1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

99 1,3K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 687 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đồng thời với các chức năng quản lý khác trên cùng bộ máy thống nhất.Nhưng khi nhu cầu này đã phát triển lên đến một trình độ cao thì kiểm tra,kiểm soát cần thiết phải tách ra thành một

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống ngân hàng trong bất kỳ nền kinh tế nào cũng giữ vai trò quantrọng trong quá trình ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Với tư cách là mộtđịnh chế tài chính trung gian, hệ thống ngân hàng có vai trò điều tiết nền kinh

tế thông qua các hoạt động nghiệp vụ của mình Tính hiệu quả trong hoạtđộng kinh tế phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hoạch định và thực thi chínhsách tiền tệ một cách có hiệu quả và chất lượng hoạt động của hệ thống ngânhàng Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh ngân hàng lại là loại hình kinh doanhchứa đựng nhiều rủi ro, việc đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàngkhông chỉ được các nhà kinh doanh ngân hàng quan tâm mà còn là mối quantâm của người gửi tiền, của các cơ quan quản lý Nhà nước, của cả xã hội vìbất kỳ một sự phá sản nào của Ngân hàng đều gây ảnh hưởng dây chuyền đếnnền kinh tế

Để ngăn ngừa những tổn thất và các rủi ro có thể xảy ra trong quá trìnhhoạt động kinh doanh ngân hàng, ngoài các biện pháp thanh tra, giám sát củacác cơ quan quản lý Nhà nước, đòi hỏi các ngân hàng phải có biện pháp hữuhiệu tự bảo vệ mình Biện pháp quan trọng và có ý nghĩa thiết thực nhất vớicác ngân hàng thương mại là phải thiết lập, củng cố hệ thống kiểm soát nội bộcủa đơn vị mình

Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam là một trongnhững ngân hàng lớn và có uy tín nhất tại Việt Nam, trải qua 45 năm hoạtđộng và là Ngân hàng thương mại quốc doanh đầu tiên thực hiện chào bán cổphiếu lần đầu ra công chúng vào tháng 12/2007 Bề dày lịch sử phát triển vàhoạt động đã khẳng định vị thế của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoạithương Việt Nam và Ngân hàng cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của phát

Trang 2

triển bền vững, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập WTO và trong quá trìnhchuyển đổi loại hình sở hữu hiện nay Ý thức được tầm quan trọng của hệthống kiểm soát nội bộ trong sự phát triển của NH TMCP NTVN, đề tài:

“Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” đã được lựa chọn nghiên cứu.

II Mục đích

Trên cơ sở hệ thống hoá và phân tích về lý luận và kinh nghiệm hoạtđộng kiểm soát nội bộ nói chung và tại các Ngân hàng thương mại nói riêng,luận văn phân tích đánh giá thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ tại NHTMCP NTVN, đưa ra những giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạtđộng kiểm soát nội bộ tại đơn vị

III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là hoạt động kiểm soát nội bộ của NH TMCP

Ngoại thương VN

- Phạm vi: Luận văn nghiên cứu chủ yếu về hoạt động kiểm soát nội bộ của

NH TMCP NTVN Về thời gian: Luận văn tập trung xem xét, đánh giá thựctrạng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của NHNTVN từ năm 2005-2007

IV Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sửlàm phương pháp chủ đạo, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: thống

kê, tổng hợp, phân tích, dùng hệ thống sơ đồ bảng biểu để trình bày

V Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Kiểm soát nội bộ và chất lượng kiểm soát nội bộ trong Ngân

hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân

hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Trang 3

CHƯƠNG 1

KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT NỘI

BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NHTM

1.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ

1.1.1.1 Khái niệm

Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng quan trọng của hoạt động quản lý

và được thực hiện bởi công cụ chính yếu là hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn

vị Các nhà quản lý, lãnh đạo của doanh nghiệp cần và có trách nhiệm cungcấp cho các cổ đông, cho các cơ quan quản lý Nhà nước, cho những nhà đầu

tư tiềm năng những thông tin tài chính trên cơ sở hợp thời Một hệ thống baogồm nhiều chế độ và thể thức đặc thù được thiết kế để cung cấp cho các nhàquản lý sự bảo đảm hợp lý là các mục tiêu và mục đích quan trọng đối vớidoanh nghiệp Những chế độ và thể thức này được gọi là các quá trình kiểmsoát, và kết hợp lại hình thành nên cơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.Theo quan điểm kinh tế học hiện đại, quản lý kinh tế được chia thànhbốn chức năng cơ bản là: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, kiểmsoát Trong đó, kiểm tra, kiểm soát không chỉ được coi là một kênh của quản

lý mà được thực hiện ở tất cả các khâu trong quá trình quản lý Có nghĩa là,kiểm tra, kiểm soát giúp cho nhà quản lý đánh giá được hiệu quả của các chứcnăng khác trong toàn bộ quá trình hoạt động của mình

Cùng với sự phát triển của kinh tế học, hoạt động quản lý ngày càng pháttriển, từ hoạt động riêng rẽ, biệt lập tương đối đến kết hợp nhiều hoạt độngkiểm tra, kiểm soát và dần tiến tới hoạt động độc lập Khi nhu cầu kiểm tra,kiểm soát chưa cao, chưa phức tạp thì kiểm tra, kiểm soát được thực hiện

Trang 4

đồng thời với các chức năng quản lý khác trên cùng bộ máy thống nhất.Nhưng khi nhu cầu này đã phát triển lên đến một trình độ cao thì kiểm tra,kiểm soát cần thiết phải tách ra thành một bộ máy riêng, có tính chất chuyênmôn độc lập.

Hình thức đơn giản nhất của kiểm tra, kiểm soát chính là hoạt động tựkiểm tra, kiểm soát phục vụ quản trị nội bộ doanh nghiệp hay nói cách khác

đó là hoạt động kiểm soát nội bộ Nghĩa là, kiểm soát nội bộ là hoạt động tựthân của đơn vị, do đơn vị tự lập ra, tự tiến hành các thủ tục và các bước kiểmsoát nhằm tự chấn chỉnh trong nền nếp hoạt động của mình Hoạt động kiểmsoát nội bộ sẽ hiệu quả khi chúng được hình thành và thực hiện theo một hệthống (hệ thống kiểm soát nội bộ)

Theo Hiệp hội kế toán Anh quốc (EAA – England Association of

Accountant): “ Một hệ thống kiểm soát toàn diện có kinh nghiệm tài chính vàcác lĩnh vực khác được thành lập bởi Ban quản lý nhằm:

- Đảm bảo các hoạt động kinh doanh của đơn vị phải được tiến hànhtrong trật tự và có hiệu quả

- Đảm bảo tuyệt đối tuân thủ các đường lối kinh doanh của Ban quản trị

- Giữ tài sản an toàn

- Đảm bảo tính toàn diện và chính xác của số liệu hạch toán

Những thành phần riêng lẻ của Hệ thống kiểm soát nội bộ được coi làhoạt động kiểm tra nội bộ”

Theo Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (American Institute of Certified

Public Accountant – AICPA): “ Kiểm soát nội bộ là một cơ cấu tổ chức cộngvới toàn bộ biện pháp, giải pháp kết hợp trong kinh doanh nhằm:

- Bảo đảm an toàn tài sản

Trang 5

- Kiểm soát tính chính xác, tin cậy của số liệu hạch toán.

- Thúc đẩy hiệu quả trong kinh doanh

- Khuyến khích sự tuân thủ đường lối quản lý đã được chấp thuận.”

Theo Liên đoàn kế toán Quốc tế (The International Federation of

Accountant - IFAC) : “Hệ thống kiểm tra của toàn đơn vị là toàn bộ cácphương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp phải tuântheo Hệ thống kiểm tra nội bộ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêumột cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả tôn trọngcác quy chế quản lý, giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm vàgian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời,đáng tin cậy”

Theo Luật các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam, tổ chức tín dụng phải thiết

lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ thuộc bộ máy điều hành, giúp Tổnggiám đốc điều hành thông suốt, hiệu quả và đúng pháp luật mọi hoạt độngnghiệp vụ của Tổ chức tín dụng Trong quy chế về tổ chức và hoạt động kiểmtra, kiểm toán nội bộ trong các tổ chức tín dụng tại Việt Nam “Kiểm tra, kiểmtoán nội bộ (gọi chung là kiểm tra nội bộ) trong các tổ chức tín dụng là việcthực hiện các phương pháp giám sát, kiểm tra và kiểm toán nội bộ nhằm: bảođảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật, các quy chế quản lý củangành và quy định nội bộ của Tổ chức tín dụng; hạn chế rủi ro trong hoạtđộng và bảo vệ an toàn tài sản; đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của sốliệu hạch toán”

Như vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các chính sách, các thủ tụckiểm soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều hành toàn bộ các hoạt độngcủa đơn vị đảm bảo các mục tiêu:

- Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán

Trang 6

- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin.

- Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp lý, cácchính sách liên quan đến hoạt động của đơn vị

- Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý

* Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán:

Tài sản của đơn vị bao gồm:

- Các loại tài sản được ghi trên bảng cân đối kế toán (tài sản cố định, cáckhoản cho vay, đầu tư,…)

- Các loại tài sản phi vật chất, tài sản vô hình như: uy tín doanh nghiệp,thương hiệu, số lượng và quan hệ khách hàng, lợi thế thương mại, quan hệtrong bộ máy lãnh đạo, giữa lãnh đạo với nhân viên, chính sách thống nhấttrong công tác điều hành,…

Tài sản của đơn vị có thể bị mất mát, lạm dụng hoặc hư hại do cố ý hoặc

vô ý nếu không được bảo vệ với các biện pháp kiểm soát thích hợp Các quytrình, các biện pháp tổ chức, quy chế, những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ sẽđược áp dụng để bảo vệ tài sản của doanh nghiệp

* Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:

Nhà quản lý phải có các thông tin chính xác để điều hành các mặt củahoạt động kinh doanh Trong đó, thông tin kinh tế tài chính là thông tin quantrọng cho việc hình thành và ra quyết định kinh tế của các nhà quản lý Cácthông tin được sử dụng để ra các quyết định kinh doanh phải đảm bảo trungthực, khách quan, không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích, cụ thể là:

- Độ tin cậy của cá tài liệu tài chính, kế toán do bộ phận kế toán chuẩn bị,

do Giám đốc ký duyệt hoặc báo cáo với Ban giám đốc, với Hội đồng quản trị

- Tính thích đáng, phù hợp của các thông tin tài chính, kế toán Cácthông tin này phải phản ánh đầy đủ, trung thực và khách quan đối với các hoạtđộng kinh tế

Trang 7

* Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp lý, các chính sách có liên quan đến hoạt động của đơn vị.

Cơ cấu kiểm soát nội bộ được thiết kế để mang lại sự bảo đảm chắc chắncác quyết định và chế độ quản lý được thực hiện đúng quy định của pháp luật

và các quy định nội bộ, đồng thời giám sát được mức hiệu quả của các chínhsách áp dụng Nhân viên của doanh nghiệp phải tuân thủ các chính sách,quyết định nội bộ, cụ thể là:

- Phát hiện kịp thời những rắc rối trong kinh doanh để hoạch định vàthực hiện các biện pháp đối phó

- Ngăn chặn, phát hiện các sai phạm và các gian lận trong kinh doanh

- Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức về các nghiệp vụcủa hoạt động kinh doanh

- Lập các báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầupháp định có liên quan

* Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý:

Các quá trình kiểm soát trong mọi tổ chức đều nhằm ngăn ngừa sự lặplại không cần thiết các nỗ lực và sự lãng phí trong mọi lĩnh vực kinh doanh,nhằm ngăn cản sự sử dụng không hiệu quả các nguồn tiềm năng Định kỳ, nhàquản lý đánh giá kết quả hoạt động để nâng cao hiệu năng quản lý, đảm bảo

cơ cấu bộ máy đơn vị có đủ năng lực điều khiển, chỉ huy đơn vị

Như vậy, kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại có thể khái quátnhư sau:

- Mục tiêu của hoạt động kiểm soát nội bộ không chỉ giới hạn trong việcbảo vệ tài sản hay đảm bảo tính tin cậy của các thông tin tài chính mà còn baotrùm mọi mặt trong chính sách, biện pháp quản lý, cơ chế hoạt động của ngânhàng thương mại

Trang 8

- Hoạt động kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại trước hết làcông việc của bộ máy lãnh đạo (Ban điều hành, Hội đồng quản trị) Theo đó,các nhà lãnh đạo phải thực sự có trách nhiệm trong việc hoạch định, vận dụngmột cách nhất quán công tác kiểm soát nội bộ Trách nhiệm này hàm chứaviệc họ phải đảm bảo duy trì một cơ chế kiểm soát tích cực.

- Hoạt động kiểm soát nội bộ phải được coi như công cụ gắn liền, hoànhập vào toàn bộ quá trình tác nghiệp của ngân hàng chứ không phải là mộthoạt động song song hay là một biện pháp bổ sung cho công tác quản trị kinhdoanh theo ý muốn chủ quan của bất kỳ nhà chức trách nào Hơn thế, mọi quytrình, thủ tục kiểm soát nội bộ phải là bộ phận không thể tách rời của quátrình kinh doanh ngân hàng thương mại

- Hoạt động kiểm soát nội bộ là một thể thống nhất, cần thiết phải được tách

ra thành hoạt động riêng, một bộ máy riêng có tính chất chuyên môn độc lập.Dựa trên các định nghĩa về kiểm soát nội bộ của các tổ chức quốc tế vàcác phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ trong ngânhàng thương mại như sau:

“ Kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại là một hệ thống tổ chức

bộ máy cùng với toàn bộ các chính sách, các biện pháp của ngân hàng thươngmại được hoạch định bởi Hội đồng quản trị và Ban giám đốc, được vận hànhmột cách đồng bộ, đúng pháp luật nhằm:

- Bảo đảm an toàn tài sản, vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại

- Kiểm tra, giám sát tính chính xác, độ tin cậy của các số liệu hạch toánkinh doanh, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các sai lầm, thiếu sót có thể xảy

ra trong quá trình tác nghiệp của các bộ phận hoạt động trong ngân hàngthương mại

- Thúc đẩy kinh doanh, đảm bảo mang lại hiệu quả kinh tế bền vững nhất

Trang 9

- Bảo đảm tuân thủ đường lối, chính sách về quản lý kinh tế của nhànước, chế độ, thể lệ về nghiệp vụ của ngân hàng nhà nước và của bản thânngân hàng thương mại đó”.

Như vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống bao gồm các quychế, những biện pháp, những thủ tục kiểm soát tài chính và phi tài chính dongân hàng xây dựng và vận hành nhằm đảm bảo việc tôn trọng các quy chếquản lý, giữ gìn tài sản an toàn, duy trì chế độ ghi chép kế toán đầy đủ, chínhxác, lập báo cáo tài chính đúng thời hạn

1.1.1.2 Các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ

Các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ đều nhằm ngăn ngừa, loại bỏcác sai sót trong quá trình ghi nhận nghiệp vụ kinh tế phát sinh, 7 mục tiêu cụthể là:

- Các nghiệp vụ kinh tế phải có căn cứ hợp lý

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi sổ một cách đầy đủ

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được đánh giá đúng đắn

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phân loại đúng đắn

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phản ánh đúng hạn

- Các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi đúng đắn vào sổ phụ và đuợc tổnghợp chính xác

Như vậy, kiểm tra, kiểm soát nội bộ là những hệ thống có chức năng xácminh, đánh giá, nhận xét về các đối tượng của kiểm tra, kiểm soát Hoạt độngkiểm tra, kiểm soát nảy sinh từ nhu cầu thực tế của hoạt động quản lý Cácyếu tố của hệ thống kiểm tra, kiểm soát bao gồm tất cả các yếu tố dối chiếu,xem xét, xác minh đối tượng của quản lý Tổ chức kiểm tra, kiểm soát thểhiện tính khoa học và tính nghiệp vụ kỹ thuật về việc thực hiện các chiến lược

Trang 10

và bước đi cụ thể trong việc hoạch định chính sách và tổ chức bộ máy kiểmtra, kiểm soát trong từng cá thể doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế.

1.1.1.3 Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ

Đối với công tác kiểm toán, Cơ quan kiểm toán nhà nước đã ban hành hệthống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, trong đó quy định: “Khi xác định phạm

vi, thời gian, nội dung phương pháp kiểm toán, kiểm toán viên phải nghiêncứu đầy đủ về hệ thống kiếm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán” Thựchiện chuẩn mực này giúp kiểm toán viên đánh giá độ tin cậy của hệ thốngkiểm soát nội bộ phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch và thu thập các bằngchứng kiểm toán thích hợp Thực tế, hoạt động kiểm soát nội bộ có mặt ở hầuhết các yếu tố quan trọng liên quan đến quá trình kiểm toán Nếu hệ thốngkiểm soát nội bộ hoạt động tốt và có độ tin cậy cao thì có thể thu hẹp phạm vi,nội dung và khối lượng công việc kiểm toán và tiết kiệm chi phí kiểm toán.Ngược lại, nếu đánh giá không đúng về tình hình, độ tin cậy của hệ thốngkiểm soát nội bộ thì kiểm toán viên có thể bỏ sót những nội dung trọng yếu vàkhông tránh khỏi những rủi ro kiểm toán Do vậy, những hiểu biết và cáchđánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongquá trình kiểm toán

1.1.2 Cơ cấu hệ thống kiểm soát nội bộ

Hoạt động kiểm soát nội bộ không phải là hoạt động riêng lẻ mà trongthực tế nó cần phải tiến hành theo một hệ thống các yếu tố có tác động tương

hỗ lẫn nhau Chính sự vận hành các yếu tố này trong hệ thống theo những quyluật nhất định đã đưa toàn bộ hệ thống đạt tới mục tiêu định trước Cơ cấu của

hệ thống kiểm soát nội bộ gồm:

(1)Môi trường kiểm soát

(2)Hệ thống kế toán

(3)Các thể thức kiểm soát

(4)Giám sát độc lập ngoài kiểm soát

Trang 11

Bảng 1.1: Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ

Môi trường kiểm soát Hệ thống kế

toán Các thể thức kiểm soát

Quan điểm điều hành của Ban quản trị Có căn cứ hợp lý Cách ly đầy đủ về mặt

trách nhiệm

Cơ cấu tổ chức Sự phê chuẩn Các thể thức phê chuẩn

đúng đắn Các phương pháp để truyền đạt sự

phân công quyền hạn và trách nhiệm Tính đầy đủ

Chứng từ và sổ sách đầy

đủ Các phương pháp

kiểm soát của Ban quản trị Sự đánh giá

Kiểm soát vật chất đối với tài sản và sổ sách Các thủ tục và chính sách nhân viên Sự phân loại Kiểm soát độc lập việc

thực hiện Các ảnh hưởng bên ngoài Tính thời gian

Sự chuyển sổ và

sự tổng hợp

1.1.2.1 Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát của đơn vị là một hệ thống các nhân tố có tínhchất là môi trường chung tác động tới việc thiết kế, xây dựng và tổ chức kiểmsoát thực hiện các chính sách, chế độ, quy định của đơn vị Môi trường kiểmsoát thể hiện thái độ, khả năng, sự nhận biết và các hoạt động của người quản

lý, các chính sách, thủ tục kiểm soát, tính trung thực và giá trị đạo đức, cơ cấutrách nhiệm và sự phân chia quyền lực, chính sách về nhân sự

Quan điểm điều hành của Ban quản trị:

Quan điểm điều hành của Ban quản trị có ảnh hưởng rất lớn đến cácchính sách, chế độ, các quy định và cách thức kiểm soát tại đơn vị, bởi vì:chính các nhà quản trị danh nghiệp là người đưa ra các quyết định và phêchuẩn trực tiếp các chính sách, thủ tục áp dụng tại đơn vị Nếu người quản lýcao nhất coi trọng công việc kiểm soát thì các nhân viên trong đơn vị sẽ tuânthủ nghiêm túc và thận trọng quy chế quản lý của đơn vị đã xây dựng và

Trang 12

ngược lại Nói cách khác, nếu những người quản lý cao cấp được đào tạochính quy, đúng chuyên ngành, họ hiểu biết công việc kiểm soát cùng với hệthống các chính sách thủ tục kiểm soát được ban hành đầy đủ, thì đó là biểuhiện của người quản lý có năng lực, quan tâm và coi trọng công tác kiểm soát.

Cơ cấu tổ chức:

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là tổng hợp các bộ phận được chuyênmôn hoá với những trách nhiệm và quyền hạn nhất định có mối liên hệ mậtthiết với nhau nhằm thực hiện các chức năng khác nhau trong quản lý Nếu mộtđơn vị có được một cơ cấu tổ chức hợp lý thì thường tạo ra được một môitrường kiểm soát tốt, bởi lẽ, nó đảm bảo cho một hệ thống thông suốt từ trênxuống dưới trong việc ban hành các quy định cũng như việc triển khai thựchiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chúng từ trên xuống các đơn vị cơ sở

Công tác lập kế hoạch:

Lập kế hoạch là một trong các chức năng quan trọng của nhà quản lý, đó

là quá trình xác lập các mục tiêu của tổ chức và các phương thức để thực hiệnnhững mục tiêu đó Kế hoạch sẽ được thực hiện dựa trên những tính toán banđầu cho cả một thời kỳ nhất định Kế hoạch đó sẽ xác định các tiêu chuẩn cơbản, quan trọng nhất nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho mọi hoạtđộng của đơn vị trong đó có hoạt động kiểm soát nội bộ Vì vậy, nếu nhàquản lý thực hiện tốt khâu này thì việc lập kế hoạch sẽ trở thành công cụ kiểmsoát hữu hiệu thông qua việc xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch và so sánh sốliệu thực hiện trong thực tế với các mục tiêu ban đầu

Trang 13

Thực tế đã chứng minh rằng, một đội ngũ nhân viên kém năng lực,không trung thực sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp trở nên rối ren, kémhiệu quả, hoạt động kiểm soát cũng không đạt được kết quả cao Ngược lại,một đội ngũ nhân viên trung thực, có trình độ có thể làm cho một chu trìnhkiểm soát còn nhiều hạn chế cũng sẽ thu được kết quả theo các mục tiêu đãđịnh trước Trong thực tế, nhân sự là yếu tố quan trọng nhưng rất nhạy cảm,

vì thế, nó đòi hỏi các nhà quản trị phải thực sự tinh tế trong việc giải quyếtvấn đề này

Các ảnh hưởng bên ngoài:

Các ảnh hưởng bên ngoài có tác động tới hoạt động kiểm soát nội bộ cóthể kể đến là: các yếu tố về môi trường pháp lý, đường lối phát triển và bộmáy quản lý ở tầm vĩ mô…Các nhân tố này trực tiếp hoặc gián tiếp ảnhhưởng tới hoạt động của đơn vị, vì thế nó có ảnh hưởng gián tiếp tới môitrường kiểm soát của doanh nghiệp

1.1.2.2 Hệ thống kế toán

Hệ thống kế toán là hệ thống thông tin và kiểm tra tài sản, nguồn hìnhthành tài sản và sự vận động của tài sản bằng các phương pháp kế toán Hệ thống

kế toán gồm: hệ thống chứng từ, sổ sách, báo cáo và các tài khoản kế toán

Mục đích của hệ thống kế toán doanh nghiệp là nhận biết, thu thập, phânloại, phân tích, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của tổ chức

đó cho các đối tượng quan tâm trong doanh nghiệp

Một hệ thống kế toán được coi là có hiệu quả phải là hệ thống thoả mãncác mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ: hiệu lực, đầy đủ, định giá, phêchuẩn, phân loại, đúng kỳ, chuyển sổ và tổng hợp

Do bất kỳ một doanh nghiệp nào sử dụng hệ thống sổ sách kế toán đểphân loại, phân tích, đánh giá, báo cáo cũng là để tự kiểm tra, giám sát mình

Trang 14

Vì thế, hệ thống kế toán luôn là một bộ phận quan trọng của hệ thống kiểmsoát nội bộ.

- Kiểm soát xử lý: là loại kiểm soát được đặt ra để xử lý các giao dịch

- Kiểm soát bảo vệ tài sản: là các biện pháp, quy chế kiểm soát nhằm bảođảm sự an toàn của tài sản và các thông tin trong đơn vị

1.1.2.4 Hệ thống kiểm toán nội bộ

Hệ thống kiểm toán nội bộ là hệ thống trực thuộc lãnh đạo cao nhất củađơn vị, thực hiện chức năng kiểm toán các nghiệp vụ hàng ngày của đơn vị vàkiểm toán bảng khai tài chính của các đơn vị trực thuộc Đội ngũ kiểm toánviên nội bộ có ảnh hưởng lớn tới chất lượng của bộ phận kiểm soát nội bộ,một đội ngũ nhân viên đầy đủ cả về số lượng và chất lượng có thể giúp doanhnghiệp giảm bớt chi phí về việc thuê kiểm toán viên bên ngoài bằng cách trựctiếp cung cấp sự giúp đỡ cho kiểm toán viên thuê ngoài

1.1.3 Nguyên tắc kiểm soát nội bộ

Hoạt động kiểm soát nội bộ phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

1.1.3.1 Nguyên tắc bất kiêm nhiệm

Nguyên tắc này được thực hiện nhằm tách biệt trách nhiệm đối với một

số hành vi khác nhau trong quá trình quản lý Trong đó, sự tách biệt về mặttrách nhiệm là một nguyên tắc cơ bản nhằm ngăn ngừa cả sai phạm cố ý và vô

ý, tránh được đến mức tối đa việc lạm dụng quyền hạn trong quá trình hoạtđộng Nguyên tắc này gồm 3 nội dung chính:

Trang 15

- Cách ly quyền phê chuẩn các nghiệp vụ kinh tế với việc bảo quản tàisản có liên quan nhằm tránh sự lạm dụng quyền hạn để sử dụng nguồn lựcmột cách tuỳ tiện.

Trong vấn đề này, tốt nhất là có sự tách biệt về chức năng và nhiệm vụcủa người phê duyệt các nghiệp vụ kinh tế phát sinh với người chịu tráchnhiệm về các tài sản có liên quan Sở dĩ phải có sự tách biệt như vậy là vì nếu

để một người vừa phê chuẩn nghiệp vụ phát sinh, vừa kiểm soát tài sản thìmức độ gian lận trong tổ chức sẽ rất cao Nói cách khác, mức độ tin cậy củacác nghiệp vụ kinh tế giảm xuống trong trường hợp nghiệp vụ đó không đượccách ly đầy đủ về mặt trách nhiệm

- Cách ly việc bảo quản tài sản với kế toán

Nếu không có sự tách biệt của hai chức năng: bảo quản tài sản và ghi sổ

kế toán thì thường dẫn tới hiện tượng có sự chênh lệch giữa số thực tế phátsinh và số ghi sổ kế toán do những cố ý của người làm công tác kế toán Ví

dụ, nếu để thủ quỹ ghi sổ kế toán thì rất có thể anh ta sẽ biển thủ công quỹ vàghi tăng lên cho một khoản mục chi nào đó trong sổ kế toán

- Cách ly những chức năng thực hiện nghiệp vụ với những chức năngkiếm soát nghiệp vụ nhằm phát huy tác dụng của công tác kiểm soát

Nếu cùng một con người thực hiện cả hai chức năng trên thì cũng khôngcần phải phân biệt rạch ròi giữa công tác kế toán và công tác kiểm soát Vànhư thế, việc thực hiện nghiệp vụ sẽ trở nên thiếu nghiêm túc, làm phát sinhcác sai phạm trong quá trình hoạt động của tổ chức

1.1.3.2 Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn đúng đắn

Một nhà quản lý dù có tài giỏi đến đâu cũng không thể trực tiếp quyếtđịnh được mọi vấn đề, và càng không thể nói rằng các vấn đề đó đều đúngđắn Vì vậy, việc uỷ quyền bớt một số chức năng, nhiệm vụ cho cấp dướinhằm bảo đảm cho hoạt động của tổ chức trở nên có hiệu quả hơn là một số

Trang 16

vấn đề có tính chất tất yếu Tuy nhiên, việc uỷ quyền như thế nào phụ thuộcvào từng đơn vị cụ thể Chế độ uỷ quyền thực hiện dưới hai hình thức: Uỷquyền trong cả thời ký theo một cơ chế nhất định và uỷ quyền chỉ thực hiệntrong một khoảng thời gian nhất định.

Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn cho thấy, các nghiệp vụ kinh tế phátsinh khác nhau sẽ được phê chuẩn bởi những người khác nhau tuỳ thuộc vàothẩm quyền hay chức vụ của họ Sự phê chuẩn này có thể là sự phê chuẩnchung hoặc sự phê chuẩn cụ thể Một sự phê chuẩn chung có nghĩa là banquản trị xây dựng nên các chuẩn mực, các chính sách để tổ chức phải tuântheo Các cấp dưới được học tập để thi hành những phê chuẩn chung bằngcách tán thành các nghiệp vụ kinh tế trong phạm vi giới hạn của chính sách đã

đề ra Sự phê chuẩn cụ thể phải được thực hiện riêng cho từng nghiệp vụ kinh

tế Ví dụ, sự phê chuẩn các giới hạn tín dụng đối với khách hàng là sự phêchuẩn chung thì việc duyệt cho vay từng lần được coi là sự phê chuẩn cụ thể

Sự phê chuẩn cụ thể có thể được người quản lý cấp cao uỷ quyền chongười quản lý cấp thấp hơn và việc uỷ quyền tạo ra những ưu thế lớn trongquản lý Trong trường hợp nhà quản lý cấp cao không có mặt kịp thời thì cóthể uỷ quyền cho cấp dưới phê chuẩn những giới hạn đuợc cho phép Tuynhiên, trong trường hợp nào thì cá nhân hay nhóm người được phê chuẩncũng phải giữ một vị trí tương xứng với bản chất và ý nghĩa của nghiệp vụkinh tế phát sinh

1.1.3.3 Nguyên tắc phân công, phân nhiệm

Theo nguyên tắc này, công việc và trách nhiệm cần được phân chia racho nhiều người hoặc nhiều bộ phận của tổ chức với mục đích là không đểmột cá nhân hay một bộ phận nào được thực hiện hoàn chỉnh một công việc,

từ đó mà tránh đuợc sai sót

Trong phân công, phân nhiệm cần tránh 2 xu hướng cực đoan là quá tậptrung hoặc quá phân tán Quá tập trung dẫn đến lạm quyền, quá phân tán dễ

Trang 17

dẫn đến những quyết định trong quản lý không đáp ứng được yêu cầu kịp thờihay chuẩn xác, dẫn tới các thông tin không được cung cấp kịp thời cho nhàquản lý Việc phân công, phân nhiệm phù hợp sẽ làm tăng hiệu lực quản lý vàhiệu quả trong công việc.

1.1.4 Nội dung của kiểm soát nội bộ

1.1.4.1 Kiểm soát quy trình, nghiệp vụ

Kiểm soát nghiệp vụ là việc thẩm tra các trình tự và phương pháp tácnghiệp ở bộ phận hoặc đơn vị kiểm soát nhằm đánh giá tính hiệu quả của cácnghiệp vụ; từ đó đưa ra những kiến nghị để cải tiến và hoàn thiện các hoạtđộng của doanh nghiệp

1.1.4.2 Kiểm soát tuân thủ

Kiểm soát tuân thủ là việc xem xét, đánh giá sự tuân thủ của các thủ tục,

các nguyên tắc, các quy định pháp lý của Nhà nước và các chính sách của tổchức

Mục đích của kiểm soát tuân thủ là nhằm đảm bảo giữ vững kỷ cương,

nề nếp trong công tác quản lý kinh tế - tài chính của đơn vị

1.1.4.3 Kiểm soát chứng từ, sổ sách và các báo cáo tài chính

Kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị là việc kiểm tra

và xác nhận tính kịp thời, trung thực, đầy đủ, khách quan và tin cậy của báocáo tài chính

- Chứng từ là vật mang tin dùng để chứng minh cho tính có thật của cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh Chứng từ phải luôn đầy đủ để đảm bảo cung cấpthông tin cần thiết một cách hợp lý cho các đối tượng quan tâm Một hệ thốngchứng từ, sổ sách hợp lý cần phải được ghi chép dựa vào các nguyên tắc sau:

- Chứng từ phải được đánh số hiệu liên tiếp để tạo điều kiện cho việctheo dõi

- Thời gian lập chứng từ và ghi sổ phải kịp thời

Trang 18

- Công tác ghi chép trên sổ sách, chứng từ phải rõ ràng, dễ hiểu.

- Chứng từ, sổ sách phải được thiết kế cho phù hợp với các hoạt độngthực tế của doanh nghiệp

Đối với hoạt động kiểm soát thì chứng từ sổ sách là đối tượng thườngxuyên, trực tiếp trong việc chứng minh tính đúng đắn của các nghiệp vụ kinh

tế đã phát sinh trong kỳ Việc thiếu các thông tin từ chứng từ, sổ sách thườnggây nên vấn đề lớn trong kiểm soát

Cùng với hệ thống chứng từ, sơ đồ tài khoản cũng có mối liên quan chặtchẽ với công tác kiểm soát Sơ đồ tài khoản là một công cụ dùng để phân loạicác nghiệp vụ kinh tế thành những khoản mục riêng biệt, nó cung cấp một bốcục rõ ràng để xác minh các thông tin cần thiết cho Ban quản trị và những đốitượng quan tâm khác

1.1.4.4 Kiểm soát tài sản

Cũng như việc bảo vệ tài sản, các hình thức bảo vệ vật chất là rất cầnthiết đối với sổ sách và chứng từ Bởi lẽ, việc làm lại sổ sách và chứng từ bịmất là rất tốn kém và mất thời gian Công tác kiểm soát phải phòng ngừa cácmất mát xảy ra Bên cạnh đó, việc hạn chế tiếp cận trực tiếp tài sản, sổ sáchcũng là biện pháp quan trọng để bảo vệ tài sản bằng cách: ban hành nội quy,quy định về kiểm soát vào, ra ngân hàng; quy định về tham khảo tài liệu kếtoán và các dữ liệu lưu trữ trong máy điện toán

1.1.5 Mối quan hệ giữa hoạt động kiểm soát của Ngân hàng Trung ương với kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại

Hoạt động kiểm soát của Ngân hàng Trung ương (NHTW) bao gồm hoạtđộng thanh tra, giám sát đối với các NHTM Phương thức thanh tra, giám sátcác NHTM gồm:

- Thanh tra trực tiếp: là việc NHTW định kỳ hoặc đột xuất cử các nhânviên là giám sát viên hoặc thanh tra viên tới làm việc tại các NHTM Trên cơ

sở xem xét trực tiếp các hoạt động thực tế tại NHTM và các tài liệu do ngân

Trang 19

hàng cung cấp, các giám sát viên hoặc thanh tra viên sẽ đưa ra các đánh giá,khuyến nghị về các mảng hoạt động của ngân hàng.

Mục tiêu của hoạt động thanh tra trực tiếp là:

+ Đánh giá toàn bộ hoạt động và điều kiện tài chính của ngân hàng, đánhgiá môi trường hoạt động chung của ngân hàng, tập trung vào hệ thống quản

lý, hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống quản lý rủi ro

+ Đánh giá mức độ đáng tin cậy của những thông tin, dữ liệu mà ngânhàng cung cấp cho NHTW và cho các yêu cầu công khai thông tin

+ Tiếp xúc trực tiếp với Ban lãnh đạo và nhân viên ngân hàng để có đượccái nhìn bên trong và sự hiểu biết tốt hơn, thực tế hơn về một ngân hàng cụ thể

- Giám sát từ xa: là quá trình thu thập, phân tích, đánh giá, xử lý thôngtin một cách thường xuyên, liên tục về hoạt động của NHTM trên cơ sở cácthông tin, dữ liệu do các NHTM báo cáo về NHTW và thông qua việc gặp gỡ,trao đổi qua điện thoại với lãnh đạo và nhân viên ngân hàng, cũng như thôngqua các nguồn thông tin khác…

Mục tiêu của hoạt động giám sát từ xa:

+ Phát hiện, cảnh báo sớm những rủi ro tiềm ẩn đối với từng ngân hàng

Như vậy, so với hoạt động thanh tra trực tiếp, hoạt động giám sát từ xa

có 3 điểm khác biệt cơ bản Thứ nhất, đó là cách thức thu thập, tiếp cậnthông tin; thứ hai, là mức độ và phạm vi giám sát; thứ ba, là nội dung và

Trang 20

mục tiêu giám sát cụ thể Do những điểm khác biệt này, thanh tra trực tiếpphù hợp cho những đánh giá toàn diện, cụ thể và mang tính định kỳ còngiám sát từ xa phù hợp cho việc đánh giá một cách thường xuyên, liên tục

và với một số lớn các ngân hàng Chính vì thế mà giám sát từ xa và thanhtra tại chỗ là 2 phương thức được NHTW sử dụng đồng thời để kiểm soáthoạt động của các NHTM

Nội dung thanh tra, giám sát:

- Nội dung về mặt định tính:

+ Đánh giá năng lực quản trị, điều hành, dựa trên các tiêu chí như: Sựphân định trách nhiệm, quyền hạn trong Ban lãnh đạo; Hệ thống và cơ chếđiều hành thông tin cho phép Ban lãnh đạo cập nhật các thông tin chính xác,kịp thời; Sự chủ động của Ban lãnh đạo trong việc thiết lập các giới hạn rủi rophù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với chiến lược kinh doanh vàkhả năng chống chọi của ngân hàng trong từng thời kỳ; Trách nhiệm của lãnhđạo các cấp trong việc ban hành hệ thống các chính sách, thủ tục, quy trình,nghiệp vụ và định kỳ xem xét lại hệ thống này phù hợp với pháp luật hiệnhành và điều kiện cụ thể từng ngân hàng

+ Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của NHTM

Dựa trên 5 yếu tố: 1 Môi trường kiểm soát: phản ánh sự quan tâm cũngnhư tác động của Ban lãnh đạo, nhân viên đối với những vấn đề liên quan đếnhoạt động kiểm soát nội bộ 2, Quy trình đánh giá rủi ro: quy trình nhận dạng,

đo lường, kiểm soát toàn bộ rủi ro, phù hợp với khả năng chống chọi và chiếnlược kinh doanh của ngân hàng 3, Các hoạt động kiểm soát: bao gồm cácchính sách và thủ tục nhằm thiểu rủi ro đã được xác định (chính sách, thủ tụcphân tán rủi ro, phòng ngừa rủi ro, thủ tục trích lập và sử dụng dự phòng rủiro) 4, Thông tin liên lạc: quy trình nắm bắt và trao đổi thông tin để quản lý và

Trang 21

kiểm soát các hoạt động 5, Giám sát: đánh giá hoạt động của hệ thống kiểmsoát nội bộ theo thời gian, để đảm bảo hoạt động này được tiến hành như dựkiến và có những thay đổi khi cần thiết.

+ Đánh giá sự phù hợp của hệ thống kế toán

+ Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực

- Thanh tra, giám sát về mặt định lượng

+ Việc tuân thủ các yêu cầu về vốn: vốn tự có, cơ cấu vốn,…phải phùhợp với quy định của NHNN và đảm bảo bù đắp được rủi ro ở mức độ hợp lý.+ Đo lường rủi ro: lượng hoá các rủi ro đã được nhận biết thông qua việctính toán các chỉ tiêu vảư dụng các mô hình toán

+ Việc tuân thủ các hạn mức, giới hạn trong hoạt động: giới hạn chovay, bảo lãnh đối với một khách hàng, một nhóm khách hàng, trạng tháingoại hối,…

+ Tính bền vững của các khoản thu nhập: thu nhập trước thuế so với tàisản có bình quân và so với vốn chủ sở hữu, chi phí huy động vốn so với tàisản có bình quân,…

Phương pháp thanh tra, giám sát đối với các NHTM:

- Thanh tra trên cơ sở tuân thủ: là việc tập trung phát hiện, đánh giá mức

độ tuân thủ pháp luật có liên quan của đối tượng được thanh tra, coi đây làmục tiêu quan trọng nhất

- Thanh tra định hướng rủi ro: nhằm vào việc đánh giá các rủi ro mà

NHTM gặp phải khi không tuân thủ các quy trình, quy định đã có và khikhông có các thủ tục, quy trình hoạt động phù hợp, đồng thời trên cơ sở đánhgiá mức độ rủi ro, nguồn lực để kiểm soát, xử lý rủi ro của ngân hàng để đưa

ra những giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro

Trên đây là hoạt động kiểm soát của NHNN đối với NHTM Về bản

Trang 22

chất, không có sự khác nhau quá lớn giữa phương thức, nội dung và phươngpháp thanh tra của NHNN đối với NHTM so với kiểm soát nội bộ tại NHTM.vấn đề khác nhau cơ bản là về quy mô của hoạt động kiểm soát và kết quả củahoạt động này sẽ tác động đến một hay nhiều ngân hàng, sự điều chỉnh về quytrình, quy định, thủ tục kiểm soát và phát hiện sai sót, sơ hở của quy trình,quy chế,… tại một ngân hàng hay toàn bộ hệ thống ngân hàng

1.2 CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NHTM

1.2.1 Khái niệm và các tiêu thức đánh giá chất lượng kiểm soát nội

bộ của NHTM

1.2.1.1 Khái niệm

Chất lượng kiểm soát nội bộ của NHTM không thoát ly khỏi khái niệmchung về hiệu quả, đó là sự so sánh giữa lợi ích thu về và chi phí bỏ ra để cóđược lợi ích đó Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản khi xem xét hiệu quả củanhững hoạt động khác nhau chính là quan điểm về lợi ích thu về Đó có thể làlợi ích trước mắt hoặc lâu dài, lợi ích cho đa số hay thiểu số, lợi ích đo đếmđược hay không đo đếm được

Trong khi lợi ích do hoạt động kiểm soát mang lại tính định tính nhiều hơnthì chi phí cho hoạt động kiểm soát mang tính định lượng nhiều hơn Đó là cácchi phí trả lương; chi phí đào tạo; chi phí cho hạ tầng hoạt động kiểm soát; chiphí thuê chuyên gia… Vì vậy, chất lượng hoạt động kiểm soát không thể xácđịnh bằng việc xem xét, so sánh trực tiếp giữa chi phí và lợi ích mà có thể đượcđánh giá trên cơ sở mức độ đạt được các mục tiêu: một hệ thống ngân hàng lànhmạnh, hoạt động ổn định, có khả năng phòng ngừa và chống chịu rủi ro; tuân thủcác luật và quy chế; có đủ các điều kiện cơ bản để thực hiện tốt các chức năngcủa một trung gian tài chính, phục vụ cho tăng trưởng kinh tế

Trang 23

Mặc dù chi phí cho hoạt động kiểm soát ngân hàng thực sự cao, song chiphí phải trả cho sự kiểm soát lỏng lẻo còn cao hơn nhiều và có sự đánh đổigiữa mức độ đảm bảo an toàn mà hoạt động kiểm soát đem lại với chi phí bỏ

ra cho việc khắc phục khó khăn của ngân hàng Các nhà quản lý muốn mức

độ tác động của rủi ro lên ngân hàng và hệ thống tài chính càng thấp thì càngcần phải có hoạt động giám sát và phải chịu tốn kém

Một hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là có chất lượng khi nóđảm bảo được 2 điều kiện:

- Đạt được các mục tiêu đề ra

- Không lãng phí các nguồn lực

(1) Đạt được các mục tiêu đề ra:

- Bảo vệ tài sản của ngân hàng: Mỗi ngân hàng đều đối mặt với các rủi

ro cố hữu như: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tácnghiệp, rủi ro về tính tuân thủ, rủi ro về danh tiếng và rủi ro kinh doanh

Một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt trước hết phải đánh giá được các rủi

ro trong hoạt động của ngân hàng và sắp xếp chúng theo một thứ tự ưu tiênnhằm hạn chế các vụ việc xấu xảy ra cho ngân hàng

Ví dụ: Kiểm soát hoạt động tín dụng của ngân hàng: với mục tiêu là giảm

tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Kiểm soát viên tốt phải nhận biết rõ các nguyênnhân dẫn đến tình trạng nợ xấu như: do môi trường (thiên tai, do cạnh tranh,…);

do khách hàng (trình độ đánh giá xu thế phát triển ngành nghề, lĩnh vực mà họkinh doanh còn non kém, tiềm lực tài chính chưa cao,…); do bản thân ngân hàng(trình độ nghiệp vụ và đạo đức cán bộ tín dụng, đánh giá không đúng kháchhàng, đảo nợ hoặc giãn nợ cho khách hàng,…) Hậu quả của rủi ro tín dụng làdẫn đến rủi ro thanh khoản, giảm thu nhập và giảm uy tín của ngân hàng

Trang 24

Kiểm soát hoạt động tín dụng cần đánh giá lại tỷ lệ nợ xấu của ngânhàng, đánh giá mức độ chính xác trong việc phân loại nợ theo các tiêu chuẩncủa Ngân hàng Trung ương đã đặt ra Từ đó, nêu ra được các câu hỏi về thựctrạng hoạt động tín dụng: các cán bộ tại các phòng ban thực hiện cho vay đãthực hiện đúng quy trình cho vay chưa? Có đầy đủ các hồ sơ cần thiết trướckhi tiến hành giải ngân như: Báo cáo đề xuất cấp tín dụng, báo cáo rà soát rủi

ro, tập hợp các báo cáo tài chính, báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh, tàisản đảm bảo cho khoản vay…của khách hàng Các khoản cấp tín dụng chokhách hàng đã đúng với quyền hạn, trách nhiệm của cấp Phòng, cấp chi nhánhtheo phân cấp, ủy quyền đã được Tổng Giám đốc phê duyệt hay chưa? Lĩnhvực cho vay có phù hợp với tình hình của nền kinh tế và chính sách tín dụngcủa ngân hàng hay không? Tình hình kiểm tra sau cho vay có được thực hiệnnghiêm túc? ….Kiểm soát nội bộ sẽ thực hiện kiểm tra, kết luận nguyên nhâncủa tình trạng nợ xấu hay rủi ro tín dụng là do: Danh mục khách hàng của chinhánh có qua tập trung vào một lĩnh vực kinh doanh hay không, có hiệntượng đảo nợ hay giãn nợ,…Sau đó tiến hành đề xuất hướng xử lý đối với cáctrường hợp cụ thể cũng như đề xuất hoàn thiện quy trình nghiệp vụ cho vay.Ngoài ra kiểm soát nội bộ còn kiểm soát hoạt động huy động vốn, kếtoán, ngân quỹ, đầu tư, mua sắm và thanh lý tài sản

-Bảo vệ sổ sách kế toán: Kiểm soát nội bộ phải thực hiện đánh giá hoạtđộng kế toán của ngân hàng có được phản ánh đầy đủ, chính xác và kịp thờihay không Công tác chi tiêu tài chính và mua sắm, thanh lý tài sản cố định cóthực hiện đúng quy định hay không Bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính,báo cáo doanh số thu chi…của ngân hàng có được khớp đúng với các nghiệp

vụ phát sinh theo dõi trên sổ phụ của từng loại tài khoản hay không, có phảnánh được mức độ tin cậy và hợp lý của các chỉ tiêu trọng yếu hay không

Trang 25

- Hệ thống kiểm soát nội bộ có chất lượng phải phân định được mối quan

hệ giữa kiểm soát nội bộ và người quản lý rủi ro Công việc của người quản lýrủi ro là xác định, đo lường, sắp xếp ưu tiên và quản lý rủi ro, đây là một phầntrong quản trị doanh nghiệp Kiểm soát nội bộ đóng vai trò chính trong hoạtđộng của các hệ thống quản lý rủi ro của ngân hàng bằng cách: cung cấp phảnhồi chính xác, khách quan và kịp thời cho nhóm quản trị ngân hàng

- Về thời gian: Hoạt động kiểm soát nội bộ có chất lượng cũng đảm bảothời gian kiểm soát cho một lĩnh vực nghiệp vụ của ngân hàng không quá dàihay không quá ngắn Bởi vì: Nếu thời gian quá dài sẽ gây ảnh hưởng đối vớicông việc của các đối tượng được kiểm tra, không đảm bảo tính kịp thời Nếuthời gian quá ngắn thì các nội dung kiểm soát sẽ không đảm bảo, và thườngđẩy chi phí về các thủ tục hành chính lên cao

- Về chi phí: Chi phí cho hoạt động kiểm soát nội bộ có thể được địnhlượng rõ ràng như: Chi lương nhân viên, chi phí thuê chuyên gia,…Tuy nhiên

có thể giảm chi phí đào tạo bằng biện pháp đào tạo tại chỗ, kết hợp với cácphòng ban chức năng khác để tự đào tạo nhân viên kiểm soát

Trang 26

1.2.1.2 Tiêu thức đánh giá chất lượng kiểm soát nội bộ của NHTM

Chất lượng kiểm soát nội bộ của NHTM được đánh giá trên các tiêu thứcnhư sau:

- Hệ thống kiểm soát nội bộ phải được phân cấp trách nhiệm và mục tiêu

rõ ràng, có khả năng hoạt động độc lập và có các nguồn lực thích hợp để thựchiện các mục tiêu; đảm bảo có một cơ chế chia sẻ thông tin có liên quan giữacác bộ phận, các phòng chức năng với phòng kiểm soát nội bộ; có sự bảo vệ

về mặt pháp lý đối với cá nhân và hệ thống kiểm soát để hoạt động kiểm soátđược diễn ra an toàn trong quá trình thực thi nhiệm vụ

- Thực hiện đồng thời thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa; có mối liên hệthường xuyên và trực tiếp với ban lãnh đạo các ngân hàng; có phương tiện thuthập, đánh giá và phân tích các báo cáo và các kết quả thống kê từ các ngânhàng trên cơ sở từng trường hợp hoặc tổng thể; có phương pháp đánh giá độclập những thông tin mà ngân hàng cung cấp qua thanh tra tại chỗ hoặc thôngqua kết quả kiểm toán độc lập

- Hệ thống kiểm soát phải đảm bảo rằng ngân hàng có chế độ lưu giữ hồ

sơ chứng từ theo các quy định và chuẩn mực về hạch toán, kế toán, để tạođiều kiện cho các kiểm soát viên có được sự đánh giá đúng đắn về tình hìnhtài chính và khả năng kinh doanh của ngân hàng; đồng thời các nhà kiểm soátcũng phải đảm bảo việc công bố, xuất bản cung cấp thường kỳ các báo cáo tàichính phản ánh trung thực tình hình hoạt động của ngân hàng

- Quyền hạn chính thức của các kiểm soát viên: các kiểm soát viên và hệthộng kiểm soát có quyền thực hành những biện pháp tức thì khi có sự viphạm quy chế, hay khi phát sinh những vấn đề làm ảnh hưởng đến lợi ích sự

an toàn của bản thân ngân hàng

Trang 27

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm soát nội bộ của NHTM

1.2.2.1 Nhân tố khách quan

- Sự hoàn thiện của khung thể chế

Mọi hoạt động kiểm soát đều dựa trên một hệ thống các quy định, quytrình, quy chế của NHNN và của bản thân mỗi NHTM Một hệ thống các quytrình, quy chế đầy đủ, rõ ràng và phù hợp với thực tiễn sẽ tạo tiền đề và làcông cụ sắc bén của hoạt động kiểm soát Ngược lại, với một hệ thống quytrình, quy chế thiếu đồng bộ, không rõ ràng và không phù hợp với thực tiễn sẽgây ra sự lãng phí nguồn lực kiểm soát, làm giảm chất lượng kiểm soát

- Sự độc lập của hệ thống kiểm soát

Với chức năng kiểm soát nội bộ hoạt động của các NHTM, hệ thốngkiểm soát phải thực sự được chủ động và độc lập trong việc phân bổ cácnguồn lực kiểm soát, trong quá trình ra các quyết định và thực hiện các hànhđộng ứng xử đối với ngân hàng khi cần thiết

Trường hợp hệ thống kiểm soát nội bộ không thể độc lập trong các hoạtđộng của mình, đặc biệt khi chịu các áp lực của các nhà quản lý, lãnh đạongân hàng về mặt chính trị, hoạt động kiểm soát nội bộ chỉ mang tính hìnhthức và không thể đảm bảo thực hiện các mục tiêu của nó

Trang 28

1.2.2.2 Nhân tố chủ quan

- Quan điểm định hướng cho hoạt động kiểm soát

Mục tiêu của hoạt động kiểm soát nội bộ là rõ ràng Nhưng trên thực tế,

do sự khác biệt về thể chế chính trị mà quan điểm định hướng cho hoạt độngkiểm soát nội bộ giữa các cơ quan kiểm soát và trong các thời kỳ khác nhau

có thể khác nhau Điều này đôi khi có thể làm giảm chất lượng thực sự của hệthống kiểm soát nội bộ

- Điều kiện hoạt động

Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động kiểm soát nội bộ cũngnhư cơ chế đãi ngộ đối với kiểm soát viên có tác động trực tiếp tới hiệu quảhoạt động kiểm soát nội bộ

Cơ sở vật chất và trang thiết bị lạc hậu, không đồng bộ sẽ cản trở quátrình thu thập và xử lý thông tin Thông tin về NHTM có thể không cập nhật,không đầy đủ và thiếu chính xác dẫn đến việc phân bổ nguồn lực kiểm soátnội bộ không hợp lý Bên cạnh đó, cơ chế đãi ngộ, bao gồm đãi ngộ vật chất,đãi ngộ về sử và cơ chế đảm bảo an toàn cho kiểm soát viên cũng tác độngkhông nhỏ tới chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ Một cơ chế thích đáng sẽ

có tác dụng phát huy hết năng lực cá nhân, nâng cao tinh thần trách nhiệmtrong công việc của những người kiểm soát viên

- Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là một nhân tố hết sức quan trọng Chỉ với một đội ngũkiểm soát viên có trình độ chuyên môn, có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệpmới đảm bảo các nội dung thanh tra, giám sát đề ra được thực hiện đầy đủ vàphản ánh đúng thực trạng, điều kiện hoạt động của ngân hàng và hệ thốngngân hàng

Trang 30

PHÓ TGĐ PHÓ TGĐ

Kế toán Quốc tế

Kế toán kinh doanh Vốn

Quản lý Thẻ Chính sách và Sản phẩm bán lẻ Bao Thanh toán Tổng hợp Thanh toán Tài trợ Thương mại Tổng hợp & Phân tích Kinh tế Tông tin Tuyên truyền

Quan hệ Khách hàng Đầu tư

Dự án Chính sách tín dụng

Quản lý Rủi ro Công nợ Thông tin Tín dụng Quản lý Nợ

Quản trị Pháp chế Quản lý XDCB Ban thi đua

Vốn Kinh doanh Ngoại tệ Quản lý Vốn Liên doanh Cổ phần Quan hệ Ngân hàng Đại lý

Trung tâm Tin học Quản lý các Đề

án Công nghệ Dịch vụ Tài khoản Khách hàng Dịch vụ Tài khoản Khách hàng Thanh toán liên Ngân hàng Quản lý Ngân quỹ Trung tâm Thanh toán

Các công ty con trong nước

Sở giao dịch & 58 chi

nhánh

Sở giao dịch & 58 chi

Công ty cho thuê Tài chính VCB

Công ty TNHH Cao ốc VCB 198

Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản

Công ty Chứng khoán VCB

Văn phòng Đại diện tại Singapore Công ty Vinafico Hong Kong

Văn phòng đại diện tại Paris

Công ty Quản lý quỹ VCB (VCBF) Ngân hàng Shinhanvina

Công ty LD VCB - Bến Thành

Trang 31

2.1.2 Tình hình hoạt động của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương trong mấy năm gần đây

2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Với những nỗ lực trong công tác huy động và quản trị vốn đã giúp nguồnvốn huy động từ bên ngoài của NHNT trong thời gian qua luôn tăng trưởngmạnh và khá ổn định, năm sau luôn cao hơn năm trước: Năm 2005 huy độngđược 125.817 tỷ đồng, tăng 13,7% so với năm 2004, năm 2006 thu hút152.582 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2005, và năm 2007 đạt 183.772 tỷđồng, tăng 20.44% so với năm 2006

Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động của NHNT từ 2004-2007

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

1 Tiền gửi thanh toán

của kho bạc Nhà nước

(Nguồn: Vietcombank Việt Nam 2004 - 2007)

Với một loạt các biện pháp để huy động vốn như mở rộng mạng lưới chinhánh, tăng cường quảng bá thương hiệu tăng lãi suất huy động, áp dụng nhữngsản phẩm huy động có gốc và lãi linh hoạt, hấp dẫn đem lại cho khách hàng

Trang 32

nhiều sự lựa chọn phong phú, đa dạng… NHNT đã thu hút được một lượng lớnnguồn tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế, nguồn này luôn chiếm trên 77%tổng nguồn vốn huy động Vốn huy động từ thị trường liên ngân hàng luôn duytrì ở mức 23% Trong năm 2007, đáng lưu ý hai khoản mục Vay từ các tổ chứctín dụng khác và Trái phiếu tăng vốn, tăng gấp đôi cả về số lượng và tỷ trọng sovới năm trước Nguồn trái phiếu này sẽ bổ sung một lượng vốn tự có của NHNT,góp phần tăng cường năng lực tài chính, cải thiện tỉ lệ an toàn vốn khi xác địnhgiá trị doanh nghiệp của NHNT để tiến hành cổ phần hóa.

Bảng 2.2: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

Đơn vị: tỷ đồng

1 Vốn chủ sở hữu 7,181 8,416 11,127 13,551

2 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 7% 9.57% 12.28% 9.43%

(Nguồn: Vietcombank Việt Nam 2004 - 2007)

2,000 4,000 6,000 8,000 10,000 12,000 14,000

-Tỷ đồng

2004 2005 2006 2007

Năm Biểu 2.1: Vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn chủ sở hữu tăng trưởng mạnh qua các năm: năm 2005 tăng17,2% so với năm 2004, năm 2006 tăng 32,2% so với năm 2005, năm 2007 tăng21.78%, chủ yếu là từ nguồn lợi nhuận để lại, ngoài ra còn từ việc phát hành tráiphiếu tăng vốn, đây là loại trái phiếu có kèm quyền ưu tiên chuyển đổi thành cổphiếu khi Ngân hàng phát hành cổ phiếu ra công chúng Do vậy mà trong những

Trang 33

năm qua, tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng Ngoại thương đã được cải thiện đángkể: chỉ 7% trong năm 2004 thì từ năm 2005 trở đi luôn vượt ngưỡng an toàn 8%.

2.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn

a Khái quát quy mô và cơ cấu tài sản của NH TMCP Ngoại thương

Cơ cấu tài sản của Ngân hàng được tổng hợp ở bảng số liệu sau:

Bảng 2.3: Quy mô và cơ cấu tài sản của NH TMCP NT Việt Nam

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

1 Tiền mặt và tiền gửi tại NHTW 4600 3.8% 8342 6.1% 14266 8.5% 11662 5.9%

2 Tiền gửi có kì hạn và cho

(Nguồn: Vietcombank Việt Nam 2004-2007)

Cơ cấu tài sản cho thấy cho vay là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất (dư nợtrên 40% tổng tài sản) Tiếp đó là các hoạt động trên thị trường liên ngânhàng, thể hiện ở hạng mục Tiền gửi và cho vay các TCTD khác Chứng khoángiữ vị trí thứ ba Tỷ trọng tài sản có sinh lời tương đối cao, khoảng trên 90%,điều này làm tăng thu nhập của Ngân hàng, song cũng gia tăng rủi ro (quỹ dựphòng tổn thất tăng)

b Hoạt động tín dụng

Trong 04 năm liên tiếp từ 2004 đến 2007, NHNT thực hiện chủ

Trang 34

trương “Tăng trưởng tín dụng trên cơ sở tập trung nâng cao chất lượng vàhướng tới chuẩn mực quốc tế” thông qua biện pháp quản trị rủi ro tíndụng, tách biệt các nghiệp vụ quan hệ khách hàng, quản lý rủi ro tín dụng

và quản lý nợ; đồng thời công tác khách hàng và phát triển kinh doanhđược chuyên biệt hóa với bộ phận quan hệ khách hàng Công tác tín dụngnăm 2007 tiếp tục thực hiện với phương châm “Hiệu quả và an toàn”.NHNT VN ngày càng củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng, tổng dư

nợ tín dụng tăng trưởng tương đối ổn định qua từng năm: năm 2006 đạt67.743 tỷ đồng tăng 11% so với cuối năm 2005, đặc biệt năm 2007 đạt95.429 tỷ đồng tăng 40.89% so với năm 2006

Để mở rộng quan hệ khách hàng và đẩy mạnh công tác tín dụng, độingũ cán bộ của NH TMCP NT đã chủ động tìm kiếm các khách hàng tiềmnăng, các dự án, các phương án sản xuất kinh doanh khả thi, tạo điều kiện

hỗ trợ kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Bên cạnh đó NH TMCP NT luôn quan tâm, duy trì và củng cố độingũ khách hàng truyền thống

Cơ cấu tín dụng theo thành phần kinh tế của NHNT được thể hiện quabảng sau:

Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế của NHNT 2004-2007

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

1 Doanh nghiệp Nhà nước 29,483 55% 25,638 42% 25,742 38% 33,400 35%

2 Công ty tư nhân và

3 Doanh nghiệp có vốn đầu 12,329 23% 4,273 7% 9,484 14% 20,994 22%

Trang 35

tư nước ngoài

(Nguồn: Vietcombank Việt Nam 2004-2007)

Biểu 2.2: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế

nước ngoài

2 Công ty tư nhân và TNHH

1 Doanh nghiệp Nhà nước

Qua bảng trên ta thấy dư nợ khu vực doanh nghiệp quốc doanh tỷtrọng đã có xu hướng giảm dần mặc dù vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn, đây là mộtđiều đáng khích lệ vì phần lớn các doanh nghiệp quốc doanh đều có thứbậc xếp hạng tài chính thấp, thuộc các ngành có khả năng cạnh tranh yếu,luôn là nguy cơ tiềm tàng rất lớn đối với các NHTM không riêng gì NHNT.Cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã cho thấy có sự tăng trưởngđáng kể, đặc biệt là từ năm 2005 Sự thay đổi này chính là phương thức đểNgân hàng phân tán rủi ro cho chính mình

Bên cạnh đội ngũ khách hàng truyền thống về xuất nhập khẩu, Ngânhàng đang mở thêm loại hình cho vay tiêu dùng với nhiều hình thức cho vay

ưu đãi và hấp dẫn Nhìn chung, các khoản vay cá nhân có chất lượng tốt, đảmbảo khả năng trả nợ của Ngân hàng Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế

Trang 36

của Ngân hàng được thể hiện qua bảng 2.5:

Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế của NHNT từ 2004-2007

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

(Nguồn: Vietcombank Việt Nam 2004 - 2007)

Biểu 2.3: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành

2.1.2.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

Giữ vững vị trí số một trong hệ thống ngân hàng Việt Nam về tài trợxuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ, trong những năm qua, NHNT đã chútrọng ứng dụng các sản phẩm phái sinh nói chung, nghiệp vụ hoán đổi lãi suấtnói riêng (SWAP lãi suất - IRS) vào việc phòng ngừa rủi ro lãi suất đối vớidanh mục tài sản (hợp đồng lãi suất kỳ hạn FRA)… nhờ vậy hoạt động kinh

Trang 37

doanh ngoại tệ của NHNT đạt được những kết quả hết sức khả quan:

Bảng 2.6: Doanh số ngoại tệ mua bán trong và ngoài nước

Đơn vị: tỷ USD

Lượng ngoại tệ mua bán với nước ngoài 7 7.6 11.2 13

Lượng ngoại tệ mua bán trong nước 13.6 16.4 19 21

(Nguồn: Vietcombank Việt Nam 2004-2007)

Từ Bảng 2.6, ta thấy doanh số mua bán ngoại tệ cả trong và ngoài nước đềutăng trưởng đều đặn và ổn định qua từng năm 2004 đến 2006 Lượng ngoại tệmua vào của NHNT chủ yếu từ các doanh nghiệp thanh toán xuất nhập khẩu.Doanh số mua bán ngoại tệ trong nước năm 2005 tăng 20,58% so với năm 2004,năm 2006 tăng 15,8% so với năm 2005, năm 2007 tăng 16,07% Doanh số muabán ngoại tệ với nước ngoài năm 2006 tăng 47% so với năm trước

2.1.2.4 Kết quả kinh doanh

Thực hiện tốt tất cả các kế hoạch đặt ra, NH TMCP NT liên tục đạtnhững kết quả hoạt động kinh doanh rất đáng khích lệ

Bảng 2.7: Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động chủ yếu

Đơn vị: tỷ đồng

2005

so với 2004

2006

2006

so với 2005

2007

2007

so với 2006

Tổng tài sản 120007 136456 14% 166952 18% 197408 15% Vốn chủ sở hữu 7181 8416 17% 11127 24% 13552 18%

Tỷ suất lợi nhuận

Trang 38

Lợi nhuận sau thuế/Tổng

Lợi nhuận sau thuế/Vốn

chủ sở hữu (ROE) 15.4% 15.4% 25.9% 17.8%

(Nguồn: Vietcombank Việt Nam 2004 - 2007)

Tổng thu nhập của Ngân hàng liên tục tăng qua các năm và tăng đột biếntrong năm 2006, nếu năm 2005 chỉ tăng 14% so với năm 2004 thì năm 2006tăng 43% so với năm 2005, năm 2007 tăng nhẹ Thu từ lãi chiếm tỷ lệ rất lớntrong tổng thu, thu từ phí và dịch vụ mặc dù có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ lệkhá khiêm tốn, còn lại là các khoản thu nhập khác Trong khi đó, tốc độ tăngcủa tổng chi phí năm 2006 lại giảm đáng kể, năm 2005 là 46% thì năm 2006chỉ còn 19%, năm 2007 lại tăng lên tới 26% Chi trả lãi vẫn chiếm tỷ trọngcao nhất Chi phí dự phòng rủi ro năm 2007 hết sức đáng kể, đây là kết quảcủa việc trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro tín dụng, cả dự phòng cụ thể và dựphòng chung để xử lý dứt điểm nợ xấu phù hợp với thông lệ Quốc tế

Năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, thịtrường tài chính bùng nổ mạnh mẽ, NH TMCP NT đạt được mức tăng trưởngmạnh, nhưng năm 2007 tỷ lệ này lại giảm tới 16% do cuối năm 2006 đã cómột sự tăng trưởng quá nóng và năm 2007 đã hạ nhiệt hơn Lợi nhuận sauthuế của Ngân hàng năm 2006 đạt con số kỷ lục 2877 tỷ đồng, tăng 123% sovới năm trước, trong khi tốc độ tăng của tổng tài sản kém hơn rất nhiều, vìvậy năm 2006 Thu nhập ròng sau thuế/Tổng tài sản (ROA) tăng gấp đôi sovới năm 2005 Thu nhập ròng sau thuế/Vốn chủ bình quân (ROE) cũng tăngmạnh trong năm 2006

Qua toàn bộ phần phân tích trên, chúng ta thấy rằng kết quả hoạt độngcủa NH TMCP NT là tương đối tốt và và đạt được những thành tựu đáng kể.Ngân hàng vẫn phát huy thế mạnh hàng đầu là thanh toán và kinh doanh

Trang 39

ngoại hối, tạo được nguồn thu cao Trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng tiếptục đẩy mạnh mảng hoạt động ngoài doanh nghiệp nhà nước Hoạt động tíndụng cũng giảm dần về quy mô, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh khác.Kết quả hoạt động kinh doanh rất đáng khích lệ, các chỉ tiêu lợi nhuận luônđược duy trì ở mức tốt Thành quả này có được rõ ràng là nhờ những sáchlược và biện pháp quản trị đúng đắn của Ban quản trị và đội ngũ nhân viêngiàu năng lực, kinh nghiệm của NH TMCP NTVN

2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Căn cứ theo quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam về việc Ban hành quy chế kiểm tra, kiểm soátnội bộ của tổ chức tín dụng Ngày 02/07/2007, Hội đồng quản trị Ngân hàngNgoại thương Việt Nam đã ban hành quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ củaNgân hàng Ngoại thương Việt Nam kèm theo quyết định 162/QĐ/NHNT-HĐQT Theo đó, hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ (KTKSNB) là tập hợpcác cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của Ngânhàng Ngoại thương Việt Nam được thiết lập trên cơ sở phù hợp với quy địnhcủa pháp luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòngngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu màNHNTVN đã đặt ra

Trong quy chế này, mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của hệ thống kiểmsoát nội bộ NHNT chưa được cụ thể hóa so với Quy chế KTKSNB củaNHNN Tuy nhiên, đã có một số điểm được quy định bám sát theo điều kiệnthực tế của NHNT như sau:

2.2.1 Quy chế kiểm soát nội bộ của NHNT VN

2.2.1.1 Các yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ

Trang 40

Hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNTVN hoạt động theo các yêu cầu vànguyên tắc sau:

- Xác định và đo lường rủi ro: Mọi rủi ro có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu

đến hiệu quả và mục tiêu hoạt động của NHNTVN đều phải được nhận dạng,

đo lường, đánh giá một cách thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện,ngăn ngừa và có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp

- Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ là một phần không tách rời củacác hoạt động hàng ngày của NHNTVN Cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộđược thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp vụ ,tại tất cả các đơn vị, bộ phận của NHNTVN

- Các quy trình nghiệp vụ, quy định nội bộ và cơ cấu tổ chức để kiểmsoát rủi ro:

+ Tại tất cả các đơn vị, bộ phận của NHNTVN phải thiết kế, xây dựngquy trình nghiệp vụ cho đơn vị mình nhằm kiểm soát rủi ro liên quan Cácquy trình nghiệp vụ phải thiết lập được các chốt kiểm tra, kiểm soát; đảm bảo

cơ chế kiểm tra chéo giữa các cá nhân, bộ phận; đảm bảo một quy trìnhnghiệp vụ phải có ít nhất 2 cán bộ tham gia, tuyệt đối không để cá nhân nào

có thể một mình tiến hành thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ,một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức đượcNHNTVN cho phép phù hợp với quy định của pháp luật

+ Cơ chế phân cấp uỷ quyền phải thiết lập rõ ràng, minh bạch, thực hiệnmột cách hợp lý, cụ thể, tránh các xung đột lợi ích, đảm bảo một cán bộkhông đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích,quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau; đảm bảo mọi cán bộNHNTVN không có điều kiện để thao túng hoạt động, bưng bít thông tin

Ngày đăng: 19/05/2015, 18:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Thu Hà (2004), Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngân hàng thương mại
Tác giả: Phan Thị Thu Hà
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
4. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Quy chế kiểm tra kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam , 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế kiểm tra kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
5. Nguyễn Quang Quynh (1998), Giáo trình Lý thuyết kiểm toán, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết kiểm toán
Tác giả: Nguyễn Quang Quynh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
7. Peter S.Rose, Quản trị Ngân hàng thương mại, Tập thể Giáo Viên trường đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Ngân hàng thương mại
8. Vietcombank Việt Nam, Báo cáo thường niên, năm 2004, 2005, 2006, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên
9. Vietcombank Việt Nam, Thông cáo báo chí, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông cáo báo chí
10. Victor Zbring and Herbert Witt, Kiểm toán nội bộ hiện đại – đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát, NXB Tài chính, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán nội bộ hiện đại – đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát
Nhà XB: NXB Tài chính
2. Ngân hàng Nhà nước (2006), Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng giai đoạn 2006-2010 Khác
3. Ngân hàng Nhà Nước, Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức (2005), Giới thiệu về thanh tra – giám sát ngân hàng hướng vào rủi ro Khác
6. Ủy ban Giám sát hoạt động ngân hàng, Kiểm toán nội bộ trong ngân hàng và mối quan hệ với Kiểm toán viên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Bảng 1.1 Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ (Trang 11)
Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động của NHNT từ 2004-2007 - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.1 Nguồn vốn huy động của NHNT từ 2004-2007 (Trang 31)
Bảng 2.2: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.2 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Trang 32)
Bảng 2.3: Quy mô và cơ cấu tài sản của NH TMCP NT Việt Nam - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.3 Quy mô và cơ cấu tài sản của NH TMCP NT Việt Nam (Trang 33)
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế của NHNT 2004-2007 - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.4 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế của NHNT 2004-2007 (Trang 34)
Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế của NHNT từ 2004-2007 - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế của NHNT từ 2004-2007 (Trang 36)
Bảng 2.6: Doanh số ngoại tệ mua bán trong và ngoài nước - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.6 Doanh số ngoại tệ mua bán trong và ngoài nước (Trang 37)
Sơ đồ 2.1: Quy trình kiểm soát nội bộ tại NHTMCP  Ngoại thương Việt Nam - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Quy trình kiểm soát nội bộ tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Trang 45)
Sơ đồ 2.2: Quy trình kiểm soát nội bộ - luận văn thạc sĩ  Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Sơ đồ 2.2 Quy trình kiểm soát nội bộ (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w