Từ những định nghĩa về cho vay nêu trên, có thể khái quát về hoạt động cho vay của NHTM như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng một khoản t
Trang 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Các vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay
Cho vay là hoạt động cơ bản của NHTM Theo Điều 1, Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, khái niệm cho vay được hiểu
như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 do Quốc hội ban hành cũng đưa ra một định
nghĩa khác về cho vay: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc
và lãi”
Giáo trình “Quản trị tín dụng ngân hàng thương mại” của PGS.TS Đinh Xuân
Hạng, Ths Nguyễn Đình Lộc năm 2012 định nghĩa cho vay là: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”
Từ những định nghĩa về cho vay nêu trên, có thể khái quát về hoạt động cho vay
của NHTM như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định trong khoảng thời gian xác định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết”
1.1.2 Phân loại cho vay
Dựa theo giáo trình “Tín dụng ngân hàng” của tác giả Nguyễn Văn Tiến năm
2013, cho vay được phân loại như sau:
1.1.2.1 Phân loại cho vay theo thời hạn cho vay
Theo thời hạn, hoạt động cho vay được phân làm 3 loại:
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm, thường được sử
dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt của các cá nhân hoặc hộ gia đình
Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng để
cho vay phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng
Trang 2và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn trong khoảng thời gian ngắn được xác định từ trước
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cấp
vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn Thường thì cho vay trung và dài hạn được dùng để đầu tư hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
1.1.2.2 Phân loại cho vay theo mục đích sử dụng vốn
Dựa vào căn cứ này, hoạt động cho vay được chia làm 2 loại:
Cho vay sản xuất kinh doanh: Là loại cho vay ngắn hạn để tài trợ vốn lưu động
cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu như chi tiêu
thường xuyên, chi sửa chữa nhà cửa, mua sắm tài sản của các cá nhân hay hộ gia đình Ngày nay, ngân hàng còn thực hiện các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường thông qua việc phát hành thẻ tín dụng
1.1.2.3 Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay
Dựa vào hình thức đảm bảo các khoản vay mà NHTM chia ra làm hai phương thức cho vay là Cho vay có đảm bảo và Cho vay không có đảm bảo
Cho vay có đảm bảo: Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách
hàng vay vốn, Ngân hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi vốn vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng Khi thực hiện việc cho vay, có rất nhiều rủi ro có thể xảy ra, nguy cơ không thu hồi đủ vốn vay là rất cao, vì thế các NHTM khi cho vay thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay
Cho vay không có đảm bảo: Là khoản cho vay mà Ngân hàng không nắm giữ tài
sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng Những điều kiện này có thể là: người đi vay không được giao dịch với Ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được ngân hàng quản lý Thông thường chỉ có những khách hàng có quan hệ lâu năm với ngân hàng, những khách hàng có uy tín, hay những khách hàng mà ngân hàng có tham gia góp vốn thì mới được cho vay không có đảm bảo
1.1.2.4 Phân loại cho vay theo phương thức cho vay
Về phương thức, hoạt động cho vay có thể bao gồm các loại chính sau:
Cho vay thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận cho khách
hàng chi vượt số tiền có trong tài khoản thanh toán đến một giới hạn xác định trong khoảng thời gian nhất định, phù hợp với quy định của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Trang 33
Cho vay trực tiếp từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm
những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Ngân hàng áp dụng cho vay từng lần đối với những khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên và chưa được ngân hàng tín nhiệm
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận một hạn
mức tín dụng và duy trì nó trong một khoảng thời gian nhất định Loại cho vay này áp dụng đối với những khách hàng có nhu cầu vay ngân hàng thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm
1.1.2.5 Phân loại cho vay theo phương thức hoàn trả
Theo phương thức hoàn trả, hoạt động cho vay được chia làm 3 loại:
Cho vay trả góp: Theo hình thức tài trợ này thì người đi vay trả nợ cho ngân
hàng (gồm cả gốc và lãi) theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định (tháng, quý,…) Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc những khách hàng mà thu nhập định kỳ của họ không đủ để thanh toán hết một lần số
nợ vay Đối với loại cho vay này thì ngân hàng phải chú ý đến những vấn đề như: Loại tài sản được tài trợ, số tiền phải trả trước, điều khoản thanh toán
Cho vay phi trả góp: Đây là hình thức tài trợ mà theo đó số tiền vay của khách
hàng sẽ được thanh toán một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn Đặc điểm của các khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời hạn cho vay ngắn Ngân hàng áp dụng hình thức này bởi đây là biện pháp giúp ngân hàng không mất nhiều thời gian như khi phải tiến hành thu nợ nhiều kỳ
Cho vay tuần hoàn: Là khoản vay mà ngân hàng cho phép khách hàng dùng thẻ
tín dụng hoặc ngân hàng phát hành loại séc cho phép thấu chi dựa trên số tiền trên tài khoản vãng lai của khách hàng Theo phương thức này, trong thời hạn được thỏa thuận trước, căn cứ vào chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng
1.2 Các vấn đề cơ bản về cho vay ngắn hạn tại ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay ngắn hạn
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010, cho vay ngắn hạn là khoản cho vay có thời hạn nhỏ hơn 12 tháng, thường được sử dụng để bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh nghiệp hoặc nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình trong xã hội
Trang 4Theo Điều 8, Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước định nghĩa cho vay ngắn hạn là: “ Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt của các cá nhân hoặc hộ gia đình”
1.2.2 Đặc điểm của cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngân hàng thường cho vay khi khách hàng phát sinh nhu cầu về vốn để mua vật tư, nguyên vật liệu hoặc trang trải các chi phí sản xuất Khi hàng hóa được tiêu thụ, khách hàng có thu nhập cũng là lúc ngân hàng thu hồi nợ Xuất phát từ đặc điểm này, các ngân hàng thường quy định thời hạn cho vay trên cơ sở chu kỳ SXKD của người vay Do vậy, thời gian thu hồi vốn trong cho vay ngắn hạn thường nhanh hơn các khoản cho vay trung và dài hạn
Thời gian thu hồi vốn nhanh nên rủi ro trong cho vay ngắn hạn thường thấp hơn khoản cho vay trung và dài hạn, do vậy lãi suất của chúng cũng thấp hơn mức lãi suất cho vay trung và dài hạn Vì vậy, cho vay ngắn hạn ít chịu ảnh hưởng của những biến động không lường trước được trong nền kinh tế như các khoản cho vay trung và dài hạn Ngoài ra, các khoản cho vay ngắn hạn cũng được cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản đảm bảo, bảo lãnh, Ngân hàng chắc chắn có khoản bù đắp trong tương lai nên rủi ro mang đến thường thấp
Cho vay ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng Đặc trưng của ngân hàng
là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, trong đó nhận tiền gửi ngắn hạn là hoạt động huy động vốn chủ yếu của ngân hàng và với sự phù hợp về lãi suất và thời hạn thì cho vay ngắn hạn cũng là hoạt động cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng vì rủi ro mang lại của khoản vay này thường nhỏ hơn so với các khoản cho vay trung và dài hạn Vốn cho vay ngắn hạn mà ngân hàng cấp cho khách hàng thường được khách hàng dùng để mua nguyên vật liệu, trả lương, bổ sung vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng các hình thức cho vay ngắn hạn như: Cho vay ngắn hạn từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay luân chuyển, để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, phân tán rủi ro, tăng cường sức mạnh cạnh tranh trên thị trường Điều đó đã làm cho các nghiệp vụ về vay ngắn hạn ngày càng phong phú như: Nghiệp vụ ứng trước, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp
vụ chiết khấu,
Trang 55
1.2.3 Phân loại hoạt động cho vay ngắn hạn
Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh phục vụ đời sống của khách hàng Vì vậy, cho vay ngắn hạn có thể được chia thành nhiều loại theo nhiều thể thức khác nhau nhưng xét trên góc độ mục đích sử dụng vốn vay thì cho vay ngắn hạn bao gồm cho vay khách hàng doang nghiệp và cho vay khách hàng cá nhân
1.2.3.1 Cho vay khách hàng doanh nghiệp
Cho vay khách hàng doanh nghiệp là hình thức ngân hàng tài trợ vốn kinh tế cho các doanh nghiệp Các hình thức cho vay được xem xét theo tính chất của việc cấp vốn, gồm 2 loại chính: Cho vay bổ sung vốn lưu động và cho vay trên tài sản
Cho vay bổ sung vốn lưu động: Là khoản cho vay nhằm tài trợ thêm vốn lưu
động cho các hoạt động SXKD của khách hàng Khi vay tiền, người vay dùng chính thu nhập thu được từ việc sử dụng vốn vay để trả nợ cho ngân hàng, vì vậy các yếu tố quan trọng mà ngân hàng tập trung vào xem xét là khả năng kinh doanh, tình hình tài chính, hiệu quả sử dụng vốn vay của ngân hàng
Cho vay trên tài sản: Đây chủ yếu là hình thức cho vay trên bộ chứng từ hàng
xuất căn cứ vào giá trị các khoản phải thu khách hàng Theo phương thức thư tín dụng hoặc nhờ thu, dạng tài trợ này cho phép nhà xuất khẩu nhận trước được phần lớn khoản tiền sẽ thu từ ngân hàng trả tiền hoặc người nhập khẩu nước ngoài sau khi gửi
bộ chứng từ đi đòi tiền
1.2.3.2 Cho vay khách hàng cá nhân
Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cho vay theo đó ngân hàng giao cho đối tượng khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
Cho vay cá nhân nhằm giải quyết nhu cầu chủ yếu là: Phục vụ đời sống, bổ sung vốn cho hoạt động buôn bán, kinh doanh sản xuất hộ cá thể
Với loại hình cho vay này, theo mục đích bao gồm 2 loại:
Vay tiêu dùng: Vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu cá nhân,
hộ gia đình Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện, vận chuyển, xây dựng,
Vay phục vụ mục đích kinh doanh: Vay phục vụ mục đích kinh doanh là các
khoản cho vay bổ sung vốn, phương tiện vận chuyển để thực hiện các phương án sản xuất, kinh doanh buôn bán của các cá nhân, hộ gia đình
1.2.4 Vai trò của cho vay ngắn hạn
Vai trò đối với NHTM: Theo nghiên cứu của Tổng cục thống kê năm 2012 thì
cho vay là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng Nhiều Ngân hàng tập trung cho
Trang 6vay với mức dư nợ tín dụng chiếm hơn 50% tổng tài sản có và thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn Trong những năm gần đây, hoạt động cho vay trung và dài hạn đã được mở rộng nhưng chủ đạo các khoản cho vay ngắn hạn vẫn là công cụ chính tạo nên lợi nhuận, đồng thời cũng là nguồn chủ yếu để trích lập dự phòng rủi ro, góp phần tạo khả năng thanh khoản cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
Vai trò đối với khách hàng: Hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM có vai trò
quan trọng đối với cả khách hàng cá nhân và khách hàng thể nhân Cụ thể:
Đối với khách hàng thể nhân: Hoạt động cho vay ngắn hạn giúp người cần tiền
phục vụ cho các mục đích cá nhân có tiền tiêu dùng Người tiêu dùng có thể có các nhu cầu mua nhà, mua xe, đi du lịch, đi du học,… mà chưa đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu của bản thân, họ có thể đến NHTM xin vay vốn Tuy nhiên, Ngân hàng chỉ cấp vốn trong trường hợp thẩm định khách hàng có đủ năng lực tài chính để trả nợ cho Ngân hàng
Đối với khách hàng pháp nhân: Do hoạt động tín dụng thương mại rất phổ biến
mà các khoản thu và chi của doanh nghiệp xảy ra không cùng thời điểm nên doanh nghiệp khó có thể có thu nhập để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn Hoạt động cho vay ngắn hạn giúp các doanh nghiệp kịp thanh toán các khoản nợ này Ngoài ra, doanh nghiệp còn vay ngắn hạn ngân hàng để đầu tư cho việc tiếp cận khoa học công nghệ, máy móc hiện đại, cải tiến mẫu mã sản phẩm, tận dụng thời cơ kinh doanh để giúp hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục và chất lượng
hơn, tạo lập chỗ đứng vững chắc trên thị trường tài chính
Vai trò đối với nền kinh tế: Với vai trò là một kênh trung gian tài chính quan
trọng, NHTM thực hiện chức năng huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi, giúp các doanh nghiệp thiếu vốn hoạt động hiệu quả Đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhu cầu vốn ít, do đó mà cho vay ngắn hạn trở nên phổ biến hơn Các doanh nghiệp có cơ hội phát triển tạo đà cho nền kinh tế phát triển, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.5 Các hình thức cho vay ngắn hạn
1.2.5.1 Cho vay từng lần (cho vay ngắn hạn theo món)
Theo Điều 16, Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì các hình thức cho vay từng lần của NHTM được hiểu như sau:
“Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết
và ký kết hợp đồng tín dụng”
Trang 77
Ngân hàng căn cứ vào từng kế hoạch, phương án kinh doanh, từng khâu hoặc từng loại vật tư cụ thể để cho vay Phương thức cho vay từng lần được áp dụng khi cho vay để bổ sung nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt trong sản xuất, đối với những khách hàng sản xuất kinh doanh không ổn định, nhu cầu vay trả không thường xuyên,
có nhu cầu đề nghị vay vốn từng lần hoặc những khách hàng không có uy tín cao trong quan hệ tín dụng mà ngân hàng nhận thấy cần phải áp dụng cho vay từng lần để giám
sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ, an toàn
Ưu điểm của phương thức cho vay này là giúp cho ngân hàng mở rộng kinh doanh, tìm kiếm thu nhập, phục vụ mọi đối tượng khách hàng, đồng thời đảm bảo an toàn vốn vay và tạo thế chủ động cho cả ngân hàng và khách hàng Với mức giải ngân
cụ thể, hạn trả nợ cụ thể nên ngân hàng có thể tính toán được chất lượng kinh tế của khoản cho vay, từ đó có thể lên kế hoạch cho vay các khoản tiếp theo một cách hợp lí tránh ứ đọng vốn và tăng chất lượng sử dụng vốn Mặt khác, việc tính toán thu nợ, thu lãi của kế toán cho vay được thực hiện đơn giản căn cứ vào số tiền cho vay, lãi suất cho vay và thời hạn vay trên hợp đồng tín dụng
Tuy nhiên, phương thức cho vay này còn có nhiều nhược điểm đối với cả ngân hàng và khách hàng Đối với khách hàng, đây là một hình thức vay phức tạp bởi thủ tục vay rườm rà Mỗi lần muốn vay khách hàng phải lập hồ sơ vay vốn, tốn kém thời gian, công sức, khó khăn trong việc vay vốn làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của khách hàng, thậm chí mất cơ hội trong kinh doanh nếu không có vốn kịp thời Còn đối với ngân hàng, phải tiến hành theo dõi từng món vay tại các thời điểm khác nhau
để thu nợ gốc và lãi nên chi phí trong kinh doanh cao mà lợi nhuận thấp Hơn nữa, khi cho vay để mua sắm các thiết bị vật tư, hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại, khách hàng có thể không trả nợ đúng hạn Điều này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong kế hoạch về nguồn vốn
1.2.5.2 Cho vay theo hạn mức tín dụng
Theo Điều 16, Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì các hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng của NHTM được hiểu như sau: “Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định”
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường áp dụng cho các doanh nghiệp mà trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh họ thường xuyên có nhu cầu vay trả, tốc độ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, có tín nhiệm với ngân hàng trong quan hệ tín dụng, tức là vay vốn và trả nợ sòng phẳng Với phương thức cho vay này, khách hàng và ngân hàng thoả thuận với nhau căn cứ vào phương án, kế hoạch sản
Trang 8xuất kinh doanh, giá trị tài sản thế chấp, nguồn vốn ngân hàng có thể đáp ứng để xác định một hạn mức tín dụng trong một thời kỳ nhất định
Ưu điểm:
Đối với khách hàng: Đây là phương thức cho vay năng động, linh hoạt đáp ứng
được kịp thời nhu cầu của người vay bởi thủ tục vay vốn đơn giản, thuận tiện Khách hàng chỉ cần làm thủ tục vay vốn lần đầu còn các lần sau họ chỉ cần gửi đến ngân hàng những chứng từ hoá đơn thích hợp, phù hợp với mục đích sử dụng tiền vay trong hợp đồng tín dụng đã ký kết để nhận tiền vay Do đó khách hàng hoàn toàn chủ động trong việc vay và trả nợ vay
Đối với ngân hàng: Ngân hàng có thể kiểm soát được thu nhập của khách hàng,
từ đó nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khả năng tài chính của
họ để có những quyết định đúng đắn, kịp thời trong mối quan hệ tín dụng với khách hàng Một ưu điểm nữa đối với ngân hàng trong phương thức cho vay này là mặc dù việc cho vay và trả nợ được thực hiện đan xen nhau nhưng ngân hàng vẫn có thể phạt
nợ quá hạn đối với đơn vị khi khách hàng không đạt được vòng quay vốn tín dụng như
kế hoạch đề ra
Nhược điểm: Theo phương thức cho vay này, ngân hàng và khách hàng ký kết
một hợp đồng tín dụng trong đó ngân hàng xác định một hạn mức tín dụng cho khách hàng và hạn mức này được duy trì trong một thời hạn nhất định vì ngân hàng không thể kiểm soát được nhu cầu vay vốn của khách hàng, điều này dễ làm cho ngân hàng mất thế chủ động về nguồn vốn kinh doanh, gây nên tình trạng ứ đọng vốn nếu khách hàng không sử dụng hết hạn mức tín dụng Hơn nữa, việc tính toán thu nợ, thu lãi rất phức tạp, NHTM phải thực hiện trên nhiều giấy tờ và có thể mỗi loại lại có mức lãi suất khác nhau
1.2.5.3 Cho vay chiết khấu thương phiếu
Cho vay chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng mà theo đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đến hạn thanh toán cho NHTM để nhận được một số tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi số tiền chiết khấu và hoa hồng phí Chiết khấu thương phiếu vừa là nghiệp vụ sinh lời, vừa duy trì được năng lực thanh toán của NHTM khi các NHTM mang thương phiếu đến tái chiết khấu tại NHNN Có hai loại chiết khấu là Chiết khấu truy đòi và Chiết khấu miễn truy đòi:
Chiết khấu miễn truy đòi: Là loại chiết khấu mà trong đó NHTM mua hẳn
thương phiếu, khi đáo hạn thì ngân hàng chỉ có quyền đòi người phát hành, không có quyền đòi người vay chiết khấu
Chiết khấu truy đòi: Là loại chiết khấu mà trong đó NHTM mua lại thương phiếu
nhưng có quyền đòi người phát hành khi đáo hạn Tuy nhiên, nếu người phát hành
Trang 99
khấu Đồng thời, trong thời hạn chiết khấu, khách hàng vay có thể chuộc lại thương phiếu từ ngân hàng
1.2.5.4 Cho vay theo hạn mức thấu chi
Cho vay theo hạn mức thấu chi là nghiệp vụ tín dụng mà theo đó NHTM cho phép người vay được chi vượt quá số dư trong tài khoản thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian nhất định Việc cho vay theo hạn mức thấu chi được thực hiện trên tài khoản vãng lai của khách hàng, chủ yếu nhằm mục đích cho vay đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng phát sinh của người vay vốn Ngân hàng
có thể tùy vào uy tín hoặc chính sách tín dụng của mình mà cấp cho người vay hạn mức thấu chi có tài sản đảm bảo hoặc không có tài sản đảm bảo Lãi suất thấu chi thường rất cao so với các loại lãi suất cho vay khác
1.3 Hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn tại ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn
Hiệu quả cho vay ngắn hạn được hiểu là khả năng đáp ứng một cách phù hợp nhất nhu cầu về vốn ngắn hạn của khách hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn và sinh lời cho ngân hàng Như vậy, một hoạt động cho vay của ngân hàng được coi là hiệu quả khi nó đáp ứng được những tiêu chí trên
Hiệu quả cho vay ngắn hạn là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng Có thể
sử dụng một số tiêu chí định lượng để cụ thể hóa hiệu quả cho vay Tuy nhiên, đối với những mặt không thể lượng hóa thì sẽ sử dụng các chỉ tiêu định tính
1.3.2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn tại ngân hàng thương mại
1.3.2.1 Đối với ngân hàng thương mại
Cho vay ngắn hạn là một trong các hoạt động quan trọng của ngân hàng thương mại, là hoạt động đem lại nguồn thu lớn nhất cho ngân hàng, nó cũng có tác động không nhỏ đến các hoạt động khác của ngân hàng Việc đẩy mạnh hoạt động cho vay ngắn hạn không chỉ giúp ngân hàng kinh doanh có lãi, giảm được chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, đặc biệt là giảm được những thiệt hại rất lớn do không thu hồi được khoản đã cho vay của ngân hàng Điều này sẽ làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, trên hết là tăng lợi nhuận cuối kỳ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Ngoài ra, thông qua việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn sẽ giúp ngân hàng tồn tại một cách bền vững, củng cố mối quan hệ thân thiết với khách hàng
cũ, thu hút thêm nhiều khách hàng mới, đó cũng là một cách để các NHTM mở rộng thị phần, tăng khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường tài chính đầy khắc nghiệt
Trang 101.3.2.2 Đối với khách hàng
Khách hàng của ngân hàng gồm có người gửi tiền và người vay tiền:
Người gửi tiền quan tâm đến khả năng thanh toán của ngân hàng trong khi khả
năng thanh toán lại có mối liên hệ mật thiết với hiệu quả cho vay Vì vậy, đẩy mạnh hiệu quả hoạt động cho vay là điều vô cùng cần thiết để thu hút nguồn tiền gửi của khách hàng, tăng cơ hội đầu tư sinh lời cho ngân hàng
Người vay tiền là người trực tiếp sử dụng khoản vốn vay ngân hàng Để đảm bảo
hiệu quả cho vay, ngân hàng cần tiến hành kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay của khách hàng, cùng với khách hàng uốn nắn và chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong hoạt động tài chính và kinh doanh, đem lại nguồn thu cho khách hàng cũng như đảm bảo chất lượng khoản cho vay của ngân hàng Người vay tiền phải coi hiệu quả của khoản vay là vấn đề cần thiết của bản thân và ngày càng phải nâng cao để nó
mang lại lợi ích tối ưu nhất cho mình cũng như ngân hàng
1.3.2.3 Đối với nền kinh tế
Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế cũng cần phải có một ngồn vốn đầu tư lớn để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh Nhưng để có lượng vốn đầu tư lớn như vậy thì chỉ có quan hệ tín dụng mới đáp ứng được điều đó Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính, là kênh chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn và làm tăng hiệu quả của các hoạt động trong nền kinh tế Hoạt động cho vay của ngân hàng đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giúp giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư, từ đó khuyến khích đầu tư tăng năng suất lao động cho nền kinh tế
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn tại ngân hàng thương mại
1.3.3.1 Các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay trên cơ sở pháp lý, việc tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ, việc thực hiện theo đúng cam kết trong hợp đồng cho vay Trên cơ sở pháp lý, hoạt động cho vay có hiệu quả phải chấp hành pháp luật của Nhà nước, cao nhất là Hiến pháp và Luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Đảm bảo các nguyên tắc cho vay đối với khách hàng: Đó là ngân hàng chỉ cho
vay đối với những khách hàng có thể chứng minh được khả năng thanh toán của mình trong tương lai, khách hàng có nghĩa vụ sử dụng đúng vốn vay vào mục đích theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn Nếu các nguyên tắc
Trang 1111
trên được đảm bảo thì hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đã thực sự phát triển một cách hiệu quả và ngược lại
Uy tín của ngân hàng đối với khách hàng: Uy tín của ngân hàng là chỉ tiêu quan
trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay ngắn hạn nói riêng Khách hàng quyết định mức độ cạnh tranh của ngân hàng cũng như sự tồn tại của ngân hàng trong hệ thống các NHTM
Mức độ hài lòng của khách hàng: Để phát triển hoạt động cho vay ngắn hạn thì
việc ngân hàng làm hài lòng khách hàng là một điều tất yếu Mức độ hài lòng của khách hàng không chỉ được đo bằng những lợi ích khi khách hàng sử dụng dịch vụ cho vay ngắn hạn của ngân hàng vì những lợi ích này khách hàng cũng có thể được thỏa mãn ở các ngân hàng khác nên yếu tố gần như quyết định sự trung thành cũng như sự hài lòng của khách hàng là thái độ phục vụ và chăm sóc khách hàng của nhân viên ngân hàng trước và sau khi sử dụng dịch vụ Nhân viên giao dịch là người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên thái độ của họ là một phần khiến khách hàng có thể sử dụng hoặc không sử dụng dịch vụ của ngân hàng Vì vậy, đẩy mạnh hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn, trước tiên ngân hàng cần phải đào tạo được một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có khả năng làm hài lòng tối đa nhu cầu của khách hàng
Việc sử dụng vốn vay của khách hàng: Khách hàng là nhân tố quyết định đến sự
thành công của hoạt động cho vay Nếu khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích thì xác suất xảy ra rủi ro rất ít do ngân hàng đã thẩm định tính khả thi của việc sử dụng vốn vay, ngược lại, việc sử dụng vốn vay sai mục đích của khách hàng có ảnh hưởng xấu rất lớn tới hoạt động của ngân hàng
Chiến lược quản trị tín dụng: Chiến lược tín dụng là định hướng cơ bản cho hoạt
động tín dụng của ngân hàng, có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng Chiến lược tín dụng phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích của người gửi tiền, người vay tiền với mục tiêu của ngân hàng Một chiến lược tín dụng phù hợp sẽ giúp cho hoạt động cho vay của ngân hàng giảm thiểu được rủi ro, nâng cao chất lượng, do
đó hiệu quả của các món vay được nâng cao Nó cũng góp phần thu hút thêm nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm tín dụng của ngân hàng đồng thời hướng hoạt động ngân hàng tuân thủ đúng đường lối chính sách mà Nhà nước đã đề ra
Chiến lược quản trị rủi ro tín dụng: Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận
rủi ro một cách khoa học, toàn diện và hệ thống nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát và những ảnh hưởng bất lợi từ rủi ro Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng thường tập trung vào việc khách hàng có tuân thủ đúng mục đích vay vốn, tình hình hoạt động SXKD của doanh nghiệp, quá trình trả nợ ngân hàng, Không những phải quản trị rủi ro với những khoản vay đã và đang xảy ra mà phải dự đoán và phòng ngừa đối với những khoản vay có nguy cơ rủi ro Nếu ngân
Trang 12hàng thực hiện tốt công tác này thì chất lượng khoản vay ngắn hạn sẽ được đảm bảo, mang lại lợi nhuận cao cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Các nhóm chỉ tiêu định tính trên đã phản ánh được một phần chất lượng của khoản vay Tuy nhiên, muốn xem xét cụ thể, cẩn thận và toàn diện thì cần phải xét đến các yếu tố định lượng như chính sách tín dụng, xử lý nợ quá hạn, nợ xấu,
1.3.3.2 Các chỉ tiêu định lượng
Các chỉ tiêu đánh giá về quy mô
Hạn mức cho vay ngắn hạn: Hạn mức cho vay ngắn hạn có tác động trực tiếp tới
sự phát triển của hoạt động cho vay ngắn hạn Nhu cầu chi tiêu của khách hàng là không giới hạn, vì thế khách hàng thường có xu hướng muốn vay ở các ngân hàng có hạn mức tín dụng cao vì họ sẽ có nhiều vốn để sử dụng hơn Tuy nhiên, ngân hàng không thể chạy theo nhu cầu của khách hàng để tăng mãi hạn mức tín dụng vì rủi ro mất vốn của ngân hàng là rất lớn Bởi vậy, việc xây dựng một chính sách tín dụng hợp
lý, đảm bảo an toàn, thu hút khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh đang là vấn đề được chú trọng trong các ngân hàng hiện nay
Dư nợ cho vay ngắn hạn: Chỉ tiêu này có thể đánh giá được quy mô cho vay, dư
nợ cho vay ngắn hạn càng cao thì quy mô cho vay càng lớn và ngược lại
Dư nợ cho
vay ngắn hạn = Dư nợ đầu kỳ +
Doanh số cho vay ngắn hạn trong kỳ
mô cho vay ngắn hạn giảm mà nó phản ánh chất lượng của khoản vay tốt và ngân hàng đã đạt được mục tiêu trong đẩy mạnh hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn
- Tốc độ tăng trưởng cho vay ngắn hạn: Tăng trưởng là sự tăng lên về quy mô,
sản lượng trong một thời kỳ nhất định Tại các NHTM, tăng trưởng là một trong những tiền đề cho việc chiếm lĩnh thị trường và gia tăng lợi nhuận Mức tăng trưởng cho vay ngắn hạn được tính bằng số tương đối hay số tuyệt đối của số lượng cho vay ngắn hạn kỳ sau so với kỳ trước Số tương đối thể hiện mức độ tăng trưởng nhanh hay chậm hoặc không có tăng trưởng Số tuyệt đối thể hiện quy mô tăng trưởng cho vay
Khi đánh giá mức độ tăng trưởng cho vay ngắn hạn người ta thường dùng chỉ tiêu tốc
độ tăng trưởng dư nợ cho vay ngắn hạn Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức
sau:
Trang 13Chỉ tiêu đánh giá về chất lƣợng
Doanh số cho vay ngắn hạn: Doanh số cho vay ngắn hạn là tổng số tiền ngân
hàng cho vay trong một kỳ, được cộng dồn các khoản cho vay ngắn hạn trong một kỳ
kế toán Doanh số cho vay ngắn hạn phản ánh số vốn mà ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng, nó thể hiện việc mở rộng hoặc thu hẹp hoạt động cho vay ngắn hạn Nguồn vốn ngân hàng cho vay càng lớn thì chứng tỏ nhu cầu của khách hàng được đáp ứng tốt hơn, nó cũng phản ánh khả năng tăng lợi nhuận từ hoạt động này của ngân hàng Để đánh giá chính xác hơn hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng, cần phải so sánh doanh số cho vay ngắn hạn với tổng doanh số cho vay thông qua tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn
Tỷ trọng doanh số cho
vay ngắn hạn =
Doanh số cho vay ngắn hạn
*100% Tổng doanh số cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng Qua đó, ta có thể thấy được tình hình kinh doanh của ngân hàng Nếu tỷ trọng này cao, chứng tỏ cho vay ngắn hạn ngày càng được ngân hàng mở rộng và chú trọng nâng cao hiệu quả và ngược lại
- Doanh số thu nợ cho vay ngắn hạn: Là tổng vốn gốc cho vay ngắn hạn mà ngân
hàng thu hồi được trong một thời kỳ Qua đó, ta biết được khả năng thu hồi nợ, cũng như khả năng quản lý các khoản cho vay của ngân hàng có an toàn hay rủi ro và các cá nhân, hộ gia đình có sử dụng hiệu quả, đúng mục đích các khoản vay hay không Để đánh giá chất lượng khoản vay thông qua doanh số thu nợ, ta xem xét chỉ tiêu tỷ trọng doanh số thu hồi nợ cho vay ngắn hạn
Tỷ trọng doanh số thu
nợ cho vay ngắn hạn =
Doanh số thu nợ cho vay ngắn hạn
*100% Tổng doanh số thu nợ cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng doanh số thu nợ trong cho vay ngắn hạn chiếm bao nhiêu % tổng doanh số thu nợ cho vay của ngân hàng trong một kỳ Chất lượng cho vay ngắn hạn được thể hiện ở việc ngân hàng thu được đầy đủ nợ gốc và lãi đúng hạn Do đó, nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ công tác thu nợ của ngân hàng hiệu quả, từ
đó ta thấy được chất lượng của khoản vay là tốt và ngược lại
Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn
Trang 14Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn cho biết số dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm bao nhiêu % trong tổng dư nợ cho vay trong kỳ Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn tăng chứng tỏ quy mô cho vay ngắn hạn tăng và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng cơ cấu cho vay của NHTM nên đẩy mạnh hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn
là điều rất cần thiết
Tỷ lệ cho vay ngắn hạn có tài sản đảm bảo
Tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn
hạn có tài sản đảm bảo =
Dư nợ cho vay ngắn hạn có tài sản đảm bảo
*100 Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn có tài sản đảm bảo cho biết dư nợ cho vay ngắn hạn có tài sản đảm bảo chiếm bao nhiêu % tổng dư nợ cho vay ngắn hạn trong kỳ Tài sản đảm bảo là nguồn trả nợ thứ 2 của khách hàng cho ngân hàng khi khách hàng không đủ khả năng trả nợ Căn cứ vào giá trị của TSĐB, ngân hàng có thể xác định được lượng vốn tối đa cho khách hàng vay Một NHTM có tỷ lệ TSĐB cao thì các khoản vay của ngân hàng đó có thể được đảm bảo an toàn và có độ rủi ro thấp hơn những NHTM có tỷ lệ TSĐB thấp Ngoài ra, tỷ lệ này cao hay thấp còn phụ thuộc vào chính sách của NHNN và NHTM trong từng thời kỳ cũng như sự biến động của nền kinh tế
Nợ quá hạn trong cho vay ngắn hạn
Theo điều 11 Thông tư số 02/2013/TT – NHNN của Ngân hàng nhà nước vào 21/01/2013 ngân hàng thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính như sau:
- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết
Trang 1515
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết
Tỷ lệ nợ quá hạn cho
vay ngắn hạn =
Dư nợ quá hạn cho vay ngắn hạn
*100%
Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng của một khoản cho vay Đây là các khoản nợ thuộc nhóm 2,3,4,5 Nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn
mà khách hàng không trả được số tiền trong hợp đồng tín dụng, tiền lãi của số tiền đó
và không được ngân hàng gia hạn Số tiền này ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn và
áp dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản nợ đến hạn trong thời gian chậm trả (cao hơn lãi suất thông thường) Đây là những khoản nợ có độ rủi ro cao và ngân hàng có khả năng mất vốn Để đánh giá chất lượng cho vay trên cơ sở nợ quá hạn, người ta thường thông qua chỉ tiêu nợ quá hạn Chỉ tiêu này càng nhỏ thì chất lượng cho vay càng cao, ngân hàng hoạt động có hiệu quả và độ an toàn cao
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động cho vay, khả năng xảy ra nợ quá hạn của ngân hàng rất khó tránh khỏi Nếu một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao
sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh vì nguy cơ mất khả năng thanh toán, do vậy ngân hàng nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là chất lượng tín dụng thấp Để đảm bảo an toàn, sinh lời và tăng khả năng cạnh tranh, đẩy mạnh hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn thì ngân hàng phải cố gắng giảm thiểu tỷ lệ nợ quá hạn tới mức thấp nhất có thể
Nợ xấu trong cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu cho vay ngắn hạn
Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn
Nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ngắn hạn vào khoảng 2-5% là chấp nhận được Nợ xấu là những khoản nợ có khả năng thu hồi thấp Chỉ tiêu này càng cao, rủi ro mất vốn càng lớn, chất lượng cho vay càng thấp Đồng thời nó thể hiện hiệu quả thẩm định dự án kém, quan hệ khách hàng không tốt, việc đôn đốc thu hồi nợ còn yếu Do đó, hầu hết các ngân hàng đều muốn kéo tỷ lệ này xuống mức thấp nhất Có nhiều biện pháp để giải quyết nợ xấu, tùy vào tình hình thực
tế của ngân hàng có thể đưa ra những biện pháp khác nhau từ gia hạn nợ đến phát mại tài sản đảm bảo
Trang 16Tỷ lệ nợ xấu/nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ xấu/nợ quá hạn cho
Nợ xấu cho vay ngắn hạn
Nợ quá hạn cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ này cho biết trong 100 đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng nợ xấu Đây là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất tình hình nợ xấu cho vay ngắn hạn tại ngân hàng Khi khách hàng không trả được nợ đến hạn, biện pháp ngân hàng thường làm là gia hạn trả
nợ cho khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng và cũng là tạo điều kiện cho mình để
có thể thu hồi khoản vốn của mình Thời gian gia hạn đã hết nhưng khách hàng vẫn không trả được nợ thì ngân hàng sẽ xếp khoản vay này vào nhóm nợ xấu Khả năng mất vốn gần như là 100% Chỉ tiêu này giúp ngân hàng đánh giá chi tiết hơn về độ an toàn tín dụng của ngân hàng
Tỷ lệ này cho biết DPRR trong cho vay ngắn hạn được trích lập so với dư nợ cho vay ngắn hạn là bao nhiêu Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả cho vay ngắn hạn chưa tốt vẫn phải trích lập nhiều để đảm bảo cho hoạt động tín dụng được an toàn
Tỷ lệ trích lập DPRR
cho vay ngắn hạn =
DPRR cho vay ngắn hạn được trích lập
x 100%
Nợ quá hạn cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ này cho biết DPRR trong cho vay ngắn hạn được trích lập so với nợ quá hạn cho vay ngắn hạn là bao nhiêu Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ nợ quá hạn tại ngân hàng lớn, ngân hàng phải trích lập nhiều, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tại ngân hàng
Tỷ lệ trích lập DPRR
cho vay ngắn hạn =
DPRR cho vay ngắn hạn được trích lập
x 100%
Nợ xấu cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ này cho biết DPRR trong cho vay ngắn hạn được trích lập so với nợ xấu cho vay ngắn hạn là bao nhiêu Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ nợ xấu tại ngân hàng lớn, ngân hàng trích lập nhiều tránh tình trạng thâm hụt vốn vì đây là nhóm nợ có khả năng mất vốn cao
Trang 1717
rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi Sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng phụ thuộc vào khả năng bù đắp rủi ro chung và rủi ro cho vay ngắn hạn nói riêng
- Nếu hệ số này <1 cho biết ngân hàng không đủ khả năng bù đắp rủi ro
- Nếu hệ số này =1, ngân hàng đủ khả năng bù đắp rủi ro cho vay ngắn hạn
- Nếu hệ số này >1 tức là ngân hàng thừa khả năng bù đắp rủi ro cho vay ngắn hạn
Chỉ tiêu quay vòng vốn cho vay ngắn hạn
tỏ số vốn ngân hàng thu được đúng hạn càng nhiều, tần suất sử dụng khoản vốn này để tái đầu tư lớn Đồng thời, vòng quay vốn càng lớn thì nợ quá hạn trong kỳ càng nhỏ, ngân hàng tránh được nhiều rủi ro mất vốn, đảm bảo lợi nhận trong kỳ của mình Một ngân hàng có vòng quay vốn lớn chứng tỏ chất lượng cho vay ngắn hạn tốt và phát triển tương đối ổn định Bởi vì ngân hàng hoạt động hiệu quả khi một đồng vốn cho vay ngắn hạn được đảm bảo bằng 1 hoặc nhiều đồng vốn thu về từ khách hàng tại một thời điểm nhất định nên vòng quay vốn > 1 là tốt, < 1 là không tốt
Chỉ tiêu lợi nhuận cho vay ngắn hạn: Chỉ tiêu lợi nhuận luôn nói lên sự phát triển
hoạt động sản xuất kinh doanh, và với cho vay ngắn hạn thì nó cũng không nằm ngoài nhận định đó Để đánh giá được chất lượng khoản vay thông qua chỉ tiêu lợi nhuận, phải có sự so sánh giữa số lợi nhuận thu được từ cho vay ngắn hạn với toàn bộ lợi nhuận của hoạt động cho vay Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:
Tỷ trọng lợi nhuận cho
1.3.4 Các nhân tổ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ngắn hạn tại ngân hàng thương mại
1.3.4.1 Những nhân tố khách quan
Những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ngắn hạn tại NHTM là những nhân tố mà NHTM không thể kiểm soát được, nó đến từ môi trường
Trang 18kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường công nghệ kỹ thuật, áp lực cạnh tranh bộ ngành hay các chính sách của Nhà nước
Thứ nhất, ảnh hưởng đến từ môi trường kinh tế: Mọi hoạt động của cả doanh
nghiệp và ngân hàng đều chịu ảnh hưởng từ những biến động kinh tế Bất cứ biến động nào của yếu tố kinh tế vĩ mô đều có thể có tác động đến hiệu quả của ngân hàng
và doanh nghiệp Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp mở rộng SXKD, tăng năng suất lao động, thu hồi vốn nhanh và đạt được lợi nhuận cao từ đó đảm bảo trả nợ đẩy đủ và đúng hạn cho ngân hàng Nhưng khi môi trường kinh tế không thuận lợi, chẳng hạn như lạm phát tăng cao, những biến động xấu về tỷ giá hoặc về thị trường làm cho chủ đầu tư bất ngờ, dẫn đến lợi nhuận thu được không như mong muốn của doanh nghiệp, từ đó làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng
Thứ hai, ảnh hưởng đến từ áp lực cạnh tranh nội bộ ngành: Ảnh hưởng tạm thời
từ cuộc khủng hoảng kinh tế khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới dẫn đến việc cường độ cạnh tranh tăng lên Cường độ cạnh tranh của các ngân hàng tăng cao khi có sự xuất hiện của nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài Ngân hàng ngoại thường có một phân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp nước ngoài Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản hiện nay nhiều ngân hàng trong nước mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ xấu trong cho vay bất động sản Ngoài ra, ngân hàng ngoại còn có nhiều lợi thế như hạ tầng dịch vụ, dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, công nghệ kỹ thuật đều tốt hơn các ngân hàng nội
Thứ ba, ảnh hưởng đến từ các chính sách của Nhà nước: Các chính sách của Nhà
nước cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các khoản cho vay ngắn hạn Khi các chính sách này ổn định, phù hợp, nó sẽ kích thích doanh nghiệp sản xuất hiệu quả Nhưng khi các chính sách này thay đổi liên tục, bất ổn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, do đó cũng gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ
Thứ tư, ảnh hưởng đến từ môi trường pháp lý: Mỗi một chủ thể trong xã hội đều
có quyền tự do làm những việc mình muốn, mình thích nhưng đều phải trong khuôn khổ pháp luật quy định Kinh doanh ngân hàng là một trong những nghành chịu sự giám sát chặt chẽ nhất của pháp luật và chính phủ Môi trường này tạo ra cơ sở pháp lý ràng buộc và tác động đến việc hình thành, tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng Nếu hệ thống pháp luật càng quy định rõ ràng, chặt chẽ, chi tiết, đồng bộ thì sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng, đồng thời cải thiện mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng hơn do thỏa mãn lợi ích của hai bên Hoạt động cho
Trang 1919
định chung chung thì sẽ đặt ngân hàng trước những nguy cơ cạnh tranh mới và sẽ tạo khe hở dẫn dến rủi ro không đáng kể giữa ngân hàng và khách hàng Cả ngân hàng và khách hàng khó có thể đưa ra thỏa thuận chung nên hoạt động ngân hàng nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng sẽ vô cùng khó khăn
Cuối cùng là ảnh hưởng đến từ môi trường công nghệ kỹ thuật: Nền kinh tế ngày
càng phát triển thì vai trò của công nghệ thông tin trong đời sống ngày càng được khẳng định hơn Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng vậy, khoa học công nghệ giúp nhân viên giảm được nhiều chi phí về thời gian và công sức để tìm hiểu khách hàng và thẩm định khách hàng Hệ thống thông tin có ảnh hưởng lớn vì hoạt động cho vay liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội, chính trị,… Những thông tin cung cấp cho hoạt động tín dụng cho vay này rất phong phú và đa dạng từ nhiều kênh khách nhau Số lượng và chất lượng của các thông tin đó quyết định độ chính xác trong phân tích thị trường và đánh giá khách hàng
1.3.4.2 Những nhân tố chủ quan
Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ngắn hạn tại NHTM
là những nhân tố xuất phát từ nội bộ các NHTM, là những nhân tố NHTM có thể kiểm soát được như chính sách tín dụng của ngân hàng, khả năng thẩm định cho vay hay trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng,
Thứ nhất, ảnh hưởng đến từ chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín
dụng là định hướng cơ bản cho hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM, có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng Chính sách tín dụng được xây dựng nhằm hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng ngắn hạn, tạo ra sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả sinh lời Bất cứ ngân hàng nào muốn có chất lượng cho vay ngắn hạn tốt, hiệu quả cao đều phải có một chính sách tín dụng rõ ràng, phù hợp với ngân hàng mình và phù hợp với tình hình kinh tế
Thứ hai, ảnh hưởng đến từ khả năng thẩm định cho vay: Trong quá trình cho vay
ngắn hạn của ngân hàng, thẩm định cho vay là khâu rất quan trọng Thẩm định là việc đánh giá, kiểm tra, dự đoán về độ chính xác, an toàn và hiệu quả của một hợp đồng tín dụng Thẩm định giúp ngân hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của phương án
để xác định tính khả thi của phương án trên cơ sở đó sẽ quyết định khách hàng này có
đủ điều kiện được cấp tín dụng hay không Mặc dù không thể tránh được tất cả các sai sót nhưng khi ngân hàng làm tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho việc thu hồi cả vốn lẫn lãi một cách đầy đủ, đúng hạn Đối với cho vay ngắn hạn, do đặc thù là thường xuyên nên khâu thẩm định cũng đòi hỏi phải nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, đồng thời phải đảm bảo an toàn cho món vay
Trang 20Quá trình giám sát khoản vay và xử lý tình huống của ngân hàng: Hoạt động giám sát thường tập trung vào việc khách hàng có tuân thủ đúng mục đích vay vốn không, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như khả năng trả nợ cho ngân hàng Nếu ngân hàng thực hiện tốt công tác này thì sẽ giúp phát hiện kịp thời những sai phạm của khách hàng để có thể đưa ra những biện pháp kịp thời giúp hoạt động SXKD của doanh nghiệp hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng của khoản vay
Thứ ba, ảnh hưởng đến từ trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng: Yếu tố con
người luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đội
ngũ cán bộ, nhân viên là bộ mặt, hình ảnh, lòng cốt của một ngân hàng
Trình độ chuyên môn, đạo đức, thái độ phục vụ,… của cán bộ ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay ngắn hạn nói riêng Cán bộ ngân hàng là những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên nếu cán bộ ngân hàng có thái độ phục vụ nhiệt tình, chăm sóc khách hàng chu đáo thì hình ảnh của ngân hàng trong mắt khách hàng sẽ được nâng lên, khách hàng đến với ngân hàng nhiều hơn, nhờ đó mà ngân hàng mở rộng được mối quan hệ với khách hàng, duy trì được sự trung thành đối với dịch vụ ngân hàng của khách hàng Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức cũng cần được quan tâm Cán bộ ngân hàng phải biết đặt lợi ích của ngân hàng và khách hàng lên hàng đầu, không vì tư lợi cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích của ngân hàng và khách hàng
Ngoài ra, cán bộ nhân viên còn là nguồn ý tưởng, sáng kiến giúp ngân hàng cải thiện và phát triển hoạt động cho vay ngắn hạn Vì họ là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, biết được nhu cầu và vướng mắc của khách hàng Nhờ đó, ngân hàng có thể cải tạo sản phẩm để phù hợp nhất với nhu cầu của khách hàng
Thứ tư, ảnh hưởng đến từ cơ sở vật chất thiết bị: Khách hàng trước khi sử dụng
bất kì một sản phẩm dịch vụ nào thì đều tìm hiểu nó ở các ngân hàng khác nhau, và thường quyết định sử dụng sản phẩm, dịch vụ ở ngân hàng có trang thiết bị cơ sở vật chất hiện đại Các trang thiết bị được trang bị đầy đủ, tiên tiến sẽ giúp ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh, tạo hình ảnh về một ngân hàng hiện đại trong mắt khách hàng Chính vì vậy, các ngân hàng luôn phải cải tiến trang thiết bị để phù hợp với xu hướng phát triển của công nghệ kỹ thuật
Thứ năm, ảnh hưởng đến từ thông tin tín dụng: Nhờ có các thông tin tín dụng mà
cán bộ ngân hàng có thể đưa ra các quyết định về cho vay, đảm bảo tiền vay nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng Do đó, chất lượng của nguồn thông tin ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của các khoản vay Thông tin càng chính xác, kịp thời càng giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc quyết định cho vay Việc thiếu thông tin tạo ra những rủi
ro cho ngân hàng, làm giảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Vì vậy, các ngân
Trang 21Thứ nhất, nhu cầu của khách hàng: Nhu cầu của khách hàng là nhân tố quyết
định sự thành bại trong kinh doanh ngân hàng Nhu cầu được xem xét ở đây là nhu cầu
có khả năng thanh toán Dịch vụ mà ngân hàng cung ứng có hấp dẫn đến đâu, có tiện ích thế nào mà khách hàng không sử dụng hoặc không có điều kiện sử dụng thì ngân hàng cũng không thể phát triển dịch vụ đó được Chính vì vậy, ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để đưa ra những chính sách marketing phù hợp để thu hút khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng mình
Thứ hai, khả năng tài chính của khách hàng: Thông thường các khoản cho vay
tiêu dùng không có tài sản đảm bảo nên việc đánh giá khả năng tài chính của khách hàng là rất quan trọng Phần lớn các khoản cho vay ngắn hạn có nguồn trả nợ là thu nhập thường xuyên của khách hàng nên khách hàng nào có khoản thu nhập ổn định thì
sẽ được ưu tiên hơn
Thứ ba, đạo đức của khách hàng: Đạo đức của khách hàng được coi là nhân tố
quan trọng nhất, được đánh giá dựa trên năng lực pháp lý và độ tín nhiệm Năng lực pháp lý là cơ sở để hình thành nghĩa vụ trả nợ của khách hàng trong quan hệ tín dụng, còn độ tín nhiệm liên quan đến độ sẵn lòng trả nợ của khách hàng, phụ thuộc vào tính cách và được phản ánh trong hồ sơ trong quá khứ của người vay
Thứ tư, phương án sử dụng vốn vay: Phương án SXKD tốt sẽ đem lại lợi nhuận
cao cho khách hàng, từ đó sẽ đảm bảo trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng Khi khoản vay mang lại thu nhập cho khách hàng và ngân hàng tức là nó đã được sử dụng hiệu quả và ngược lại
Thứ năm, năng lực điều hành, quản lý của chủ doanh nghiệp: Khi chủ doanh
nghiệp có trình độ chuyên môn cao, năng lực lãnh đạo tốt thì ngay từ khâu lập phương
án kinh doanh cũng đã thể hiện khả năng sử dụng vốn hiệu quả của danh nghiệp Ngược lại, chủ doanh nghiệp không có trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm cần thiết sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh không hiệu quả, không đạt được mục tiêu
đề ra, ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng
Thứ sáu, TSĐB của doanh nghiệp: TSĐB chính là nguồn trả nợ thứ 2 của doanh
nghiệp cho ngân hàng Khi khách hàng có năng lực tài chính không lành mạnh, không
có đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng thì TSĐB của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng
Trang 22thu hồi vốn khi tiến hành phát mại TSĐB đó Tuy nhiên, TSĐB cũng phụ thuộc rất nhiều từ những tác động của nền kinh tế nên ngân hàng cần kiểm tra, định giá TSĐB thường xuyên để tránh rủi ro TSĐB bị mất giá, ảnh hưởng đến chất lượng tài sản đảm bảo khoản vay của ngân hàng
Kết luận chương 1
Trong chương 1, khóa luận đã trình bày một cách khái quát về hoạt động cho vay ngắn hạn tại NHTM, xác định tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đẩy mạnh hoạt động cho vay ngắn hạn Theo đó, chương 1 tập chung phân tích những chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động cho vay ngắn hạn Trên cơ
sở áp dụng những kiến thức đó, chương 1 đã tạo tiền đề để phân tích cụ thể “Thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Lục Ngạn” ở chương 2
Trang 2323
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
CHI NHÁNH LỤC NGẠN 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là ngân hàng lớn nhất Việt Nam
cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Tính đến 31/10/2013, vị thế dẫn đầu của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam vẫn được khẳng định trên nhiều phương diện như:
- Nhân sự: gần 40.000 cán bộ, nhân viên
Với vai trò trụ cột đối với nền kinh tế đất nước, chủ đạo chủ lực trên thị trường tài chính nông nghiệp, nông thôn, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chú trọng mở rộng mạng lưới hoạt động rộng khắp xuống các huyện, xã nhằm tạo điều kiện cho khách hàng ở mọi vùng, miền được tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng Phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến cùng với việc chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh đã tạo nên thế mạnh vượt trội giúp ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nâng cao sức mạnh cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập với nhiều thách thức
Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước: Tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Trung Ương được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, vụ Kế toán và một số đơn vị
Trang 24Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật
Ngày 01/03/1991, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 18/NH-QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và ngày 24/6/1994, thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận cho Ngân hàng nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định
Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số
603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch 3 tại Văn phòng miền Trung) và 43 chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam
2.1.2 Quá trình hình thành và Phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Lục Ngạn
Tên gọi: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Địa điểm: Thị trấn Chũ - Huyện Lục Ngạn - Tỉnh Bắc Giang
Điện thoại: 0240.3.882.915
Fax: 0240.3.883.929
Lục Ngạn là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, toàn huyện có 11 dân tộc trong đó dân tộc kinh chiếm 51,7%, dân tộc thiểu số chiếm 48,3% Cơ cấu kinh tế của huyện chủ yếu là nông nghiệp, tỷ lệ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp còn thấp Hơn nữa, trên địa bàn huyện không có các doanh nghiệp lớn hoạt động mà chỉ có các DNVVN nên tốc độ phát triển kinh tế chưa cao Do đó, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh Lục Ngạn là một chi nhánh cấp 2 trực thuộc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang được thành lập ngày 22/12/1992 với nhiệm vụ thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh là chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang thủ công nghiệp, dịch vụ, nâng
Trang 25Là một ngân hàng nằm trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Lục Ngạn ngoài việc thực thi tốt đường lối chính sách của toàn hệ thống ngân hàng còn đề ra những chiến lược kinh doanh cụ thể phù hợp với địa bàn hoạt động Với phương châm “nhanh chóng, chính xác, an toàn” trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhanh chóng, tiết kiệm trung gian, chi phí với phong cách phục vụ khách hàng tận tình, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Lục Ngạn ngày càng tranh thủ được tình cảm và sự tín nhiệm của khách hàng
Trải qua chặng đường gần 23 năm hoạt động và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước và khẳng định vị thế của ngành ngân hàng trên trường quốc tế Chi nhánh Lục Ngạn đã bám sát phương hướng phát triển kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam với mục tiêu tập trung huy động mọi nguồn lực nhàn rỗi, đáp ứng đầu tư vốn cho các thành phân kinh tế Mặt khác, chi nhánh không ngừng phát triển các tiện ích, các loại hình sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để phục vụ tối đa nhu cầu của khách hàng Chi nhánh Lục Ngạn hiện có 83 cán bộ được bố trí đúng người, đúng việc, phù hợp với trình độ và chuyên môn của từng người Chi nhánh tập trung phát triển nguồn nhân lực dồi dào và làm việc hiệu quả mang lại lợi ích cho ngân hàng, lợi ích cho nền kinh tế, trên hết là đảm bảo cho nguồn thu nhập ổn định cho chính họ theo quy định của ngành
Trải qua nhiều khó khăn, thách thức, tập thể ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên đã quyết tâm phấn đấu thực hiện có hiệu quả các chức năng và nhiệm vụ để hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận đặt ra Chi nhánh Lục Ngạn đã khẳng định được vị thế và vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường, đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, góp phần vào sự phát triển của ngành ngân hàng nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung
Trang 262.1.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn gồm một trụ sở ngân hàng huyện tại trung tâm huyện là thị trấn Chũ và 5 phòng giao dịch trực thuộc tại các khu vực kinh tế trọng điểm trong huyện Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn cụ thể như sau:
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam Chi nhánh Lục Ngạn
(Nguồn: Phòng Hành chính Nhân sự) Ban giám đốc: Bao gồm giám đốc và 3 phó giám đốc phụ trách các mặt hoạt
động khác nhau, bao gồm: 1 Phó giám đốc phụ trách phòng Kinh Doanh, 1 Phó giám đốc phụ trách phòng kế toán – ngân quỹ, 1 Phó giám đốc phụ trách phòng tổ chức hành chính Ban giám đốc có chức năng quản lý và điều hành chung mọi hoạt động của đơn vị Tiếp nhận các chính sách, quyết định, kế hoạch của các cấp quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Phòng tín dụng kinh doanh: Phòng tín dụng kinh doanh có nhiệm vụ thẩm định
các hồ sơ, dự án vay vốn và thực hiện cho vay đối với các dự án đem lại lợi nhuận cho chi nhánh; quản lý các hoạt động liên doanh liên kết của hội sở và phát triển sản phẩm tín dụng; thẩm định và tái thẩm định các dự án vay vốn vượt quá hạn mức phán quyết của chi nhánh và sở giao dịch và lập các báo cáo tín dụng theo quy định và thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công
Phòng kế toán ngân quỹ: Phòng kế toán ngân quỹ có nhiệm vụ thực hiện công
tác kế toán cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của chi nhánh (không trực tiếp làm nhiệm vụ kế toán khách hàng và tiết kiệm) bao gồm: Tổ chức hướng dẫn thực hiện và
Phòng hành chính nhân
sự
Ngân hàng cấp 3 Lim
Ngân hàng cấp 3 Kim
Ngân hàng cấp 3 Biển Động
Ngân hàng cấp 3 Tân Sơn
Phòng giao dịch
Số 92
Trang 2727
đơn vị trực thuộc; tham mưu cho giám đốc về thực hiện chế độ tài chính kế toán; lập
và phân tích báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại chi nhánh; thực hiện kế toán chi tiêu nội bộ (mua sắm tài sản cố định, công cụ phục vụ mục đích kinh doanh); phân tích và đánh giá tình hình tài chính (doanh thu, chi phí, lợi nhuận) tại các phòng ban tại chi nhánh để có kế hoạch sử dụng ngân quỹ một cách hợp lý; cung cấp thông tin về tình hình tài chính và các chỉ tiêu thanh khoản tại chi nhánh,
Phòng hành chính nhân sự: Thực hiện các công việc quản lý hành chính, thi đua
khen thưởng, … sắp xếp bố trí nhân sự, tham mưu cho giám đốc để đảm bảo hoạt động của ngân hàng và các chính sách của người lao động
Các ngân hàng cấp 3: Lim, Kim, Biển Động, Tân Sơn hoạt động kinh doanh
(huy động vốn, cho vay, các dịch vụ ngân hàng khác,…) trên địa bàn của mình, chịu
sự quản lý và điều hành của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn và có nhiệm vụ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của mình lên chi nhánh Lục Ngạn vào cuối kỳ
Phòng giao dịch số 92: Có nhiệm vụ chủ yếu là huy động vốn, mua bán vàng
bạc đá quý, cho vay cầm cố,… theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Cùng với sự phát triển và tăng trưởng các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh, việc bồi dưỡng đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ cũng như việc sử dụng bố trí cán
bộ được Chi nhánh quan tâm, vì vậy đã tạo nên sự đoàn kết, thống nhất trong toàn thể Chi nhánh, tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cán bộ, công nhân viên phát huy hết khả
năng của mình trong công việc, góp phần vào lợi ích chung của toàn chi nhánh
2.1.4 Các hoạt động chính của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Hoạt động huy động vốn: Hoạt động huy động vốn chiếm vị trí quan trọng trong
hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn Ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới hình thức nhận tiền gửi Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ
và thanh toán hộ khách hàng, bằng cách đó ngân hàng có thể huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và dân cư Để gia tăng nguồn tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và có được nguồn tiền chất lượng cao, hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động vốn khác nhau như: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, mỗi loại tiền gửi khác nhau phù hợp với từng đối tượng khác nhau
Trang 28Hoạt động ngân quỹ: Hoạt động ngân quỹ là hoạt động đảm bảo khả năng chi
trả thanh toán thường xuyên của ngân hàng Nguồn đảm bảo cho khả năng này là những tài sản có tính lỏng cao Hiện nay, hoạt động ngân quỹ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn bao gồm các nghiệp vụ như: Mua, bán ngoại tệ; mua, bán các chứng từ có giá (trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, thương phiếu); thu, chi hộ tiền mặt VNĐ, ngoại tệ; cho thuê két sắt, giữ hộ vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá,
Hoạt động sử dụng vốn:
Hoạt động đầu tư: Đây là hoạt động mà Ngân hàng có thể tham gia vào các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán, góp vốn liên doanh liên kết nhằm sinh lời và phân tán rủi ro Hiện nay, hoạt động đầu tư của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn bao gồm các nghiệp vụ như: Tài trợ xuất nhập khẩu, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất; đồng tài trợ cho những dự án lớn, thời gian hoàn vốn dài; đầu tư trên thị trường vốn, thị trường trong nước và quốc tế,
Hoạt động tín dụng: Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở hầu hết các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trưng của NHTM Hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống và chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, hoạt động này bao gồm:
- Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Hoạt động cho vay tại chi nhánh bao gồm: Cho vay ngắn hạn bằng VNĐ, ngoại tệ; cho vay trung và dài hạn bằng VNĐ, ngoại tệ,
- Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí, đổi lại ngân hàng sẽ được sở hữu một thương phiếu chưa hết hạn Khi thương phiếu hết hạn, ngân hàng sẽ tiến hành đi thu nợ từ thương phiếu
- Cho thuê: Cho thuê là hoạt động tín dụng trung và dài hạn, theo đó ngân hàng
sẽ bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định Sau thời gian thuê, khách hàng sẽ phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng Hợp đồng cho thuê thường yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê Cuối hợp đồng thuê khách hàng có thể mua lại tài sản nếu muốn Hiện nay, chi nhánh đang thực hiện cho thuê tài chính thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác đối với một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Bảo lãnh: Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
hộ khách hàng Mặc dù không phải xuất tiền ra xong ngân hàng đã cho khách hàng mượn uy tín của mình để thu lợi Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng mua
Trang 2929
khác, Các nghiệp vụ bảo lãnh được chi nhánh Lục Ngạn áp dụng hiện nay là bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh thanh toán
Hoạt động dịch vụ khác: Ngoài các hoạt động chủ yếu trên, Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn còn cung cấp một số các loại hình dịch vụ khác như: Môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ bảo quản vật có giá, cung cấp dịch vụ ủy thác, tư vấn,
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn giai đoạn 2011 – 2013
2.2.1 Tình hình huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
Tuyệt đối
Tương đối (%) Tuyệt
đối
Tương đối (%) Tổng vốn huy động 492.467 661.057 528.228 168.590 34,23 (132.829) (20,09) Theo thành phần kinh tế
Tiền gửi của TCKT 168.252 238.097 182.982 69.845 41,51 (55.115) (23,15) Tiền gửi của dân cư 324.215 422.960 345.246 98.745 30,46 (77.714) (18,37)
Trang 30Nhìn vào bảng 2.1 ở trên ta thấy tổng vốn chi nhánh huy động được tăng trong năm 2012 và giảm trong năm 2013 Năm 2012, tổng vốn huy động là 661.057 triệu tăng 168.590 triệu ứng với 34,23% so với năm 2011 Năm 2011 nền kinh tế phát triển trở lại sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 nên các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có nhiều vốn nhàn rỗi, gửi ngân hàng là một giải pháp an toàn khi nền kinh
tế vẫn còn nhiều biến động nên tổng số vốn ngân hàng năm 2012 mới tăng như vậy Năm 2013, tổng vốn huy động là 528.228 triệu giảm 132.829 triệu ứng với 20,09% so với năm 2012 Năm 2012, 2013 là những năm nền kinh tế đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Giang cũng không tránh khỏi sự khó khăn đó Tình hình lạm phát tăng cao khiến giá nguyên vật đầu vào tăng cao, trong khi hàng hóa làm ra ế ẩm không bán được do sức mua của thị trường yếu khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải tạm dừng sản xuất kinh doanh Lãi suất của ngân hàng mặc dù đã giảm nhiều nhưng vẫn còn khá cao so với tình trạng của doanh nghiệp Hơn thế nữa, các ngân hàng cũng dè chừng khi cho các doanh nghiệp vay vốn để giải quyết khó khăn vì rủi ro nợ xấu có thể sẽ tăng cao nên nhiều doanh nghiệp không thể tồn tại được trên thị trường và nguồn vốn huy động của ngân hàng cũng bị suy giảm đáng kể từ những doanh nghiệp này
A Huy động vốn theo thành phần kinh tế
Tiền gửi từ TCKT luôn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn tiền gửi từ dân cư Vì bộ phận này luôn cần vốn để duy trì hoạt động SXKD nên không có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi
để gửi vào ngân hàng như tổ chức dân cư Năm 2011, tiền gửi từ TCKT là 168.252 triệu chiếm 34,17% tổng vốn huy động Năm 2012 là 238.097 triệu chiếm 36,02% tổng vốn huy động, tăng 69.845 triệu ứng với 41,51% so với năm 2011 Năm 2013 là 182.982 triệu chiếm 34,64% tổng vốn huy động giảm 55.115 triệu ứng với 23,15% so với năm 2012 Sự tăng lên vào năm 2012 và giảm xuống năm 2013 phù hợp với tổng nguồn vốn huy động được, đặc biệt là chịu tác động mạnh mẽ từ nền kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, nguồn vốn nhàn rỗi của họ có nhu cầu đầu tư, ngân hàng chính là sự lựa chọn tối ưu cũng như là kênh đầu tư sinh lời
an toàn mà hầu hết các doanh nghiệp lựa chọn Mặc dù lãi suất sinh lời thấp hơn các tổ chức khác trên thị trường nhưng ngân hàng là nơi đầu tư hợp lý nhất cho các doanh nghiệp khi nền kinh tế chưa có dấu hiệu tăng trưởng một cách ổn định trở lại Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản, một số doanh nghiệp khác thu hẹp quy mô SXKD hoạt động cầm chừng và đang có nhu cầu cao về vốn để phát triển trở lại nên việc gửi tiền vào ngân hàng là điều không thể
Tiền gửi từ dân cư cũng tăng giảm qua các năm Năm 2012, tiền gửi từ dân cư là 422.960 triệu chiếm 63,98% tăng 98.745 triệu ứng với 30,46% so với năm 2011
Trang 3131
kinh tế vì vốn eo hẹp, mà tình hình kinh tế năm 2012 cũng bấp bênh, giá vàng và ngoại tệ biến động thất thường nên họ đã chọn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn để gửi tiền nhằm mục đích sinh lời Hơn nữa, tiền gửi từ dân cư tại chi nhánh Lục Ngạn tăng cũng là do Bắc Giang là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, người dân mộc mạc, chân chất đi lên từ khó khăn nên sự an toàn về nguồn vốn luôn được họ ưu tiên hàng đầu Năm 2013, tiền gửi
từ dân cư là 345.246 triệu chiếm 65,36% tổng vốn huy động, giảm 77.714 triệu ứng với 18,37% so với năm 2012 Do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế, tiền kiếm của tổ chức dân cư chỉ đủ để trang trải cuộc sống hàng ngày cộng thêm việc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn giảm lãi suất huy động làm cho kênh huy động này trầm lắng xuống nhiều
B Huy động vốn theo kỳ hạn
Qua bảng 2.1 ta thấy, tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao trong các năm Năm
2011 là 384.009 triệu chiếm 78,98% tổng vốn huy động Năm 2012 là 528.771 triệu chiếm 79,99% tăng 144.762 triệu ứng với 37,7% so với năm 2011 Nguyên nhân của
sự tăng lên này là do trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn hoạt động kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực không còn sôi động và đạt hiệu quả cao như những năm kinh tế phát triển, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Để giảm thiểu rủi ro tín dụng, chi nhánh Lục Ngạn đã ưu tiên cho các khoản tiền gửi có kỳ hạn hơn vì các khoản tiền gửi này giúp ngân hàng có thể chủ động được trong việc sử dụng nguồn vốn huy động và thực hiện có hiệu quả các chính sách tín dụng của mình dù phải chấp nhận trả một mức lãi suất cao hơn so với khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng Năm 2013, tiền gửi có kỳ hạn là 423.370 triệu chiếm 80,15% tổng vốn huy động, giảm 105.401 triệu ứng với 19,93%
so với năm 2012 Sự giảm xuống này là do sự giảm xuống của tổng nguồn vốn huy động năm 2013 còn tỷ trọng tiền gửi ngắn hạn vẫn tăng và chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 năm Một phần là xuất phát từ nguyên nhân của năm 2012, phần khác là do cuộc chạy đua lãi suất huy động giữa các NHTM, đẩy lãi suất huy động có thời điểm lên đến 20% đã thu hút nguồn vốn theo kỳ hạn từ tổ chức dân cư, điều này đã làm gia tăng tiền gửi từ tổ chức này lên 8,21% so với năm trước Ngược lại, tiền gửi không kỳ hạn lại có tỷ trọng giảm qua các năm Năm 2011 là 22,02%, năm 2012 là 20,01%, năm
2013 là 19,85% Nguyên nhân phần lớn là do ngân hàng áp dụng mức lãi suất cụ thể 3-4%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn (nguồn: Thông tư 19/2012/TT-NHNN), mức lãi suất quá thấp nên không thu hút được nguồn đầu tư theo phương pháp này
Nhìn chung, cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế, theo kỳ hạn của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn có sự thay
Trang 32đổi về tỷ trọng không đáng kể qua các năm Điều này cho thấy sự ổn định và phù hợp trong chính sách về huy động vốn của chi nhánh
2.2.2 Tình hình hoạt động cho vay tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Bảng 2.2 Tình hình hoạt động cho vay tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%) Tổng dư nợ tín
dụng 380.230 420.690 487.820 40.460 10,64 67.130 13,76 Theo thành phần kinh tế
Cho vay TCKT 298.890 310.112 348.231 11.222 3,75 38.119 12,29 Cho vay tiêu
(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2011-2013)
Huy động vốn và sử dụng vốn là hai hoạt động có mỗi liên hệ chặt chẽ với nhau
Trang 3333
động của mình Huy động vốn sẽ là cơ sở cho các hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng Còn việc sử dụng vốn sẽ quyết định lợi nhuận, cũng như rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải trong hoạt động của mình
Qua bảng số liệu 2.2 ta thấy tổng dư nợ tín dụng năm 2012 đạt 420.690 triệu đồng tăng 40.460 triệu tương đương 10,64% so với năm 2011 Năm 2013 chỉ đạt 487.820 triệu đồng, tăng 67.130 triệu ứng với 13,76% so với năm 2012 Do những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2013 có những sự phát triển không ổn định Theo thông báo từ Tổng cục Thống kê Việt Nam thì năm 2012 GDP Việt Nam chỉ đạt được 5,25% còn sang năm
2013 đạt mức 5,42%, thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 5,6%, tuy có tăng lên so với năm 2012, chưa kể đến mức lạm phát của năm 2013 là 6,04%, giảm đi so với năm
2012 là 6,81% Chính vì lẽ đó các chi nhánh ngân hàng được sự chỉ đạo phải làm sao
cơ cấu lại khoản cho vay để góp phần phát triển hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, thúc đẩy nền kinh tế phát triển trở lại nên dư nợ tín dụng mới tăng như vậy qua các năm
Đối tượng khách hàng chính của chi nhánh là các doanh nghiệp, vì thế mà tỷ trọng cho vay đối với bộ phận này cao hơn hẳn so với khối khách hàng cá nhân Năm
2011, cho vay TCKT là 298.890 triệu chiếm 78,61% tổng dư nợ tín dụng Năm 2012
là 310.112 triệu chiếm 73,72% tăng 11.222 triệu ứng với 3,75% so với năm 2011 Năm 2013 cho vay TCKT là 348.231 triệu chiếm 71,39% tổng dư nợ tín dụng tăng 38.119 triệu ứng với 12,29% so với năm 2012 Tỷ trọng cho vay TCKT của chi nhánh giảm qua các năm điều này là do tác động của nền kinh tế khiến lạm phát tăng cao, các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, rủi ro ngân hàng gặp phải là lớn hơn so với lúc tình hình kinh tế phát triển nên ngân hàng đang có xu hướng thu nhỏ quy mô cho vay đối với các TCKT Đối với cho vay tiêu dùng, năm 2011 tỷ trọng cho vay tiêu dùng là 21,39%, năm 2012 là 26,28%, năm 2013 là 28,61%.Để tăng lợi nhuận và duy trì hoạt động kinh doanh thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn đang dần chuyển hướng tập trung cho vay khách hàng là cá nhân và hộ gia đình khi nhận ra được đây là một thị trường tiềm năng, có thể mang lại nguồn thu nhập lớn trong tương lai vì vậy tỷ trọng cho vay tiêu dùng tăng qua các năm
Cơ cấu cho vay theo kỳ hạn: Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu
dư nợ tín dụng Nguyên nhân cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn vì chính sách hoạt động của ngân hàng có xu hướng tập trung vào các khoản vay không thường xuyên và
có tính chất thời vụ để thích ứng với sự biến động không lường trước được của nền kinh tế Năm 2011, dư nợ cho vay ngắn hạn là 234.214 triệu chiếm 61,6% tổng dư nợ tín dụng Năm 2012 là 269.193 triệu chiếm 63,99% tổng dư nợ tăng 34.979 triệu ứng
Trang 34với 14,93% so với năm 2011 Năm 2013, dư nợ cho vay ngắn hạn là 300.102 triệu chiếm 61,52% tổng dư nợ tăng 30.909 triệu ứng với 11,48% so với năm 2012 Giá trị cho vay ngắn hạn tăng qua các năm nhưng tỷ trọng của chúng lại tăng trong năm 2012
và giảm vào năm 2013, tuy nhiên sự giảm xuống này không đáng kể vì chi nhánh thực hiện một số khoản cho vay dài hạn đối với những khách hàng thân thiết và có quan hệ lâu năm với mình
Nhìn chung, tình hình hoạt động cho vay theo thành phần kinh tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn có sự thay đổi đáng kể qua các năm khi tỷ trọng cho vay tiêu dùng tăng mạnh qua các năm, điều này thể hiện sự phù hợp của chi nhánh khi tập trung cho vay đối tượng này Còn tình hình hoạt động cho vay theo kỳ hạn tại chi nhánh diễn ra tương đối ổn định trong giai đoạn
2011 – 2013
2.2.3 Tình hình kinh doanh các hoạt động khác
Bảng 2.3 Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Tuyệt đối Tương
đối (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
Dịch vụ thanh toán 3.489 4.120 4.980 631 18,09 860 20,87 Kinh doanh mua
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Lục Ngạn giai đoạn 2011-2013)
Nhìn vào bảng 2.3 ở trên ta thấy thu nhập từ dịch vụ của ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn đều tăng qua các năm
Dịch vụ thanh toán: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
chi nhánh Lục Ngạn cung cấp dịch vụ thanh toán trong nước thông qua mạng lưới các
Trang 3535
ngân hàng khác để tham gia mạng lưới thanh toán của họ Năm 2011, thu nhập từ dịch
vụ thanh toán là 3.489 triệu Năm 2012, thu nhập từ dịch vụ này là 4.120 triệu tăng 631 triệu ứng với 18,09% so với năm 2011 Năm 2013, thu nhập từ dịch vụ là 4.980 triệu tăng 860 triệu ứng với 20,87% so với năm 2012 Dịch vụ thanh toán không những đóng góp vào việc tăng lợi nhuận cho ngân hàng mà còn hỗ trợ hoạt động huy động vốn và cho vay tốt hơn Trong tình hình nền kinh tế khó khăn, các NHTM nói chung, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn nói riêng đều chú trọng đầu tư cho dịch vụ này nhiều hơn vì chi phí bỏ ra không nhiều mà lợi nhuận thu về khá cao
Kinh doanh mua bán ngoại tệ: Năm 2011, thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ là
1.318 triệu Năm 2012 là 1.520 triệu tăng 202 triệu ứng với 15,33% so với năm 2011 Năm 2013 thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ là 1.689 triệu tăng 169 triệu ứng với 11,12% so với năm 2012 Những năm qua, tỷ giá đồng ngoại tệ biến động mạnh, với mạng lưới ngày càng mở rộng cùng với nhu cầu tăng cao của khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn đã đáp ứng đầy đủ giao dịch về ngoại tệ cho khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân Hoạt động kinh doanh nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường ngoại tệ giúp chi nhánh sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động của mình, đảm bảo thanh khoản và góp phần tạo ra thu nhập tốt cho ngân hàng
Dịch vụ kiều hối: Năm 2011, thu nhập từ dịch vụ kiều hối là 870 triệu Năm 2012
thu nhập từ dịch vụ kiều hối là 920 triệu tăng 50 triệu ứng với 5,75% so với năm 2011 Năm 2013, thu nhập từ dịch vụ này là 980 triệu tăng 60 triệu ứng với 6,52% so với năm 2012 Nguồn kiều hối chuyển từ nước ngoài tăng mạnh nên thu nhập của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn về dịch vụ này cũng tăng lên
Dịch vụ thẻ - ngân hàng điện tử: Năm 2011, thu nhập từ dịch vụ thẻ, ngân hàng
điện tử là 529 triệu Năm 2012 là 630 triệu tăng 101 triệu ứng với 19,09% so với năm
2011 Năm 2013, thu nhập từ dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử là 710 triệu tăng 80 triệu ứng với 12,7% so với năm 2012 Đây là kết quả của quá trình chi nhánh Lục Ngạn đầu
tư lâu dài để nâng cấp, hoàn thiện dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử của mình
Nhìn chung, hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn những năm gần đây diễn ra khá sôi động, chi nhánh không chỉ nâng cao chất lượng phục vụ đối với khách hàng sẵn có mà còn chú trọng trong công tác tìm kiếm khách hàng mới Chính vì thế các sản phẩm dịch vụ của chi nhánh đã làm tăng mạnh thu nhập cho ngân hàng
Trang 362.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
Số tiền Số tiền Số tiền Tuyệt đối Tương
đối (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại chi nhánh Lục Ngạn giai đoạn 2011- 2013)
Giai đoạn năm 2011 – 2012: Nhìn vào bảng 2.4 ta thấy, tổng thu năm 2012 của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn tăng
lên so với năm 2011 Năm 2012, tổng thu là 80.492 triệu tăng 13.110 triệu ứng với
19,46% so với năm 2011 Thu nhập của chi nhánh chủ yếu là từ hoạt động cho vay,
một phần khác là từ dịch vụ thanh toán, mở L/C Do chi nhánh đẩy mạnh công tác cho
vay, mở rộng các sản phẩm dịch vụ, hoạt động với những chính sách marketing hiệu
quả đã góp phần làm cho khách hàng tham gia một cách sôi nổi mang lại doanh thu
cao cho chi nhánh Phù hợp với sự tăng lên về tổng thu là sự tăng lên của tổng chi
Năm 2012, tổng chi là 72.120 triệu tăng 11.973 triệu ứng với 19,91% so với năm
2011 Do ngân hàng chi nhiều cho hoạt động cho vay, nghiên cứu thị trường, tìm hiểu
kỹ thị hiếu của khách hàng, đầu tư đổi mới trang thiết bị, cơ sở vật chất, đào tạo nhân
viên chuyên nghiệp để mở rộng các sản phẩm dịch vụ của mình Về lợi nhuận trước
thuế, năm 2012, lợi nhuận trước thuế là 8.082 triệu tăng 847 triệu ứng với 11,71% so
với năm 2011 Sự tăng lên này là do sự tăng lên của tổng chi nhỏ hơn tổng thu, điều
này chứng tỏ ngân hàng quản lý chi phí tương đối tốt Trong giai đoạn này ngân hàng
đều thực hiện đầy đủ việc đóng thuế theo quy định của nhà nước bằng 25% lợi nhuận
trước thuế, do thu nhập năm 2012 lớn hơn 2011 do đó năm 2012 thuế thu nhập doanh
nghiệp là 2.020,5 triệu đồng tăng 211,75 triệu đồng so với năm 2011
Giai đoạn năm 2012 – 2013: Tổng thu vẫn tiếp tục tăng lên trong năm 2013
Năm 2013, tổng thu là 88.380 triệu tăng 7.888 triệu ứng với 9,8% so với năm 2012
Trang 3737
rộng cho vay, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, mặt khác là do việc ngân hàng giảm lãi suất cho vay để thực hiện Quyết định 4832/QĐ-UBND về việc hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các doanh nghiệp Theo đó, số doanh nghiệp đến vay vốn của ngân hàng nhiều hơn, góp phần vào làm tổng thu tăng, sau đó là sự tăng lên về lợi nhuận Vì thực hiện chính sách mở rộng cho vay đồng nghĩa với việc rủi ro của các khoản vay sẽ tăng lên,
để hạn chế rủi ro cho vay ngắn hạn thì việc đầu tư cho khâu thẩm định, tư vấn khách hàng, đã làm tốn không ít chi phí của ngân hàng để tìm ra được những khách hàng phù hợp Vì vậy, tổng chi năm 2013 là 79.410 triệu tăng 7.290 triệu ứng với 10,11%
so với năm 2011 Một ngân hàng có làm ăn hiệu quả đến đâu, có quản lý tốt chi phí đến đâu thì sự tăng lên về chi phí khi doanh thu tăng là một điều tất yếu Năm 2013 tiếp tục là một năm quản lý tốt chi phí của chi nhánh khi sự tăng lên của tổng chi nhỏ hơn sự tăng lên của tổng thu mang lại lợi nhuận trước thuế là 8.970 triệu tăng 888 triệu ứng với 10,99% so với năm 2012 cho chi nhánh Lục Ngạn Ngân hàng vẫn hoàn trả đầy đủ khoản thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà nước là 2.242,5 triệu tăng 222 triệu đồng so với năm 2012 do thu nhập của năm này lớn hơn thu nhập của năm trước Nhận xét: Vượt lên trên sự khó khăn chung của nền kinh tế trong giai đoạn 2011 – 2013 ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn vẫn đạt được những thành tựu đáng kể như lợi nhuận tăng qua các năm Đó cũng là một thành tích tốt cho thấy được sự nỗ lực trong việc xây dựng và triển khai các chính sách tín dụng ngắn hạn hiệu quả của toàn bộ lãnh đạo và nhân viên chi nhánh
2.3 Một số quy định chung trong hoạt động cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn
2.3.1 Đối tượng và điều kiện cho vay
Đối tượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa trong các khâu dự trữ, lưu thông và các chi phí cấu thành giá mua hoặc giá thành sản phẩm, các khoản chi phí khác để doanh nghiệp tiến hành phương án SXKD Số tiền thuế xuất nhập khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục xuất khẩu mà giá trị lô hàng xuất khẩu đó TCTD
có tham gia cho vay và số tiền phục vụ cho nhu cầu mua sắm tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình như mua nhà cửa, ô tô và các phương tiện cần thiết khác
Điều kiện cho vay: Khách hàng có khả năng vay ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lục Ngạn phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật Cụ thể là: Pháp nhân, cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân, đại diện hộ gia đình, đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật dân sự Khách hàng phải có đủ khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có dự án đầu tư hoặc phương án SXKD khả thi, có hiệu quả và thực hiện
Trang 38các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính Phủ, hướng dẫn của Thống đốc NHNN
2.3.2 Tài sản đảm bảo
Tài sản đảm bảo tại chi nhánh Lục Ngạn là tài sản mà bên đảm bảo dùng để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ dân sự với bên nhận đảm bảo, hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam quy định các nội dung cụ thể về đảm bảo tiền vay như các loại hình TSĐB, thủ tục định giá, quản lý, giải chấp và xử lý TSĐB với các nguyên tắc cơ bản sau:
- Việc cho vay không có TSĐB luôn được chi nhánh xem xét thận trọng và chỉ áp dụng đối với những khách hàng có năng lực tài chính mạnh, SXKD có hiệu quả cao, đảm bảo chắc chắn khả năng trả nợ Để quản lý danh mục cho vay không có đảm bảo bằng tài sản, hàng năm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sẽ giao kế hoạch tỷ trọng cấp tín dụng ngắn hạn không có đảm bảo trong tổng cơ cấu tín dụng của chi nhánh là không vượt quá 25% Tuy nhiên, thực tế cho thấy chi nhánh Lục Ngạn vẫn tiến hành cho vay không có TSĐB vượt quá 25%, điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng khoản vay nói chung, lợi nhuận sau cùng của chi nhánh nói riêng
- Các tài sản nhận đảm bảo nợ vay tại chi nhánh Lục Ngạn hầu như đều có tính thanh khoản cao và nguồn tiền thu được từ TSĐB khi phát mại đủ lớn để trang trải cho
nợ gốc và lãi của khách hàng Mặc dù vẫn còn những TSĐB khi phát mại không đủ để trang trải cho nợ gốc và lãi do chi nhánh không đánh giá chính xác giá trị TSĐB cũng như không định giá thường xuyên dẫn đến TSĐB bị mất giá nhưng nó chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu TSĐB tại chi nhánh
- Chi nhánh gắn điều kiện vay vốn và mức vốn cho vay với các loại hình TSĐB theo hướng giá trị và chất lượng TSĐB càng lớn thì các điều kiện vay vốn và mức vốn cho vay càng ưu đãi Điều này được chi nhánh áp dụng rất chặt chẽ, mang lại cho chi nhánh nhiều lợi ích như thu hút được khách hàng tiềm năng gia tăng lợi nhuận cho chi nhánh
- Việc nhận TSĐB tại chi nhánh không được phép thay thế cho việc đánh giá toàn diện về bên vay và khoản vay
2.3.3 Quy trình cho vay ngắn hạn
Hầu hết các NHTM đều tự thiết kế cho mình một quy trình cho vay cụ thể Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình cho vay có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng Về mặt hiệu quả, quy trình cho vay hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả và giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng Về mặt quản trị, quy trình cho vay có tác dụng phân định trách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận
Trang 3939
trong hoạt động cho vay, làm cơ sở cho việc thiết lập các hồ sơ và thủ tục vay vốn, chỉ
rõ các mối quan hệ giữa các bộ phận liên quan trong hoạt động cho vay
Quy trình cho vay ngắn hạn của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Lục Ngạn gồm những bước sau:
Sơ đồ 2.2 Quy trình cho vay ngắn hạn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn chi nhánh Lục Ngạn
(Nguồn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Lục Ngạn)
Bước 1: Phỏng vấn ban đầu và hướng dẫn khách hàng làm hồ sơ vay vốn
- Mục đích phỏng vấn người vay nhằm:
+ Quan sát thái độ, phương pháp và nội dung trả lời của khách hàng, phát hiện những mâu thuẫn và các vấn đề không nhất quán hoặc không trung thực giữa hồ sơ vay vốn và nôi dung trả lời phỏng vấn
+ Nhận xét tư cách, năng lực, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm, uy tín của người vay
+ Giải thích những điểm chưa rõ ràng hoặc còn mâu thuẫn trong hồ so vay vốn Sau khi trao đổi thông tin với khách hàng, nếu khách hàng chấp thuận, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn CBTD có trách nhiệm hướng dẫn, giải thích đẩy đủ, rõ ràng cho khách hàng về thủ tục và điều kiện tín dụng, hồ sơ xin vay để tránh khách hàng phải đi lại nhiều lần gây phiền hà cho khách hàng Bộ hồ sơ đề nghị vay vón cần thu thập thông tin từ khách hàng như sau: Thông tin và năng lực pháp lý
Bước 1: Tiếp
nhận hồ sơ
Bước 2: Thẩm
định mức độ đáp ứng điều kiện vay vốn
Bước 3: Phê
duyệt khoản vay
Trang 40và năng lực hành vi của khách hàng, thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng, thông tin về đảm bảo tín dụng
Để thu thập được những thông tin trên, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng nộp những giấy tờ sau: Giấy đề nghị vay vốn, giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, các báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ gần nhất, các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh,
Bước 2: Thẩm định mức độ đáp ứng các điều kiện vay vốn
Đây là bước quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả của khoản vay Để quyết định cho vay hay từ chối khoản vay, CBTD thẩm định mức độ đáp ứng các điều kiện vay vốn của khách hàng trên cơ sở tổng hợp và phân tích các nguồn thông tin về khách hàng Tùy theo từng nhu cầu vay vốn cụ thể, CBTD cần xác định nội dung và phương pháp thẩm định thích hợp đảm bảo chất lượng và thời gian thẩm định cho một món vay Các vấn đề trọng tâm cần tập trung phân tích thẩm định như sau:
Thẩm định năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của khách hàng:
Người vay phải có đủ năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật trong quan hệ vay vốn với ngân hàng, có chứng minh nhân dân, đăng ký hộ khẩu, có giấy đăng ký kinh doanh và giấy phép hành nghề (đối với những ngành, nghề pháp luật yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề), giấy ủy quyền cho vay đối với cho vay hộ gia đình,
Thẩm định tính cách và uy tín của khách hàng và khả năng quản lý của khách hàng: Mục tiêu của thẩm định về tính cách và uy tín của khách hàng để hạn chế đến
mức thấp nhất các rủi ro do chủ quan của khách hàng gây nên như: Rủi ro về đạo đức, rủi ro về thiếu năng lực, trình độ, kinh nghiệm, khả năng thích ứng với thị trường và
đề phòng, pháp hiện những âm mưu lừa đảo ngay từ ban đầu của một số khách hàng Bên cạnh đó phải thẩm định khả năng quản lý kinh doanh của khách hàng, quy mô của khách hàng, quản lý khoản phải thu, phải trả, hàng tồn kho, sử dụng nhân công, nắm bắt thị trường,
Thẩm định mục đích đề nghị vay vốn: Đối chiếu mục đích đề nghị vay vốn của
khách hàng với danh mục hàng hóa bị cấm lưu thông và dịch vụ thương mại bị cấm theo quy định của pháp luật và các nhu cầu vốn mà ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam không cho vay
Đối chiếu nhu cầu sử dụng tiền vay theo đề nghị của khách hàng với nhu cầu thực tế và quy định về quản lý ngoại hối của Chính phủ và NHNN Việt Nam nếu khách hàng đề nghị vay vốn bằng ngoại tệ
Thẩm định khả năng tài chính, tính khả thi của phương án vay vốn – trả nợ:
Đánh giá chính xác năng lực tài chính, khả năng độc lập, tự chủ tài chính trong cuộc