Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu
Trang 1LÊ TIẾN DŨNG
NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ XUÂN DIỆU
GIAI ĐOẠN 1932 - 1945
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
2004
Trang 2NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ XUÂN DIỆU
GIAI ĐOẠN 1932 - 1945
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới (1932-1945).Ông đóng vai trò quyết định trong cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca Việt Nam Do vậy nghiên cứu thơ Xuân Diệu trong giai đoạn sáng tác trước cách tháng Tám rất quan trọng chẳng những đối với bản thân Xuân Diệu mà còn đối với thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung
Lâu nay đã có nhiều công trình viết có giá trị về thơ Xuân Diệu, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về tư duy thơ mới mẻ của ông Chuyên luận của Lê Tiến Dũng đã đặt và giải quyết vấn đề này Điều đó nói lên
ý nghĩa quan trọng và bức thiết của chuyên luận này
Bố cục của cuốn sách được bố trí rất hợp lí, đã đi từ gốc đến ngọn của vấn đề Các chuyên mục có quan hệ gắn bó, hài hòa, soi sáng lẫn nhau
Qua ba chương sách của phần nội dung chuyên luận, nhiều luận điểm của tác giả tuy không phải chưa có người đã phát biểu trước đó, nhưng tác giả cũng đã có đóng góp mới mẻ nhờ sự khảo sát có hệ thống một cách nghiêm túc thơ Xuân Diệu và đặc là nhờ sự suy nghĩ có chiều sâu.Có thể nói toàn bộ cuốn sách lấp lánh những phát hiện sắc sảo, thú vị, hấp dẫn chứng tỏ người viết vừa có khả năng thẩm thơ khá chắc chắn, vừa có khả năng khái quát, tổng hợp vững vàng,
Cuốn sách là một công trình khoa học nghiêm túc, công phu
Xin trân giới thiệu cùng bạn đọc
Hà Nội, tháng 3.1998
GS Nguyễn Đăng Mạnh
Trang 6DẪN NHẬP
1 Trong sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Diệu là một nhà thơ lớn Tác phẩm của ông thật phong phú và đa dạng: thơ ca, văn xuôi, nghiên cứu, phê bình văn học Trong sự nghiệp văn học của ông, thơ ca chiếm một vị trí quan trọng Đặc biệt thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932- 1945 không chỉ có ý nghĩa với sự nghiệp văn học của ông mà còn đối với lịch sử văn học nói chung Sự xuất hiện của ông đã góp phần quyết định thắng lợi của phong trào Thơ mới Nhiều người đã xem ông là “Người mới nhất trong các nhà Thơ mới“ (Hoài Thanh), “Là người mang đến cho Thơ mới nhiều cái mới nhất“ (Vũ Ngọc Phan) Cho nên để hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về thơ Xuân Diệu và Thơ mới, không thể không nghiên cứu những đổi mới về nhiều mặt trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932- 1945
Mục đích của chuyên luận, do vậy sẽ khảo sát một cách có hệ thống, những cách tân của thơ Xuân Diệu giai đoạn này Trên cơ sở đó xác lập kiểu tư duy nghệ thuật của thơ ông, xác định những đóng góp của thơ Xuân Diệu giai đoạn này trong quá trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại
2 Xuân Diệu là một nhà thơ được nghiên cứu từ rất sớm Khi ông chưa kịp thành tác giả đã có những bài viết, những ý kiến khen chê khác nhau về ông Có thể chia quá trình nghiên cứu về Xuân Diệu thành các giai đoạn chính như sau:
Thứ nhất, những ý kiến về Xuân Diệu trước 1945
Thứ hai, những ý kiến về Xuân Diệu từ 1945 - 1985
Thứ ba, những ý kiến về Xuân Diệu từ 1985 đến nay
2.1 Trước năm 1945
Khi Xuân Diệu vừa mới xuất hiện (Bài thơ đầu tiên của Xuân Diệu đăng
báo là bài Với bàn tay ấy, 1935) thì gần như ngay đồng thời đã có ý kiến đánh
giá về thơ ông Người ta khen ông cũng nhiều và chê ông cũng không ít
Trang 7Mùa xuân 1937 trên báo Ngày nay số 46 (số Tết) Thế Lữ đã có bài giới
thiệu Xuân Diệu với lời lẽ rất trân trọng Ông cho rằng cái “Thiên tài khép nép“ của Xuân Diệu hồi nào giờ đây đã thực sự nảy nở với những “mầm đậm đà“, những “ánh sán lạn“ Ôââng cho là “Một thi sĩ mới đã xuất hiện“ Ông gọi đó là “Thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và ánh sáng“ (141) Kể ra đánh giá một tài thơ 21 tuổi, với chỉ qua một số bài thơ đăng báo như thế là rất cao Nhưng quả là Thế Lữ đã tinh nhạy và công bằng Tháng năm trôi qua đã xác nhận những điều ông viết về Xuân Diệu là đúng
Rồi chỉ mấy năm sau, năm 1941, Hoài Thanh đã đưa Xuân Diệu vào Thi
nhân Việt Nam với tư cách là một tác giả chủ chốt và với lời àấnh giá rất trân
trọng, mặc dù lúc này Xuân Diệu chỉ mới xuất bản tập Thơ thơ (1938) Hoài
Thanh cho rằng “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới“ Cái mới của Xuân Diệu theo nhà nghiên cứu là “một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này“, là ở “những rung động tinh vi”, ở những câu văn “không thể đi theo những đường có sẵn” (210; tr.116 và 119)
Một năm sau đó, 1942, Vũ Ngọc Phan lại đưa Xuân Diệu vào Nhà văn
hiện đại với lời đánh giá không kém phần rực rỡ : “Xuân Diệu là người đem
đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất“ Theo ông những cái mới đáng chú ý ở Xuân Diệu là “Những nguồn hứng và ý tưởng rất mới“ Và ông cho rằng còn phải chú ý những chữ, những câu, những điệu trong những bài thơ ấy để hiểu lấy “cái nhạc điệu mới nữa“ (182; tr.715, 716)
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn sử học yếu (1942), cũng đánh giá cao Xuân Diệu Trong mục thứ 6, thiên thứ 5 Các nhà Thơ mới ông chỉ chọn
viết riêng về ba nhà thơ là: Hàn Mặc Tử, Thế Lữ và Xuân Diệu Trong phần viết về Xuân Diệu dù chưa đầy hai trang sách, tác giả đã chỉ ra một số nét đáng chú ý của Xuân Diệu Theo ông thơ Xuân Diệu là thơ của “Một tâm hồn đầy thơ mộng“, “Khao khát yêu thương“, “Hay tả những cảnh gây nên sự mơ màng“ , “Chứa chan tình cảm lãng mạn trong đó có nhiều từ mới lạ“ Nhưng
Trang 8cũng theo nhà nghiên cứu thì Xuân Diệu “Cũng có nhiều câu vụng về, non nớt, chứng rằng tác giả chưa lão luyện về kĩ thuật của nghề thơ“ (73; tr 441, 442) Tuy nhiên bên cạnh nhiều ý kiến khẳng định cái mới của Xuân Diệu cũng không ít ý kiến chê bai, bài bác ông Chẳng hạn, Thái Phỉ trong một bài đăng
trên báo Tin Văn xuất bản ở Hà Nội đã mạt sát Xuân Diệu không tiếc lời Ông
viết: “Chẳng hạn như thơ của Xuân Diệu, ông này được coi như là một tay kiện tướng của phong trào này (Thơ mới - LTD), thơ của ông ta được kể là khá nhất đám nhưng chẳng ra gì Thơ với thẩn, đọc qua nhiều bài của ông chúng ta phải bắt cười vì thơ thì chẳng ra thơ, Tây cũng chẳng phải Tây, mà Tàu lại cũng chẳng phải là Tàu“ (134; quyển thượng; tr.616) Theo Thái Phỉ đọc những bài
như Tương tư chiều, Hoa đêm của Xuân Diệu “Không tìm được một chút cảm
hứng nào cả“ Và theo ông “Một khi thơ không còn gây được cảm hứng thì tốt hơn là đừng làm thơ Nếu làm thơ thì phải có hồn và điệu, thế thì mới đáng gọi là thơ“ (134; quyển thượng; tr 619)
2.2 Từ 1945 - 1985
Sau cách mạng tháng Tám có giai đoạn do những điều kiện lịch sử nhất định, Thơ mới ít được nghiên cứu rộng rãi, thậm chí có lúc còn bị phê phán nặng nề Thơ Xuận Diệu cũng không nằm ngoài tình trạng này Có lúc chính
Xuân Diệu cũng đã phải tự phủ nhận mình như trong bài Dứt khoát mà ông đã cho đăng trên Tạp chí Văn nghệ số 41 năm 1953 Nhưng nói như Lê Đình Kỵ,
đó chẳng qua là “Gặp thời thế, thế thời phải thế”
Thơ mới nói chung, thơ Xuân Diệu nói riêng do vậy chủ yếu chỉ được đề cập đến trong những công trình có tính chất học thuật như các bộ lịch sử văn học, các giáo trình đại học, các chuyên luận khoa học
Trước hết đáng chú ý là các giáo trình đại học
Trong giáo trình Văn học Việt Nam 1930 - 1945; 2 tập (1961), của trường
Đại học Tôûng hợp Hà Nội, do Bạch Năng Thi và Phan Cư Đệ biên soạn thì Xuân Diệu được đề cập đến như là một tác giả tiêu biểu của văn học lãng mạn
giai đoạn 1936 - 1939 Trong sách này, Thơ thơ của Xuân Diệu được viết thành
Trang 9một mục riêng Bạch Năng Thi nhận xét: Thơ thơ có đem đến cho thi ca Việt
Nam nhiều cái mới: hình ảnh, táo bạo, chữ dùng cụ tượng, có sức mạnh gợi hình, gợi cảm dễ diễn đạt những cảm giác tinh vi, những tình ý nồng nàn, rất mới hồi ấy Bút pháp của Xuân Diệu táo bạo đến nỗi ở thời gian đầu, người ta chỉ trích rất nhiều“ (216; tập I; tr.157) Tuy nhiên do khuôn khổ của một giáo trình đại học, nhà nghiên cứu chưa đi sâu phân tích một cách cụ thể những cái mới đó
Trong bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam của Đại học Sư phạm, giai
đoạn 1930 - 1945 được viết thành một tập riêng gồm 2 cuốn (tập V) Ở sách này Nguyễn Hoành Khung đã dành một tiết riêng viết về Xuân Diệu (hơn 5 trang in) với những đánh giá một cách toàn diện Ở đây nhà nghiên cứu chủ yếu đi vào phân tích những đặc điểm chung của thơ Xuân Diệu như “Sức hấp dẫn của thơ Xuân Diệu trước hết là ở chủ nghĩa ái tình“ (Tr 124) “Thơ Xuân Diệu mang cái buồn vô cớ“, “Tâm trạng cô đơn trong thơ Xuân Diệu đã trở thành một cảm giác nhục thể, rất trực tiếp thấm thía“ (Tr.127) Về nghệ thuật,
do tính chất của một giáo trình nên nhà nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở những nhận xét chung như cho Xuân Diệu “Có nhiều tìm tòi, đổi mới và một phong cách hấp dẫn độc đáo Cái nổi bật trong phong cách đó là một cảm hứng mãnh liệt chân thành Nhiều bài thơ của Xuân Diệu có mạch thơ cuồn cuộn, khai triển vô tận một tứ thơ mới mẻ, với một ngôn ngữ táo bạo, nhạc điệu sôi nổi, thích hợp, tạo nên một âm hưởng nhất quán có sức truyền cảm trực tiếp“ (Tr.129) Nguyễn Hoành Khung cũng cho rằng do ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp, Xuân Diệu đặc biệt đi sâu vào cái “huyền diệu bên trong“ của con người, cảnh vật “Xuân Diệu có những cảm thụ tinh vi về những trạng thái mơ hồ, mong manh của âm thanh, màu sắc, tình cảm“ (145; tr.130)
Một công trình phải kể đến nữa là Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930
- 1945 của Viện Văn học (1964) Ở công trình này trong mục “Một số nhà thơ
mới tiêu biểu“ của giai đoạn Văn học thời kì Mặt trận dân chủ, Xuân Diệu
được nhắc đến cùng với Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Bính, Anh Thơ Tuy
Trang 10nhiên trong phạm vi hơn một trang in cấc tác giả của công trình này cũng chỉ dừng lại ở việc nêu lên một số nhận xét chung như cho rằng Xuân Diệu là
“một tâm hồn nhạy bén và giàu mơ mộng”; “có một niềm đau xót nhất định đối với cuộc sống của những người xấu số”; “nhà thơ muốn sống và ham sống nhưng chưa tìm được con đường sống sáng sủa” (255; tr.156,157) Còn những đổi mới của thơ Xuân Diệu giai đoạn này, các tác giả của công trình hầu như không đề cập đến
Trong giai đoạn trước 1975, nhiều công trình của các nhà nghiên cứu miền Nam cũng đề cập đến Xuân Diệu Ở đây chỉ xin lược thuật một số
Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên * của Phạm Thế Ngũ (1965)
Xuân Diệu là một trong năm tác giả của Thơ mới được viết thành mục riêng (Cùng với Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Tú Mỡ) Trong phần viết về Xuân Diệu, Phạm Thế Ngũ cho rằng Xuân Diệu đã “Tạo ra một hướng thơ thật là mới, có thể gọi là thơ nội quan Thi sĩ lấy chính cái nội tâm của mình làm đề tài“ (170; tr.572) Theo nhà nghiên cứu, cái mới của Xuân Diệu không phải ở thể cách mà ở ngôn ngữ: “Xuân Diệu đã nói một ngôn ngữ phá vỡ những lề thói về trước, gây sửng sốt, gây bất bình nữa” (170; tr.574)
Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) khi viết về các
nhà Thơ mới giai đoạn sau 1932 đã chọn ba nhà thơ tiêu biểu viết thành mục riêng là: Xuân Diệu, Thế Lữ và Hàn Mặc Tử Trong hơn một trang in viết về Xuân Diệu, ông khẳng địng rằng “Xuân Diệu sống bằng cái mới, say sưa đi tìm cái mới Bởi thế sau khi thích Lamartine, Xuân Diệu lại yêu Verlaine, yêu Rimbaud và tự khuôn nắn nghệ thuật của ông theo các thi nhân tượng trưng Pháp Ông yêu thích những hình ảnh lạ lùng, những hình ảnh đã được tạo ra do
* Ở cuốn sách này (bản in năm 1969) bìa ngoài tác giả ghi là Lịch sử văn học
Việt Nam tân biên giản ước, còn ở bìa trong và các nơi khác đều ghi Việt Nam văn học sử giản ước tân biên
Để cho thống nhất, chúng tôi lấy tên sách theo bìa trong (LTD)
Trang 11sự phối hợp mới mẻ và đột ngột giũa những hiện tượng bề ngoài xem ra đối lập, nguyền ruãa nhau
Văn Xuân Diệu vì thế, có tính cao quí, nhưng mơ hồ và phảng phất Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới“ (121; tr.805)
Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng trongViệt Nam thi nhân tiền
chiến (1968) cũng đã dành cho Xuân Diệu khá nhiều trang in của sách này Chỉ
tiếc rằng với gần bốn mươi trang in hai ông chủ yếu nói về nội dung thơ Xuân Diệu mà không đề cập gì đến những cách tân nghệ thuật của nhà thơ (xem 134; quyển thượng; tr.611-648)
Sau ngày giải phóng miền Nam (1975) cho đến trước khi Xuân Diệu mất (1985), có một số bài viết có tính chất tổng kết về sự nghiệp văn học của ông Đáng chú ý là các tiểu luận của Hà Minh Đức, Hoàng Trung Thông, Mã Giang Lân, Nguyễn Đăng Mạnh.vv
Ở tiểu luận Xuân Diệu trong Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, tập I, (1979)
với hơn 30 trang in Hà Minh Đức chủ yếu viết về sự nghiệp của ông từ sau cách mạng Phần sáng tác trước cách mạng không được đề cập đến, nếu có chỉ là những liên hệ có tính chất tạt ngang (59; tr.591-621)
Hoàng Trung Thông trong Lời giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu (1983) đã
dành gần 60 trang in tổng kết sự nghiệp văn học của ông Tuy không có phần viết riêng về nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước cách mạng, nhưng ông cũng có nhận xét đáng chú ý Ôâng cho rằng Xuân Diệu “Say mà không đắm, mơ mà không màng Dẫu có thoát li thực tế nhưng anh (Xuân Diệu - LTD) không đi vào siêu hình Anh thiên về cảm xúc, cảm tính nên cũng có nhà phê bình cho anh là duy giác chủ nghĩa (Sensualisme) Nhưng nếu như cảm giác là bắt nguồn cho thơ, thì Xuân Diệu rất tinh tế về cảm giác; mà thơ anh vươn lên tình cảm trí tuệ, mặc dù tính cảm giác ở thơ anh rất đậm“ (257; tr.54)
Mã Giang Lân trong bài viết Xuân Diệu sách Tác gia thơ Việt Nam
(1984) có nói đến cách tân nghệ thuật của Xuân Diệu Theo ông “Nét nổi bật
Trang 12xuyên suốt cả thời kì sáng tạo đó là tiếng nói sôi nổi thiết tha bộc trực, trẻ trung, một năng lực cảm thụ tinh tế, dồi dào“ Và một nét nữa là “Phong cách thơ Xuân Diệu giàu hương vị cuộc đời gây tác động mạnh bằng cảm giác“ (123; tr.118,119) Tuy nhiên do là một bài viết có tính chất chân dung, nên tác giả chưa kịp luận giải một cách đầy đủ nhận xét trên
2.3 Từ 1985 đến nay
Sau ngày Xuân Diệu mất (12-1985) cũng là giai đoạn đổi mới văn học nên việc nghiên cứu Xuân Diệu được tâïp trung chú ý nhiều hơn Một loạt các
sách chuyên khảo về Xuân Diệu đã liên tiếp được xuất bản như Xuân Diệu,
nhà thơ lớn của dân tộc, Thu Hoài - Nguyễn Đức Quyền biên soạn, Hội Văn
học Nghệ thuật Nghĩa Bình xuất bản, 1986; Xuân Diệu, con người và tác
phẩm, Hữu Nhuận biên soạn, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1987; Xuân Diệu một đời người, một đời thơ, Lê Tiến Dũng biên soạn, NXB Giáo dục, 1993; Xuân Diệu, thơ và đời Lữ Huy Nguyên tuyển chọn, NXB Văn học, 1995; Xuân Diệu tình đời và sự nghiệp, Xuân Tùng sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn, NXB
Hội Nhà văn, 1996,vv Bên cạnh đó còn hàng chục bài nghiên cứu, hồi ức, kỉ niệm về Xuân Diệu của các nhà thơ, nhà nghiên cứu như: Nam Chi, Huy Cận, Hoàng Cát, Phan Huy Dũng, Lê Tiến Dũng, Hà Minh Đức, Nguyễn Lệ Hà, Tế Hanh, Đoàn Thị Đặng Hương, Đoàn Trọng Huy, Lê Quang Hưng, Lê Đình Kỵ, Mã Giang Lân, Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Quần Phương, Lữ Huy Nguyên, Trần Đình Sử, Lưu Khánh Thơ, Lí Hoài Thu, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Quốc Túy.v.v
Tuy nhiên do những yêu cầu khác nhau, không phải bài viết nào cũng đề cập đến cách tân nghệ thuật của tư duy thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945
Ở đây có một số bài đáng chú ý:
Nguyễn Đăng Mạnh trong tiểu luận Tư tưởng và phong cách một nhà thơ
lớn (1987) đã tổng kết những đặc điểm tư tưởng và phong cách nghệ thuật của
Xuân Diệu trong toàn bộ sáng tác của ông Riêng thời kì trước 1945 nhà nghiên cứu cũng cho rằng Xuân Diệu có cái nhìn mới Theo ông, một đặc điểm độc
Trang 13đáo của thi pháp Xuân Diệu là lấy “Vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của thế giới, của vũ trụ“ Và ông cho rằng nguyên tắc mĩ học này “là cả một cuộc đổi mới đáng kể trong thi ca Việt Nam hiện đại“ (155; tr.106)
Lê Đình Kỵ trong bài viết Xuân Diệu sách Thơ mới, những bước thăng
trầm (1988) cũng đã chỉ ra nhiều cách tân tư duy thơ quan trọng của Xuân
Diệu Ôâng cho rằng Xuân Diệu mới ở tư duy, mới ở cảm xúc và mới ở cả ngôn ngữ Và ông khẳng định cho đến bây giờ “Xuân Diệu vẫn còn là mới và rất sáng tạo, chẳng trách mà đương thời có người chê Xuân Diệu là Tây, là lai căng, mất gốc” (117; tr.202, 205)
Đỗ Lai Thúy trong bài Xuân Diệu, nỗi ám ảnh thời gian (1992) thì cho
rằng “thời gian không chỉ là cảm xúc, là thi hứng, mà còn là nhân tố kiến trúc của tác phẩm nghệ thuật” theo tác giả “Xuân Diệu nhìn đời bằng con mắt thời gian; “chất Xuân Diệu“, phong cách thơ ông là ở đó” (236; tr.51)
Trong Thơ mới, bình minh thơ Việt Nam hiện đại (1994), Nguyễn Quốc
Túy đã dành chương X viết về những đổi mới của Xuân Diệu Tác giả cho rằng
“Trữ tình cảm xúc, tràn đầy cảm giác, luôn luôn thức nhọn giác quan“ là nét riêng và mới của Xuân Diệu Tuy vậy, nét mới này theo tác giả không chỉ ở Xuân Diệu mà còn ở nhiều người khác Có điều ở Xuân Diệu “nổi bật lên“ thể hiện ở cả hai phương diện: chất thơ và ngôn ngữ“ (260; tr.120) Ở phương diện chất thơ nét riêng này theo tác giả là Xuân Diệu sáng tạo ra “một thế giới nghệ thuật riêng: tràn đầy cảm xúc, cảm giác“ Ở phương diện ngôn ngữ thơ nét riêng này được biểu hiện ở chưỵ “Nhà thơ dùng rất nhiều lần các từ biểu hiện cảm xúc, cảm giác như “run”, “rợn”, “nức” vv (260; tr.122)
Ở một phía khác Lý Hoài Thu trong Thế giới không gian nghệ thuật của
Xuân Diệu qua “Thơ Thơ” và “Gữi hương cho gió” (1996) lại cho rằng khảo
sát quá trình sáng tác của Xuân Diệu “Người ta dễ dàng tìm thấy những điểm tương đồng đối xứng giữa hai trục thời gian và không gian trên đồ thị vận động của hình tượng thơ“ (235; tr.41)
Trang 14Lưu Khánh Thơ trong một loạt các bài viết về thơ tình Xuân Diệu đã đề cập đến những đổi mới của ông Tác giả tập trung vào việc phân tích cái mới
của cái tôi trữ tình và câu tứ của Xuân Diệu trong thơ tình Trong bài Cái tôi
trữ tình và phương thức biểu hiện cái tôi tình yêu trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng (1994), tác giả cho rằng cái tôi trữ tình của Xuân Diệu xuất hiện
dưới các dạng như: “nhập thân vào đối tượng phản ánh“, “được biến hóa qua nhiều hình ảnh“ và “đồng nhất với thiên nhiên“ (232; tr.24,25,27) Trong bài
Nghệ thuật cấu tứ trong thơ tình Xuân Diệu (1994), tác giả cho rằng có những
bài “tứ thơ được định hình ngay từ đầu“, có bài “tứ thơ bộc lộ ở phần kết“, lại có những bài có “tứ ngầm không bộc lộ trong bài“ (231; tr.35,36).v.v
Có thể nhận xét một cách khái quát là việc nghiên cứu những cách tân của Xuân Diệu đã được đặt ra từ rất sớm Từ gần 60 năm nay các thế hệ nghiên cứu đã đưa ra nhiều kiến giải có giá trị Những cách tân của thơ Xuân Diệu đã được soi rọi dưới nhiều góc độ: cái mới về nội dung, cái mới về nghệ thuật, cái mới về cảm xúc, về hình thức biểu hiện ; từ nhiều cách tiếp cận: lịch sử - miêu tả, thi pháp học, phong cách học,v.v
Tuy nhiên trên bình diện tư duy nghệ thuật thơ còn ít công trình đề cập, do việc nghiên cứu của các công trình vừa kể có mục đích khác Những ý kiến có đề cập chủ yếu cũng dừng ở những nhận định khái quát, gợi mở những cách tiếp cận nhiều hơn là lí giải, phân tích một cách cụ thể Do vậy chuyên luận sẽ cố gắng đưa ra một cách nhìn toàn diện về tư duy nghệ thuật thơ của Xuân Diệu giai đoạn trước 1945 Những ý kiến của các thế hệ đi trước sẽ được kế thừa, bổ sung và tham khảo trong chuyên luận
3 Đối tượng khoa học mà chuyên luận đề cập đến chính là đặc điểm của
tư duy nghệ thuật thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945 Từ đó có thể thấy được sự vận động của tư duy nghệ thuật thơ Xuân Diệu trong quá tình cách tân thơ Việt Nam hiện đại Chuyên luận ít nhiều có đề cập đến những vấn đề nội dung của thơ Xuân Diệu, nhưng chủ yếu là để làm rõ cách tư duy nghệ thuật của ông về nội dung, chứ không đi sâu phân tích nội dung cụ thể Ở đây chủ yếu sẽ
Trang 15nghiên cứu cách thức, phương thức thể hiện, các cách thức, phương thức chiếm lĩnh hiện thực của nhà thơ
Với một đối tượng khoa học như vậy, đối tượng tác phẩm khảo sát sẽ gồm
hai tập thơ của ông đã xuất bản trong giai đoạn này là Thơ thơ, NXB Đời nay,
1938 và Gửi hương cho gió NXB Thời đại, 1945 Về văn bản, chúng tôi dựa
vào văn bản xuất bản lần đầu, khi thật cần thiết mới dựa vào các văn bản xuất bản về sau của hai tập thơ này
Để có cái nhìn tôûng quát hơn, ở một số phần chúng tôi khảo sát thêm những tác phẩm của tác giả cùng thời, trước và sau ông Đồng thời cũng mở rộng ra phạm vi tác phẩm của ông ở các giai đoạn khác
Chuyên luận ngoài phần mở đầu và kết luận có ba chương chính
Chương một: Những đổi mới của Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945 trên
bình diện quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người
Chương hai: Những cách tân của Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945 trên
bình diện nội dung trữ tình và phương thức trữ tình
Chương ba: Những cách tân của Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945 trên
bình diện thể thơ và ngôn ngữ thơ
Chuyên luận đã được GS Hoàng Như Mai, GS Lê Đình Kỵ, GS Nguyễn Đăng Mạnh, GS Hà Minh Đức, GS.TS Nguyễn Văn Hạnh, GS Phong Lê, GS Nguyễn Đình Chú, GS Lương Duy Thứ, GS.TSKH Lê Ngọc Trà, PGS Nguyễn Lộc, PGS Trần Thanh Đạm, PGS Mai Cao Chương, PGS Lương Duy Trung, PGS TS Trần Hữu Tá, GS TS Trần Đăng Xuyền, PGS.TSKH Bùi Mạnh Nhị,
TS Huỳnh Vân, PGS.TS Huỳnh Như Phương, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân, PGS.TS Nguyễn Phong Nam, TS Tôn Thất Dụng, TS Hoàng Đức Khoa và nhiều nhà nghiên cứu, đồng nghiệp, bạn bè đọc và góp ý Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, chúng tôi xin trân trọng cám ơn
-
Trang 16CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP:
1 Hãy giải thích câu nói của Hoài Thanh : “ Người mới nhất trong các nhà Thơ mới”
2 Trình bày lịch sử nghiên cứu Xuân Diệu
Trang 17Chươngmột : NHỮNG ĐỔI MỚI CỦA XUÂN DIỆU GIAI ĐOẠN 1932- 1945 TRÊN BÌNH DIỆN QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ THẾ GIỚI VÀ CON NGƯỜI
Khi nghiên cứu sự đổi mới của một thời đại văn học hay của một tác giả không thể không xem xét đến quan niệm nghệ thuật của tác giả đó, thời đại đó về thế giới và con người Bởi lẽ, nhà văn quan niệm về thế giới và con người như thế nào thì sẽ miêu tả như thế Có đổi mới về quan niệm nghệ thuật thì mới có sự đổi mới trên các bình diện khác Nghiên cứu thơ Xuân Diệu trong tiến trình hiện đại hóa thơ Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này
Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn theo chúng
tôi thực chất là cái nhìn của nhà văn về thế giới và con người Mỗi nhà văn sẽ
có một cái nhìn thế giới khác nhau và do đó sẽ có một thế giới nghệ thuật khác nhau Do vậy, nghiên cứu quan niệm nghệ thuật sẽ chỉ ra được chiều sâu của
thế giới và con người mà nhà văn thể hiện trong tác phẩm Nói cách khác, nắm được quan niệm nghệ thuật cũng có nghĩa là nắm được chiều sâu và giới hạn thực tế của tư duy nghệ thuật của một hiện tượng văn học nào đó Từ đây có thể giúp để giải thích các nguyên tắc nghệ thuật của một hiện tượng văn học Nhờ đó mà có thể thấy được những cách tân của hiện tượng văn học đó trong tiến trình lịch sử văn học
Vấn đề đặt ra ở đây là trong tiến trình hiện đại hóa thơ Việt Nam, quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu có những đặc điểm gì và đã có những biến đổi như thế nào so với thơ ca trước đó và đương thời ?
Đã có một vài ý kiến đây đó đề cập đến quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu trong giai đoạn này Những ý kiến đó thường rút gọn quan niệm nghệ thuật của ông thânh quan niệm nghệ thuật về con người Từ đó cho rằng quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ ông là con người cô đơn, con người mộng tưởng, con người chân thành, con người khát khao sống v.v Thật ra đó
Trang 18là những đặc điểm của nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Diệu hơn là quan niệm nghệ thuật, nghĩa là hệ quả chứ chưa phải là bản thân của quan niệm nghệ thuật
Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu nghĩa là phải nghiên cứu cái nhìn, cách cắt nghĩa của ông về thế giới và con người Tất nhiên, cách cắt nghĩa này không phải là những định đề lí luận, mà phải toát lên ở hệ thống hình tượng mà nhà thơ miêu tả, ở lí tưởng thẩm mĩ mà nhà thơ hướng đến, ở khát vọng mà nhà thơ bày tỏ
Chúng tôi cho rằng quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu giai đoạn 1932-
1945 đã có những thay đổi căn bản so với thơ ca trước đó và có những biến đổi
so với thơ ca đương thời Những thay đổi đó đã tạo nên những nét đặc sắc riêng trong thơ ông giai đoạn này
1 Quan niệm thế giới đổi thay
Con người là trung tâm của thế giới nhưng con người tồn tại trong thế giới nào? Theo Xuân Diệu đó là một thế giới đầy biến dời, đổi thay Đây cũng chính là quan niệm nghệ thuật đáng chú ý trong thơ ông
Trong thơ cổ điển, nhà thơ nhìn thế giới trong sự vĩnh hằng của nó Trong
thế giới đó, có thay đổi, có vận động nhưng là đổi thay, vận động trong sự vĩnh
hằng của muôn đời, trong nhịp điệu đều đặn của thời gian Hết xuân sang hạ, hết hạ sang thu, hết thu sang đông, cứ thế lặp lại một cách tuần hoàn Nhà thơ
bằng lòng với việc của “muôn đời” Người ta nói đến “trăm năm trong cõi
người ta” (Truyện Kiều - Nguyễn Du), “nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay” (Hoàng hạc lâu - Thôi Hiệu) Người ta có thể nói đến một “thế sự du du”, một
thiên địa “vô cùng” (Ý câu thơ Đặng Dung: Thế sự du du nại lão hà, Vô cùng
thiên địa nhập hàm ca - Cảm hoài), thậm chí có thể khẳng định “hoa đào năm ngoái còn cười gíó đông” (Truyện Kiều - Nguyễn Du) v.v Trong cái thế giới
vĩnh hằng đó người đọc nhận ra tâm thế ung dung tự tại của thi nhân trước mọi biến dời của thế sự trước mắt
Trang 19Trong thơ Xuân Diệu vẫn còn bóng dáng của cách nhìn này Đây đó trong
thơ ông, người đọc vẫn nhận ra những “ham muốn vô biên và tuyệt đích”, những hình bóng của muôn đời “Trăng vú mộng đã muôn đời thi sĩ”, những khát vọng của ngàn năm: “Hôm nay tôi đã chết trong người, Xưa hẹn ngàn năm yêu mến
tôi”
Nhưng có lẽ nhiều hơn, cái nhìn của Xuân Diệu là một cái nhìn nghiêng về quan niệm thế giới đổi thay Trong quan niệm của ông hình như không có gì là vĩnh cửu mà tất cả điều có thể biến dời, từ thiên nhiên cho đến lòng người;
từ cỏ hoa cho đến tình yêu Trong bài thơ Đi thuyền ông ví cuộc đời này cũng
giống như con thuyền đang trôi, mọi vật đổi thay đến không ngờ:
Thuyền qua, mà nước cũng trôi, Lại thêm mây bạc trên trời cũng bay;
Tôi đi trên chiếc thuyền này Giòng mơ tơ tưởng cũng thay khác rồi
Cái bay không đợi cái trôi;
Từ tôi phút trước, sang tôi phút này
Đi thuyền
Những cái thuộc về thế giới khách thể đổi thay trong dòng tuôn chảy của thời gian: “thuyền qua”, mà “nước cũng trôi”, lại thêm mây bạc trên trời “cũng
bay” Những cái thuộc về chủ thể cũng không đứng yên “Giòng mơ tơ tưởng
cũng thay khác rồi” “Cái bay”, “cái trôi” là những phạm vi vận động khác
nhau, vận động theo quy luật tất yếu, chứ không phụ thuộc vào cái này hay cái kia Hình tượng “tôi phút trước” và “tôi phút này” không phải chỉ là sự phân thân, mà ẩn chứa quan niệm đầy tính chất triết học về đổi thay: có “tôi phút
trước”, có “tôi phút này“ như những chủ thể độc lập Bài thơ Đi thuyền tuy
ngắn, nhưng đã hàm chứa khá đầy đủ ý vị triết học trong quan niệm đổi thay của Xuân Diệu
Từ cái nhìn đầy tính chất triết học như vậy, cái nhìn nghệ thuật của Xuân Diệu sẽ hướng nhiều hơn đến khía cạnh đổi thay của thế giới Đó sẽ là những
Trang 20hình tượng thơ được xây dựng từ cảm xúc về sự biến dời của thế giới, của con người
Ông cay đắng nhận ra sự đổi thay nơi tuổi trẻ:
Tóc ngời mai mốt không đen nữa Tuổi trẻ khô đi, mặt xấu rồi
Hư vô
Ông ngẩn ngơ trước sự thay đổi của một sắc hoa:
Mùa cúc năm nay sắc đã già
Ai tìm ta hộ dáng thu qua
Ông nhận ra thiêng liêng như tình yêu mà cũng thay đổi đến không ngờ:
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt
Giục giã
Và ông sợ cả lòng mình không vĩnh viễn trước thời gian:
Gấp đi em anh rất sợ ngày mai Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn
Giục giã
Xuân Diệu sợ cả “Sự thật ngày nay không thật đến ngày mai” (Phải nói)
Sự đổi thay với ông có khi chỉ là trong chớp mắt:
Vàng son đang lộng lẫy buổi chiều xanh Quay mặt lại : cả lầu chiều đã vỡ
Giục giã
Với cái nhìn này Xuân Diệu nhận ra mọi cái tươi xanh mơn mởn của cuộc đời chẳng mấy chốc mà tàn tạ, mà khô héo Ông nhận ra trong tiếng chim “reo thi” kia có “độ phai tàn sắp sửa“, trong cái tươi xanh của mùa xuân kia đã ẩn chứa sự “nhạt màu“, “phai bông“, trong cái tươi trẻ của những “mái xanh“ kia chẳng mấy chốc mà “sương đầy“ Không có gì đứng yên, không có gì vĩnh
Trang 21viễn Điệp khúc ấy vang lên trong thơ ông như một nỗi niềm, như một lời nhắn nhủ: cái tươi xanh sẽ qua mau, cái tàn tạ, già nua là vĩnh viễn:
Vĩnh viễn già nua, xuân ngắn ngủi Mái xanh hương đượm chốc sương đầy
Trước sự thật ấy, nhà thơ không còn cái cốt cách của những thi nhân ngày xưa lúc nào cũng an nhiên, tự tại trước mọi biến dời nữa, mà phấp phỏng lo âu, hốt hoảng vội vàng Đúng như Hoài Thanh nhận xét: “Thi nhân cơ hồ đã mất hết cái cốt cách hiên ngang ngày trước Chữ ta với họ rộng quá Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi Đừng có tìm ở họ cái khí phách ngang tàng của một thi nhân đời xưa như Lí Thái Bạch, trong trời đất chỉ biết có thơ
Đến chút lòng tự trọng cần để khinh cảnh cơ hàn, họ cũng không có nữa: Nỗi
đời cơ cực đang giơ vuốt - Cơm áo không đùa với khách thơ Không biết trong
khi rên rỉ như thế, Xuân Diệu có nghĩ đến Nguyễn Công Trứ, một người đồng quận chẳng những đã đùa cảnh nghèo mà còn lấy cảnh nghèo làm vui“ (210; tr.53)
Một cái nhìn thế giới đầy đổi thay như vậy tất yếu sẽ dẫn đến hệ quả là hốt hoảng, “vội vàng“ trong ứng xử Thế giới đổi thay, đời người ngắn ngủi, cho nên phải “vội vàng“ Hơn một lần Xuân Diệu đã giải thích điều này:
Men trời sực nức nên mau tạ Biết trước cho nên đã “vội vàng“
Trò chuyện với Thơ thơ
Sự “biết trước“ mà nhà thơ nói ở đây là gì? Đó là “biết trước“ rằng “Tuổi
trẻ chẳng hai lần thắm lại” (Vội vàng), là “Mười chín tuổi chẳng hai lần hoa nở” (Đẹp) Đó là sự “biết trước“ về một điều hiển nhiên: “Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi” (Vội vàng) Như vậy “vội vàng“ là “vội vàng“ của một
quan niệm, của một nhận thức, chứ không phải vội vàng của một thái độ “sống
gấp” tiêu cực như có khi người ta đã gán cho ông
Trang 22Chính quan niệm này đã tạo nên những cảm giác đầy “vội vàng“ trong thơ Xuân Diệu Đọc thơ ông người ta nhận ra những trạng thái của vội vàng
như: “vội vội”, “mau mau”, “mau lên”, “gấp đi”, “vụt”, “liền”, “ngay”, “vừa”,
“chốc” tràn ngập
Mau với chứ vội vàng lên với chứ
Giục giã Mau đi thôi ! mùa chưa ngã chiều hôm
Ôi vội vàng là những phút trao yêu
Tặng thơ Chong chóng ngày thơ vụt đến xuân Mau mau ngày mạnh yếu phai dần Ngày già vội vội mang sương đến
Tuổi chết đây rồi ! bóng lụt chân
Hư vô
Muốn gấp đi cho xương rờn tốc độ;
Cho văng xé tay chân, cho rã riêng đầu cổ
Mái chèo đập mau ! ta thoát ngoài ta !
Chín con rồng ! nổi gió để buồm xa !
Trang 23Ta ngây thơ vội tưởng họ yêu mình
Ta dâng vội cả ân tình thứ nhất
Đương vương chủ ta bỗng thành hành khất Chỉ vì nghe một lời hứa như chim
Vì vội kiếm tìm nhau, tôi sẽ
Chỉ thấy người thương, nhưng chẳng thấy tình thương
Dối trá
Thơ Xuân Diệu ít khi bình yên, thư thái Những phút giây thiêng liêng của
“những chiều không dám nói“, những khi thư thả đắm mình trong tiếng nhạc
tuyệt vời để nhận ra “Gió nhịp theo đêm không vội vàng“ thật hiếm hoi Mà ta thấy thơ ông lúc nào cũng gấp gáp, lúc nào cũng hối hả: “vội dâng”, “vội
tưởng”, “vội kiếm tìm”, “vội đưa”, “vội gặp”, “vội chia xa”, “vội cả buồn vui”
(Anh vui liền nhưng lại buồn ngay - Xa cách) Cho đến cả con người, cả cảnh
vật trong thơ ông cũng mang trạng thái “vội vàng“ đó: “Anh sắp giận Em miûm
cười vội vã” (Xa cách), “Gió vừa chạy, vừa rên, vừa tắt thở” (Tiếng gió), “Thu sang chim trắng vội bay ngừa” (Lưu học sinh), “Mây biếc về đâu bay gấp gấp” (Thơ duyên), “Lá úa cành khô vẫn rụng dồn” (Núi xa) Trong thơ ông không
có gì đứng yên, không có gì không vội vã Ông triết lí rằng ngọn núi nhìn xa tưởng đứng yên như một miếng bìa, nhưng thật ra “núi không hề đứng thản nhiên“ Con người, sự vật cũng vậy thôi, luôn luôn gấp gáp trong vòng quay của cuộc đời :
Lẫn với đời quay tôi cứ đi Người ngoài không thấu giữa lòng si Cũng như xa quá nên ta chỉ
Thấy núi yên như một miếng bìa
Núi xa
2 Khẳng định hiện tại, khẳng định thực tại
Trang 24Ý thức về sự đổi thay, không có gì là vĩnh viễn sẽ dẫn đến một quan niệm khác trong thơ Xuân Diệu là khẳng định thực tại, khẳng định hiện tại Bởi lẽ mọi vật, mọi sự đều biến dời, thì cái thực tại và hiện tại có ý nghĩa nhất
Mĩ học của chủ nghĩa lãng mạn nói chung là phủ nhận thực tại, phủ nhận hiện tại để hoặc là quay về quá khứ, hoặc hướng đến tương lai, đem lý tưởng đối lập với thực tại
Văn học lãng mạn Việt Nam cũng như Thơ mới nói riêng không nằm ngoài qui luật này Với các nhà Thơ mới, thực tại mà họ đang sống, nói như Vũ Hoàng Chương, là chẳng qua do “đầu thai nhâàm thế kỉ“ Thi nhân muốn trốn khỏi cái thực tại đó Người ta trốn vào giấc mơ tiên, vào bóng giai nhân, vào
rượu, hay như Chế Lan Viên ước ao được nương vào “một tinh cầu giá lạnh,
một vì sao trơ trọi cuối trời xa” để “Nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh, Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo“ Cảm giác “lạc loài” hiện lên rất rõ trong Thơ mới
Hiện tại thì bơ vơ, tương lai thì mơ hồ, nên đa phần họ quay về quá khứ Một
cái “ngày xưa” mơ hồ nào đó đã được lí tưởng hóa, thơ mộng hóa để trở thành
nỗi mong ước khôn nguôi của thi nhân Thế Lữ ví mình như con hổ trong vườn
bách thú “nhớ rừng” xưa Vũ Đình Liên nhớ về bóng dáng của những ông đồ
viết câu đối Tết thủa nào với một niềm da diết: “Những người muôn năm cũ -
Hồn ở đâu bây giờ?” Nguyễn Nhược Pháp có hẳn cả một tập thơ lấy tên là Ngày xưa nhằm “làm sống lại cả một thời xưa” với “màu sắc tươi vui, hình
dáng ngộ nghĩnh” (Hoài Thanh) Còn Nguyễn Bính thì van em “giữ nguyên quê mùa” như hôm qua, như thuở trước Cả Xuân Diệu trong văn xuôi cũng là
một Xuân Diệu da diết với ngày xưa Truyện cái giường diễn tả một hoài vọng
về quá khứ Cái giường mong lửa hồng thiêu mình để thành khói mà bay về rừng xưa
Ấy thế mà trong thơ chúng ta lại có một Xuân Diệu khác, một Xuân Diệu
khát khao với hiện tại, với thực tại, dù đó là một hiện tại mong manh “Trong
gặp gỡ đã có mầm li biệt”, một thực tại đầy trắc trở: “Chiều tùứ bề không phá nổi trùng vây”
Trang 25Trong thơ Xuân Diệu đôi lúc cũng nhớ về “ngày xưa”, cái “ngày xưa” gắn
với kỉ niệm như “Nguôi làm sao được buổi Thơ thơ” (Trò chuyện với Thơ thơ),
hay một cái “ngày xưa”, gắn với khung trời tuổi nhỏ mà bây giờ trở nên da diết:
Cho ta xin, cho ta xin sắc đỏ, Xin màu xanh về tô lại khung đời
Trời ơi, trời ơi, đâu rồi tuổi nhỏ?
Hôm xưa đâu rồi, trời ơi ! trời ơi !
Cũng có lúc ông đã từng “mơ xưa”, một cái “ngày xưa” phảng phất như trong huyền thoại, trong cổ tích, trong một quá vãng xa xôi với “Những Chiêu
dương, những Hậu đình tráng lệ”, những “Cung nhà Tần trùng điệp mái lâm li”,
với những “gót sen vàng liễu yếu chạy về đâu ?”, để tạo nên một nét u hoài
không dễ quên trong thơ mình:
Mà nhớ điều chi ? hay nhớ ai ? Cũng không biết nữa - Nhớ nhung hoài ! Những trời xa lắm, xưa, xưa quá,
Đến nỗi trong lòng sắc đã phai
Nhớ mông lung
Ai có nhớ những thời hương phảng phất Hạc theo trăng, tiên còn lẫn với người;
Những thời xưa chim phượng xuống trần chơi, Hoa cúc nở có người chờ đợi trước
Mơ xưa
Những thoáng “mơ xưa” như thế không nhiều trong thơ Xuân Diệu Nhiều hơn, ông sống với “thì” hiện tại mà “ngày trước” với “mai sau” đều không đáng kể:
Kể chi chuyện trước với ngày sau
Tình trai
Trang 26Cần chi biết ngày mai hay bữa trước ? Gần hôm nay thì yêu dấu là nên
Gặp nhau đây, ai biết tự thời nào;
Xa nhau nữa, ai đoán ngày tái hội !
Ông chiêu hồn những năm tháng đã qua trở về với hiện tại:
Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ!
Trở về đây ! và đem trở về đây Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử, Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây
Nếu trong thơ các nhà thơ cách mạng giai đoạn này, “ngày mai” là ngày
của hi vọng, của tự do, hạnh phúc (Tiến lên mở một ngày mai - Ngày mai tươi
sáng cả trời Việt Nam - Nguyễn Văn Năng; Ngày mai bao lớp đời dơ, Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay - Tố Hữu v.v ) thì đối với Xuân Diệu “ngày mai” là
ngày của “độ phai tàn sắp sửa”, cho nên nhà thơ “sợ ngày mai”, ngày của tàn héo nhạt phai:
Ngày mai nắng mọc mưa rơi hết Mắt lặng cơn điên, lòng cạn hồ
Ta sẽ thôi yêu như đã dấu Không hề oán giận lá khoai khô
Xuân Diệu say sưa với hiện tại Ông đếm từng giây, từng phút của hiện tại, vồ vập nó, hưởng thụ nó:
Trang 27Em vui đi răng nở ánh trăng rằm Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự
Đối với Xuân Diệu thì hiện tại là “phút huy hoàng“, là “giờ họp mặt“, là
“phút trao yêu“ Khổ đau, buồn vui của ông đều chìm đắm vào trong những giây phút mong manh của hiện tại Thậm chí ông còn rút gọn hiện tại vào
“phút”, “giây”, lấy phút giây làm đại lượng để đo đếm cảm xúc:
Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo
Yêu mến
Nhịp nhàng mắt đẹp nhìn trong mắt
Một phút gần nhau hương thoảng đưa
Tình cờ
Chim giữa nắng sao mà kêu đến chói !
Ôi vô cùng trong một phút nhìn nhau !
Ôi ngắn ngủi là những giờ họp mặt ! Ôi vội vàng là những phút trao yêu !
Kỉ niệm Giờ biệt li cứ đến gần từng phút
Chúng tôi đã thấy xa nhau một chút
Biệt li êm ái Để dành một phút thương ai với
Ôi ! biết bao nhiêu kẻ đợi chờ
Trang 28Những kẻ đợi chờ
Say sưa với hiện tại thơ Xuân Diệu có khuynh hướng “vĩnh cửu hóa” thời hiện tại, mong giữ tất cả lại đừng trôi đi Ông đã từng thể hiện khát vọng đó qua việc “muốn tắt nắng đi”, “muốn buộc gió lại” để tất cả nguyên vẹn trong cái mơn mởn của sự sống thời hiện tại:
Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi
Vội vàng
Trong thơ Xuân Diệu người đọc nhận ra có cái cảm giác lúc nào cũng
“vội vàng” để tận hưởng hết thời hiện tại, lại có cái cảm giác mong mỏi hiện
tại đừng trôi đi Một mặt nhà thơ giục giã “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ”
(Giục giã), một mặt khác lại thảng thốt “Sao mà vội vã đi nhanh quá” (Trò chuyện với Thơ thơ); một mặt “Chớ nên tiết kiệm hỡi em yêu, Ta được em chăng lại mất liền” (Vô biên), mặt khác “Ôi vội vàng là những phút trao yêu” (Kỉ niệm) v.v
Bao nhiêu nhà thơ cùng thời với ông đã chối bỏ hiện tại để quay về với những ngày xưa, bao nhiêu người lấy việc ra đi chối bỏ thực tại để làm cảm hứng Đúng như Hoàng Như Mai nhận xét: “Ở Thâm Tâm, Nguyễn Bính và ở
nhiều người khác nữa vang lên một điệp khúc Ra đi, Ta đi, Người đi Đi, từ
chối; từ bỏ cái xã hội này, cái hiện tại này” (149; tr.71) Chỉ có ông là người bám riết lấy hiện tại, bám riết lấy thực tại như một kẻ say đời Ông là nhà thơ
của hiện tại, của trần gian, là con người “không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần”
(Thanh niên) là kẻ quyết “Hai tay chín móng bám vào đời” Đúng như Thế Lữ
đã nhận xét về ông: “Xuân Diệu là người của đời, một người ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây trên đất của một tấm lòng trần gian: ông đã không trốn tránh mà quyến luyến cõi đời” (142; bản in 1992; tr.9) Đây cũng chính là một
Trang 29nét đáng chú ý nữa trong quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu ở giai đoạn này
3 Khẳng định cái đẹp tươi nguyên, mới mẻ, đầu tiên
Với cái nhìn đầy lãng mạn, Xuân Diệu nhìn thấy vẻ đẹp của thế giới tràn đầy nơi con người, nơi tạo vật, nơi cỏ hoa Nhưng cái đẹp trong mắt ông phải
là cái tươi nguyên, mới mẻ, đầu tiên Chính quan niệm này đã tạo nên cái nhìn
rất trẻ trung trong thơ ông
Đọc thơ Xuân Diệu người đọc ngạc nhiên sao mà ông hay nói đến“Tình
thứ nhất”, “Xuân đầu”, “Đêm thứ nhất” rồi những “thanh tân”, “trinh bạch”, “ trai tơ”, “ mới nụ”, “ ban sơ” nhiều đến như thế? Đó không chỉ cách nói mà
biểu hiện của một quan niệm: những gì mới mẻ, nguyên vẹn mới đẹp Với ông, vẻ đẹp của cái thanh tân, trinh bạch, ban sơ có thể làm lu mờ cả trời đất Hãy nghe ông ca ngợi vẻ đẹp của “tình thứ nhất”:
Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ Hương mới thấm bền ghi như thiết thạch Sương nguyên tiêu trời đất cũng chung mờ
Với ông trời đất có đẹp là cái đẹp ở cái son sẻ, trẻ trung:
Son sẻ trời như mười sáu tuổi Má hồng phơn phớt, mắt long lanh
Rạo rực
Xuân Diệu say sưa, ngây ngất với những vẻ đẹp ban đầu:
Sao buổi đầu xuân êm ái thế
Nụ cười xuân Say người như rượu tối tân hôn
Huyền diệu
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Trang 30Vội vàng Mười chín tuổi mặt trời đang óng ả
Ánh sáng ca, lanh lảnh tiếng đời ngân;
Bông hạnh cười; mười chín tuổi thanh tân Gánh nhẹ nhõm trên thân hình măng mọc
Đẹp Trăng gió ban đầu dễ ngẩn ngơ
Trò chuyện với Thơ thơ
Điều đáng nói là có những cái không phải là “đầu tiên” ,“thứ nhất” nhưng
khi cần ca ngợi ông đưa về ngôi thứ nhất cả: “Đêm thứ bảy cũng là đêm thứ
nhất” (Đêm thứ nhất) Ai cũng biết Xuân Diệu tự nhận mình là kẻ “dại khờ”,
“ngu ngơ”, “không biết gì”, “chỉ biết yêu nhiều” mà thôi Thậm chí ông còn
tâm sự: “Mỗi lần đưa tay lên nén ngực, Lại nghe tình nhiều hơn số ngón
tay”(Thở than) Ông xem mình là người “Gặp kẻ nào đâu anh cũng mê” Vậy
mà lúc nào ông cũng xưng xưng “Anh chỉ có tình yêu thứ nhất” (Tình thứ nhất)
Vì sao vậy? Vì tình thứ nhất mới đẹp Đúng như ông đã giải thích:
Ta còn yêu dấu đến cùng hơi Nhưng nghĩa đầu tiên chỉ một người Chỉ một thơ đầu lông tuyết phủ, Như đầu xuân chỉ một hoa tươi
Trò chuyện với Thơ thơ
Từ quan niệm nghệ thuật này chúng ta nhận thấy hình như “cây đàn muôn điệu” của Thơ mới mà Thế Lữ nêu lên trước đó, đến Xuân Diệu đã bắt đầu có giới hạn Nhà thơ chỉ có thể rung động với những vẻ đẹp tươi nguyên, mới mẻ, trẻ trung Xuân Diệu hướng lòng mình ra với con người, cảnh vật thì cũng sẽ
lấy cái ban đầu, cái tươi nguyên để ca ngợi Ông khoe “Thơ ta hơ hớ chưa
chồng” (Mùa thi) Ông bâng khuâng vì “Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương” (Chiều) Ông ao ước: “Hái một mùa hoa lá thủa măng tơ” (Giục giã)
Ông tiếc cho sự già cỗi nhạt phai “Ta tiếc theo sau những đóa hồng, Những
Trang 31nàng con gái sớm phai bông” (Ngẩn ngơ) Ông quyết trẻ mãi không già: “Họa có ta còn quyết trẻ trai“ (Trò chuyện với Thơ thơ)
Xuân Diệu viết nhiều về mùa xuân và mùa thu Vì sao? Bởi như ông nói:
“Với lòng tôi chỉ có hai mùa Xuân và Thu, hai mùa đặc biệt ý nhị, hai mùa có bình minh Xuân với Thu là hai bình minh trong một năm, sự thay đổi hệ trọng nhất của tâm hồn Và bởi vậy Thu cũng là một mùa xuân Đầu Xuân là bình
minh ấm của lòng tôi, đầu Thu là bình minh mát của lòng tôi“ (Thu, Trường
ca) Như vậy, theo Xuân Diệu mùa thu cũng là sự bắt đầu, vì đó là nơi bắt đầu
bình minh mát của lòng người Mà Xuân hay Thu, với Xuân Diệu phải là khi
bắt đầu mới đẹp Đây mùa thu tới là một dẫn chứng
Ở bài thơ này, Xuân Diệu tả mùa thu, nhưng không phải mùa thu chung chung, mà chớm thu Mọi tín hiệu thẩm mĩ của bài thơ đều gợi cho người đọc
không khí ngày mới bắt đầu thu Ở mùa thu ấy “Hơn một loài hoa đã rụng
cành“ chứ không phải là tất cả, nghĩa là mới bắt đầu rơi rụng Ở mùa thu ấy
“sắc đỏ” đang rũa dần sắc xanh chứ chưa phải là tất cả lá đỏ để chuyển sang
sắc vàng của rơi rụng Ở mùa thu ấy cũng chỉ mới “Đội nhánh khô gầy xương
mỏng manh“, chỉ mới “vắng người sang những chuyến đò“ chứ chưa phải là tất
cả Nghĩa là tất cả những tín hiệu ấy đều gợi cho người đọc một không khí của đất trời khi mới vào thu
Xuân Diệu cũng là người viết nhiều về tuổi trẻ, vì trong quan niệm của
ông tuổi trẻ cũng là nơi bắt đầu của đời người, và cũng chính là vẻ đẹp của
cuộc đời Ông ca ngợi tuổi trẻ không tiếc lời:
Phố đẹp, người xinh là đời bánh mật;
Mặt tươi, môi đậm là gã trai tân Rộn tuổi trẻ dưới ánh đèn ngây ngất, Reo ái tình trong nhịp máu phân vân
Đêm thứ nhất
Ông xao xuyến, xúc động vì tuổi trẻ Ông đưa tuổi thanh niên ra làm đối tượng trữ tình của lòng mình:
Trang 32Ngươi xôn xao như một vạn cây rừng Nao lòng ta bằng muôn cánh yêu đương
Thanh niên
Cái đẹp thanh khiết của tuổi trẻ làm ông ngây ngất:
Em thanh thơi như buổi sáng đầu ngày
Đẹp
Có thể nói trong cái nhìn của Xuân Diệu cái đẹp là cái trẻ trung, tươi mới, vẹn nguyên Đó cũng chính là lí do đọc thơ ông ta thấy hồn thơ ông rất trẻ Đó cũng là lí do tại sao tuổi trẻ lại say mê Xuân Diệu đến như thế!
4 Đề cao con người cá nhân
Là thi sĩ của thời đại, Xuân Diệu không thể không nhìn thế giới bằng cái nhìn của thời đại mình Đó là cái nhìn nghiêng về đề cao con người cá nhân Đây không phải là một quan niệm chỉ có ở Xuân Diệu mà hầu hết ở các nhà Thơ mới Hoài Thanh đã từng cho rằng để phân biệt giữa thơ cũ và Thơ
mới đại thể “có thể gồm lại trong hai chữ “tôi” và “ta” Ngày trước là thời chữ
ta, bây giờ là thời chữ tôi (210; tr.51) Ông viết: “Ngày thứ nhất ai biết đích
ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó như lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân Chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình Còn cá nhân, cái bản sắc cá nhân chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển cả” (210; tr.52)
Quả đúng như vậy, trong thơ cổ điển chưa có quan niệm con người cá
nhân, mà con người chỉ được xem như một phần trong vạn vật nhất thể của vũ
trụ Con người xuất hiện trong thơ chủ yếu xuất hiện trong tư thế đó Con người
chưa có “cái tôi” cá thể mà chìm lẫn vào vũ trụ Đây đó ta gặp một “lữ khách” thấp thoáng trên đường, một “ai đó” “đăng sơn”, một “ai đó” “tựa gối ôm cần” nơi ao thu lạnh lẽo hay bè bạn với “mây khách khứa, nguyệt anh tam” Nếu muốn “nói chí” thì cũng phải “đứng trong trời đất”, muốn khóc than thì phải
“vật mình vẫy gió, tuôn mưa”, kêu lên một tiếng thì cũng mong “lạnh cả trời”
Trang 33Con người “tương thông” với vạn vật, đôi khi ước ao trở thành vạn vật: “kiếp
sau xin chớ làm người - Làm cây thông đứng giữa trời mà reo” (Nguyễn Công
Trứ) Sống, chết, tồn tại đều được suy tư, chiêm nghiệm trong quan niệm hòa nhập với vũ trụ
Nói cho công bằng, đây đó thi thoảng cũng có người muốn lộ mình ra Thi
thỏang cũng có người xưng “tớ”, xưng “tôi” với thiên hạ như Hồ Xuân Hương,
như Nguyễn Khuyến, như Tú Xương Nhưng nhiều hơn, nói như Hoài Thanh,
“họ không tự xưng, hoặc họ ẩn mình sau chữ “ta”, một chữ có thể chỉ chung
cho nhiều người” (210; tr.52)
Đến Thơ mới nhất là ở Xuân Diệu ý thức về con người cá nhân phát triển hơn bao giờ hết Con người trở thành trung tâm của vũ trụ Nếu ngày xưa con
người lẫn vào hoa cỏ, núi non thì bây giờ con người, nói như Xuân Diệu, “Đi
giữa thiên nhiên để kiếm mình” (Lưu học sinh) Nếu ngày xưa con người là một
phần bé nhỏ trong cái thực thể vũ trụ mênh mông thì bây giờ trong thơ Xuân Diệu con người cá nhân đầy ý thức về sự tồn tại của mình:
Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta
Hi - Mã - Lạp - Sơn
Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết Chân tự do đạp phăng cả hàng rào;
Ta mang hồn trèo lên những đỉnh cao Để hóng gió của ngàn phương gửi tới
Đó là con người ý thức đến độ nghênh ngang, ngạo nghễ giữa đời: “Chân
vồng thành những bước nghênh ngang”, “liếc đời bằng những khóe ham mê”
Đó là con người “ham muốn vô biên và tuyệt đích”, “lòng bốn phía mở cho
trăng” Đó là con người khát khao sống, không lùi bước trước cuộc đời, là con
người biết “cuộc đời thường đạm bạc” nên “mang theo từng suối rượu, nguồn
Trang 34tình” để làm rung động cuộc đời Nói khác đi, đó là con người đầy ý thức về cá
nhân, về sự tồn tại của mình
Từ quan niệm khẳng định con người cá nhân, Xuân Diệu khẳng định con người là trung tâm của thế giới Do vậy nếu ngày xưa thế giới được xem là chuẩn mực cho con người, thì bây giờ trong cái nhìn của Xuân Diệu, con người cũng thành chuẩn mực cho thế giới
Trong một tiểu luận nghiên cứu về Xuân Diệu, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Xuân Diệu đã lấy con người làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của thế giới, của vũ trụ” và nhận xét: “Nếu chúng ta nhớ rằng trong văn chương xưa, người
ta thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người thì mới thấy nguyên tắc mĩ học trên của Xuân Diệu là cả một cuộc đổi mới trong thơ Việt Nam hiện đại” (155; tr.106) Ông cho rằng thơ xưa ví mặt đẹp như hoa phù dung, lông mày như lá liễu, rồi nào là mắt phượng, mày ngài, làn thu thủy, nét
xuân sơn Bây giờ Xuân Diệu đem so sánh ngược lại: Lá liễu dài như một nét
mi, Trăng vú mộng đã muưn đời thi sĩ, Hơi gió thổi như ngực người yêu đến, Mây đa tình như thi sĩ thời xưa (155; tr 106)
Phát hiện trên của Nguyễn Đăng Mạnh là đúng Tuy nhiên có thể bổ sung thêm là trong thơ Xuân Diệu một mặt ông lấy con người làm chuẩn mực cho thiên nhiên, tạo nên cách tân chưa từng có như Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét; nhưng một mặt khác rất nhiều khi Xuân Diệu cũng lấy thiên nhiên làm chuẩn
mực cho con người như trong thơ xưa Một mặt ông viết: “Lá liễu dài như một
nét mi” (Nhị hồ), nhưng mặt khác lại viết: “Cặp mày xanh như rừng biếc chen cây” (Đẹp) Một mặt là: “Mây đa tình như thi sĩ thời xưa” (Tình mai sau),
nhưng mặt khác: “Một bài thơ mênh mông như vũ trụ” (Biệt ly êm ái) Một mặt:
“Trăng vú mộng đã muôn đời thi sĩ” (Ca tụng) nhưng mặt khác: “Lòng tôi đó một vườn hoa cháy nắng” (Tặng thơ) Một mặt: “Đất nồng thơm dương tráng tựa chàng trai” (Mênh mông), nhưng mặt khác: “Tôi run như lá, tái như đông” (Hư vô) v.v Rất nhiều khi ông ví lòng mình với tạo vật, thiên nhiên:
Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im
Trang 35Hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim Còn cứ run hoài như chiếc lá
Sau khi trận gió đã im lìm
Huyền diệu Và đêm nay lòng tôi lạnh lẽo Như sáng trăng trên mặt nước thu lờ
Thở than Lòng tôi rung động như Hoa hồng trong cốc nước
Chiều đợi chờ
Ý tôi là những cành trinh nữ
Ý thoáng
Cũng như rất nhiều khi ông lấy tạo vật ví với con người:
Lá như con mắt cụm cây nhìn;
Trái tựa hình tim, chim hót xin
Ôi trời xa, vừng trán của người yêu
Xa cách
Những dẫn chứng trên không nhằm nêu lên đặc điểm của so sánh trong thơ Xuân Diệu, mà cơ bản hơn cho thấy quan niệm nghệ thuật vừa mới mẻ, vừa truyền thống của Xuân Diệu Nếu như trong thơ xưa con người chìm lẫn vào vũ trụ, thì trong thơ Xuân Diệu con người có một vị trí riêng, có thể trở thành chuẩn mực của thế giới, cũng như thế giới có thể là chuẩn mực cho con người Đề cao con người cá nhân, lấy con người làm trung tâm, thế giới thơ Xuân Diệu đầy “thanh sắc trần gian” của người đời chứ không phải là một cõi mông lung của vũ trụ với mây gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông tứ quí, tứ linh xa
xăm đâu đó Đây sẽ là thế giới của “tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, của “sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, của “ngực nóng khúc đê mê”, của “Em đẹp
khi em phồng nét ngực”, của “má kề bên gối sánh” , với những “uống hồn em”,
Trang 36“riết mây đưa và gió lượn”, “tuôn âu yếm, lùa mơn trớn” v.v Bao nhiêu cảnh
sắc của thiên nhiên, của vũ trụ mà người xưa chỉ “nhìn ngắm” thì bây giờ Xuân
Diệu kéo lại gần mà thụ hưởng trong cái thế giới trần gian của mình Chẳng
hạn với “vầng trăng”, người xưa sẽ là “vọng nguyệt” còn với Xuân Diệu thì
xem “Trăng vú mộng đã muôn đời thi sĩ” và “Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy”
(Ca tụng) Hay với “mặt trời”, người xưa chỉ dám cảm nhận qua vài ánh “triêu
dương”, vài bóng “tà huy” thì Xuân Diệu sẵn sàng tuyên bố “Tôi kẻ đưa răng
bấu mặt trời” (Hư vô) Cảnh vật trong thơ ông do đó dường như cũng thấm đẫm
chất sống của cuộc đời: “Gió vừa chạy, vừa rên, vừa tắt thở“, “Nắng mọc chưa
tin hoa rụng không ngờ”, “Sắc hạ rung rinh bốn phía hè”, “Nước suối đã lờ đờ khép mắt”, “Gió khuya dậy cơn buồn lá úa” v.v Cách nhìn mới nàyđã làm
thay đổi cả hệ thống đề tài, cả bút pháp, đem đến những phát hiện tinh tế trong thơ Xuân Diệu
Trở lên là những quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu giai đoạn 1932 -
1945 Những quan niệm này cho thấy Xuân Diệu đã vượt khỏi phạm trù của thơ cổ điển, ở đỉnh cao của thơ lãng mạn
Những quan niệm mới mẻ này đã góp phần mang đến cái nhìn mới về thế giới và đổi mới tư duy nghệ thuật của thơ Xuân Diệu thời kỳ này mà chúng tôi sẽ phân tích tiếp theo sau đây
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP:
1 Trình bày quan niệm về thế giới đổi thay của Xuân Diệu? Phan biệt với thế giơi vĩnh hằng của thơ xưa
2 Thơ Xuân Diệu thực tại, điều này cĩ mâu thuẩn với chủ nghĩa lãng mạn khơng?
Trang 38Chương hai : NHỮNG CÁCH TÂN CỦA XUÂN DIỆU
GIAI ĐOẠN 1932 - 1945 TRÊN BÌNH DIỆN NỘI DUNG TRỮ TÌNH VÀ PHƯƠNG THỨC TRỮ TÌNH
1 NỘI DUNG TRỮ TÌNH
Sự đổi mới thi ca bao giờ cũng gắn liền với việc đổi mới chất thơ, đổi mới phẩm chất trữ tình của thơ Mỗi thời đại thi ca đều có những nội dung trữ tình chính yếu của thời đại mình Mỗi nhà thơ cũng có nội dung trữ tình riêng
Thơ mới, với tư cách là một cuộc cách mạng vĩ đại trong thi ca dân tộc đã tạo được nội dung trữ tình mới so với thi ca trước đó Việc đổi mới này đã trở thành gần như tôn chỉ mục đích của Thơ mới Ngay từ khi mới hình thành, nhiều người trong phong trào Thơ mới đã khẳng định sự đổi mới cuả chất thơ như là một nguyên tắc Có thể trích ra đây ý kiến của nhà thơ Lưu Trọng Lư trong buổi diễn thuyết tại Hội Khuyến học Quy Nhơn tháng 6 năm 1934 như một ý kiến tiêu biểu: “Có một điều chắc chắn là những điều kiện bên ngoài đã biến thiên thì tâm hồn của con người cũng đổi thay Những sự đau thương buồn chán, vui mừng, yêu ghét của chúng ta không còn giống những sự đau thương, buồn chán, vui mừng, yêu ghét cuả ông cha ta nữa, đó là một sự thật Các cụ ta xưa sống trong một cuộc đời giản dị êm đềm, sinh hoạt dễ dàng, tiếp xúc ít ỏi, nên tâm hồn các cụ cũng đơn sơ, nghèo nàn, phẳng lặng khô khan như cuộc đời các cụ, gia dĩ văn hóa Tàu tràn sang, đưa đến cho ta những kỉ luật nghiêm khắc, hẹp hòi của Khổng giáo
Các cụ ta chỉ thích cái bóng trăng vàng rọi ở trên mặt nước; ta lại thích cái ánh mặt trời buổi sáng lấp lánh, vui vẻ ở đầu ngọn tre xanh Các cụ ta ưa màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì một tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì một tiếng gà đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh ngắt Cái ái tình của các cụ là hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình, muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái
Trang 39tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình chân thật, cái tình ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già dặn, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu” (137; tr.279) Ngoại trừ những chỗ thái quá, ý kiến của Lưu Trọng Lư đã nói rõ quan niệm thẩm mĩ của Thơ mới : thay đổi cảm xúc thơ, thay đổi nội dung trữ tình Sáu mươi năm sau, Huy Cận, một tác giả tiêu biểu của phong trào Thơ mới nhìn lại cũng cho rằng, đổi mới cảm xúc là ý nghĩa cách mạng trước hết của phong trào này Ông viết: “Vì sao Thơ mới được tiếp nhận nhanh chóng và mau
đi vào cuộc sống tinh thần, tình cảm cuộc sống bên trong của các thế hệ cho đến ngày nay, vì sao? Vì Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời, thiên nhiên, vũ trụ Điều này cực kỳ quan trọng Nhìn và cảm nhận cuộc đời, nhìn và cảm nhận thiên nhiên tạo vật không còn như cũ nữa, mà với những rung động mới, rung động của trái tim và khối óc của những con người cảm nhận rõ vận mệnh, sự sống của mình có nhiều liên hệ tinh vi và chặt chẽ với cuộc đời rộng lớn, với tạo vật muôn trùng, với thời gian vô tận Tạo ra cảm xúc mới là cực kỳ quan trọng, mở rộng chân trời sáng tạo thơ ca Ý nghĩa sáng tạo của Thơ mới là ở điểm này trước hết, chứ không phải ở chỗ sáng tạo ngôn từ mới, hoặc đổi mới và sáng tạo các thể loại thơ Tất nhiên ngôn từ rất quan trọng, nhưng có cảm xúc mới mới có ngôn từ mới được” (10; tr.9) Là một người am hiểu Thơ mới, trong công trình nghiên cứu của mình, Lê Đình Kỵ cũng cho rằng sở dĩ Thơ mới được xem là cách mạng trong tiến trình thơ Việt Nam là vì đã“ đổi mới cả mặt biểu hiện cũng như mặt cảm hứng của thơ ca” (117; tr.136)
Như vậy, đổi mới phẩm chất trữ tình đã được thừa nhận như là một tất yếu của Thơ mới Là một nhà thơ được xem là mới nhất trong phong trào Thơ mới,
dĩ nhiên chất thơ Xuân Diệu cũng đổi mới rất nhiều Sau này có dịp nhìn lại thơ
mình trước 1945, trong một bài viết cho tạp chí Những vấn đề văn học (Liên
Xô) Xuân Diệu đã tự nhận xét: “Trong thơ tôi đã có những hình ảnh mới, một phong cách mới, có những ước mơ, nguyện vọng và tất cả những cái đó không giống với thơ truyền thống”(50; tr.17)
Trang 40Vậy nội dung trữ tình của thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932- 1945 có những đặc điểm gì mới so với thơ ca truyền thống cũng như so với thơ ca đương thời Để lý giải điều này, thiết tưởng cũng nên nhắc lại một số đặc điểm nội dung trữ tình của Thơ mới
Thơ mới là thơ của những “cây bút muôn màu“ là tiếng ngân của những
“cây đàn muôn điệu“ (chữ dùng của Thế Lữ) cho nên nội dung trữ tình đa dạng và phong phú Thi nhân đưa vào thơ những thi đề đã có và chưa từng có với một cảm xúc mới mẻ Nhà thơ có thể rung động cùng mây, gió, trăng, hoa như thơ xưa mà cũng có thể bộc lộ những cảm xúc “điên cuồng“ nhất của lòng mình Nhà thơ có thể đề cập đến muôn cảnh của xã hội cũng như muôn sắc của trời đất mà không bị gò bó bởi những quy tắc định săãn như thơ cổ Tuy nhiên theo nhiều nhà nghiên cứu như Hoài Thanh, Dương Quảng Hàm, Phan Cự Đệ, Phạm Thế Ngũ, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức thì nội dung trữ tình của Thơ mới tập trung vào một số điểm sau đây:
Thứ nhất, Thơ mới là thơ của “cái tôi” với “một quan niệm chưa từng thấy
ở xứ này: quan niệm cá nhân” (Hoài Thanh; 210; tr.52) Đó là một cái tôi thể hiện “cái thế nhị nguyên của chủ nghĩa lãng mạn”; một mặt là “cái tôi cá nhân” tự khẳng định, biểu hiện ra bằng niềm vui, mơ ước, khát vọng thấy đời dù sao cũng đáng sống đáng yêu”; một mặt là cái tôi “mang nỗi niềm cô đơn thuộc một cái gì như là nghiệp dĩ như là gắn liền với số phận con người” (Lê Đình Kỵ; 117; tr.45 và 55) Nội dung trữ tình của các nhà thơ sẽ xoay quanh một cái tôi “nhị nguyên” như vậy với những sắc thái khác nhau
Thứ hai, Thơ mới là thơ của mơ mộng, “đặt ưu tiên vào mơ mộng” (Lê Đình Kỵ; 117; tr.39) mà mỗi nhà thơ có một sắc độ khác nhau như Hoài Thanh nhận xét: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu diêu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận” (210; tr.54) Tuy nhiên đây cũng chính là nội dung trữ tình mà Thơ mới bị xem là