Quản trị rủi ro tín dụng chính là việc xây dựng hệ thống quản lý và các chính sách quản trị rủi ro thích hợp đối với hoạt động tín dụng nhằm tuân thủ các quy định của pháp luật, nhận diệ
Trang 1CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG/ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro, rủi ro tín dụng
1.1.1 Rủi ro là gì?
Bất cứ hoạt động kinh doanh nào trong nền kinh tế thị trường đều gặp rủi ro Hoạt động kinh doanh của ngân hàng – một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm càng không tránh được những rủi ro Hơn thế nữa, rủi ro luôn tiềm ẩn lớn
Vậy, rủi ro là gì ?
Cho đến nay vẫn chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro Nhưng, trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, đó là những sự cố xảy ra ngoài dự kiến của ngân hàng, có khả năng gây tổn thất cho hoạt động kinh doanh ngân hàng
Như vậy, về học thuật khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh bao gồm những
sự cố xảy ra ngoài dự kiến có thể gây tổn thất và cũng có thể không gây tổn thất nhưng gây nên những bất lợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Với khái niệm hẹp và trong quản lý điều hành thì rủi ro trong hoạt động ngân hàng được quan tân rủi ro ở khía cạnh tổn thất
Những rủi ro chủ yếu mà hoạt động ngân hàng thường gặp chủ yếu là :
Rủi ro tín dụng
Rủi ro lãi suất
Rủi ro thanh khoản
Rủi ro hối đoái
Rủi ro khác
1.1.2 Rủi ro tín dụng là gì?
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng ; nó thường chiếm phần
lớn trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về khối lượng công việc cũng như mức độ tạo lợi nhuận Tỷ lệ thuận với nó là mức độ rủi ro của nghiệp vụ tín dụng cũng chiếm phần lớn trong tổng mức rủi ro của hoạt động ngân hàng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại bao gồm nghiệp vụ nguồn vốn và
nghiệp vụ cho vay Do đó, rủi ro tín dụng cũng bao gồm hai nội dung : Rủi ro
nguồn vốn và rủi ro cho vay
Trang 2Trong nghiệp vụ tín dụng rủi ro trong cho vay hàm chứa tỷ trọng lớn nhất trong
tổng rủi ro Do đó, nội dung nghiên cứu rủi ro tín dụng được đề cập về rủi ro cho
vay
Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân hàng cho khách hàng vay mà không thu được
gốc và lãi đúng hạn, hoặc chỉ thu được một phần gốc và lãi, hoặc không thu được cả gốc và lãi khoản cho vay đó
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong toàn bộ dư nợ cho vay của ngân hàng và gắn
liền với khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng Cụ thể là luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của các ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lượng và thời hạn
Rủi ro tín dụng phát sinh bởi các giao dịch mà chúng có thể dẫn đến quyền đòi bồi
thường tiềm tàng, không chắc chắn hay thật sự đối với phía đối tác bất kỳ nào Đây là rủi ro riêng lẻ lớn nhất mà các ngân hàng phải đối mặt
1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia ra thành các loại sau :
Rủi ro giao dịch : là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn : là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn hiệu quả để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro đảm bảo : phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề
Rủi ro danh mục : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chết trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được chia thành 2 loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
Trang 3+ Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+ Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế ; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định ; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
1.1.4 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu : Rủi ro tín ụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được cũng như nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng
Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp : Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng
Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên thông thường ngân hàng ở vào thế
bị động, ngân hàng thường biết thông tin sau hoặc biết thông tin không chính xác về những khó khăn, thất bại của khách hàng Do đó, thường có những ứng phó chậm trễ
Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp : Đặc điểm này thể hiện ở sự
đa dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cũng như diễn biến sự việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra
1.1.5 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Nhận diện được những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng giúp cho ngân hàng
chủ động hơn trong công tác phòng ngừa, quản trị rủi ro
1.1.5.1 Nguyên nhân khách quan
Từ phía khách hàng
- Khách hàng sử dụng vốn vay kém hiệu quả, thiếu kinh nghiệm kinh doanh, năng lực yếu kém của Ban lãnh đạo Hoặc do tình hình tài chính của Khách
Trang 4hàng khó khăn mất khả năng thanh toán, dẫn đến không có đủ khả năng trả
nợ vay
- Rủi ro tín dụng xuất phát từ đạo đức yếu kém của người vay: Khách hàng
cố tình lừa đảo Ngân hàng, sử dụng vốn vay sai mục đích để chiếm đoạt vốn của Ngân hàng
- Một số rủi ro bất khả kháng có thể xảy ra như người vay không thực hiện trả
nợ vì bỏ trốn, bị bệnh; chết, mất tích…
Các nguyên nhân khách quan khác
Tín dụng Ngân hàng là một hoạt động kinh doanh, do đó nó chịu tác động trực tiếp của môi trường bên ngoài bao gồm: môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường xã hội Sự thay đổi của từng môi trường này cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi
ro tín dụng Cụ thể như sau:
- Môi trường kinh tế: Căn nguyên chủ yếu dẫn đến RRTD chính là rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của Khách hàng Trong khi đó, hoạt động kinh doanh của Khách hàng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố vĩ mô như: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế, tỷ lệ
thất nghiệp
- Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý bao gồm các quy định, quy chuẩn,
các văn bản pháp luật do chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ban, ngành hoặc các tổ chức quốc tế có liên quan ban hành Khi môi trường pháp
lý thiếu rõ ràng, công khai và minh bạch; thiếu thống nhất và còn chồng
chéo, mâu thuẫn sẽ làm gia tăng rủi ro cho hoạt động tín dụng Ngân hàng
- Môi trường xã hội: Đây là môi trường quan trọng hình thành nên tập tục,
đạo đức, lối sống của mỗi cá nhân Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên
cơ sở lòng tin Nếu trình độ dân chí chưa cao, người dân thiếu hiểu biết thì rủi ro về mặt đạo đức sẽ rất dễ xảy ra, tình trạng lừa đảo, trốn nợ có nguy
cơ gia tăng
Ngoài ra, rủi ro tín dụng còn chịu ảnh hưởng bởi một số nhân tố khác như: thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn; trật tự - ổn định xã hội, chiến tranh
1.1.5.2 Nguyên nhân chủ quan
Chính sách tín dụng của Ngân hàng không hợp lý; quy trình tín dụng không
nhất quán, lỏng lẻo: Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng của Ngân hàng, một khi chính
Trang 5sách tín dụng tập trung quá nhiều vào mục tiêu lợi nhuận hoặc các quy định không nhất quán, thiếu rõ ràng, thiếu thực tế thì sẽ đối mặt với RRTD cao
Không chú trọng đến công tác thẩm định, phân tích và thiết kế khoản vay:
phân tích thông tin Khách hàng và thẩm định khoản vay, đánh giá Khách hàng và thiết kế phương án vay vốn không phù hợp, không có khả năng đưa
ra các điều kiện cho vay để làm rào cản nhằm hạn chế rủi ro Việc phân tích đánh giá Khách hàng không chặt chẽ, chưa hiểu bản chất phương án kinh doanh cũng có thể đưa ra những quyết định cho vay sai lầm, điều này rất dễ gây ra những rủi ro trong quá trình cho vay đối với Khách hàng
Ngân hàng chưa thực sự coi trọng hoặc chưa đưa ra các biện pháp kiểm
soát sau hợp lý để giám sát quá trình sử dụng vốn vay của Khách hàng và quản lý Khách hàng sau khi vay cũng là một trong những nguyên nhân phổ
biến dẫn đến RRTD Việc khoản vay không được kiểm soát sau hoặc kiểm soát sau mang tính hình thức sẽ khiến cho các Ngân hàng không thể nắm bắt được kịp thời những thay đổi trong khả năng trả nợ của Khách hàng để đưa ra những biện pháp ứng phó kịp thời Mặt khác, điều này còn làm gia tăng nguy cơ Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, lừa đảo, bỏ trốn
và RRTD xảy ra là điều khó tránh khỏi
Sự yếu kém về năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ Ngân
hàng Đây là nguyên nhân mang tính chủ quan và khó lường nhất bởi nó liên
quan đến yếu tố con người Sự yếu kém về chất lượng của đội ngũ cán bộ tín dụng gây ra rủi ro trong mọi khâu, từ khâu xét duyệt cho vay, đến khâu kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay Cán bộ tín dụng non kém về trình độ, năng lực nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm nên không có khả năng xử lý, thêm vào đó, một bộ phận các cán bộ tín dụng bị sa sút về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, thiếu tinh thần trách nhiệm, bị cám dỗ vật chất nên đã hành động trái đạo lý, trái pháp luật, thông đồng với Khách hàng để trục lợi riêng, gây thiệt hại đáng kể cho Ngân hàng Những trường hợp này nếu không được phát hiện sớm và xử lý kịp thời sẽ là căn nguyên làm cho RRTD của Ngân hàng ngày càng gia tăng
Ngoài ra, nguyên nhân do cơ cấu tổ chức tín dụng; khả năng nhận diện rủi ro; công cụ đánh gía rủi ro, năng lực công nghệ của NHTM còn chưa đồng
bộ, chưa phù hợp gây bất lợi cho hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng của NHTN
Trang 61.1.6 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Đối với nền kinh tế :
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp và các cá nhân Ngân hàng gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp thiếu vốn sẽ gặp khó khăn để sản xuất kinh doanh dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn Sự khủng hoảng từ hệ thống ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên tác động do khủng hoảng rủi ro tín dụng tại một nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước
có liên quan Ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới, do đó hệ thống ngân hàng của một quốc gia gặp khó khăn cũng ảnh
hưởng đến nền kinh tế thế giới
Đối với ngân hàng :
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi và sút giảm hiệu quả kinh doanh Khi gặp phải rủi ro tín dụng cao ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, và có thể bị Ngân hàng Nhà nước đưa vào kiểm soát đặc biệt hoặc bị phá sản, sáp nhập Đối với cán bộ nhân viên, do ngân hàng gặp khó khăn trong kinh doanh nên chế độ phúc lợi, thu nhập sẽ bị hạn vì thế những người có năng lực sẽ thuyên chuyển công tác, càng gây khó khăn cho ngân hàng
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể gây những hậu quả: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn, có thể
bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy pháp luật đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng buộc phải xây dựng hệ thống quản lý tín dụng thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Trang 7Chấp nhận và quản trị rủi ro là nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh ngân hàng; Tuy nhiên, ngân hàng cần phải tính đến khả năng chấp nhận rủi ro trong chiến lược kinh doanh của mình và cần hiểu thấu đáo, đo lường và kiểm soát rủi ro trong phạm vi khả năng sẵn sàng ứng phó đối với những bất lợi có thể chấp nhận được
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường
mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng Quản trị rủi ro tín dụng chính là việc xây dựng hệ thống quản lý và các chính sách quản trị rủi ro thích hợp đối với hoạt động tín dụng nhằm tuân thủ các quy định của pháp luật, nhận diện, cảnh báo và đưa ra những biện pháp hạn chế sự xuất hiện của rủi
ro tín dụng, giảm thiểu những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng thời xác định sự tương quan hợp lý giữa các nguồn lực của ngân hàng với mức độ mạo hiểm khi sử dụng vốn của ngân hàng cho nghiệp vụ cấp tín dụng Quản trị rủi ro tốt chính là một lợi thế cạnh tranh, là một công cụ góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả
1.2.2 Lƣợng hóa và đánh giá rủi ro tín dụng
Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model): Đây là mô hình do E.I Altman
dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào:
+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm gồm có :
X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản;
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản;
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản;
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/giá trị hạch toán của nợ;
Trang 8X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản;
Trong thực tế, Giáo sư Altman đã phát triển mô hình ra Z’ và Z" để có thể áp dụng cho từng loại ngành của doanh nghiệp, như sau :
(1) Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa, ngành sản xuất
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.64X4 + 0.999X5 Nếu Z > 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn
Nếu 1.8 < Z < 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo
(2) Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hóa, ngành sản xuất
Z’= 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5 Nếu Z’ > 2.9 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn
Nếu 1.23 < Z’ < 2.9 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo
Nếu Z’ < 1.23 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm
(3) Đối với các doanh nghiệp khác : chỉ số Z" dưới đây được dùng hầu hết cho
các ngành, các loại hình doanh nghiệp Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa ra Công thức tính Z" được điều chỉnh như sau :
Z" = 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4 Nếu Z" > 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn
Nếu 1.2 < Z" < 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo
Nếu Z" < 1.2 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm
Mô hình chất lượng 6 C:
(1) Tư cách người vay (Character)
(2) Năng lực của người vay (Capacity)
(3) Thu nhập của người đi vay (Cash)
(4) Bảo đảm tiền vay (Collateral)
(5) Các điều kiện (Conditions)
(6) Kiểm soát (Control)
Trang 9 Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình điểm số tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác
Nợ quá hạn (non performing loan – NPL) là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ
nợ gốc và / hoặc lãi đã quá hạn
Tổng dư nợ cho vay là tất cả các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; các khoản bao thanh toán; các hình thức tín dụng khác
Thông thường tổng dư nợ cho vay của ngân hàng được chia thành 3 nhóm:
+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng thấp: là những khoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: là những khoản cho vay
có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngân hàng Đây cũng là những khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: là những khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho ngân hàng
là vừa phải Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
Trang 10 Chỉ tiêu dư nợ trên vốn huy động : cho biết có bao nhiêu đồng vốn huy động tham gia vào dư nợ :
1.2.3 Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng bao gồm:
+ Các quy định về tổ chức bộ máy cấp tín dụng, bộ máy giám sát rủi ro và bộ máy xử lý rủi ro; các quy định về trình tự và thẩm quyền của bộ máy cấp tín dụng, bộ máy giám sát và bộ máy xử lý rủi ro
+ Quy định điều kiện nhân sự trong tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ nhân viên thực hiện các công việc trong bộ máy cấp tín dụng, quản trị rủi ro và xử lý rủi ro; + Xây dựng và hoàn thiện các định hướng, chính sách, quy chế, quy trình và hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến hoạt động và quản trị rủi ro tín dụng
+ Hệ thống đào tạo cán bộ để đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngân hàng;
+ Hệ thống thông tin tín dụng, báo cáo quản trị và cảnh báo rủi ro;
Mô hình quản trị rủi ro có thể có nhiều hình thức tùy thuộc vào quy mô của ngân hàng, mức độ hứng chịu các loại rủi ro khác nhau và độ phức tạp trong tổ chức của ngân hàng Một mô hình quản trị rủi ro đúng đắn là phải gắn kết được mô hình quản trị rủi ro đó với mục tiêu và chiến lược tổng thể của ngân hàng
1.2.3.2 Xây dựng và thực hiện các chính sách, quy trình tín dụng
Chính sách
Trang 11 Xây dựng phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, bao gồm: cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, chuẩn hoá hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm, phân loại tài sản bảo đảm theo khả năng thu hồi nợ
- Quy trình tín dụng là cơ sở các cán bộ ngân hàng ý thức được vị trí, trách nhiệm của mình cũng như các mối quan hệ với những đồng nghiệp khác, từ đó nâng cao hiệu quả làm việc của cá nhân và hiệu quả làm việc chung
- Quy trình tín dụng giúp cho việc kiểm soát tiến trình cấp tín dụng Mặt khác, thông qua thực tiễn cấp tín dụng, ngân hàng có thể phát hiện và điều chỉnh những điểm không phù hợp của chính sách tín dụng và cả quy trình tín dụng
- Quy trình tín dụng giúp cho việc thiết lập các thủ tục hành chính cho phù hợp với các hoạt động của ngân hàng, với quy định của cơ quan quản lý ngân hàng, với pháp luật
Quá trình quản trị rủi ro tín dụng gắn chặt với quá trình cấp tín dụng Do vậy, quy trình tín dụng còn là cơ sở để tiến hành phân tích, kiểm soát rủi ro tín dụng
Trang 12 Mở rộng tín dụng trung và dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối thời hạn cho vay với thời hạn của nguồn vốn huy động
Trích lập dự phòng nhằm tạo nguồn để bù đắp tổn thất rủi ro tín dụng Áp dụng các nguyên tắc dự phòng khác nhau dựa theo việc phân loại nợ vay có khả năng gây tổn thất ở mức độ khác nhau Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với rủi ro
Bảo hiểm tiền vay, nghĩa là ngân hàng chuyển toàn bộ rủi ro cho cơ quan bảo hiểm chuyên nghiệp
1.2.3.4 Kiểm tra và giám sát
Kiểm tra và giám sát là các hoạt động thường xuyên được thực hiện trước khi cho vay, trong khi cho vay và sau khi cho vay:
Sử dụng mô hình CAMEL (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản) để đánh giá
Sử dụng mô hình CAMELS (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản và thử nghiệm chịu đựng cực điểm) (Capital, Assets, Management, Earnings, Liquydity and Stress testing)
Kiểm tra trong quá trình phát vay, sau cho vay, báo cáo hàng tháng và hàng quý, giám sát khả năng trả nợ Có hệ thống báo cáo định kỳ
1.2.3.5 Quản trị rủi ro tín dụng bằng phương pháp xử lý nợ
Ngân hàng phải xây dựng quy trình, bộ máy nhằm phát hiện và cảnh báo sớm các khoản nợ có vấn đề và phải có biện pháp hữu hiệu để xử lý các khoản nợ có nguy
Trang 13cơ chuyển thành nợ quá hạn, nợ xấu nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất khi xảy ra rủi ro
Xử lý nợ quá hạn, nợ xấu là công việc thường xuyên của các Ngân hàng nhằm thu hồi các khoản nợ không được thanh toán đúng hạn, do đó Ngân hàng cần có quy định, quy trình chuẩn hóa công việc; Mỗi cán bộ nhân viên thực hiện công việc cấp tín dụng cũng là một nhân viên xử lý nợ, ngoài ra ngân hàng cần có bộ phận chuyên môn độc lập để thực hiện việc xử lý các khoản nợ có vấn đề
Đối với các trường hợp chây ỳ trả nợ vay, các TCTD cần áp dụng các biện pháp kiên quyết, đúng pháp luật để thu hồi nợ vay, kể cả việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố hoặc khởi kiện
1.2.4 Bảo đảm tín dụng
Bảo đảm tín dụng là sự bảo đảm cho ngân hàng rằng có một nguồn vốn khác để hoàn trả hoặc bảo chi khi không thu hồi được nợ
Vai trò của việc bảo đảm tín dụng:
+ Bảo đảm tín dụng là một hình thức bảo đảm cho trường hợp khách hàng không trả nợ hoặc cho các tình huống bất khả kháng
+ Bảo đảm tín dụng nhằm đảm bảo khách hàng không đi chệch mục đích vay vốn
đã xác định, ngăn ngừa gian lận
+ Các ngân hàng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu thứ nhất không thanh toán được
Những thuộc tính của bảo đảm tín dụng:
+ Giá trị của vật bảo đảm có thể xác định được và tương đối ổn định
+ Vật bảo đảm tín dụng phải có tính chuyển nhượng và có sẵn thị trường tiêu thụ + Có giấy tờ, chứng từ chứng minh nguồn gốc sở hữu hợp pháp
Bảo đảm tín dụng có các hình thức sau:
+ Thế chấp: là việc bên đi vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc quyền sử dụng (đối với đất đai) các TSBĐ sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết
Bảo đảm bằng thế chấp cho phép bên vay đi sử dụng TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh Các tài sản thế chấp bao gồm máy móc, trang thiết bị, nhà cửa đất đai,… thường cồng kềnh và việc bán, chuyển nhượng không đơn giản
Trang 14+ Cầm cố: là việc bên đi vay phải chuyển quyền kiểm soát TSBĐ sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của bên đi vay, như các chứng khoán, hợp đồng tiền gửi, sổ tiết kiệm…
Rủi ro tín dụng và bảo đảm tín dụng: Do tính chất hoạt động của các doanh
nghiệp rất đa dạng, để mở rộng tín dụng gắn với hạn chế rủi ro đòi hỏi ngân hàng phải sử dụng đồng thời nhiều loại TSBĐ và hình thức bảo đảm, vận dụng thích ứng với điều kiện của mỗi khách hàng Đối với khách hàng và loại cho vay có rủi
ro cao thì áp dụng loại bảo đảm có rủi ro thấp và ngược lại
1.2.5 Nguyên tắc của Basel về quản trị rủi ro tín dụng
Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của hoạt động tín dụng, theo khuyến cáo của Ủy ban Basel và tuân thủ thông lệ quốc tế, căn cứ vào các điều kiện chung về pháp lý, thị trường, công nghệ, con người, mô hình các NHTM Việt Nam được khuyến nghị nên
áp dụng mô hình quản trị rủi ro tập trung
Basel II bao gồm những khuyến nghị về luật và quy định ngành ngân hàng, được ban hành bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision – BCBS) Basel II sử dụng khái niệm “ba trụ cột”:
+ Yêu cầu về vốn tối thiểu
Trụ cột thứ II:
Trụ cột thứ II liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà
Trang 15hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk) Bốn nguyên tắc để xem xét giám sát:
+ Ngân hàng nên có một quy trình xác định mức độ vốn nội bộ theo mức độ rủi ro
và các chiến lược duy trì vốn của họ
+ Các giám sát viên nên xem xét và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu
+ Khuyến nghị rằng ngân hàng nên giữ mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định + Những người giám sát sẽ tìm cách thâm nhập vào những giai đoạn đầu tiên
để ngăn cản mức vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu
Trụ cột thứ III :
Trụ cột thứ III làm gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một ngân hàng phải công bố Phần này được thiết kế để cho phép thị trường có một bức tranh hoàn thiện hơn về vị thế rủi ro tổng thể của ngân hàng và cho phép các đối tác của ngân hàng định giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý
1.2.6 Phân loại nợ và quy định trích lập dự phòng tín dụng theo quy định của
Ngân hàng nhà nước
Dựa vào thông tư quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro cho vay trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ
Phân loại nợ : Căn cứ vào thực trạng tài chính của khách hàng và/hoặc thời
hạn thanh toán nợ gốc và lãi vay, tổ chức tài chính quy mô nhỏ thực hiện phân loại nợ theo năm (05) nhóm như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến dưới 30 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày;
Trang 16- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến dưới 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ quy định trên như sau:
Giá trị của các loại tài sản bảo đảm khoản vay được khấu trừ vào dư nợ gốc
của các khoản cho vay trước khi tính dự phòng cụ thể, bao gồm:
a) 100% số dư tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi tự nguyện tại tổ chức tài chính quy mô nhỏ;
b) 100% mệnh giá của trái phiếu Chính phủ (tín phiếu Kho bạc, trái phiếu Kho bạc, trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư, công trái xây dựng Tổ quốc), trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
Trang 171.3 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra Hiện nay ở Việt Nam đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng Đó là mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán
1.3.1 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung
Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản trị rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng
+ Xây dựng chính sách quản trị rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống
+ Thích hợp với ngân hàng quy mô lớn
Trang 18Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản trị rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay
Điểm mạnh:
+ Gọn nhẹ
+ Cơ cấu tổ chức đơn giản
+ Thích hợp với ngân hàng quy mô nhỏ
Điểm yếu:
+ Nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu
+ Việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Qua những lý thuyết tác giả đã nêu lên trong chương 1, tác giả sẽ sử dụng những lý
thuyết liên quan đến tín dụng, cũng như rủi ro tín dụng ở chương 2
Chương 3 sẽ xử dụng những phân tích của chương 2 và lý thuyết liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng để có thể làm rõ được vấn đề nghiên cứu là rủi ro tín dụng và các phương pháp hạn chế rủi ro tín dụng
Trang 19CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÕN
– HÀ NỘI 2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÕN – HÀ NỘI
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn - Hà Nội là ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng được thành lập ngày 13 tháng 11 năm 1993 theo quyết định số 214/QĐ-NH5 và Giấp phép hoạt động số 0041-NH/GP của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tên gọi Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn Nhơn Ái Ngân hàng quyết định đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội theo quyết định số 1764/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 11 tháng 9 năm 2006
Ngân hàng được thành lập nhằm thực hiện các giao dịch ngân hàng bao gồm huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân; cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức và cá nhân trên cơ sở tính chất
và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng; thực hiện các giao dịch ngoại tệ, các dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; và các dịch vụ ngân hàng khác được Ngân hàng Nhà nước cho phép
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn - Hà Nội có trụ sở chính đặt tại 77 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
2.1.2 Sơ đồ bộ máy quản lý:
2.1.2.1 Sơ đồ bộ máy
Trang 20Sơ đồ 2 – 1 : Sơ đồ bộ máy hoạt động của SHB Các công ty con :
Công ty con Địa chỉ Lĩnh vực kinh doanh chính
Vốn điều
lệ thực đóng góp (tỷ đồng)
Vốn góp của SHB (tỷ đồng)
Tỷ lệ nắm giữ
Công ty TNHH MTV
Quản lý nợ và khai thác
tài sản SHB (SHBAMC)
Số 71B Hàng Trống, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Quản lí nợ và khai thác tài
Công ty CP Chứng khoán
SHB
Số 2A Phạm Sư Mạnh, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Dịch vụ tài chính chứng khoán, môi giới, tự doanh,
tư vấn đầu tư, bảo lãnh, lưu
ký chứng khoán
150 147.71 98.47%
Qua sơ đồ, ta có thể thấy được bộ máy hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn –
Hà Nội được phân chia ra thành các phòng ban có chức năng nghiệp vụ khác nhau
Trong bài viết của tác giả, tác giả sẽ đề cập chủ yếu đến bộ máy quản trị rủi ro của
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Để có thể nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, SHB đã thành lập một công ty con là
Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản SHB (SHBAMC)
Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản SHB (SHBAMC), ra đời với
mục đích theo đúng tên gọi là quản lí nợ và khai thác tài sản, hoạt động theo đúng quy
Trang 21định của NHNN, bao gồm: Tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng và tài sản bảo đảm nợ vay liên quan đến các khoản nợ để xử lý, thu hồi vốn nhanh nhất; Hoàn thiện
hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật trình các cơ quan có thẩm quyền cho phép ngân hàng xóa nợ cho khách hàng; Chủ động bán các tài sản bảo đảm nợ vay thuộc quyền định đoạt của ngân hàng thương mại theo giá thị trường; Cơ cấu lại nợ tồn đọng; Xử lý tài sản bảo đảm nợ vay; Thực hiện các hoạt động khác theo
uỷ quyền của ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật
Mặc dù, ở Hội sở chính của SHB có khối quản lý rủi ro, nhưng mọi hoạt động về quản lý nợ cũng như quản lý rủi ro đều được SHBAMC tiến hành
Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản SHB sử dụng mô hình bộ máy quản trị rủi ro dựa theo những quy định của NHNN và “Hướng dẫn quản lý rủi ro tín dụng” của Cơ quan tiền tệ Singapore (Monetary Authority of Singapore)
2.1.3 Quản lý rủi ro tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
2.1.3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý rủi ro
Theo “Hướng dẫn quản lý rủi ro tín dụng” của Cơ quan tiền tệ Singapore (Monetary Authority of Singapore) (2006), ngân hàng phải thiết lập cơ cấu quản lý rủi
ro phù hợp với quy mô và đặc điểm kinh doanh, song phải đảm bảo hiệu quả của giám sát và quá trình vận hành quản lý tín dụng Theo thông lệ quốc tế, bộ phận quản trị rủi
ro được tổ chức như sau:
Trang 22Sơ đồ 2 – 2: Mô hình bộ máy quản trị rủi ro Trong bộ máy này, vai trò quan trọng trước tiên không thể bỏ qua thuộc về Hội đồng quản trị của ngân hàng Cũng như đối với mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng, Hội đồng quản trị có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giám sát các chức năng cấp tín dụng và quản trị tín dụng của ngân hàng, hiểu biết về các rủi ro nói chung, và rủi ro tín dụng nói riêng, mà ngân hàng đang nắm giữ, và đảm bảo rằng các rủi ro đang được quản lý phù hợp Là người chịu trách nhiệm cuối cùng về bất kỳ thua
lỗ hoặc tổn thất nào trong giá trị của ngân hàng và cổ đông, do đó, Hội đồng quản trị
có nghĩa vụ bảo đảm với cổ đông rằng các hệ thống, thực hành và văn hóa quản lý rủi
ro của ngân hàng đã được thiết lập để quản lý mọi rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt
Trưởng khối rủi ro
Rà soát và mô hình xếp hạng
rủi ro Báo cáo & Quản lý danh mục
Hỗ trợ hệ thống rủi ro Trung tâm thông tin tín dụng
DNVVN/bán lẻ
Quản lý rủi ro thị trường Quản lý rủi ro tác nghiệp
Rủi ro lãi suất Rủi ro cổ phiếu Rủi ro ngoại hối Ban điều hành
Hội đồng quản trị
Trang 23Với quản lý rủi ro tín dụng, trách nhiệm chính của Hội đồng quản trị là phê duyệt và định kỳ (ít nhất hàng năm) xem xét chiến lược rủi ro tín dụng, mà cụ thể là:
Thiết lập một định hướng chung và mục tiêu về năng lực quản lý rủi ro của ngân hàng (tầm nhìn rủi ro)
Xác định mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận được (khẩu vị rủi ro)
Gia tăng thu nhập tiềm tàng của ngân hàng bằng cách phân bổ vốn vào các hoạt động kinh doanh khác nhau trên cơ sở phù hợp với tầm nhìn rủi ro và kế hoạch chiến lược của ngân hàng
Đảm bảo rằng một môi trường kiểm soát phù hợp tồn tại để bảo toàn vốn
Trong khi Hội đồng quản trị có trách nhiệm cuối cùng trong quản lý rủi ro, Ban Điều hành lại có trách nhiệm vận hành công việc cụ thể và báo cáo kết quả định kỳ cho Hội đồng quản trị, trên cơ sở đảm bảo rằng các công việc được triển khai trong phạm vi chiến lược, chính sách và mức độ chấp nhận rủi ro đã được Hội đồng quản trị phê duyệt Điều này đòi hỏi Ban Điều hành phải:
Hiểu biết rõ phạm vi trách nhiệm điều hành trong việc giám sát quản lý rủi ro tín dụng
Xác định rõ các rủi ro đối với vốn của ngân hàng
Phát triển chiến lược rủi ro của ngân hàng bằng cách định nghĩa cụ thể mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận được với từng loại rủi ro, đối tác và hoạt động kinh doanh
Phê duyệt các mức rủi ro
Bảo đảm rằng các chính sách và quy trình để thực hiện hoạt động kinh doanh trong dài hạn cũng như hàng ngày là đầy đủ và cập nhật
Bảo đảm rằng kiểm soát rủi ro nội bộ đã đầy đủ
Báo cáo thường xuyên các vấn đề về quản lý rủi ro lên Hội đồng quản trị
Ở cấp độ cụ thể hơn, để duy trì các quy tắc tín dụng và đề xuất quy trình kiểm soát
và quản lý rủi ro tín dụng, Ngân hàng cần thành lập một bộ phận có chức năng độc lập với chức năng cấp tín dụng - Bộ phận/phòng quản lý rủi ro tín dụng, với chức năng nhiệm vụ rõ ràng, báo cáo trực tiếp lên Ban Điều hành Vai trò của bộ phận quản lý rủi ro là nhằm triển khai chiến lược rủi ro đã được phê duyệt để đảm bảo rằng:
Trang 24 Các hoạt động kinh doanh được thực hiện tại các phòng/chi nhánh là nhất quán với khẩu vị rủi ro mà Ban Điều hành đã đề ra
Các rủi ro có thể lượng hóa (thị trường, tín dụng, thanh khoản, tác nghiệp) trong các hoạt động kinh doanh: (i) nằm trong phạm vi các hạn mức đã được phê duyệt; (ii) được nhận thức và đánh giá đầy đủ trước khi giao dịch được thực hiện; (iii) được kiểm soát thường xuyên; (iv) được báo cáo đầy đủ và kịp thời Nhìn chung, chức năng nhiệm vụ cơ bản của bộ phận quản lý rủi ro độc lập là:
Thiết lập một khung toàn hàng cho việc đo lường, kiểm soát và đánh giá các rủi
ro mà ngân hàng phải đối mặt
Chủ trì thực hiện các chức năng đo lường, kiểm soát và đánh giá rủi ro
Giám sát việc thực hiện các hạn mức rủi ro của các bộ phận kinh doanh, kiểm soát các trạng thái hàng ngày trên cơ sở hạn mức và xác định các hành động khắc phục nếu cần
Giám sát việc thực hiện các mục tiêu thu nhập có điều chỉnh rủi ro của các bộ phận kinh doanh
Đảm bảo việc triển khai các quyết định của nhóm quản lý rủi ro
Đảm bảo các quy trình hậu kiểm và hiệu lực của mô hình được thực hiện đầy đủ
Thường xuyên cập nhật các kỹ thuật quản lý rủi ro mới
2.1.3.2 Quy định về chính sách tín dụng
a) Định hướng tín dụng
Định hướng tín dụng thường được ban hành theo năm tài chính và có thể điều chỉnh; Định hướng tín dụng hàng năm được SHB xây dựng phù hợp với mục tiêu hoạt động tín dụng của hệ thống và xu hướng chung của nền kinh tế Định hướng tín dụng
là cơ sở để các đơn vị kinh doanh nâng cao hiệu quả hoạt động và cạnh tranh trên thị trường
Các nội dung chính trong định hướng tín dụng của SHB liên quan đến:
Hạn mức tăng trưởng tín dụng hàng năm;
Quản lý danh mục khoản vay;
Định hướng tín dụng theo địa bàn;
Quản trị rủi ro tín dụng:
Trang 25+ Với SHB quản trị rủi ro tín dụng là trách nhiệm chung của toàn hệ thống Các cấp có thẩm quyền và các cán bộ liên quan đến hoạt động tín dụng trong quá trình tác nghiệp đều phải hướng đến mục tiêu đưa SHB trở thành một ngân hàng phát triển hàng đầu về quy mô tài sản và lợi nhuận, đồng thời có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị rủi ro, đảm bảo tăng trưởng bền vững Với sự giám sát tích cực của HĐQT, BĐH và các cán bộ tác nghiệp và dựa trên: + Mức độ rủi ro tiềm tàng của quốc gia, thành phần và ngành kinh tế;
+ Rủi ro tập trung và rủi ro danh mục tín dụng;
Định hướng tín dụng về tài sản đảm bảo:
+ Trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro và mức độ chấp nhận rủi ro, SHB ban hành các quy chế, quy định, hướng dẫn các đơn vị kinh doanh thực hiện các nội dung liên quan đến tài sản đảm bảo: điều kiện nhận tài sản bảo đảm, tỷ lệ cho vay/tài sản bảo đảm, nguyên tắc định giá và phân loại tài sản bảo đảm, điều kiện cho vay không có tài sản bảo đảm, hạn mức cho vay không có tài sản đảm bảo đối với một khách hàng và toàn hệ thống;
+ SHB phân loại tài sản đảm bảo làm 5 loại: A, B, C, D, E theo tính pháp lý, tính thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền, khả năng phát mãi tài sản), khả năng quản lý, mức độ uy tín của người vay và chủ sở hữu tài sản, xu hướng biến động giá thị trường của tài sản và các yếu tố khác;
Định hướng chất lượng tín dụng: Quy định giới hạn nợ quá hạn, nợ xấu của toàn
hệ thống và từng đơn vị kinh doanh và đưa ra các chế tài:
+ Khối quản lý tín dụng thường xuyên thực hiện rà soát nợ xấu đối với các đơn
vị kinh doanh có tỷ lệ nợ xấu trên 3% và đề xuất điều chỉnh thẩm quyền phê duyệt của Trưởng đơn vị quản lý (nếu thấy cần thiết), việc rà soát nợ xấu cũng
áp dụng đối với các Vùng và Giám đốc Vùng;
+ Khối quản lý tín dụng thực hiện rà soát các khoản nợ xấu của các Quản lý khách hàng và Quản lý khách hàng nào có nợ xấu trên 10% dư nợ quản lý sẽ bị dừng kinh doanh để tập trung cho công tác thu hồi nợ cho đến khi tỷ lệ nợ xấu giảm xuống dưới 10%;
+ Quy trách nhiệm cá nhân đối với các khoản rủi ro tín dụng do các nguyên chủ quan của cán bộ trong việc không tuân thủ các quy chế, quy trình, quy định, hướng dẫn cấp tín dụng của SHB
Chính sách khách hàng, lãi suất, phí;
Trang 26b) Chính sách khách hàng
Nội dung của chính sách khách hàng:
Quy định về xếp loại khách hàng gồm: tiêu chí xếp loại khách hàng; quy định
về tiêu thức và thang điểm; xếp loại và phân hạng khách hàng gồm 10 hạng khách hàng và 5 nhóm (AAA, AA, A; BBB, BB; B, CCC, CC; C; D)
Chính sách khách hàng chung: ưu tiên áp dụng cho các khách hàng tốt, khách hàng cốt lõi, khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ và sản phẩm của SHB, khách hàng đang quan hệ với SHB, các khách hàng đang hoạt động trong lĩnh vực mà SHB khuyến khích cấp tín dụng; hạn chế cho vay các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn mà SHB đánh giá tiềm ẩn rủi ro cao, khách hàng đang có dư nợ quá hạn hoặc có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ;
Chính sách về lãi suất, SHB quy định mức lãi suất áp dụng cho từng đối tượng khách hàng theo định hướng tín dụng và kế hoạch lợi nhuận hàng năm và áp dụng nguyên tắc: khách hàng có mức độ rủi ro càng cao thì áp dụng lãi suất càng cao và ngược lại; mức độ rủi ro của từng khách hàng được SHB xác định trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ (xếp hạng khách hàng);
Chính sách bảo đảm tiền vay: chỉ cho vay không có tài sản đảm bảo hoặc nhận các tài sản có mức độ rủi ro cao, tính thanh khoản thấp đối với các khách hàng tốt, khách hàng cốt lõi, khách hàng kinh doanh trong những lĩnh vực ít rủi ro hoặc ngành nghề kinh doanh có những lợi thế riêng; SHB quy định tỷ lệ cho vay tối đa trên mỗi loại tài sản đảm bảo cho từng loại khách hàng; Đối với các khách hàng xếp hạng càng thấp thì yêu cầu về tài sản đảm bảo càng được chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho SHB khi cấp tín dụng;
Ngoài ra SHB cũng áp dụng chính sách khách hàng về dịch vụ, phí dịch vụ và chính sách huy động tiền gửi đối với khách hàng nhằm ưu đãi, thu hút những khách tốt, khách hàng cốt lõi và khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ, sản phẩm của SHB;
Quy định về giới hạn cho vay đối với mỗi loại tài sản bảo đảm ứng với mỗi loại khách hàng (theo xếp hạng tín dụng nội bộ) dựa trên các yếu tố: số tiền gốc, lãi
và các chi phí có thể phát sinh tính đến thời điểm có thể xử lý thu hồi nợ; mức
độ hiệu quả, tính khả thi của dự án vay vốn và khả năng thu hồi nợ; đối tượng khách hàng vay và các yếu tố khác theo quy định của SHB trong từng thời kỳ;
Trang 27 SHB quy định về quy trình tiếp nhận, quản lý hồ sơ, kiểm tra tài sản bảo đảm, theo dõi sự biến động của tài sản bảo đảm, quy trình xư lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ hoặc hoàn trả tài sản bảo đảm khi khách hàng thực hiện xong nghĩa
vụ đối với SHB;
c) Các sản phẩm tín dụng
Dựa trên tính phổ biến, tính đặc thù của từng lĩnh vực, sản phẩm cấp tín dụng và Quy chế cho vay, Quy chế đảm bảo tiền vay, chính sách, định hướng phát triển tín dụng SHB ban hành các quy định về sản phẩm tín dụng
Mục đích ban hành các sản phẩm: đa dạng hóa hình thức cấp tín dụng phù hợp với các quy định của pháp luật và của SHB, tạo sự khác biệt và vượt trội trong cạnh tranh, tối ưu hóa các ưu điểm trong quá trình cấp tín dụng, thuận tiện trong việc xem xét cấp tín dụng cho khách hàng
Cấu trúc sản phẩm gồm: mô tả sản phẩm, điều kiện sử dụng sản phẩm đối với khách hàng và nội dung sản phẩm (loại tiền và mức cho vay, lãi suất, thẩm quyền phê duyệt khoản vay, thời hạn cho vay tối đa, kỳ hạn trả nợ, );
Danh mục sản phẩm có sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp
và sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân;
Sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp có: Tài trợ vốn lưu động, Thấu chi tài khoản, Tài trợ xuất khẩu, Tài trợ nhập khẩu, Chiết khấu hối phiếu, Cho vay dự án và đầu tư tài sản cố định, Bao thanh toán nội địa, Bảo lãnh doanh nghiệp, Cho vay Đồng tài trợ, Cho vay ủy thác,
- Sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân: Cho vay mua bất động sản, Cho vay góp vốn mua nhà, Cho vay trả góp mua nhà đất, Cho vay mua xe hơi tiêu dùng, Cho vay hộ kinh doanh, Cho vay tiểu thương chợ, Cho vay du học,
Hỗ trợ tài chính nâng cao kiến thức, Cho vay tiêu dùng, Cho vay cầm cố chứng
từ có giá, Cho tín chấp tiêu dùng, Cho vay tín chấp cán bộ nhân viên, Cho vay thấu chi tài khoản, Cho vay kinh doanh chứng khoán,
d) Quy trình thu hồi nợ và xử lý tài sản đảm bảo
Thu hồi nợ là bước cuối cùng trong quy trình cho vay, bao gồm thu hồi gốc và
lãi của các khoản vay đến hạn, quá hạn và các khoản trả nợ trước hạn; để đảm bảo việc thu hồi nợ và hạn chế nợ quá hạn, SHB quy định các Quản lý khách hàng có trách nhiệm:
Trang 28+ Theo dõi và đôn đốc việc trả nợ của khách hàng theo các quy định đã thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng;
+ Lập và trình Trưởng phòng tín dụng ký thông báo nợ đến hạn trước mỗi kỳ
hạn trả nợ ít nhất 5 ngày làm việc gửi cho khách hàng;
+ Thực hiện kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất để đánh giá đúng khả năng
trả nợ của khách hàng;
+ Kiểm soát chặt chẽ mọi nguồn thu của khách hàng để đảm bảo thu hồi nợ; + Tích cực xử lý sớm các khoản vay có dấu hiệu bất thường;
+ Thực hiện các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ có hiệu quả;
+ Thực hiện quy trình xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ;
+ Đối với các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày (nợ xấu), SHB quy định các đơn
vị kinh doanh phải chuyển hồ sơ và phối hợp với SHB AMC để xử lý, thu hồi
nợ
+ Khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa
thuận, SHB có thể thực hiện các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo
Xử lý tài sản đảm bảo
+ Yêu cầu bên thứ ba có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ (nếu có);
+ Thu giữ tài sản bảo đảm, nhận bàn giao tài sản bảo đảm để xử lý;
+ Bán/cho thuê/cho thuê lại tài sản bảo đảm;
+ Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của khách hàng;
+ Thuê bên thứ 3 có chức năng và chuyên môn thực hiện việc đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ;
+ Khởi kiện theo quy định của pháp luật để buộc khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ;
Xử lý nợ xấu
+ Xử lý nợ xấu, đây là hoạt động nhằm giảm thiểu mức độ rủi ro đã xảy ra
Trong hoạt động này, ngân hàng thực hiện các nội dung: Thu hồi nợ (quá hạn,
nợ khó đòi hoặc nợ có vấn đề); Phân tích nguyên nhân, thực trạng khoản nợ và khả năng xử lý; Thực hiện việc xử lý nợ xấu (phát mại, thanh lý)
Trang 29+ Mua bảo hiểm tín dụng: Nếu khoản vay được Ngân hàng mua bảo hiểm thì khi
rủi ro tín dụng xảy ra, công ty bảo hiểm có nhiệm vụ bồi thường cho Ngân hàng theo quy định Ngoài ra, bảo hiểm tín dụng còn phối hợp với các ngành hữu quan để tổ chức các biện pháp phòng ngừa, hạn chế các tổn thất xảy ra đảm bảo
an toàn cho cả công ty bảo hiểm và cả ngân hàng
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng SHB
2.2.1 Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Các hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội là huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân; Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân; Thực hiện các giao dịch ngoại tệ, các dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Kinh doanh vàng theo quy định của pháp luật; Bao thanh toán; Dịch vụ bảo quản tài sản và cho thuê tủ, két an toàn (bao gồm cả dịch vụ giữ hộ, bảo quản vàng); Ủy thác cho vay và nhận ủy thác cho vay; Cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác
Ở phần này, tác giả sẽ giới thiệu sơ qua về các hoạt động chủ yếu của ngân hàng là: hoạt động uy động vốn, hoạt động tín dụng và hoạt động dịch vụ
a) Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
(Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2010,2011,2012 và 2013)
Đồ thị 2.2.1 – a Đồ thị hoạt động huy động vốn tại SHB
Trang 30Tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng SHB trong năm 2012 là 104.131 tỷ đồng, tăng 231,2% so với năm 2010 và là 167,6% so với năm 2011 Trong khi số tiền gửi trong khoảng thời gian đó tăng mạnh, và dễ dàng thấy được nó gấp khoảng 3 lần so với năm 2010
Trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2013, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do biến động thị trường tài chính và những hậu quả của sự suy thoái nền kinh tế Vậy, cũng không quá khó hiểu, khi tổng số tiền gửi tăng đáng kể trong giai đoạn này
Vào giai đoạn thị trường tài chính đang trong giai đoạn phục hồi sau suy thoái kinh
tế, điều này đã chứng tỏ rõ ràng SHB đã thực sự thành công và đang dần trở thành một ngân hàng hoạt động ổn định hơn
b) Hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
(Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2010,2011,2012 và 2013)
Đồ thị 2.2.1 – b Đồ thị hoạt động huy động tín dụng tại SHB
Trong giai đoạn 2010-2013, không chỉ tăng trưởng về vốn huy động, các hoạt động cho vay tài chính tại SHB cũng có sự tăng trưởng đáng kể Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với tình hình huy động vốn hiện tại Tăng lên vào khoảng 133.59% tổng dư nợ vào cuối kỳ hạn từ 2010 đến 2012
c) Hoạt động dịch vụ của ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội
Trang 31Đơn vị tính: Triệu đồng
tương đối Chênh lệch tuyệt đối
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ 219,433 193,828 25,605 13.21%
Dịch vụ thanh toán 62,024 52,525 9,499 18.08% Hoạt động ngân quỹ và bảo lãnh 106,781 81,110 25,671 31.65%
Chi phí hoạt động dịch vụ (86,302) (41,731) (44,571) 106.81%
Dịch vụ thanh toán (16,867) (11,608) (5,259) 45.30% Hoạt động ngân quỹ và bảo lãnh (10,969) (6,489) (4,480) 69.04% Dịch vụ khác (58,466) (23,634) (34,832) 147.38%
Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ 133,131 152,097 (18,966) -12.47%
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán 2012, 2013 và tính toán của tác giả)
Bảng 2.2.1 Hoạt động dịch vụ của SHB 2012 – 2013
Ta có thể thấy được, Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội trong năm 2013 tăng 25.605 triệu đồng so với năm 2012, tương ứng với mức tăng 13,21% Trong đó:
Dịch vụ thanh toán trong thời gian này phát triển mạnh, nhất là các dịch vụ chuyển tiền trong ra ngoài nước và ngược lại Thu nhập từ hoạt động thanh toán tăng từ 52.525 triệu đồng tại năm 2012 lên 62.204 triệu đồng trong năm 2013 Tăng lên 9.499 triệu đồng tương ứng với mức tăng 18,08%
Hoạt động ngân quỹ và bảo lãnh vẫn là hoạt động có thu nhập chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động dịch vụ của Ngân hàng SHB Thu nhập từ hoạt động này trong năm 2013 tăng lên 31,65% so với năm 2012 Đó là vì, trong năm 2013, do tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng các hoạt động ngân quỹ và bảo lãnh hơn, để họ có thể vay vốn dễ dàng hơn để thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu hàng, cũng như đấu thầu dễ dàng hơn
Dịch vụ đại lý cũng tăng khá đáng kể trong khoảng thời gian này Chỉ đạt mức 800 triệu đồng năm 2012, nhưng lên đến 1.496 triệu đồng trong năm 2013, với mức tăng 87%
Các dịch vụ khác vẫn đem lại thu nhập 47.132 triệu đồng trong năm 2013, nhưng vẫn giảm 12.261 triệu đồng so với cùng kỳ năm 2012 Ngân hàng nên xem xét điều chỉnh sao cho phù hợp với mục đích phát triển của Ngân hàng trong năm, cũng như các chính sách để đem lại các dịch vụ tốt hơn cho khách hàng
Trang 32Để đem lại nguồn thu nhập từ hoạt động dịch vụ, Ngân hàng cũng có những khoản chi phí Chi phí hoạt động dịch vụ trong khoảng thời gian từ 2012 đến cuối năm 2013
đã tăng lên là 86.302 triệu đồng
Lãi thuần của hoạt động dịch vụ cuối năm 2013 đạt 133.131 triệu đồng Vì chi phí
để phát triển hoạt động dịch vụ cao hơn so với năm 2012, điều này đã làm giảm lãi thuần từ hoạt động dịch vụ Lãi thuần giảm đi 18.966 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 12,47%
2.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
giai đoạn 2012 - 2013
Để có thể nắm được phần nào tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, tác giả xin được phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Năm 2013 Năm 2012 Chênh lệch tương đối Chênh lệch tuyệt đối
Thu nhập lãi thuần 2,104,058 1,875,528 228,530 12.18% Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ 133,131 152,097 (18,966) -12.47% Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối 63,400 47,963 15,437 32.19% Lãi thuần từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh 696 140,376 (139,680) -99.50% (Lỗ)/Lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư (16,199) 23,548 (39,747) -168.79% Lãi thuần từ hoạt động khác 76,626 689,034 (612,408) -88.88% Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần 6,325 10,910 (4,585) -42.03% TỔNG THU NHẬP HOẠT ĐỘNG 2,368,037 2,939,456 (571,419) -19.44% TỔNG CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG (1,860,870) (1,678,993) (181,877) 10.83% Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự
phòng rủi ro tín dụng 507,167 1,260,463 (753,296) -59.76%
(Chi phí)/hoàn nhập dự phòng rủi ro tín dụng 492,881 564,740 (71,859) -12.72% TỔNG LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ 1,000,048 1,825,203 (825,155) -45.21% Chi phí thuế TNDN (150,278) (137,934) (12,344) 8.95% LỢI NHUẬN SAU THUẾ 849,770 1,687,269 (837,499) -49.64%
Lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng 849,742 1,686,841 (837,099) -49.63%
Lỗ lũy kế do Habubank chuyển giao khi sáp nhập - (1,660,775) - - LỢI NHUẬN CÕN LẠI CỦA NGÂN HÀNG 849,742 26,066 823,676 3159.96% Lãi trên cổ phiếu (đồng/cổ phiếu) 959 33 926 2806.06%
( Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán 2012, 2013 và tính toán của tác giả)
Bảng 2.2.2 – a: Báo cáo tóm tắt kết quả kinh doanh SHB 2012 – 2013
Năm 2013, tình hình kinh tế đã có những chuyển biến tích cực hơn so với nền kinh
tế diễn biến phức tạp, thương mại giảm sút, tăng trưởng thấp của những năm trước
Trang 33Tuy nhiên, vẫn còn các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, điều này làm cho hoạt động ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều áp lực, như là: đảm bảo khả năng thanh toán, giảm lãi suất huy động, tăng trưởng tín dụng trong quy mộ hạn hẹp, xử lý nợ xấu và tái cơ cấu tổ chức để tăng cường cạnh tranh Trong năm 2013, Ngân hàng SHB tập trung giải quyết khoản nợ xấu lên tới hàng nghìn tỷ đồng, nên những hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng cũng có phần giảm sút
Thu nhập lãi là một phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong những nguồn mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng Trong năm 2013 là 2.104.058 triệu đồng, tăng lên 12,18% so với cùng kỳ năm 2012 Để đạt được nguồn thu này, SHB đã phải bỏ ra 7.070.660 triệu đồng để chi cho những hoạt động phục vụ đảm bảo nguồn thu này Con số này đã thể hiện được SHB đã tạo dựng được niềm tin của khách hàng trong thời kỳ nền kinh tế đang trên đà hồi phục, cũng như thể hiện được khả năng quản lý của các cán bộ SHB nói chung cũng như ở các Phòng Giao dịch nói riêng đã cải thiện được kỹ năng và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả
Hoạt động dịch vụ là nguồn hoạt động đem lại một phần lợi nhuận cho SHB, cung cấp các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động huy động vốn và tín dụng phát triển tốt hơn Thu nhập từ hoạt động dịch vụ đã tăng từ 193.828 tại thời điểm 31/12/2012 và đạt được mức 219.433 tại thời điểm 31/12/2013 Sự tăng trưởng của dịch vụ được lý giải là do nhu cầu sử dụng dịch vụ gia tăng theo hướng tích cực Thu nhập tăng nhưng trong thời điểm này, SHB cũng thực hiện những chính sách tái cơ cấu bộ máy tổ chức cùng với phát triển hệ thống dịch vụ thanh toán qua hệ thống mobile banking, điều này khiến cho chi phí cho hoạt động dịch vụ tăng lên đáng kể, từ 41.731 triệu đồng năm 2012 lên đến 86.302 triệu đồng trong năm 2013 Chính chi phí tăng cao nên dù cho thu nhập từ hoạt động dịch vụ có tăng nhưng lãi từ hoạt động dịch
vụ cũng bị giảm đi 18.966 triệu đồng
Hoạt động kinh doanh ngoại hối trong năm 2013 có điều chỉnh lại 1,3% thấp hơn mức từ 2% đến 3% so với Ngân hàng Nhà nước đề ra Khi thị trường biến động, Ngân hàng Nhà nước đều kịp thời trấn an dư luận và bán ra ngoại tệ để can thiệp Cuối năm
2013, tỷ giá tại SHB là 21.070- 21.110 thấp hơn so với mức 21.100-21.246 đồng/USD tại sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước đã mua được một lượng lớn ngoại tệ từ các Ngân hàng Thương mại, trong đó có Ngân hàng TMCP Sài Gòn-
Hà Nội Đóng góp một phần trong nguồn thu lợi 63.400 triệu đồng Tăng so với năm
2012 chỉ đạt ở mức 47.963 triệu đồng
Trang 34Hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh tuy vẫn mang lại được nguồn thu cho Ngân hàng, tuy nhiên đã cho thấy sự đầu tư không hiệu quả của Ngân hàng qua hoạt động này Trong năm 2012, con số lợi nhuận từ hoạt động này vẫn còn khá cao, đạt mức 140.376 triệu đồng, nhưng đến năm 2013, lợi nhuận từ hoạt động này đã giảm mạnh chỉ còn đạt 696 triệu đồng Thị trường ngoại hối là một thị trường biến động nhanh và khó lường nhất trong các thị trường tài chính, tiền tệ rất nhạy cảm với các thông tin kinh tế toàn cầu nên tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Vậy nên, dù vẫn mang lại một nguồn lợi nhuận cho Ngân hàng nhưng Ngân hàng cũng nên có những chính sách hợp
lý để có thể mang lại nguồn thu chắc chắn
Hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư trong năm 2012 vẫn còn mang lại nguồn lợi nhuận lên đến 23.548 triệu đồng thì đến năm 2013 hoạt động này lại lỗ đến 16.199 triệu đồng Năm 2013 được đánh giá là năm được đánh giá là ấn tượng của thị trường chứng khoán nói chung, tuy nhiên cũng trong khoảng thời gian này, SHB đang phải tập trung giải quyết vấn đề nợ xấu nên không đưa ra được những chính sách, phương
án hợp lý cho hoạt động nên đã để lỗ một khoản tương đối SHB nên có những chính sách điều chỉnh lại cho hoạt động này khi nợ xấu của SHB giải quyết được phần lớn
so với hiện tại
Hoạt động kinh doanh khác so với các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, lĩnh vực này chiếm một khoản tương đối lớn vào năm 2012 nhưng đến năm 2013 lại suy giảm mạnh, đã cho thấy Ngân hàng đã tập trung phát triển chính vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng Mặc dù vậy, những hoạt động kinh doanh khác cũng vẫn đem lại cho Ngân hàng 76.626 triệu đồng trong năm 2013 Một khoản thu không nhỏ
Hoạt động góp vốn, mua cổ phần trong năm 2013 cũng giảm gần 40% so với năm
2012 Chỉ đạt mức 6.235 triệu đồng Mặc dù con số chênh lệch một phần đáng kể so với năm trước đó nhưng cũng không quá ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng
Để thu về được những khoản thu nói trên, Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội cũng
đã phải chi ra những khoản mục cần thiết để duy trì hoạt động của Ngân hàng và cũng như đầu tư cho những khoản mà Ngân hàng xác định nó là cần thiết cho những hoạt động chính của Ngân hàng
Trang 35Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2013 Năm 2012 Chênh lệch tương đối Chênh lệch tuyệt đối Chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí 33,740 28,689 5,051 17.61% Chi phí cho nhân viên 758,215 732,037 26,178 3.58%
Chi cho hoạt động quản lý công vụ 450,303 537,010 (86,707) -16.15% Chi nộp phí bảo hiểm, bảo toàn tiền gửi của KH 67,847 38,659 29,188 75.50% Chi dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn khác 16,843 39,265 (22,422) -57.10% Chi dự phòng rủi ro khác 206,224 62,898 143,326 227.87%
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2012, 2013 và tính toán của tác giả)
Bảng 2.2.2 – b: Chi phí cho hoạt động kinh doanh của SHB 2012 – 2013
Chi phí hoạt động của Ngân hàng tập trung chủ yếu là ở chi phí cho cán bộ công nhân viên, chi cho tài sản và cuối cùng là cho các hoạt động quản lý công vụ
Trong đó, chi phí cho cán bộ công nhân viên là ở mức cao nhất với 758.215 triệu đồng; có tăng một phần nhỏ so với năm 2012 là do nhân viên trong hệ thống Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội năm 2013 đã tăng lên so với trước đó ở mức 732.037 triệu đồng, tức là tăng lên 3,6%; chi phí cho cán bộ công nhân viên gồm cả các khoản chi lương và phụ cấp, chi phí ăn ca, các khoản chi đóng góp theo lương và cả các khoản chi trợ cấp Qua đó, ta có thể thấy được chế độ đãi ngộ với nhân viên của SHB đáp ứng được yêu cầu theo quy định cho người lao động
Một phần không nhỏ trong các khoản chi phí hoạt động của Ngân hàng là các khoản chi về tài sản, gồm có xây dựng thêm chi nhánh, thay thế máy móc hỗ trợ cho các phòng ban làm việc Trong đó, khoản khấu hao tài sản cố định chiếm khoảng 1/3 Phần chi phí lớn thứ 3 mà Ngân hàng chi để duy trì hoạt động là chi cho các hoạt động quản lý công vụ Hay chính là các khoản chi phí phải chi để duy trì hoạt động của Ngân hàng như hoạt động tín dụng, các khoản chi cho hoạt động dịch vụ… Trong năm 2013, ta thấy khoản chi này đã giảm 16,14% so với năm 2012 Do quá trình tái
cơ cấu hoạt động của SHB từ năm 2012 đến nay đã dần hoàn thành, chi phí cũng được phân bổ một cách hợp lý, nên các khoản chi cho năm 2013 đã giảm được 86.707 triệu đồng so với năm 2012 trước đó
Ta thấy được để duy trì cho các hoạt động của Ngân hàng, chi phí cần thiết trong năm 2013 đã tăng lên 10,8% so với năm 2012 Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của Ngân hàng
Trang 362.3 Tình hình hoạt động tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Qua phần trên, tác giả đã nói sơ lược về tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Để nắm được tình hình rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng tại SHB, tác giả sẽ đi sâu vào phân tích tình hình hoạt động tín dụng của SHB, qua đó có thể thấy được tình hình rủi ro tín dụng và cũng như tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại SHB
2.3.1 Tình hình hoạt động tín dụng tại SHB giai đoạn 2012 – 2013
Để có thể nắm bắt được phần nào thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, tác giả sẽ phân tích tình hình dư nợ theo nhóm nợ, tình hình dư nợ
- nợ xấu theo thành phần kinh tế
2.3.1.1 Cơ cấu dƣ nợ theo nhóm nợ
Các khoản phải thu giao dịch chứng
khoán của SHBS 144,096 0.19% 132,223 0.23% 11,873 8.98%
76,509,671 100.00% 56,939,724 100.00% 19,569,947 34.37%
( Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán 2012, 2013 và tính toán của tác giả)
Bảng 2.3.1.1 Tình hình cơ cấu dƣ nợ theo nhóm nợ tại SHB 2012 – 2013
Sau khi mua lại HBB vào năm 2012, SHB phải kế thừa các danh mục đầu tư tín dụng làm cho tình hình thay đổi Tỷ lệ nợ xấu tăng lên đến 8,81% trong năm 2012 và
tỷ lệ các khoản nợ cần chú ý ở mức khá cao là 8,1% tương ứng với 4.613.612 triệu đồng Các khoản nợ cần chú ý đã bao gồm khoản nợ cho Vinashin và các công ty nhà nước khác đã quá hạn, mà khó có thể thu lại trong tương lai gần Trong năm 2013, do
xử lý các khoản nợ xấu tốt, nên tình hình đã có vẻ sáng sủa hơn khi tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 5,67% (bao gồm các khoản nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn và khoản nợ cho vay chờ xử lý – Vinashin), và các khoản nợ đủ tiêu