở (Số liệu thống kê của Việt namcông bố đang tính GDP theo giá của năm 1994) Người ta tính chỉ số giảmphát GDP theo công thức sau:

Chỉ số giảm phát GDP = 100 xGDP danh nghĩa

ít thịt gà hơn và mua nhiều thịt lợn hơn Phúc lợi của người tiêu dùng đã

giảm xuống do họ phải tiêu dùng thịt gà ít hơn nhưng DGDP không phản ánhđược điều này cho dù nó phản ánh được sự thay thế giữa thịt gà và thịt

lợn.CPI chỉ phản ánh mức giá của hàng tiêu dùng còn DGDP phản ánh giá của

cả hàng hoá do doanh nghiệp, chính phủ mua Vì thế DGDP được coi là phản

ánh đúng hơn mức giá chung.DGDP chỉ phản ánh mức giá của những hànghoá sản xuất trong nước (vì GDP chỉ tính sản phẩm trong nước) còn CPIphản ánh mức giá của cả hàng hoá nhập khẩu Ví dụ: khi giá một chiếc xe ô

tô Toyota nhập khẩu tăng thì nó được phản ánh ở CPI nhưng không được

phản ánh ở DGDP.Tuy nhiên, trên thực tế, số liệu thống kê cho thấy sự khác

biệt giữa CPI và DGDP không lớn

CHƯƠNG II

Trang 8

TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ 2004 – NAY

Nguồn TCTK

Biểu đồ thể hiện tình hình lạm phát từ năm 2004 đến 2011 (đơn vị: %)

1 Giai đoạn từ năm 2004 – 2008

Đây là giai đoạn mà lạm phát tăng tốc, làm đau đầu các nhà quản lý

mĩ mô và ảnh hưởng đến mọi mặt cuộc sống của người dân Từ 3% năm

2003, lạm phát tăng vọt lên 9,5% năm 2004, sau đó giảm nhẹ vào 2 năm

2005, 2006 nhưng lại bùng phát trở lại vào năm 2007 với lạm phát phi mã

12,6% và đặc biệt là năm 2008 khi tính đến hết tháng 5/2008, chỉ số giá tiêu

Trang 9

Trong năm 2004, nền kinh tế Việt Nam diễn ra trong bối cảnh tìnhhình quốc tế và trong nước không mấy thuận lợi Mặc dù kinh tế thế giớităng trưởng khá tạo thuận lợi cho tăng trưởng xuất khẩu ở Việt Nam, songnhững biến động khó lường về chính trị, thiên tai, dịch cúm, giá cả nhiên -nguyên vật liệu…có tác động xấu đến hoạt động kinh doanh trong nước.Trong hoàn cảnh đó năm 2004 nền kinh tế vẫn đạt mức tăng trưởng GDP7,69% cao hơn mức tăng 7,43 của năm 2003 Tuy vậy năm 2003, lạm phátdừng lại ở con số khiêm tốn 3%, thế nhưng con số này đã đột ngột tăng tốcvào năm 2007 và lên 9,5% Chỉ số tăng giá trong vòng 5 tháng đầu năm

2004 đã lên tới 6,3%, cao hơn mức dự kiến cả năm là 5% trong đó nhómhàng thực phẩm tăng 12,6% Giá cả một số mặt hàng thuỷ hải sản tăng do thịtrường xuất khẩu ổn định và mở rộng, giá cả được cải thiện Giá đường trắngtiêu thụ trong nước bình quân tăng tới 40 - 45% so với cùng kỳ năm trước.Nhóm mặt hàng tăng giá cao đứng thứ hai là lương thực, tăng tới 10,9%.Nguyên nhân chủ yếu là do khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng,giá bán cũng khá hơn trước Chỉ có duy nhất chỉ số tiêu dùng của nhóm

“hàng” giáo dục là giảm tuy nhiên tỷ lệ giảm không quá lớn và nhóm nàycũng không chiếm tỷ trọng lớn nên không làm ảnh hưởng đến xu thế tăngcủa chỉ số giá chung

Bảng: Chỉ số CPI các tháng trong năm 2004 so với tháng 12/2003

Trang 10

Vượt qua nhiều khó khăn khách quan như: thời tiết, thiên tai, dịchcúm gia cầm tái phát, giá cả hàng hóa, dịch vụ thế giới biến động bất lợinhất là giá xăng, dầu và một số nguyên liệu tăng đột biến, thị trường xuấtkhẩu hàng hóa chủ lực (dệt may, da giày, thủy sản…) thu hẹp Tình hìnhkinh tế trong nước ta năm 2005 vẫn phát triển toàn diện và tăng trưởng khácao 8,43%, xấp xỉ mục tiêu đề ra là 8,5% và là mức tăng cao nhất trong vòng

9 năm qua kể từ năm 1997 Năm 2005, chỉ số lạm phát có giảm đi so vớinăm trước nhưng vẫn tiếp tục ở mức cao Chỉ số giá tiêu dùng của cả nước

đã lên tới 8,4%, vượt xa so với mức 6,5% theo Nghị Quyết của Quốc hội đề

ra từ đầu năm, thấp hơn so với mức 9,5% của năm 2004 và cao gấp 3 lần sovới mức 3,0 % của năm 2003 Tăng giá cao nhất trong cả năm 2005 là nhómmặt hàng lương thực – thực phẩm Tính chung trong cả 12 tháng năm 2005,nhóm lương thực - thực phẩm tăng 10,8%, thấp hơn so với mức tăng kỷ lục15,6% của cả năm 2004, trong đó riêng nhóm hàng thực phẩm đã tăng tới12% và nhóm mặt hàng lương thực tăng 7,8% Nguyên nhân do giá xuấtkhẩu gạo của Việt Nam tăng, giá thu mua một số mặt hàng lương thực làmthức ăn gia súc tăng, làm tăng giá các mặt hàng lương thực trong nước Diệntích đất đai sản xuất lương thực có xu hướng giảm do chuyển đổi cơ cấu câytrồng, do đất đai canh tác được chuyển sang đất đô thị, đất khu công nghiệp,đất làm được giao thông và các mục đích khác Mặt khác giá thành sản xuấtcác mặt hàng lương thực cũng tăng lên Đặc biệt là giá thóc gạo xuất khẩu ởkhu vực đồng bằng sông Cửu Long tăng khá bởi nhu cầu thu mua lúa gạocho xuất khẩu Do tác động bởi giá gạo trên thị trường thế giới và giá gạoxuất khẩu của Việt Nam tăng Do ảnh hưởng cơn bão số 7 ở các tỉnh phíaBắc, lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long, mưa lũ tại các tỉnh miền Trung trongcác tháng 10,11 và tháng 12-2005 Bởi vậy đã làm cho giá lương thực trong

Trang 11

năm 2005 tăng tới 7,8% Tuy nhiên vẫn thấp hơn mức tăng 14,3% của mặthàng lương thực trong năm 2004

Trong khi đó giá mặt hàng thực phẩm tính chung trong năm 2005 tăng12%, thấp hơn so với cả năm 2004 đã tăng kỷ lục, tới 17,1% Nguyên nhân

là do tác động của dịch cúm gia cầm xẩy ra trên diện rộng Chính phủ chỉđạo kiên quyết và các địa phương cũng triển khai đồng bộ việc tiêu huỷ giacầm, việc cấm lưu thông gia cầm, cũng như tình trạng đóng băng tiêu thụcác sản phẩm ở nhiều địa phương Do đó nhu cầu tiêu thụ thực phẩm đượcdồn sang các mặt hàng khác làm cho giá bán lẻ nhóm mặt hàng này tăng lên

Mức tăng lớn đứng hàng thứ hai và thứ ba trong năm 2005 là nhómmặt hàng nhà ở, vật liệu xây dựng và nhóm phương tiện đi lại với mức tănglần lượt là 9,8% và 9,1% Nguyên nhân của tình trạng đó là do giá sắt théptrên thị trường thế giới và giá xanưg dầu tăng cao

* Năm 2006

Diễn biến kinh tế Việt Nam năm 2006 tiếp tục có sự ổn định, nềnkinh tế đạt mức tăng trưởng 8,17% vươt mục tiêu đã đề ra đầu năm là 8%.Chỉ số giá tiêu dùng CPI năm 2006 tăng 6.6%, thấp hơn nhiều so với mứctăng 8,4% của cùng kỳ năm 2005 Điều đặc biệt là nếu như năm 2005, lạmphát CPI và lạm phát nhóm hàng LTTP đều giảm so với năm trước (8.4% sovới 9.5% và 10.8% so với 15.6%) còn ngược lại lạm phát của các nhómhàng phi LTTP và lạm phát bình quân lại tăng thì bước sang năm 2006, cả 4chỉ tiêu lạm phát CPI, LTTP, phi LTTP và lạm phát bình quân đều giảm sovới năm ngoái

Trang 12

Bảng 4: Diễn biến lạm phát từ năm 2003-2006

Đơn vị: % tăng giảm

ở vật liệu xây dựng, Giáo dục, Dược phẩm y tế, 5 nhóm còn lại là May mặc,

mũ nón giày dép, Thiết bị đồ dùng gia đình, Đồ uống thuốc lá, Văn hoá thểthao giải trí, Hàng hoá dịch vụ khác lại có mức tăng cao hơn năm ngoái

* Năm 2007

Đây là năm đầu tiên Việt Nam là thành viên chính thức của WTO.Đây cũng là năm bắt đầu cho lạm phát cao trở lại Việt Nam Giá tiêu dùng

Trang 13

tháng 12 tăng tới 2,91%, không những cao nhất so với các tháng trong năm(kể cả tháng 2 là tháng có Tết Nguyên đán cũng chỉ tăng 2,17%), mà còntăng cao nhất so với tốc độ tăng trong tháng 12 của mười mấy năm qua Dogiá tháng 12 tăng cao như vậy, nên tính chung 12 tháng (tháng 12.2007 sovới tháng 12.2006), giá tiêu dùng tăng 12,63%, cao nhất trong 11 năm qua

Hầu hết 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều tăng Trong 11nhóm hàng hóa, dịch vụ, nhóm thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong

"rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) giá tăng cao nhất (tháng 12 tăng tới 4,69%,

cả năm tăng tới 21,16%) Nhóm lương thực (nhóm chiếm tỷ trọng lớn thứhai trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) có giá tăng cao thứ ba (tháng 12tăng 2,98%, cả năm tăng 15,4%) Tình hình này tưởng rằng sẽ làm cho nôngdân có lợi, nhưng đó chỉ là "được mùa thì mất giá, được giá thì mất mùa" -điệp khúc lặp đi lặp lại đối với người nông dân, một bộ phận đi trước nhấtnhưng lại yếu thế nhất trong kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập

Giá nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm tiền thuê nhà ở, điện, nước, chấtđốt và vật liệu xây dựng) tháng 12 tăng 3,28%, cả năm tăng tới 17,12% (caothứ hai sau nhóm thực phẩm) Giá vật liệu xây dựng tăng cao đã làm cho giábất động sản tăng kép (tăng do giá đất tăng, tăng do giá xây dựng tăng), khácvới các lần sốt trước chỉ có giá đất tăng Tình hình trên làm cho những ngườithu nhập thấp khó có khả năng "cải thiện" nhà ở

Giá phương tiện đi lại, bưu điện tháng 12 tăng 4,38%, nhưng nếukhông kể giá bưu điện giảm (- 0,77%) thì giá phương tiện đi lại còn tăng caohơn nữa, do giá xăng dầu tăng cao

* Năm 2008

Trang 14

Tiếp tục đà tăng giá của năm 2007, năm 2008 lạm phát được dự báo là sẽgiữ nguyên mức tăng thậm chí là còn có thể cao hơn Tốc độ GDP năm 2008tăng 6,18% so với năm 2007 Trong 6 tháng đầu năm 2008 lạm phát tăngmạnh, từ tháng 7 giảm dần và đạt mức âm vào tháng 3 quý IV Tính chung

cả năm chỉ số CPI tăng 19,89 cao hơn nhiều so với năm 2007

Hình 9: Chỉ số giá tiêu dùng năm tháng đầu năm 2008

(Nguồn: TCTK)

Trong tháng đầu tiên của năm mới 2008, chỉ số giá tiêu dùng trên cảnước tăng 2,38% Đáng chú ý là tốc độ tăng giá tại nông thôn và các vùngkhó khăn về kinh tế lại cao hơn tại các thành phố lớn Giá cả tháng 2 đã tăngvới tốc độ kỷ lục 3,56% và đưa chỉ số giá tiêu dùng trong 2 tháng đầu nămlên gần 6%, trong khi mục tiêu cả năm là kiểm soát CPI ở dưới 8,5%.Chỉ sốgiá tăng mạnh chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng của người dân cả nước đột biếntrong dịp Tết Trong khi các nhóm hàng khác giữ ổn định hoặc tăng nhẹ trêndưới 1%, giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống vọt lên tới 6,18%, làm động lực

Trang 15

đẩy CPI đi lên Trong đó, giá các loại lương thực leo thang 3,2%, và thựcphẩm đắt hơn trước 7,53% Người tiêu dùng sử dụng các dịch vụ ăn uốngngoài gia đình cũng phải trả các khoản chi phí cao hơn trước đến 5,7% Mộtnhóm khác cũng bước vào cuộc đua tăng giá là các dịch vụ văn hóa, thể thao

và giải trí, do nhu cầu vui chơi của người dân tăng cao trong những ngàyTết Giá nhóm này nhích lên 2,34% so với tháng đầu năm Một số nhómhàng và dịch vụ khác có nhu cầu cao trong Tết cũng tăng nhẹ, như đồ uống

và thuốc lá 1.89%; may mặc, mũ nón, giày dép 1,36%; nhà ở 1,39%; phươngtiện đi lại 1,51%

Tháng 3 năm 2008 giá tiêu dùng tăng 2,99% so với tháng trước vàtăng 9,16% so với tháng 12 năm 2007 Tốc độ này tuy thấp hơn tốc độ tăngcủa tháng 2, nhưng là tháng 3 có tốc độ tăng cao nhất trong 18 năm qua.Tháng 4, chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp hơn tháng trước, chỉ ở mức 2,2%,nhưng vẫn góp phần vào mức lạm phát kỷ lục 11,6% trong 4 tháng qua

Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng15,96%, và so với cùng kỳ năm ngoái đã tăng hơn 19,09% Nếu như chỉ sốtiêu dùng tháng 4 đã có dấu hiệu giảm nhiệt thì sang đến tháng 5, do cơn sốtgiá gạo chỉ số CPI lại tăng 3,91% Không giống diễn biến nhóm hàng lươngthực, nhóm hàng thực phẩm chỉ tăng 2,28%, nhà ở - vật liệu xây dựng (gồm

cả chất đốt, giá thuê nhà, điện nước, các loại vật liệu xây dựng quan trọngnhư sắt, thép, ximăng) cũng chỉ tăng 1,2% so với tháng 4-2008 Ngoài ra,nhiều mặt hàng khác đã giảm tốc độ tăng giá khá nhanh như dược phẩm y tếchỉ còn tăng 0,48%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,34% so với tháng 4-

2008 Đa số các mặt hàng, dịch vụ khác đều tăng dưới 1% như thiết bị đồdùng gia đình, văn hóa thể thao giải trí và may mặc mũ nón giày dép

2.Giai đoạn từ năm 2009 – 6 tháng đầu năm 2012

Trang 16

*Năm 2009

Theo đà suy giảm kinh tế cuối năm 2008, tốc độ tăng GDP quý I/2009chỉ đạt 3,14% là quý có tốc độ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây.Nhưng quý II, quý III và quý IV của năm 2009, tốc độ tăngGDP đã tăng lên lần lượt là 4,46%, 6,04% và 6,9% Tínhchung cả năm 2009 GDP tăng 5,32% Tốc độ tăng trưởngkinh tế năm 2009 tuy vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,18% củanăm 2008 nhưng đã đạt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch.Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền kinh tếtăng trưởng âm mà kinh tế nước ta tăng trưởng dương tươngđối cao như trên là 1 thành công lớn Tốc độ tăng GDP quý I

và quý II năm 2009 thấp hơn tốc độ tăng của quý I và quý IInăm 2008 nhưng quý III năm 2009 tăng 6,04% cao hơn tốc

độ tăng 5,98% của quý III/2008 và quý IV năm 2009 tăng6,9% cao hơn tốc độ tăng 5,89 của quý IV/2008 cho thấy nềnkinh tế nước ta đã vượt qua thời kì suy giảm tốc độ tăngtrưởng chứng tỏ các chính sách giải pháp ngăn chặn suygiảm kinh tế của chính phủ đề ra, được triển khai trong nămvừa qua phù hợp với tình hình thực tế đã và đang phát huyhiệu quả

* Năm 2010

Sáng ngày 24/12/2010, Tổng cục thống kê đã công bố chỉ số tiêu

dùng (CPI) tháng 12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm của cả nước 2010 lên 11,75% so với năm 2009 Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm (khoảng 8%).Trong

Trang 17

khi đó, nếu tính bình quân theo từng tháng (cách tính mới của Tổng cục thống kê), chỉ số lạm phát năm 2010 tăng 9,19% so với năm 2009.

Trong tháng 12, CPI nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,31% trong đó nhóm lương thực tăng 4,67%, thực phẩm tăng 3,28% so với tháng 11 Ngànhbưu chính viễn thông giảm nhẹ 0,02% so với tháng trước Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20% Tiếp đó là hàng ăn

(16,18%), nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%) Các ngành Giao thông, hàng hóa & dịch vụ khác, thực phẩm đều có mức tăng trên 10% Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010.Trong năm 2010, chỉ số giá vàng tăng 36,72%, chỉ giá USD tăng 7,63%

Về CPI của các vùng miền, đáng chú ý là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng 12 tăng 2,04%; cao hơn 1,87% của khu vực thành thị

Trang 18

kéo lạm phát cả năm lên mức 18,58% Đây là tháng cuối năm nên có đến

10/11 nhóm hàng trong rổ tính toán chỉ số giá tiêu dùng của Tổng cục Thống

kê đều có mức tăng so với tháng trước Trong đó thủ phạm chính vẫn là nhóm hàng lương thực, với mức tăng cao nhất 1,4% khiến cho chỉ số của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng lên 0,69% so với tháng trước

Tuy nhiên, do nhóm hàng thực phẩm và nhóm ăn uống ngoài gia đình chỉ nhích nhẹ lần lượt là 0,49% và 0,57% nên nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống vẫn chỉ đứng thứ 2 sau nhóm may mặc, mũ nón, giày dép Duy nhất chỉ có nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,06%

Tháng cuối năm nhu cầu đi lại chưa nhiều nhưng cũng ghi nhận mức tăng giá so với tháng trước với 0,16%

Nhu cầu sửa nhà và sắm sửa các vật dụng gia đình để đón Tết tăng mạnh khiến cho mức giá của nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng và nhóm thiết bị và

đồ dùng gia đình tháng này cũng tăng so với tháng trước lần lượt là 0,51%

và 0,68% (đứng thứ 3 và 4 trong nhóm có mức tăng mạnh nhất)

Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, so với năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng cả năm 2011 tăng 18,58% - cao hơn nhiều so với mục tiêu mà Chính phủ đề ra cũng như các dự báo trước đó của các bộ ngành và giới phân tích Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thủ phạm chính đẩy lạm phát tăng caovẫn là giá thực phẩm, lương thực tăng mạnh với mức 29,34% và 22,82% Giao thông đi lại cũng nằm trong nhóm có mức tăng cả năm khá cao gần 16% Nhóm giáo dục được cho là bị tác động mạnh nhất bởi các yếu tố liên quan khác như giá nguyên vật liệu đầu vào, trượt giá chung…nên có mức tăng đến 23,18% so với năm ngoái

Không tính vào rổ hàng hóa tính chỉ số lạm phát song giá vàng được coi là một trong những sự kiện đáng chú ý của năm 2011 khi liên tiếp lập các kỷ

Trang 19

lục mới Theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2011, giá vàng đã tăng 39%

Tỷ giá USD cũng tăng đến 8,47% so với năm 2010

2 năm qua, tăng 2,55% so với tháng 12/2011 và tăng 14,15% so với cùng kỳnăm trước) CPI tháng 4/2012 chỉ tăng 0,05% và là tháng thứ 9 liên tiếp tăngchậm lại so với tháng cùng kỳ (tháng 8/2011 tăng 23,02%; tháng 9/2011tăng 22,42%; tháng 10/2011 tăng 21,59%; tháng 11/2011 tăng 19,83%;tháng 12/2011 tăng 18,13%; tháng 1/2012 tăng 17,27%; tháng 2/2012 tăng16,44%, tháng 3/2012 tăng 14,15%) Tổng cộng CPI trong 4 tháng đầu năm

2012 đã tăng 2,6% so với tháng 12/2011 và tăng 10,54% so với tháng4/2011.CPI tháng 5/2012 tăng trở lại với mức tăng 0,18% so tháng trước vàtăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước CPI tháng 6/2012 đã giảm 0,26% sovới tháng trước, tức sau 38 tháng tăng liên tục (kể từ tháng 3/2009) So với12/2011, CPI tháng này còn tăng 2,52%; so với tháng 6/2011 chỉ còn tăng6,9%, không bằng 1/3 so với đỉnh lạm phát theo năm vào tháng 8/2011.Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2012, mức tăng giá âm duy nhất thuộc

về nhóm dịch vụ bưu chính viễn thông Nhóm hàng hóa tăng mạnh nhất vẫn

là lương thực, thực phẩm, ăn uống, giáo dục và giao thông Nhóm hàng tăngthấp là thuốc và dịch vụ y tế, tiếp đó là văn hóa phẩm, dịch vụ du lịch, giảitrí…Ngoài ra, tỷ giá VND với USD rất ổn định (tăng 0,32%), chỉ số giávàng khá ổn định (tăng 16,24%), tức chỉ bằng khoảng 1/2 so với mức tăng

Trang 20

cùng kì của năm trước Tuy nhiên, CPI tính trong 6 tháng đầu năm 2012 sovới cũng kỳ năm 2011 với mức tới 12,2% vẫn là rất cao, thậm chí gấp tới 3 -

4 lần nếu so với mức lạm phát trung bình của các khu vực và thế giới trongcùng kỳ so sánh

Trang 21

CHƯƠNG III TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT

I Mối quan hệ lạm phát, thất nghiệp lãi suất, tiền tệ

1.Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp:

Chúng ta đều biết rằng để kiềm chế lạm phát Nhà nước sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, tức là giảm mức cung tiền và tăng lãi suất , nhưng phảichấp nhận tỷ lệ thất nghiệp tăng lên Nhưng thực tế , thì lý thuyết đó chỉ phù hợp trong 1 thời gian ngắn

Trong dài hạn , tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên phụ thuộc vào thuộc tính thị trườnglao động còn tỷ lệ lạm phát phụ thuộc trước hết vào sự gia tăng cung tiền ,

do đó lạm phát và thất nghiệp không liên quan nhiều đến nhau Lúc này các chính sách tác động tới Tổng cầu chỉ ảnh hưởng tới các biến danh nghĩa ( mức giá, tỷ lệ lạm phát), mà không có ý nghĩa với các biến thực tế ( sản lượng , tỷ lệ thất nghiệp)

Năm 2005, lực lượng lao động tại VN có việc làm là 43,46 triệu người, chiếm 97,9% lực lượng lao động cả nước.Tỉ lệ tăng trưởng việc làm 2,67%;

cơ cấu việc làm tiếp tục chuyển dịch tích cực: Lao động trong khu vực dịch

vụ chiếm 25,33%; công nghiệp và xây dựng chiếm 17,88%; nông nghiệp chiếm 56,79%… - Lao động qua đào tạo chiếm khoảng 25%, trong đó 19% qua đào tạo nghề

Theo đánh giá chung, thực trạng và xu thế phát triển lao động-việc là giai đoạn 2001-2005 của nước ta có nhiều chuyển biến tích cực về đào tạo, giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, tăng tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động …

Thực tế các DN trong các khu công nghiệp đã phải cắt giảm lao động do suy

Trang 22

giảm kinh tế nhưng không phải tất cả những lao động này đều rơi vào tình trạng thất nghiệp mà phần lớn họ về quê tìm việc làm mới, có thể không phùhợp nhưng vẫn có thu nhập, dù thấp

Chính phủ đã có những giải pháp chống suy giảm kinh tế, duy trì tăng

trưởng và bảo đảm an sinh xã hội; giải pháp kích cầu đầu tư, tiêu dùng , hoàn thiện bảo hiểm thất nghiệp để hỗ trợ lao động tìm việc, nâng cao chất lượng lao động, cắt giảm thuế tiêu thụ, , chú trọng đầu tư cho giáo dục, đào tạo nghề cho bà con ở vùng nông thôn, mở rộng xuất khẩu lao động, hạn chếtăng dân số để thúc đẩy sản xuất phát triển trở lại ,tạo việc làm cho ngườilao động

2.Quan hệ lạm phát và lãi suất

Hiệu ứng fícher do nhà kinh tế học irving físher đưa ra vào thời kì khủnghoảng 1930-1939 Đây là nội dung quan trọng trong thuyết số lượng tiền tệcủa ông nhằm mục đích lí giải hiện tượng khủng hoảng kinh tế ông chorằng nguyên nhân chủ yếu của Đại khủng hoảng là tín dụng dễ dãi dẫn đến

nợ nần quá mức gây ra đầu cơ và các bong bóng xà phòng và khi bongbóng xà phòng bị vỡ dẫn đến tài sản giảm giá, đói tín dụng , ảnh hưởng cácngành sản xuất dẫn đến giảm phát

Hiệu ứng fsher mô tả mối quan hệ giữa tỉ lệ lạm phát và hai loại lãi suất làlãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế khi tỉ lệ lạm phát tăng dẫn đến lãisuất danh nghĩa tăng lên cùng một tỉ lệ trong khi lãi suất thực tế không đổilãi suất danh nghĩa = lãi suất thực tế + tỉ lệ lạm phát

Ví dụ , ngân hàng trả cho khoản tiết kiệm mà bạn gửi ttrong một năm vớilãi suất danh nghĩa 8%, tỉ lệ lạm phát trong thời gian đó là 6% Lãi suấtthực tế mà bạn nhận được chỉ là 2% Bởi vì theo hiệu ứng físher 8%-6%=2% Vì vậy khi lạm phát tăng 1% thì lãi suất danh nghĩa cũng tăng 1%

Ngày đăng: 19/05/2015, 20:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Diễn biến lạm phát từ năm 2003-2006 - phân tích diễn biến lạm phát của việt nam giai đoạn từ 2004 đến 2014
Bảng 4 Diễn biến lạm phát từ năm 2003-2006 (Trang 12)
Hình 9: Chỉ số giá tiêu dùng năm tháng đầu năm 2008 - phân tích diễn biến lạm phát của việt nam giai đoạn từ 2004 đến 2014
Hình 9 Chỉ số giá tiêu dùng năm tháng đầu năm 2008 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w