Sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã và đang góp phần vào xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân. Nếu có một kế hoạch phát triển hợp lý, thì sức ép của sự phát triển lên môi trường ngày càng ít hơn. Sự tăng trưởng kinh tế, nếu không được quản lý một cách hợp lý, có thể gây những ảnh hưởng tiêu cực, sự bền vững của hệ sinh thái và thậm chí của cả nền kinh tế có thể bị phá vỡ. Các dự án phát triển ngoài việc mang lại các lợi ích kinh tế cho xã hội, còn gây ra những tác động tiêu cực cho con người và tài nguyên thiên nhiên. Nhiều nước trong quá trình phát triển thường quan tâm đến những lợi ích kinh tế trước mắt, vì thế trong quá trình lập kế hoạch phát triển công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đến một cách đúng mức. Sự yếu kém của việc lập kế hoạch phát triển đã gây ra tác động tiêu cực cho chính các hoạt động này ở trong nước.Việc đầu tiên của công tác bảo vệ môi trường trong quá trình lập kế hoạch thực hiện một dự án là triển khai đánh giá TĐMT. Vì vậy, việc thực hiện đánh giá TĐMT giúp ngăn ngừa và giảm thiểu các hậu quả tiêu cực và phát huy các kết quả tích cực về môi trường và xã hội của các dự án phát triển.
Trang 11 Lý do chọn đề tài
Sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã và đang góp phần vào xóa đói,giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân Nếu có một kế hoạch phát triển hợp
lý, thì sức ép của sự phát triển lên môi trường ngày càng ít hơn Sự tăng trưởng kinh
tế, nếu không được quản lý một cách hợp lý, có thể gây những ảnh hưởng tiêu cực, sựbền vững của hệ sinh thái và thậm chí của cả nền kinh tế có thể bị phá vỡ
Các dự án phát triển ngoài việc mang lại các lợi ích kinh tế cho xã hội, còn gây ranhững tác động tiêu cực cho con người và tài nguyên thiên nhiên Nhiều nước trongquá trình phát triển thường quan tâm đến những lợi ích kinh tế trước mắt, vì thế trongquá trình lập kế hoạch phát triển công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đếnmột cách đúng mức Sự yếu kém của việc lập kế hoạch phát triển đã gây ra tác độngtiêu cực cho chính các hoạt động này ở trong nước.Việc đầu tiên của công tác bảo vệmôi trường trong quá trình lập kế hoạch thực hiện một dự án là triển khai đánh giáTĐMT Vì vậy, việc thực hiện đánh giá TĐMT giúp ngăn ngừa và giảm thiểu các hậuquả tiêu cực và phát huy các kết quả tích cực về môi trường và xã hội của các dự ánphát triển
Phát triển bền vững có mục đích gắn kết các nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội và
Trang 2Nâng cao mức sống của nhân dân trong một thời gian ngắn.
Đạt được lợi ích thực sự, đảm bảo sự cân bằng giữa con người, tự nhiên và các nguồnlợi kinh tế không những cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả thế hệ mai sau
Đối với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, hai đặc điểm chính quyết định
Trang 3Quy hoạch) Tiêu thụ bình quân đầu người đạt khoảng 18 lít/người/năm, tăng gấp đôinăm 1997 ( 8,5 lít/người/năm).
Căn cứ Quyết định số 18/2007/QĐBCN ngày 8/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Côngnghiệp, Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Bia – RượuNước giải khát Việt Namđến năm 2010 được điều chỉnh bổ sung như sau:
a Mục tiêu tổng quát
Xây dựng ngành Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam thành một ngành kinh tếmạnh Khuyến khích sử dụng nguyên liệu trong nước, phát triển sản xuất các sảnphẩm chất lượng cao, có uy tín, thương hiệu hàng hóa mạnh trên thị trường, đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm, đa dạng hóa về chủng loại, cải tiến bao bì, mẫu mã; phấnđấu hạ giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩymạnh xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực vàthế giới
Khuyến khích hình thành các doanh nghiệp mạnh, tập đoàn kinh tế trên cơ sở gópvốn liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất biarượunước giải khát thuộcmọi thành phần kinh tế
b Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2010 sản xuất 3.500 triệu lít bia, 145 triệu lít rượu và 1.650 triệu lít nướcgiải khát
Trang 4Về quy hoạch sản xuất bia: Tập trung đầu tư các nhà máy có công suất lớn thiết bịhiện đại, sản xuất kinh doanh hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về môi trường theo quychuẩn của nhà nước Sản phẩm bia phải tuân thủ các điều kiện về vệ sinh an toàn thựcphẩm, đảm bảo chất lượng và giá thành được người tiêu dùng chấp nhận.
Trên cơ sở các phân tích về tình hình sản xuất và khu vực; thực trạng ngành côngnghiệp sản xuất bia Việt Nam; quy hoạch tổng thể phát triển ngành bia rượu nướcgiải khát; tình hình thị trường và sản xuất kinh doanh của Tổng công ty BiaRượu –Nước giải khát Hà Nội Công ty Cổ phần đầu tư phát triển công nghệ BiaRượuNướcgiải khát Hà Nội quyết định đầu tư xây dựng mới Nhà máy bia công suất 50 triệulít/năm tại tỉnh Hưng Yên
Vì những lý do trên, em đã chọn đề tài : “ Đánh giá tác động môi trường dự án đầu tưxây dựng nhà máy bia Hà Nội – Hưng Yên ( công suất 50 triệu lít/năm) “
2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này cung cấp thông tin để hướng tới sự phát triển bền vững:Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định của nhà quản lý
Lường trước tác động đến môi trường trước khi đưa ra quyết định quản lý
Gíup chủ đầu tư phòng tránh sự cố trong quá trình vận hành
Trang 5Có thể thực hiện theo các phương án của hoạt động phát triển, so sánh lợi hại theocác phương án, đề xuất lựa chọn phương án.
3 Đối tượng nghiên cứu.
Bia là nước giải khát có từ lâu đời 7000 năm trước công nguyên đã có ghi chép vềsản xuất bia Hiện nay nhu cầu bia trên thế giới cũng như ở Việt Nam rất lớn vì bia làloại nước uống mát, có độ cồn thấp, có hương vị đặc trưng,…Đặc biệt, CO2 bão hòatrong bia có tác dụng làm giảm nhanh cơn khát của người uống, nhờ những ưu điểmnày mà bia được sử dụng rộng rãi ở hầu khắp các nước trên thế giới và sản lượngngày càng tăng
Trên cơ sở đó Nước giải khát Bia Hà Nội quyết định đầu tư xây dựng nhà máy bia tạiHưng Yên
Do đó đối tượng nghiên cứu là : “Tìm hiểu các giải pháp bảo vệ môi trường của dự ánđầu tư xây dựng nhà máy bia Hà Nội- Hưng Yên
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp được sử dụng gồm có:
Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập tài liệu liên quan đến dự án – dự án đầu tư
xây dựng Nhà máy bia Hà Nội – Hưng Yên tại KCN, thu thập các số liệu về điều kiệnđịa lý tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực xây dựng dự án
Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực địa:
Khảo sát đo đạc hiện trạng môi trường nền
Vị trí và các khu vực tiếp nhận nước thải
Hiện trạng nước mặt, nước ngầm khu vực thực hiện dự án
Đo đạc chất lượng môi trường nền: không khí, chất lượng nước mặt, nước ngầm, chấtlượng đất
Phương pháp phân tích: Tập hợp các số liệu thu thập được, so sánh với các tiêu
chuẩn môi trường Việt Nam đã ban hành từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá các ảnhhưởng đến môi trường do xây dựng và hoạt động của dự án
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các số liệu đã thu thập được, phân tích và rút ra
những kết luận về ảnh hưởng từ các hoạt động của dự án đến môi trường Đồng thời
đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường
Trang 76 Nguồn số liệu, dữ liệu
Đa số các nguồn số liệu, dữ liệu có trong chuyên đề đều là nguồn số liệu, dữ liệu thứcấp:
Công ty Bia – Rượu – Nước gỉai khát Hà Nội
Chi cục Bảo vệ môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên
Bộ Tài nguyên và Môi trường : Quyết định số 122/2006/QĐBTNMT ngày18/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụngTiêu chuẩn Việt Nam về Môi trường
Đánh giá tác động môi trường – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000
Ô nhiễm không khí và xử lý khí thải – Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội, tập I,
Trang 8Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư
Chương 2: Đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư xây dựng nhà máy bia HàNộiHưng Yên ( Công suất 50 triệu lít/ năm)
Chương 3: Một số giải pháp để bảo vệ môi trường của dự án đầu tư xây dựng nhàmáy bia Hà Nội – Hưng Yên (Công suất 50 triệu lít/năm)
Kết luận
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư
Từ những năm 60 trở lại đây thì nhận thức về dự án bắt đầu hoàn thiện, danh từ dự ánđược sử dụng trong nhiều lĩnh vực, các mối quan hệ, mục tiêu, phạm vi khác nhau
Do vậy cơ cấu tổ chức của dự án cũng tương đối khác nhau Các nhà kinh tế học đãđưa ra nhiều khái niệm về dự án Mỗi một khái niệm nhấn mạnh một số khía cạnhcủa dự án cùng các đặc điểm quan trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể
Xét theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụthể cần phải đạt được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và phải theomột kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới Như vậy theo định nghĩa này thì:
dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự
án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải cấu trúc nên một thực thể mới
Xét về hình thức: Dự án đầu tư được hiểu là một tập tài liệu tổng hợp bao gồm cácluận chứng cá biệt được trình bày một cách có hệ thống, chi tiết về một kế hoạch đầu
tư nhằm đầu tư các nguồn tài nguyên của một cá nhân, một tổ chức vào một lĩnh vực
Trang 10hoạt động nào đó của xã hội để tạo ra một kết quả kinh tế, tài chính kéo dài trongtương lai.
Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ hoạch định nỗ lực có thời hạntrong việc sử dụng vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội.Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: Mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu vàđiểm kết thúc xác định Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc khixác định rõ ràng mục tiêu không thể đạt được và dự án bị loại bỏ; Sản phẩm hoặcdịch vụ mới được tạo ra khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự ánkhác
Xét trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư được xem là một kế hoạch chi tiết đểthực hiện chương trình đầu tư nhằm phát triển kinh tế, xã hội làm căn cứ đưa ra quyếtđịnh đầu tư và sử dụng vốn đầu tư
Dù các định nghĩa khác nhau nhưng có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của kháiniệm dự án như sau:
Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng Mỗi dự án thể hiện một hoặc một nhóm nhiệm
vụ cần được thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thoả mãn một nhu cầu nào
đó Dự án cũng là một hệ thống phức tạp nên cần được chia thành nhiều bộ phận khácnhau để thực hiện và quản lý nhưng phải dảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian,chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao
Trang 11Dự án có chu kỳ phát triển riêng và tồn tại hữu hạn Nghĩa là giống như các thực thểsống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu
và kết thúc
Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lýchức năng với quản lý dự án Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữuquan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, cơ quan quản
lý Nhà nước Vì mục tiêu của dự án các nhà quản lý dự án duy trì thường xuyên mốiquan hệ với các bộ phận quản lý khác
Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo Khác với quá trình sản xuấtliên tục và gián đoạn kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt mà
có tính khác biệt cao Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất
Môi trường hoạt động “va chạm” Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùngmột nguồn lực khan hiếm của một tổ chức Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các
bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị
Tính bất định và rủi ro cao: Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn, vật tư và laođộng rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gianđầu tư vào vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao
1.1.2 Đặc điểm của dự án
Trang 12Mặc dù mỗi một dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau có đặc điểm riêng của lĩnh vực
đó nhưng nói chung dự án có những đặc điểm chung cơ bản sau:
Dự án có tính thống nhất: Dự án là một thực thể độc lập trong một môi trường xácđịnh với các giới hạn nhất định về quyền hạn và trách nhiệm
Dự án có tính xác định: Dự án được xác định rõ ràng về mục tiêu cần phải đạt được,thời hạn bắt đầu và thời hạn kết thúc cũng như nguồn lực cần có với một số lượng, cơcấu, chất lượng và thời điểm giao nhận
Dự án có tính logic: Tính logic của dự án được thể hiện ở mốc quan hệ biện chứnggiữa các bộ phận cấu thành dự án
Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nguồnlực nhất định và trong khoảng thời gian nhất định
Trang 13Kết quả của dự án: là những đầu ra cụ thể của dự án được tạo ra từ các hoạt động của
dự án Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án
Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển hoácác nguồn lực thành các kết quả của dự án Mỗi hoạt động của dự án đều đem lại kếtquả tương ứng
Nguồn lực của dự án: Là các đầu vào về mặt vật chất, tài chính, sức lao động cầnthiết để tiến hành các hoạt động của dự án Nguồn lực là tiền đề để tạo nên các hoạtđộng của dự án
Bốn bộ phận trên của dự án có quan hệ logic chặt chẽ với nhau: Nguồn lực của dự ánđược sử dụng tạo nên các hoạt động của dự án Các hoạt động tạo nên các kết quả(đầu ra) Các kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.Đạt được mục tiêu trực tiếp là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển
1.1.3 Vai trò của dự án đầu tư
Đối với nhà đầu tư:
Một nhà đầu tư muốn đem tiền đi đầu tư thu lợi nhuận về cho bản thân thì căn cứquan trọng nhất để nhà đầu tư có nên đầu tư hay không là dự án đầu tư Nếu dự ánđầu tư hứa hẹn đem lại khoản lợi cho chủ đầu tư thì nhất định sẽ thu hút được chủđầu tư thực hiện Nhưng để có đủ vốn thực hiện dự án chủ đầu tư phải thuyết phụccác tổ chức tài chính tài chính cho vay vốn và cơ sở để các nhà tài chính cho vay vốn
Trang 14thì phải dựa vào dự án có khả thi hay không? Vậy dự án đầu tư là phương tiện thu hútvốn Dựa vào dự án, các nhà đầu tư có cơ sở để xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi,đôn đốc và kiểm tra tình hình thực hiện dự án Đồng thời bên cạnh chủ đầu tư thuyếtphục các nhà tài chính cho vay vốn thì dự án cũng là công cụ để tìm kiếm các đối tácliên doanh Một dự án tuyệt vời sẽ có nhiều đối tác để ý, mong muốn cùng tham gia
để có phần lợi nhuận Nhiều khi các chủ đầu tư có vốn nhưng không biết mình nênđầu tư vào đâu có lợi, rủi ro ít nhất, giảm thiểu chi phí cơ hội vì vậy dự án còn là mộtcông cụ cho các nhà đầu tư xem xét, tìm hiểu lựa chọn cơ hội đầu tư tốt nhất Ngoài
ra, dự án đầu tư còn là căn cứ để soạn thảo hợp đồng liên doanh cũng như để giảiquyết các mối quan hệ tranh chấp giữa các đối tác trong quá trình thực hiện dự án
Đối với Nhà nước.
Dự án đầu tư là tài liệu để các cấp có thẩm quyền xét duyệt cấp giấy phép đầu tư, làcăn cứ pháp lý để toà xem xét, giải quyết khi có tranh chấp giữa các bên tham gia đầu
tư trong quá trình thực hiện dự án sau này
Đối với tổ chức tài trợ vốn.
Dự án đầu tư là căn cứ để cơ quan này xem xét tình khả thi của dự án để quyết địnhnên tài trợ hay không, tài trợ đến mức độ nào cho dự án để đảm bảo rủi ro ít nhất chonhà tài trợ
Trang 15Đối với việc hoạch định chiến lược phát triển.
Dự án là công cụ để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch 5 năm, chương trình phát triển một cách có hiệu quả nhất
Dự án là phương tiện để gắn kết kế hoạch và thị trường, nâng cao tính khả thi của kếhoạch, đồng thời đảm bảo khả năng điều tiết thị trường theo định hướng xác định của
Do dự án có vai trò quan trọng như vậy nên dự án phát triển chiếm vị trí cốt yếu trong
hệ thống kế hoạch hoá, trong chiến lược phát triển của công ty, của vùng, của cảnước Nó là công cụ để triển khai nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch với hiệu quả kinh
tế xã hội cao nhất
1.2 TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG
Thất bại thị trường là một thuật ngữ kinh tế học miêu tả tình trạng thị trường khôngphân bổ thật hiệu quả các nguồn lực
Trang 16Thiệt hại do ô nhiễm môi trường vô cùng đa dạng Thiệt hại về lợi ích kinh tế, sứckhỏe người dân, suy giảm hệ sinh thái, ….Có rất nhiều doanh nghiệp đã vì mục tiêulợi nhuận trước mắt mà bỏ qua trách nhiệm với xã hội, thờ ơ trước sức khỏe của conngười Tất cả các hành vi đó đều vi phạm pháp luật, trái với đạo đức và đi ngược vớichủ trương xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước, đingược với xu thế phát triển chung của thế giới.
Các hành vi đó được gọi là sự thất bại thị trường, do những hành vi tư lợi dẫn đếnnhững kết quả không có hiệu quả
Ngoại ứng xuất hiện khi một quá trình sản xuất hay tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụnào đó gây tác động môi trường ( gây thiệt hại hay mang lại lợi ích) đến cả nhữngngười không trực tiếp tham gia vào các giao dịch thị trường
Khi một quá trình sản xuất hay tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ gây thiệt hại cho ai
đó mà người này không được đền bù thì ta nói quá trình đó đã gây ra một ngoại ứngtiêu cực Nói cách khác ngoại ứng tiêu cực xảy ra trong trường hợp một hoạt độngsản xuất hay tiêu dùng nào đó tác động tiêu cực (tạo ra một tổn hại hay chi phí) chongười khác song người gây ra tác động lại không bị trừng phạt bởi những gì mà anh
ta gây ra
Trang 17Ngược lại, một hoạt động sản xuất hay tiêu dùng nhất định có thể gây ra ngoại ứngtích cực nếu như nó đem lại lợi ích cho một người nào đó mà người này không phảitrả tiền.
Khi không có ngoại ứng, lợi ích hay chi phí xã hội trong việc sản xuất hay tiêu dùngmột khối lượng hàng hóa nào đó được thể hiện chính bằng lợi ích hay chi phí màchính những cá nhân trực tiếp tham gia vào các giao dịch thị trường có liên quanđược thụ hưởng hay bị gánh chịu Nói một cách quy ước: trong trường hợp này, lợiích hay chi phí xã hội cũng chính là lợi ích hay chi phí tư nhân
Trái lại, khi ngoại ứng xuất hiện, lợi ích hay chi phí xã hội trong việc sản xuất haytiêu dùng một khối lượng hàng hóa nào đó sẽ không trùng khớp với lợi ích hay chiphí của các cá nhân (ta gọi là lợi ích hay chi phí tư nhân) Chẳng hạn, nếu việc sảnxuất hàng hóa của một doanh nghiệp gây ra ô nhiễm đối với môi trường và nhữngngười dân sinh sống xung quanh không được doanh nghiệp đền bù gì thì chi phí xãhội của việc sản xuất một khối lượng hàng hóa nhất định, ngoài những chi phí kinh tế
mà doanh nghiệp phải bỏ ra hay hy sinh còn phải bao hàm cả những tổn hại về môitrường mà người dân phải gánh chịu do có việc sản xuất trên Trong trường hợpngoại ứng tiêu cực này, chi phí xã hội của việc sản xuất một khối lượng hàng hóanhất định rõ ràng lớn hơn chi phí tư nhân của các nhà sản xuất
Trang 18Quá trình phát triển công nghiệp đã bộc lộ một số khiếm khuyết trong việc xử lý chấtthải và đảm bảo chất lượng môi trường, làm gia tăng lượng thải và các chất gây ônhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường là một trong những ngoại ứng tiêu cực phát sinh trong quá trìnhsản xuất Chúng gây tổn hại lâu dài cho sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất nhữngngười dân trong khu vực xung quanh khu công nghiệp nhưng không được xử lý vàđền bù thỏa đáng
Ngoại ứng tiêu cực này gây tổn hại phúc lợi chung của xã hội, ảnh hưởng tới sự pháttriển bền vững, đòi hỏi phải có sự can thiệp của Chính phủ
Do đó tham gia lập, thẩm định và thực thi đánh giá tác động môi trường góp phần vàoviệc quyết định phát triển thành công hay thất bại của một doanh nghiệp
Đánh giá tác động môi trường không chỉ thực hiện cho các dự án (hay các cơ sở chưa
đi vào hoạt động) mà nó còn được thực hiện với cả các cơ sở đang hoạt động để biếtđược các hoạt động sản xuất kinh doanh đang và sẽ tác động tới môi trường như thếnào
Có thể khẳng định ĐMC, ĐTM là một trong những công cụ được Nhà nước sử dụngtrong công tác bảo vệ môi trường Tham gia lập, thẩm định và thực thi đánh giá tácđộng môi trường là tổ hợp các cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cộngđồng dân cư có liên quan Trong đó, vai trò của cộng đồng trong quá trình lập
Trang 19và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là vô cùng quan trọng Ghi nhậnvai trò này, Khoản 8 Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định: “Ý kiến của ủyban nhân dân xã phường, thị trấn, đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án, các
ý kiến không tán thành việc đặt dự án tại địa phương, hoặc không tán thành đối vớicác giải pháp bảo vệ môi trường phải được nêu ra trong báo cáo đánh giá tác độngmôi trường”
Đối với một doanh nghiệp thì uy tín đối với cộng đồng nói chung và đối với kháchhàng nói riêng là điều sống còn, nó quyết định đến việc thành công hay thất bại củamột doanh nghiệp Uy tín ở đây thể hiện ở lòng tin của cộng đồng đối với sản phẩmdoanh nghiệp sản xuất; những lợi ích mà doanh nghiệp đó đem lại cho cuộc sống củacộng đồng Tất cả những thứ đó tạo nên danh tiếng và thương hiệu cho một doanhnghiệp
Các nhà hoạch định chính sách hiểu rất rõ rằng: Doanh nghiệp có thể chấp nhậnnhững mức phạt hành chính cao nhưng doanh nghiệp lại không thể thờ ơ đứng nhìn
uy tín, thương hiệu của mình trở lên xấu xí trong mắt cộng đồng
Điều này lí giải tại sao các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường sợ nhất khi hành vi
vi phạm bị phát giác và thông tin rộng rãi cho cộng đồng Ở các thị trường văn minhnhư Mỹ, EU, Singapore… khi “văn hóa tẩy chay” trở lên phổ biến thì sức ép cộngđồng là một lá chắn hữu hiệu bảo vệ môi trường Đứng trước sức ép này, doanh
Trang 20nghiệp buộc phải cân nhắc thiệt hơn khi có ý định coi nhẹ các giải pháp bảo vệ môitrường.
1.3 NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Việt Nam có tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh Song mặt trái của quá trình pháttriển kinh tế xã hội có thể không tạo ra hiệu ứng tức thời tới cuộc sống của chúng ta.Cùng với việc xây dựng các chương trình, dự án nhằm phát triển kinh tế xã hội, tạo ranhững thúc đẩy phát triển là các tác động làm thay đổi môi trường, hệ sinh thái Bêncạnh những thuận lợi từ những chính sách đổi mới giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăngtrưởng nhanh và tương đối ổn định trong thời gian qua Định hướng phát triển nềnkinh tế đa thành phần đã hậu thuẩn cho sự phát triển kinh tế tư nhân và tạo nhữngbước đà mới cho phát triển kinh tế Đời sống người dân qua đó được cải thiện đáng
kể Thì đã đặt một sức ép rất lớn lên môi trường và hệ sinh thái Việt Nam Do đó việcthực hiện đánh giá tác động môi trường trở nên rất quan trọng Tuy nhiên việc thựchiện đánh giá tác động môi trường cũng gặp phải những khó khăn nhất định và đượcchia thành các phần nhỏ dưới đây
1.3.1 Các lực lượng thực thi đánh giá tác động môi trường
Trang 21Đáp ứng nhu cầu “ thị trường” trong bối cảnh các hoạt động đầu tư nở rộ trên toànquốc, số lượng người tham gia lập ĐTM, đã tăng nhanh một cách tự phát Đội ngũchuyên gia, tổ chức và dịch vụ tư vấn ĐTM trong và ngoài nước đều dễ dàng tiếpcận.
Tuy nhiên yêu cầu về năng lực đảm bảo thực hiện của ĐTM vẫn còn chưa được quantâm sâu sắc
Cán bộ thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM cấp Trung ương, có nhiều cán bộ đượcđào tạo, huấn luyện trong và ngoài nước nên năng lực, trình độ tăng đáng kể
Tuy nhiên, ở cấp tỉnh, đội ngũ cán bộ thẩm định ĐTM vẫn còn yếu và thiếu, chưa đápứng được yêu cầu đa dạng, về kiến thức khoa học môi trường có liên quan đến nhiềungành khác nhau
Do đó, cần có một hệ thống quy chuẩn và có thể nên tăng cường công tác tập huấnnâng cao lực lượng, cho đội ngũ cán bộ làm công tác đánh giá tác động môi trườngcủa các địa phương để hạn chế các sai sót trong đánh giá tác động môi trường
1.3.2 Chính sách trong đánh giá tác động môi trường
Một số đánh giá tác động môi trường hiện nay còn mang tính hình thức, chưa phảnánh được thực chất vấn đề;
Trang 22Sự quan tâm và nguồn kinh phí cho việc thực hiện các chương trình đánh giá tácđộng môi trường chưa lớn;
Công việc giám sát đánh giá thực thi sau khi các dự án đã được phê duyệt còn ít quantâm;
Tiếng nói dư luận còn thiếu trọng lượng
1.3.3 Đánh giá hiệu quả chính sách
Đánh giá tác động môi trường hiện nay còn mang tính hình thức
Một bộ phận nhỏ chủ quản lý và đầu tư coi yêu cầu lập báo cáo ĐTM như là một thủtục trong quá trình chuẩn bị để thực hiện dự án, coi ĐTM như một lực cản cho hoạtđộng phát triển sản xuất và đầu tư Vì vậy, khi được yêu cầu lập báo cáo ĐTM chỉlàm lấy lệ
Sự quan tâm và nguồn kinh phí thực hiện
Nguồn kinh phí thực hiện ĐTM chiếm một phần nhỏ trong việc Bởi vậy, để có báocáo ĐTM có giá trị là một thách thức đối với việc thực hiện các công việc phục vụcho báo cáo, bên cạnh đó cũng thiếu sự quan tâm, chỉ đạo và việc phân định vị trí, vaitrò, chức năng, thẩm định của các dự án còn nhiều vấn đề chồng chéo
Công tác giám sát sau đánh giá tác động môi trường và các văn bản luật liên quan
Trang 23Tâm lý của các chủ đầu tư vẫn còn coi nặng hiệu quả của kinh doanh theo hướng cólợi nhất cho họ Bỏ mặc quyền lợi chung của xã hội Do đó việc thực hiện đánh giátác động môi trường đôi khi vẫn chưa tốt và được quan tâm thích đáng và đôi khi báocáo sai sự thật Việc này dẫn đến vi phạm pháp luật.
Vai trò của cộng đồng người dân trong đánh giá tác động môi trường
Vấn đề lấy ý kiến nhân dân đôi khi được thực hiện chưa tốt Việc này minh chứngbằng việc cho phép triển khai dự án thì xuất hiện nhiều ý kiến của cộng đồng dân cư
Có những dự án mặc dù đã được cộng đồng các nhà khoa học, cộng đồng địa phươngphản ánh là nguy hại đến môi trường song vẫn được triển khai
1.4 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.4.1 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường
Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về ĐTM; những định nghĩa đó về nội dung cơbản thống nhất với nhau, trong nhiều cách diễn đạt khác nhau là do sự chú ý nhấnmạnh của từng tác giả tới một khía cạnh nào đó trong ĐTM
Trên cơ sở xem xét những định nghĩa đã được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất, và căn
cứ vào sự phát triển về lý luận và thực tiễn của ĐTM trong thời gian qua, có thể đưa
ra một định nghĩa đầy đủ về ĐTM như sau:
Trang 24"ĐTM của một hoạt động phát triển kinh tế xã hội là xác định, phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạt động đó có thể gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con người tại nơi có liên quan đến hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng, tránh, khắc phục các tác động tiêu cực".
Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Việt Nam thông qua vào tháng 12 năm
1993 có đưa ra khái niệm ĐTM như sau:
"Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởngđến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của các cơ sở sảnxuất kinh doanh, công trình kinh tế khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninhquốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môitrường"
Tác động môi trường là vấn đề cốt lõi của những sự quan tâm tới phát triển bền vững.Đánh giá tác động môi trường là một công cụ giúp cho sự phòng ngừa và ngăn chặnnhững ảnh hưởng tới môi trường trong chính sách môi trường và đây là công cụ lồngghép trong quá trình kế hoạch hoá về môi trường Mục đích của ĐTM là xem xét baoquát toàn diện và đánh giá những ảnh hưởng môi trường tiềm năng của những dự áncông cộng hay cá nhân đã được đề xuất trong lựa chọn ưu tiên thực hiện Một ĐTMcần phải được xem xét tât cả những ảnh hưởng mong đợi đối với sức khoẻ con người,
hệ sinh thái (bao gồm thực vật và động vật), khí hậu và khí quyển Một ĐTM cần
Trang 25phải đảm bảo rằng tất cả những hậu quả cần phải được xem xét trong suốt quá trìnhthiết kế, thực hiện và vận hành của dự án.
Tương tự, một ĐTM bao gồm những sự quan tâm của các đảng phái và tổ chức (cónghĩa là cộng đồng địa phương, các nhà chính trị, các nhà đầu tư) và lồng ghép nhữngảnh hưởng xã hội liên quan đến những giải pháp về giới hoặc liên quan tới các nhóm
xã hội đặc biệt trong các dự án (có nghĩa là tái định cư của người dân bản địa vì sựthay đổi cảnh quan hoặc môi trường, vị trí khảo cổ học, đài tưởng niệm)
Một ĐTM đòi hỏi phải ưu tiên cho những dự án là nguyên nhân của những thay đổiđáng kể đối với nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh, sự thay đổi có ý nghĩa đối vớihoạt động thực tiễn của nghề đánh cá và nghề nông và xem xét tới khai thác tàinguyên thuỷ điện Các dự án hạ tầng, hoạt động công nghiệp, các dự án đổ bỏ vàquản lý chất thải cũng cần một ĐTM
Tất cả những hậu quả có hại tới môi trường cần phải được tính toán bằng biện phápgiảm nhẹ, biện pháp bảo vệ môi trường hoặc thay thế Những biện pháp giảm nhẹ nàythường được trình bày bằng một kế hoạch quản lý môi trường Một kết luận củaĐTM cần phải được xem xét lại, sau đó các nhà làm kế hoạch dự án có thể thiết kế đềxuất dự án với mục tiêu tối thiểu hoá tác động tới môi trường
1.4.2 Vai trò và lợi ích của đánh giá tác động môi trường
Trang 26Các dự án phát triển, ngoài việc mang lại các lợi ích kinh tế cho xã hội, còn gây ranhững tác động tiêu cực cho con người và tài nguyên thiên nhiên Nhiều nước trongquá trình phát triển thường quan tâm đến những lợi ích kinh tế trước mắt, vì thế trongquá trình lập kế hoạch phát triển, công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâmđến một cách đúng mức Sự yếu kém của việc lập kế hoạch phát triển đã gây ra tácđộng tiêu cực cho chính các hoạt động này của các nước Việc đầu tiên của công tácbảo vệ môi trường trong quá trình lập kế hoạch thực hiện một dự án là triển khai đánhgiá tác động môi trường Vì vậy, cho đến nay hầu hết các nước đã thực hiện đánh giátác động môi trường để ngăn ngừa và giảm thiểu các hậu quả tiêu cực và phát huy cáckết quả tích cực về môi trường và xã hội của các dự án phát triển.
Sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã góp phần xóa đói, giảm nghèo,nâng cao mức sống của nhân dân Nếu có một kế hoạch phát triển hợp lý, thì sức épcủa sự phát triển sau này lên môi trường ngày càng ít hơn Sự tăng trưởng kinh tế,nếu không được quản lý một cách hợp lý có thể gây nên những ảnh hưởng tiêu cực,
sự bền vững của hệ sinh thái và thậm chí của cả nền kinh tế có thể bị phá vỡ
Phát triển bền vững có mục đích gắn kết các nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường để đạt được những mục tiêu sau:
Nâng cao mức sống của nhân dân trong một thời gian ngắn
Đạt được lợi ích thực sự, đảm bảo sự cân bằng giữa con người, tự nhiên và các nguồnlợi kinh tế không những cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả các thế hệ mai sau
Trang 27Đối với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, hai đặc điểm chính quyết định
xã hội là nhiệm vụ hết sức cấp bách và quan trọng Những vấn đề này bao gồm suythoái đất, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, các khu dân cư không đảm bảo yêu cầu về
vệ sinh môi trường cho một cuộc sống bình thường (nhà ở, vệ sinh và cấp nước;không khí, đất và nước bị ô nhiễm ) và những vấn đề quan trọng chung của toàn cầunhư sự ấm lên của trái đất, suy thoái tầng ozon, suy giảm đa dạng sinh học Sức ép vềdân số, sự lạc hậu về kinh tế xã hội đã góp phần đưa môi trường đến tình trạng hiệnnay Để khắc phục tình trạng nêu trên, đánh giá tác động môi trường cần được sửdụng như một công cụ hữu hiệu để góp phần quản lý môi trường và phát triển bềnvững
Đánh giá tác động môi trường có các lợi ích trực tiếp và gián tiếp Đóng góp trực tiếpcủa đánh giá tác động môi trường là mang lại những lợi ích môi trường, như giúp
Trang 28chủ dự án hoàn thành thiết kế hoặc thay đổi vị trí của dự án Đóng góp gián tiếp cóthể là những lợi ích môi trường do dự án tạo ra, như việc xây dựng các đập thủy điệnkéo theo sự phát triển của một số ngành (du lịch, nuôi trồng hải sản) Triển khai quátrình đánh giá tác động môi trường càng sớm vào chu trình dự án, lợi ích mang lạicủa nó càng nhiều.
Nhìn chung những lợi ích của đánh giá tác động môi trường bao gồm:
Hoàn thiện thiết kế và lựa chọn vị trí dự án
Cung cấp thông tin chuẩn xác cho việc ra quyết định
Tăng cường trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình phát triển
Đưa dự án vào đúng bối cảnh môi trường và xã hội của nó
Gỉam bớt những thiệt hại môi trường
Làm cho dự án có hiệu quả hơn về mặt kinh tếxã hội
Đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững
1.4.3 Đánh giá tác động môi trường và chu trình dự án
Luật pháp của nhiều nước Châu Á yêu cầu thực hiện đánh giá tác động môi trườngđối với tất cả các dự án phát triển quan trọng Tại nhiều nước, đánh giá tác động môitrường là một phần nghiên cứu khả thi của dự án Khi đã có hiệu lực, những quy định
Trang 29luật pháp về đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa to lớn, thúc đẩy sự phát triểnbền vững Một vấn đề khác liên quan đến đánh giá tác động môi trường, đó là tàichính của dự án Đánh giá tác động môi trường được tiến hành bằng chính kinh phícủa dự án Một số các ngân hàng và các nhà đầu tư khi thực hiện dự án không chú ýđến các tiêu chuẩn môi trường nên đã gặp rủi ro trong đầu tư Vì thế phải triển khaiđồng bộ đánh giá môi trường vào các bước khác nhau của chu trình dự án.
Chu trình dự án được khái quát theo 6 bước chính:
Hình thành dự án
Nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu khả thi
Trang 30Trong những giai đoạn đầu của chu trình dự án ứng với các bước nghiên cứu tiền khảthi, đánh giá tác động môi trường tập trung vào việc đánh giá lựa chọn vị trí thực hiện
dự án Sàng lọc môi trường của dự án, xác định phạm vi tác động môi trường của dự
án Tiếp theo, trong bước nghiên cứu khả thi thực hiện đánh giá các tác động môitrường chi tiết Sau đó các biện pháp bảo vệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường được đềxuất, kế hoạch quản lý môi trường, và chương trình giám sát và quản lý môi trườngđược soạn thảo Bước cuối cùng của đánh giá tác động môi trường là tiến hành thẩmđịnh báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trang 31Hình 1: Sơ đồ các bước đánh giá tác động môi trường và dự án phát triển
Trình tự đánh giá tác động môi trường gồm 3 bước:
Bước 1: Lược duyệt các tác động môi trường (Screening)
Bước 2: Đánh giá sơ bộ các tác động môi trường (Preliminary Assessment)
Trang 32Bước 3: Đánh giá đầy đủ các tác động môi trường (Full Assessment)
a Lược duyệt
Đây là yêu cầu tối thiểu phải thực hiện cho các dự án nằm trong khuôn khổ bắt buộcphải xét đến các tác động môi trường của chúng Qúa trình thực hiện lược duyệt vềnguyên tắc phải được thực hiện khi dự án bắt đầu hình thành, bắt đầu chuẩn bị vềmục tiêu, quy mô, khu vực dự án, trình độ công nghệ, trình độ quản lý thực hiện vàđặc điểm riêng về văn hóa, xã hội, tập quán của khu vực lân cận
Mục tiêu của lược duyệt là giúp cho việc hình thành, xây dựng dự án được tốt hơn,đầy đủ hơn Vì thế, lược duyệt do chủ dự án thực hiện
Nội dung của lược duyệt là:
Rà soát, xem xét các dự án/hoạt động tương tự đã gây ra các tác động gì?
Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và nguồn tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, vănhóa, xã hội
Dự đoán các tác động có thể xảy ra của dự án/ hoạt động sẽ thực hiện
Trên cơ sở đó, chúng ta dự đoán những tác động có thể xảy ra của dự án sẽ thực hiện.Việc dự đoán đúng và đủ các tác động này, sẽ giúp chúng ta kịp thời điều chỉnh, bổ
Trang 33sung hoặc thay đổi một phần dự án một cách nhanh chóng, tránh lãng phí về tài chính
và thời gian
Để có một lược duyệt, cần thực hiện theo các bước sau đây:
Trang 34Dự án phát triển
Bước 2: Kiểm tra địa điểm của dự án
Có phải vùng thực hiện DTM hay không?
Bước 1: Kiểm tra danh mục của dự án Theo luật
Theo quy định
Bước 3: Tham khảo sách,tài liệu, tư liệu hướng dẫn đánh giá
tác động môi trường
Bước 4: Thu thập thông tin (các loại)
Bước 5: Lập danh mục các loại
Bước 6: Lập văn bản lược duyệt
Trang 35b Đánh giá tác động môi trường sơ bộ
Đánh giá sơ bộ tác động môi trường gồm các bước sau:
Xác định các tác động chính của môi trường (từ các hoạt động quan trọng của dự án)tại khu vực dự án sẽ xảy ra
Mô tả chung các tác động đó, dự báo phạm vi và mức độ của các tác động đó trongkhi đánh giá tác động môi trường
Trình bày và làm rõ tính chất của các tác động, tầm quan trọng của các tác động đóđối với môi trường
Đánh giá tác động môi trường sơ bộ giúp cho chúng ta thu hẹp sự tranh cãi về một sốvấn đề quan trọng như về vị trí, quy mô của dự án Trong một số trường hợp, do làmtốt đánh giá sơ bộ, kịp thời điều chỉnh khái niệm về dự án, làm cho việc đánh giá tácđộng môi trường đầy đủ trở nên không cần thiết nữa
c Đánh giá tác động môi trường đầy đủ
Đánh giá tác động môi trường đầy đủ là khung cơ bản của ĐTM Đây là bước thựchiện sau lược duyệt hoặc ĐTM nhanh đã kết luận cần phải làm
Để hiểu được nhiệm vụ này cần nắm rõ:
Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
Trang 36Ảnh hưởng của các tác động môi trường ở quy mô lớn:
Suy thoái tài nguyên
Hiệu ứng nhà kính
Ô nhiễm môi trường
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là nhiệm vụ xây dựng một báo cáo trong đó phải chỉ rõ được:
ĐTM đã tiến hành
ĐTM phải đủ để làm cơ sở khoa học để thẩm định dự án
ĐTM là kết quả của sự nghiên cứu đa ngành
Mối quan hệ giữa dự án và ĐTM
Điều kiện để thực hiện ĐTM
Cơ sở pháp lý
Tiêu chuẩn môi trường
Số liệu môi trường vùng dự án
Quy mô dự án
Trang 371.4.4 Một số phương pháp chính trong ĐTM
Đánh giá tác động môi trường là việc hết sức phức tạp, đòi hỏi nhiều cán bộ chuyênmôn của nhiều khoa học khác nhau, và phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhaumới thực hiện được
Phương pháp liệt kê số liệu, danh mục về thông số/ điều kiện môi trường
Phương pháp ma trận môi trường
Phương pháp chồng ghép bản đồ môi trường
Phương pháp sơ đồ mạng lưới
Phương pháp mô hình
Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích môi trường
Phương pháp đánh giá nguy cơ, rủi ro
a Phương pháp liệt kê, danh mục
Liệt kê một danh mục tất cả các yếu tố môi trường liên quan đến dự án/ hoạt độngcần đánh giá
Gửi danh mục đến chuyên gia hoặc lấy ý kiến đánh giá
Trang 38Có nhiều loại danh mục (danh mục giản đơn, danh mục mô tả, danh mục câu hỏi,danh mục có ghi mức độ tác động, …)
b Phương pháp ma trận
Phương pháp ma trận là phương pháp phối hợp liệt kê các tác động của hoạt độngphát triển dự án và liệt kê các yếu tố môi trường (chỉ tiêu môi trường) có thể bị tácđộng vào một ma trận
Có 2 loại ma trận:
Ma trận đơn giản (định tính và bán định lượng)
Ma trận định lượng
c Phương pháp phân tích chi phílợi ích
Phân tích chi phí – lợi ích là một công cụ chính sách cho phép các nhà hoạch đínhchính sách quyền lựa chọn giữa các giải pháp thay thế có tính cạnh tranh với nhau
Trình tự tiến hành:
Liệt kê tất cả các tài nguyên được chi dùng trong mọi hoạt động kể cả tài nguyênnhân lực Liệt kê tất cả các sản phẩm thu được kể cả phế thải có giá trị hoàn nguyên.Xác định tất cả mọi hành động tiêu thụ, hành động làm suy giảm tài nguyên, kể cảhoạt động sản xuất gây ô nhiễm
Trang 39Liệt kê các khía cạnh có lợi cho tài nguyên nhưng chưa được xét đến trong đề án hoạtđộng, các khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Liệt kê vào dự án hoạt động những vấn đề cần bổ sung cho dự án để sử dụng hợp lý
và phát huy tối đa nguồn tài nguyên
Diễn đạt kết quả phân tích nêu trên vào báo cáo đánh giá ĐTM
d Phương pháp đánh giá rủi ro
Rủi ro môi trường là những tổn hại bất ngờ không lường trước được xảy ra gây tổnhại đến cơ sở vật chất hoặc sức khỏe cộng đồng hoặc đến nguồn tài nguyên thiênnhiên
Các bước thực hiện:
Xác định khu vực đòi hỏi có sự nâng cấp, bổ sung (đặc biệt đối với nhà máy mới xâydựng và có sự thay đổi công nghệ)
Trình bày được rằng hoạt động của công trình là an toàn
Bảo đảm được “giá trị tiền tệ” việc cung cấp an toàn Về bản chất, đánh giá rồi có thểđược sử dụng để xác định ưu tiên đối với chi phí cho các biện pháp làm giảm rủi ro
Trang 40CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG NHÀ MÁY BIA HÀ NỘI – HƯNG YÊN
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỊA ĐIỂM NHÀ MÁY
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và môi trường
a Vị trí địa lý