Để có thể sử dụng nguồn phụ phẩm trồng trọt làm giá thểhữu cơ cần có giải pháp công nghệ phù hợp vừa tận dụng nguồn nguyên liệu tạichỗ, vừa góp phần phát triển xây dựng quy trình công ng
Trang 11 MỞ ĐẦU
Trang 21.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội, nhu cầu
về hoa của thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng tăng nhanh hơn bao giờ hết.Hoa đã trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, nó thúc đẩy ngànhsản xuất và kinh doanh hoa phát triển mạnh mẽ Giá trị sản lượng hoa trên thếgiới hàng năm lên tới hàng chục tỷ đô la Chính vì vậy, sản xuất hoa trên thế giớiphát triển rất mạnh mẽ ở các nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Ở Việt Nambên cạnh những vùng trồng hoa truyền thống như Quảng Bá, Đà Lạt, Tây Tựu,…thì hiện nay nghề trồng hoa đã được mở rộng và phát triển khắp đất nước, thu hútđược đông đảo người dân làm nông nghiệp vừa giải quyết được công ăn việc làm,vừa nâng cao đời sống của người dân
Từ trước đến nay việc trồng hoa và sử dụng hoa theo hai hình thức đó làhoa cắt cành và hoa chậu Hoa cắt cành thường được trồng trực tiếp trên luốngđất, do vậy chịu sự chi phối không những của vị trí đất xung quanh bộ rễ mà cònchịu sự chi phối của môi trường đất xung quanh nên có nhiều ưu điểm so với hoatrồng chậu: dễ trồng, dễ chăm sóc, chi phí thấp Nhưng có nhược điểm là chỉ sửdụng được phần trên mặt đất và do khi sử dụng, cắt cành khỏi bộ phận thân, rễnên hoa nhanh tàn và ít đa dạng về hình dáng Hoa trồng trong chậu được giớihạn bởi chậu trồng, mặc dù quy trình phức tạp hơn, việc lựa chọn chủng loạigiống, giá thể, dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật khác đòi hỏi chặt chẽhơn, chi phí cao hơn nhưng khắc phục được các nhược điểm của trồng hoa cắtcành Tuy nhiên từ trước tới nay kỹ thuật trồng hoa chậu nói chung và trồng cúcVạn Thọ lùn và Mào gà nói riêng ít được quan tâm nghiên cứu Đặc biệt thời giangần đây nhu cầu chơi hoa trồng chậu vào dịp tết Nguyên đán là rất lớn Tuy nhiênđất chưa phải là giá thể tốt nhất, trong khi đó ở nước ta nguồn phế phẩm từ trồngtrọt tương đối đa dạng và sẵn có như: rơm, rạ, trấu, thân cây họ đậu, xơ dừa, bèo
Trang 3hoa dâu, bèo tây vv Nguồn phụ phẩm từ trồng trọt có thể là nguồn nguyên liệudồi dào cho sản xuất giá thể hữu cơ chi phí thấp, giá thành hạ, phù hợp với sảnxuất quy mô nông hộ Để có thể sử dụng nguồn phụ phẩm trồng trọt làm giá thểhữu cơ cần có giải pháp công nghệ phù hợp vừa tận dụng nguồn nguyên liệu tạichỗ, vừa góp phần phát triển xây dựng quy trình công nghệ sản xuất hoa, câycảnh trồng chậu phục vụ phát triển sản xuất hàng hóa ven đô theo hướng thâmcanh cao; và để nâng cao giá trị kinh tế, giá trị thẩm mỹ và phẩm chất cũng nhưtạo ra sự đa dạng phong phú về hình dáng hoa cúc Vạn Thọ, Mào gà nói riêng vàcác loại hoa trồng chậu nói chung chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “
Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể hữu cơ và phân bón qua lá đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa cúc Vạn Thọ lùn và mào gà lùn trồng chậu”.
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giả thể có nguồn gốc hữu cơ và phânbón lá Pomior P399 đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa cúc VạnThọ lùn và Mào gà lùn trồng chậu, từ đó đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằmnâng cao năng suất, phẩm chất của hai loại hoa này góp phần tăng thu nhập choviệc sản xuất hoa
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định ảnh hưởng của thành phần giá thể và tỉ lệ phối trộn giá thể cónguồn gốc hữu cơ và từ các phụ phẩm đồng ruộng đến sinh trưởng phát triển củacúc Vạn Thọ lùn và Mào gà lùn, trên sở đó xác định tỉ lệ phối trộn giá thể phùhợp cho từng đối tượng nghiên cứu
Trang 4- Xác định tác dụng của phân bón lá Pomior đến sinh trưởng, phát triển vàchất lượng của hoa cúc Vạn Thọ lùn và Mào gà lùn trồng chậu từ đó xác định liềulượng bón cho hiệu quả kinh tế cao nhất đối với hai loại hoa tham gia thí nghiệmnày.
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu thu được từ đề tài được ứng dụng, góp phầnnâng cao chất lượng hoa từ đó tăng thu nhập cho người sản xuất hoa
Trang 52 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm thực vật học, giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của các loài hoa nghiên cứu.
2.1.1 Cây hoa cúc vạn thọ lùn
Cây hoa cúc loài Vạn Thọ thuộc lớp hai lá mầm (Dicotylaenae),phân lớp cúc (Asteroideae), chi Chrysanthemum, loài Marigold, giốngTagetes (Võ Phương Chi, Dương Đức Tiến, 2004) [2], có nguồn gốc từTrung Quốc và Nhật Bản, du nhập sang Đài Loan và nhập nội về ViệtNam
Cúc Vạn Thọ lùn có bộ rễ chùm, phân nhánh nhiều, chiều cao thânđối với giống thấp cây chỉ khoảng 20 – 30 cm, phân cành mạnh thích hợpcho trồng chậu và trồng thảm Lá mọc cách và thành vòng xoắn trên thân
Lá có mùi hăng hắc khi vò nát, nay có giống lá không hôi và có mùi thơmnữa Hoa Vạn Thọ là hoa đơn hoặc hoa kép Nước ta thường thích hoaVạn Thọ kép Hoa Vạn Thọ lùn đặc trưng là cụm hoa đầu trạng, trên mộtcụm hoa có hàng nghìn hoa nhỏ, trình tự nở hoa từ ngoài vào trong QuảVạn Thọ là loại quả bế, trong quả có một hoặc nhiều hạt, trọng lượng
1000 hạt khoảng 1g Hoa Vạn Thọ lùn trồng để phủ đầy bồn cảnh, làmhoa viền quanh bồn, quanh liếp, trồng chậu cảnh, trồng giỏ treo hay làmhoa cắt cành cắm chung với các loài hoa khác Những loại hoa Vạn Thọlùn nở nhiều tháng và lâu tàn thích hợp cho việc trang trí các bồn hoacông viên, biệt thự, dọc xa lộ, đường phố, dưới các hàng cổ thụ đặc thùcho công chúng chiêm ngưỡng
Trên thế giới, hoa Vạn Thọ chia làm ba loài nguyên và ba loài lai(hybrids) sau đây:
+ Loài Vạn Thọ Phi Châu
Tên khoa học là Tagetes erecta, tiếng Anh gọi là Affican Marigold Đây
thường là giống Vạn Thọ có chiều cao cây cao nhất và to nhất
Trang 6Đáng kể nhất hiện nay là loài Vạn thọ có hoa kép, to, nở tròn xoekhông cồi ngọn gọi là ánh Nguyệt (Moonlight), cây cao chừng 40 cm vàmọc dày khít nhau Trổ hoa sớm như các giống Vạn Thọ lai vậy Cây làmcảnh hay cắt cành cắm hoa rất ngoạn mục.
+ Loài Vạn Thọ Pháp
Tên khoa học là Tagetes patula L., tên tiếng Anh gọi là French
Marigold Loài này thường hấp dẫn hơn loài Châu Phi, hoa nhỏ hơn, và
đa dạng về màu sắc Loài này trồng ở vùng đồng bằng nước ta có thể caođến 60 cm
+ Loài Vạn Thọ nhỏ
Tên khoa học là Tagetes tenuifolia, hay Tagetes signata Cây nhỏ
nên chỉ dùng làm viền ngoài bồn hoa cảnh Hoa đơn cánh, có cồi, hoanhỏ, đường kính hoa từ 1-2 cm Loài Stafire Mix được trồng nhiều ở Âu
Mỹ, có đặc điểm là lá thơm mùi chanh bưởi, nhất là khi trời nóng nực
+ Loài Vạn Thọ lai có tên American Marigold gồm:
Loài lai Antigua Yellow là loài Vạn Thọ có hoa màu vàngtươi, hoa kép to, đường kính hoa từ 7 – 8 cm Sau 60 ngàygieo hạt là đã trổ hoa, và hoa nở liên tiếp trong nhiều tháng,lâu nhất trong các loài Vạn Thọ Cây mọc khít và cao 30 –
35 cm, có khi gọi là Inca lùn
Loài lai Inca Hybrid: hoa kép và rất to, có đường kính hoa từ
10 – 13 cm Cây cao 50 – 70 cm, cũng ra hoa sớm và vụ hoakéo dài, vẫn còn hoa khi các Vạn Thọ khác đã tàn Chịunhiệt độ đến 390C – 400C
Trang 72.1.2 Cây hoa Mào Gà lùn.
Cây hoa mào gà (Celosia cristata) thuộc họ Rau Dền Thân nhẵn,
cao 30-70cm, lá mọc lệch có cuống, lá có các loại màu đỏ sẫm, xanh,xanh vàng, xanh đỏ, hoa mọc tập trung ở đỉnh như mào gà
Hạt màu đen tím Màu sắc hoa cũng rất đa dạng, thường gặp làmàu đỏ lửa, còn có các màu khác như tím, vàng da cam, trắng, vàng đỏ.Cây hoa mào gà được trồng nơi đình chùa, loại nhỏ trồng vào chậu Hoamào gà nguyên sản ở Ấn Độ Chúng ưa nóng, không chịu rét, sinh trưởngtrong môi trường không khí khô, đủ ánh sáng, đất cát, nhiều mùn
2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng giá thể trồng cây
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới.
Trung tâm nghiên cứu phát triển rau Châu Á khi nghiên cứu về giáthể cho cây con, việc phối trộn than bùn và chất khoáng cho giá thể phùhợp nhất đối với sinh trưởng, phát triển của cây con
Ví dụ: Đối với ớt sử dụng 3 phần than bùn + 1 phần chất hứa hẹnbởi sản xuất khoáng là tốt nhất
Trấu hun và trấu đốt cũng được sử dụng như thành phần của giáthể Trung tâm này vào năm 1992, đã giới thiệu cách pha trộn giá thểdung làm bầu cho cây con gồm đất + phân + cát + trấu hun theo tỷ lệ 5 : 3: 1 : 1 Cây con trồng trên giá thể này có thể đạt tỷ lệ sống 100%, có bộ rễphát triển mạnh, lá nhiều, hạn chế sự chột của cây sau khi ra ngoài đồngruộng
Lawtence, Neverell (1950) [28] cho biết, ở Anh thường sử dụnghỗn hợp gồm đất mùn + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỷ lệ 2 :
1 : 1 làm giá thể để gieo hạt Bên cạnh đó giá thể cũng gồm các thànhphần trên với tỷ lệ phối trộn ( theo thể tích) là 7 : 3 : 2 được sử dụng đểtrồng cây
Trang 8Tác giả Bunt (1965) [24] đã sử dụng để gieo hạt (tính theo thể tích)
1 than bùn + 1 cát + 2,4 kg / m3 đá vôi nghiền đều cho cây con mập,khoẻ
Tác giả Northen (1974) [30] cho rằng, giá thể gồm 3 phần vỏ thôngxay nhuyễn + 1 phần cát ( hoặc 8 phần asminda xay nhuyễn) + 1 phầnthan bùn, phù hợp cho việc cấy cây phong lan con lấy ra từ ống nghiệm.Giá thể này cho tỷ lệ sống của cây lan con cao và cây sinh trưởng, pháttriển tốt
Kết quả nghiên cứu của Kaplina (1976), đối với cùng một loại câynhưng với thành phần giá thể khác nhau cho năng suất khác nhau
Để gieo hạt cải bắp, cải xanh sử dụng gồm, 3 phần mùn + 1 phầnđất đồi + 0,3 phần phân bò và bổ sung vào 1 kg hỗn hợp trên thêm 1g N,4g P205, 1g K20 thì năng suất sớm đạt 181 tạ/ha
Nếu thành phần giá thể gồm, 3 phần than bùn + 1 phần mùn + 1phần phân bò và trong 1 kg hỗn hợp trên thêm 1g N , 4g P205, 1g K20dùng để trồng cải bắp, cải xanh cho năng suất cao hơn đạt 192 tạ/hakhông chỉ với bắp cải, cải xanh mà đối với dưa chuột cũng cho kết quảtương tự
Nếu thành phần giá thể gồm 4 phần than bùn + 1 phần đất trồngthì cây dưa chuột chỉ cho năng suất 189 tạ/ha (dẫn theo Nguyễn VănChung, 2003) [3]
Tác giả Masstalerz (1997) [29] cho biết ở Mỹ thường sử dụng côngthức giá thể với thành phần gồm: mùn sét, mùn cát sét và mùn cát có tỷ lệphối trộn (tính theo thể tích) 1 : 2 : 2, 1 : 1 : 1 hay 1 : 2 : 0, dùng làm bầucho cây con đều cho cây có tỷ lệ sống cao và sinh trưởng, phát triển tốt
Tác giả Roe và cs (1993) [31] cho thấy, việc ứng dụng sản xuất giáthể đặt nền tảng cho việc phòng trừ cỏ dại giữa các hàng rau ở các thờivụ
Trang 9Chất thải hữu cơ là tiền đề làm tăng giá trị thương mại của các loạigiá thể Nhờ vào việc cải tiến kỹ thuật và công nghệ sản xuất giá thể làmtăng chất lượng cây con và giảm thời gian sản xuất giống, đồng thời nếudùng giá thể để trồng cây sẽ cho năng suất cao hơn.
Việc áp dụng giá thể vào trong sản xuất đã thu được lợi nhuận caotrên vùng đất nghèo dinh dưỡng (Hoitink và Fahy, 1996) [25], Hoitink và
cs 1991 [26] , Hoitink và cs 1993 [27] Làm tăng độ màu mỡ của đất(Stoffella và Graetz (1996) [33] và làm tăng thêm lượng đạm trong đất( Sims, 1995 ) [32] và làm tăng năng suất cây trồng
Kết quả nghiên cứu của Jiang, Qing Hai ( 2004) [6] cho thấy đểcây sinh trưởng, phát triển tốt khi phối chế các vật liệu nuôi cây cần chú ýcác điều kiện cơ bản bao gồm các tính chất:
- Tính chất vật lý, chủ yếu là mức độ tơi xốp, thông thoáng khí, khảnăng hấp thu, khả năng hút nước và độ dày của vật liệu
- Tính chất hoá học, chủ yếu là độ chua (trị số pH ) và mức độ hútdinh dưỡng Nếu vật liệu có khả năng hấp thu giữ các ion dinh dưỡng khó
bị nước rửa trôi mới có thể giải phóng dinh dưỡng cung cấp cho cây, giáthể trồng cây (hoặc vật liệu nuôi cấy) có chất lượng trao đổi ion khá cao
có thể tích nhiều dinh dưỡng Nếu lượng trao đổi ion thấp chỉ tích đượcmột ít dinh dưỡng thì cần phải thường xuyên bón phân Đồng thời, lượngtrao đổi ion cao còn có thể hạn chế tốc độ biến đổi trị số pH
- Tính chất kinh tế, chủ yếu là mức độ hữu hiệu của vật liệu nuôicây có thể sử dụng lại, dễ lấy, tiện cho việc trộn, sạch sẽ, không mùi, giá
cả rẻ
Các vật liệu trồng hoa và cây cảnh thường dùng là : đất, lá mục, đấtrác, than bùn, gạch vụn, mùn cưa, cỏ cây, sỏi…phần lớn các giá thể trồngcây phải phối trộn 2 – 3 vật liệu khác nhau
2.2.2 Những nghiên cứu về giá thể trồng cây ở Việt Nam
Trang 10Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (1998) [14] cho biết, việc xácđịnh môi trường dinh dưỡng có ý nghĩa rất quan trọng Loại giá thể khácnhau có ảnh hưởng quyết định đến tỷ lệ sống khi đưa cây con ra từ ốngnghiệm Sử dụng giá thể trấu hun kết hợp với phun EM đối với hoa loakèn cho hiệu quả tốt nhất
Năm 1998, Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Quang Thạch [14]tiến hành trồng cây hoa lily được nhân giống bằng phương pháp invitrotrên các giá thể khác nhau Các tác giả đã kết luận, loại giá thể khác nhau
có ảnh hưởng quyết định đến tỷ lệ sống khi đưa cây con ra từ ốngnghiệm Sử dụng trấu hun + phun dinh dưỡng và EM ở các công thức :trấu hun + phun dinh dưỡng, trấu hun + phun dinh dưỡng + EM, trấu hun+ phun EM, tỏ ra thích hợp hơn các giá thể còn lại Chất lượng cây conđạt cao nhất ở các công thức này
Việc nghiên cứu và sử dụng giá thể cho cây con trong giai đoạnvườn ươm ở Việt Nam đã được tiến hành trên nhiều đối tượng cây trồngnhư: cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, rau an toàn, hoa cây cảnh…Kếtquả cho thấy, giá thể cho hoa và cây cảnh của công ty đất sạch thành phố
Hồ Chí Minh tương đối thích hợp đối với cây trồng Nguyên liệu hữu cơ(xơ dừa) phải được sử lý tốt trước khi sử dụng làm giá thể để phối trộn(Nguyễn Văn Chung, 2003) [3]
Năm 2005 Hà Thị Thuý và cs [16] đã tiến hành thí nghiệm trồng củlily invitro trên các loại giá thể khác nhau, gồm có giá thể cát + mùn hoàlạc theo tỷ lệ 1 : 1 và bọt núi lửa + trấu hun tỷ lệ 2 : 1 Các tác giả đã kếtluận, giá thể bọt núi lửa + trấu hun tỷ lệ 2 : 1 là giá thể tốt nhất Trên giáthể này củ nảy mầm đồng đều, khoẻ, chất lượng tốt và tỷ lệ sống cao
Hiện nay nhiều loại hoa được nhân giống băng phương pháp invitro giai đoạn sau nuôi cấy trong ống nghiệm quyết định tỷ lệ sống vàchất lượng cây con, giá thể giâm đóng vai trò quan trọng, yêu cầu của giáthể là vừa đảm bảo độ tơi xốp, có khả năng thoát nước tốt, có tính giữ ẩm
Trang 11cao đồng thời phải hoàn toàn sạch mầm bệnh Viện Rau – Quả Hà Nội đã
có kết luận bước đầu các loại giá thể trồng sau Invitro, kết luận được trình
bày ở bảng sau:
Bảng 2.1 Thành phần giá thể trồng hoa sau Invitro
trộn(%)
Đối tượng câyhoa
(Nguồn: Trần Khắc Thi và cs, 2006 [15])
Trồng cây sau Invitro trên các giá thể thường xuyên tưới nước giữ
ẩm, không cần bổ sung dinh dưỡng Giá thể được sử dụng phổ biến nhất
trong việc trồng cây lan, các nguyên liệu sử dụng gồm : than gỗ, gạch,
thân rễ cây dương xỉ, xơ dừa cắt khúc, rễ lục bình, vỏ thông…
Cấu tạo giá thể là điều kiện quyết định sử phát triển của cây lan
Tại thành phố Hồ Chí Minh phương pháp trồng trên thân cây chết và cây
sống thì giá thể chính là lớp vỏ của thân cây ký chủ Nếu trồng chậu thì
giá thể phải thật thoáng ở phần đáy để tránh sự úng nước, phần bề mặt
hơi khít kém phù hợp với vùng khí hậu nhiệt đới nóng
Ở vùng lạnh như Đà Lạt thì ngược lại, cấu tạo giá thể quá thông
thoáng sẽ bất lợi cho sự phát triển của cây vì nhiệt độ lạnh ban đêm làm
cho rễ bị tổn thương Do vậy, một giá thể kín sẽ giúp cho rễ cây có điều
kiện phát triển, vụn dương xỉ có tác dụng tốt trong điều kiện nhiệt độ thấp
vào ban đêm
Các nhóm giá thể phù hợp cho việc trồng lan tại Hà Nội là: Xơ dừa
cắt khúc 40% + dương xỉ 20% + than củi 20% + vỏ cây 20% trong đó có
Trang 12sử dụng Basudin + Validacin xử lý 0,1 – 0,2 % trên nền vườn ươm.Hoặc giá thể gồm 40% xơ dừa cắt khúc + 40% dương xỉ miếng + 20% vỏcây trong đó có sử dụng Basudin + Validacin 0,1 – 0,2 % xử lý trên nềnvườn ươm
Tác giả Nguyễn Duy Minh ( 2004) [9] cho biết, đất phân thích hợpcho các loại cây con gồm có 3 loại chính Chúng được phối hợp với tỷ lệkhác nhau :
- Loại 1 gồm, 7 phần đất màu sát trùng + 3 phần than bùn đã râysạch + 2 phần cát hạt 1,5 – 3 mm + 50g vôi bột + 200g phân bón/cho 50lđất phân
- Loại 2 gồm, 3 phần than bùn rây sạch + 1 phần cát hạt 1,5 – 3
mm + 200g vôi bột + 200g phân/50l đất phân
- Loại 3 gồm,3 phần than bùn rây sạch + 1 phần cát hạt 1,5 – 3 mm+ 1 phần đất màu tiệt trùng + 200g vôi bột + 200g phân/50l đất phân
Các công thức đất phân trên đảm bảo cho cây con mọc tốt cũngnhư hạt nảy mầm thuận lợi vì nó đủ nước, cân bằng acid và bazo, đầy đủdinh dưỡng Tốt hơn cả là công thức có đất màu, xem như thành phần thứ
2 ( sau than bùn) đảm bảo độ ẩm và dinh dưỡng
Tại thành phố Hồ Chí Minh thường sử dụng các loại giá thể là vỏdừa cắt khúc 50 % + than củi 50 %, hoặc vỏ dừa cắt khúc 70 % + than củi
30 %, để trồng cây phong lan
Năm 2006, tác giả Lê Xuân Tảo [11] đã tiến hành làm thí nghiệm
để nghiên cứu loại giá thể thích hợp cho 1 số loại hoa trồng chậu là hoaBáo Xuân, hoa Hồng Tiểu muội, cúc Indo Trong đó, tác giả đã đưa ra kếtluận, giá thể thích hợp dùng để trồng cuc Indo trong chậu gồm : 1/4 trấuhun + 2/4 vụn dừa + 1/4 phân chuồng, đồng thời tác giả cũng đề nghị giáthể thích hợp cho cây cúc nói chung là : 2 phần đất vườn + 1 phần phânchuồng hoai mục + 1 phần than bùn + 1 phần đá mạt
Trang 13Nhìn chung, việc nghiên cứu giá thể trồng hoa trong chậu chưanhiều mới chỉ dùng chủ yếu cho cây cảnh, cây Bonsai Đã có một số Việntiến hành nghiên cứu các loại giá thể thích hợp cho trồng lan, trồng cúc,cẩm chướng, nhưng mới dừng ở bước đầu thử nghiệm chưa đưa rộng rãitrong sản xuất Nguyên nhân cụ thể do đây là một lĩnh vực được coi làmới mẻ, thứ hai do thành phần các giá thể còn phức tạp người nông dânkhông thể tự tạo ra giả thể, trong khi đó các Viện và cơ quan nghiên cứuchưa đưa những giá thể này vào sản xuất đại trà.
2.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón lá trên cây trồng và cây
hoa.
Theo Nguyễn Văn Uyển (1995) [22] phân bón lá (PBL) trên thịtrường trong nước và thế giới rất phong phú, thường sản xuất duới dạngcác chế phẩm bón qua lá, có thể chia thành 3 nhóm :
- Nhóm chỉ có các yếu tố đa lượng và vi lượng phối hợp hoặc riêng rẽ
- Nhóm có thêm các chất kích thích sinh trưởng, nhằm thúc đấy sinhtrưởng hoặc thúc đẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc đẩy quátrình chín hoặc làm mau ra rễ
- Nhóm có các loại thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh được phối trộnvới tỷ lệ thích hợp
Tác giả Đường Hồng Dật ( 2003) [4], cho rằng bón phân qua láphát huy hiệu lực nhanh, tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ởmức cao, 90 – 95 %, trong khi bón qua đất cây chỉ sử dụng 40 – 50 %
Tổng diện tích bề mặt lá tiếp xúc với phân bón thường cao hơn 8 –
10 lần diện tích tán cây che phủ, các chất dinh dưỡng được vận chuyển tự
do theo chiều từ trên xuống dưới với vận tốc 30cm/h, do đó năng lực hấpthu dinh dưỡng từ lá cũng cao gấp 8 – 10 lần so với khả năng hấp thu từrễ
Bùi Bá Bồng, Nguyễn Văn Bộ, (2005) [1], cho biết: chế phẩm phânbón qua lá đã làm tăng chất lượng nông sản: giảm hàm lượng NO3 trong
Trang 14dưa chuột 28 – 35 %, trong cải xanh 20 – 35 %, trong bắp cải 25 – 70 %.Phun phân bón lá TP – 108 cho cà chua làm tăng tỷ lệ tinh bột lên 29%,hàm lượng muối khoáng lên 17,6%, vitamin C lên 11,1%, hàm lượngđường lên 23% Phun HVP cho trái Thanh long làm thời gian lưu giữ tráikéo dài thêm 10 – 12 ngày so với đối chứng Sử dụng chế phẩm bón láHVP 401 – N làm tăng độ Bric của trái quýt Tiểu 3,7%
Đối với hoa cây cảnh phun PBL Komic – FL cho hoa cây cảnh làmtăng số hoa, đường kính hoa, giữ cho hoa lâu tàn ( Vũ Cao Thái, 2000)[13]
Xử lý phân bón lá SNG, Atonik cho cây hoa cúc đã tác động mạnhđến giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây, làm tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu11% so với đối chứng, tăng năng suất, chất lượng, kéo dài tuổi thọ củahoa, còn sử lý SNG và BPF, nồng độ 10ml/lít cho cây hoa cúc bắt đấu ra
nụ, đã làm tăng đường kính hoa lên đáng kể, màu sắc hoa tươi hơn, thân
lá xanh đậm cuống hoa to hơn…( Nguyễn Quang Thạch, 2002 [12])
Nếu xét về khía cạnh môi trường thì phân bón qua lá, phân vi sinh,
và các loại phân tương tự khác được khuyến khích nghiên cứu và đưa vàosản suất nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nông nghiệp bềnvững, trong vấn đề an toàn dinh dưỡng cây trồng
Cũng theo Vũ Cao Thái ( 1996) [13] Cho rằng: phân bón qua lá làmột giải pháp chiến lược của ngành nông nghiệp, khi sử dụng hiệu quảphân bón lá thì sản lượng trung bình tăng 20 – 30% với cây công nghiệpngắn ngày Điều này hoàn toàn có cơ sở khoa học, vì lá là cơ quan tổnghợp trực tiếp chất hữu cơ, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng quacác quá trình sinh lý, sinh hoá và quang hợp, khi bón qua lá, khắc phụcđược các hạn chế của phân bón qua đất bị rửa trôi, bốc hơi hoặc giữu chặttrong đất Đây là cơ sở pháp lý để đưa các nguyên tố vi lượng quý hiếmvào các chế phẩm PBL, giúp cây trồng trong những điều kiện bất lợi: hạn
Trang 15hán lũ lụt, thời kỳ khủng hoảng dinh dưỡng của cây…giúp cho cây nhanhchóng phục hồi.
Theo Trương Hợp Tác [10] phân bón làm tăng năng suất cây trồng
từ 35 – 45%, phần còn lại là do giống và các yếu tố khác Phân bón qua lá
có vị trí nhất định trong thâm canh tăng năng suất, chất lượng các sảnphẩm cây trồng nông nghiệp, nhất là trong lĩnh vực sản xuất rau hoa quả
Theo báo cáo của cục trồng trọt 2008, Hiện nay Việt Nam chưa tựsản xuất được các loại phân DAP, MAP, Kali, SA, do vậy để đáp ứng nhucầu sử dụng trong nước phải nhập khẩu toàn bộ từ nước ngoài Đối vớiphân Ure, trong nước mới tự sán xuất được khoảng 45%, phần còn lạiphải nhập khẩu Nếu tính theo giá trị các yếu tố dinh dưỡng, Việt Namcòn phải nhập khẩu 65% đạm, 60% lân, 100% kali Như vậy thị trườngphân bón Việt Nam còn phải chịu tác động rất lớn của biến động thịtrường phân bón thế giới
Hàng năm mức tiêu thụ các loại phân bón ở Việt Nam ngày càngtăng dần So với một số nước trên thế giới mức độ sử dụng phân bón ởViệt Nam vẫn còn ở mức khá thấp như Nhật Bản: 388,6; Trung Quốc:283,4 So với bình quân thế giới và các nước khác trong khu vực thì mức
sử dụng phân bón ở Việt Nam cao hơn khá nhiều Bình quân thế giới năm
1997 chỉ ở mức 97,1 kg NPK/ha; các nước trong khu vực năm 1999 ởmức như: Campuchia; 1,49 kg NPK/ha; Indonexia: 63 kg/ha; Lào: 4,5 kgNPK/ha; Miến Điện: 14,9 kg NPK/ha; Philippin: 65,6 kg NPK/ha; TháiLan: 95,8 kg NPK/ha Các nhà máy sản suất phân bón NPK phối trộn chủyếu do Tổng công ty hoá chất đảm nhiệm sản suất Nhà máy của các địaphương, các công ty liên doanh với nước ngoài có thể đạt 3.000.000tấn/năm nếu sản suất hết công suất, đủ cung cấp lượng phân bón NPKphối trộn cho nhu cầu trong nước (Vũ Hữu Yêm) [23]
Theo Trương Hợp Tác [10], Hiện nay nước ta đang sử dụngkhoảng 400 loại phân bón lá ở các dạng lỏng , viên, bột cung cấp cho cây
Trang 16trồng các chất dinh dưỡng đa – trung – vi lượng Một số loại được bổsung chất điều hoà sinh trưởng, kháng sinh Khả năng sản suất và cungứng các loại phân bón lá của các cơ sở sản xuất trong nước cơ bản đápứng được nhu cầu sử dụng, hạ giá thành sản phẩm và sử dụng phân bón lá
để có thể tiết kiệm được từ 20 – 30% lượng nước tiêu tốn
Theo trang tin điện tử ATTRA, [34] là dịch vụ thông tin sản xuấtnông nghiệp bền vững quốc gia Thái Lan phục vụ hoạt động của trungtâm công nghệ thích hợp Quốc gia, thông qua một cấp từ nông thôn hợptác kinh doanh - dịch vụ, giới thiệu về phân bón qua lá để các chất dinhdưỡng hấp thu trực tiếp tại lá cây và mô thân, nâng cao khả năng hấp thudinh dưỡng cây trồng và được ứng dụng trong hệ thống nông nghiệp bềnvững và hữu cơ
Theo Đường Hồng Dật (2003) [4], Bón phân qua lá được sử dụngnhư một phương tiện cung cấp bổ sung cho cây các chất dinh dưỡng vàcác chất hormones, các chất kích thích, mang lại lợi ích: tăng sản lượng,sức đề kháng bệnh và côn trùng sâu hại, nâng cao chất lượng, chống chịuhạn hán, điều hoà và nâng cao năng suất chất lượng mùa màng Ứng dụngnày có thể sử dụng để hỗ trợ cho cây trồng trong phục hồi từ ghép sống,giảm tổn thương ở rễ khi thời tiết thay đổi đột ngột
Một trong những lợi ích của phân bón qua lá là tăng quá trình huyđộng các chất dinh dưỡng từ đất thông qua vùng lông hút của bộ rễ, điềunày làm tăng cường các hoạt động sinh học tăng khả năng kháng bệnh tật
và các phản ứng hoá sinh mang lại lợi ích cho cây trồng (Hoàng NgọcThuận) [20]
2.3 Các nghiên cứu về phân bón qua lá Pomior
Phân bón lá phức hữu cơ EDTA chelated và EDTA – amino – Acid– chelated ra đời từ những năm 90 của thế kỷ trước ở các nước phát triển
là một tiến bộ quan trọng của ngành sản xuất phân bón lá Nhờ có cácphản ứng tạo phức của các axit amin với các kim loại người ta có thể đưa
Trang 17vào phân bón nhiều nguyên tố dinh dưỡng vi lượng, đa lượng để cung cấpnhanh cho các loại cây trồng Phân bón lá phức hữu cơ bền vững, dễ bảoquản vận chuyển và dễ sử dụng, đóng góp phần quan trọng trong sản xuấtcác sản phẩm quan trọng trong sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạchcác kiểu trạng trại thủy canh “Thank faming” và xây dựng một nền nôngnghiệp bền vững ( Hoàng Ngọc Thuận ) [17].
Phân bón qua lá Pomior là sản phẩm phức hữu cơ EDTA –minoacid – chelated có nguồn gốc từ EDTA và các aminoacid thuỷ phân
từ các chất hữu cơ giàu protein (Pomior tên viết tắt củaPolymicroelements organic) Từ những 1998 – 2004 PGS.TS HoàngNgọc Thuận đã tạo được các dạng Pomior ổn định về tính chất vật lý vàthành phần hoá học Sản phẩm ở dạng dung dịch màu xanh lá mạ hoặcxanh vàng, trong, đặc sánh, tỷ trọng từ 1.18 – 1.22, độ pH 6,5 – 7
Hàm lượng đạm Amin trong các dạng Pomior P198, P298, P399
là 6,4 mg/l, với 17 loại axit amin: Alamin, Arginin, Aspatic, Xystin,Glutamic, Glycin, Isoleuxin, Luexin, Lysin, Metionin, Phenilamin,Prolin, Serin, Threonin, Tryptophan, Tyroxin, Valin ( Kết quả phân tíchcủa trung tâm công nghệ sinh học quốc gia ) (Hoàng Ngọc Thuận) [17][18]
Trang 18Bảng 2.2 Thành phần hoá học của phân bón lá Pomior
Thành
Phần
thích dứa rahoa trái vụP203H *
cơ Pomior đối với lúa, rau, cà phê và cây ăn quả
Khi phun Pomior với nồng độ 0,6%, 20 ngày 1 lần, 6 lítPomior/ha dứa Cayen đã thúc đẩy sinh trưởng, chiều cao, lá, tăng kíchthước chồi và khối lượng quả, tăng năng suất so với đối chứng (phunnước lã) là 334,18% và tăng 54,45% so với phun Komic KF, phân bónPomior làm tăng phẩm cấp quả dứa nguyên liệu và tăng hàm lượng chấtkhô và đường tổng số trong dứa quả
Phun Pomior cho cây bưởi Đoan Hùng 7 – 10 ngày 1 lần, nồng độ0,4% lượng phân bón 2 lít /1000 m2 1 lần phun có tác dụng thúc đẩy câygốc ghép và cây ghép sinh trưởng nhanh: sau ghép 4 tháng cây giống đã
Trang 19đạt tiêu chuẩn xuất vườn từ gieo đến xuất vườn 12 tháng rút ngắn được 4tháng so với không phun.
Phun Pomior cho rau cải củ [17] ở cả 2 thời kỳ: có 2 – 3 lá thật vàthời kỳ chuẩn bị xuống củ, nồng độ dung dịch 0,5% lượng Pomior sửdụng trong 2 lần là 200 ml làm tăng năng suất từ 27 – 62% ở vụ sớm và
chính vụ (Nguồn: Số liệu cục sản xuất kinh tế tổng cục hậu cần).
Phun Pomior cho rau từ 7 – 10 ngày 1 lần trên nền đất xấu và đấtcát ven biển, không bón phân lót, với liều lượng 0,6 – 1 lít dung dịchPomior 0,5% cho 10m2 rau xanh, đã đạt được năng suất rau cải xanh 1 kg/1m2, 1,4 kg/1m2 cải củ Hải Phòng, 1,2 kg/1m2 cải củ Thái Bình; 2,0kg/1m2, tăng năng suất từ 17,7 – 33% với đối chứng ( phun nước lã) Phun Pomior cho cà phê giống Catimor có tác dụng tốt đối vớisinh trưởng các cặp cành (tăng chiều dài cành quả), tăng năng suất cà phêtưới từ: 9,7 – 11%, tăng hàm lượng chất khô và ổn định các chỉ tiêu chất
lượng khi phun kèm với Ethrel để ép chín cà phê ( Nguyễn Lê Trọng sinh
viên lớp làm vườn khoá 41).
Nghiên cứu ảnh hưởng của PBL phức hữu cơ Pomior trên các câyhoa cúc, hoa đồng tiền và hoa hồng, (Hoàng Ngọc Thuận (2005) [18][19]
- Khi sử dụng PBL Pomior 0,3% cho cây hoa cúc trong vườn ươmnhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào, tỷ lệ sống khi ra ngôi cây con trongống nghiệm tăng 35%, so với đối chứng phun nước sạch, cây con mập,sau 10 ngày ra ngôi, tốc độ tăng trưởng chiều cao nhanh gấp 1,45 lần
- Thí nghiệm sử dụng PBL Pomior 0,4% cho cây cúc vàng hè ĐàLạt, kết quả năng suất, chất lượng, độ bền hoa cắt, khả năng chống chịusâu bệnh đều cao hơn đối chứng Đặc biệt có thể sử dụng PBL Pomior đểbón thúc cho cây hoa cúc mà không phải bón thêm loại phân khoáng nàokhác
Trang 20- Trên cúc đồng tiền kép, thí nghiệm bón thúc bằng PBL Pomior ởcác nồng độ: 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% đều cho khả năng sinh trưởng vànăng xuất cao hơn, tuy nhiên ở nồng độ Pomior 0,4% cho hiệu quả caonhất, đường kính hoa tăng 1,14 lần, chiều cao cành tăng 1,15 lần, năngsuất hoa tăng 1,22 lần, số hoa loại I tăng 1,44 lần so với đối chứng.
- Trên cây hoa hồng Đỏ nhung ( Pháp) khi phun PBL Pomior 0,3%cho cây 5 ngày/lần kết quả, năng suất chất lượng hoa đều cao hơn, hiệuquả kinh tế tăng gấp 1,27 lần, so với đối chứng bón thúc bằng phânkhoáng qua rễ (cùng nền bón lót) Các thí nghiệm trên cây hoa hồng Đỏson (Hà Lan), và các cây trồng khác: lúa, rau, cây ăn quả… đều cho kếtquả tương tự
3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trang 213.1 Đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Cây hoa
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên hai loại hoa trồng thảm là:
Hoa cúc Vạn Thọ lùn
Tên khoa học là Tagetespatula.L., tên tiếng anh là Frech Marigold, tên
thương mại là: Marigold 502
Loài này cây lùn, cao 30 – 35 cm, hoa đỏ đơn cánh, cánh sọc nâu haysọc màu gỗ đỏ, cồi vàng Loài này sinh trưởng rất khỏe, nhiều hoa và thời gian
ra hoa kéo dài tới 45 – 50 ngày Thời gian sinh trưởng ngắn từ gieo đến ra hoakhoảng 45 – 50 ngày, có thể trồng quanh năm vì nó phản ứng trung tính vớiánh sáng nhưng vụ trồng chính là Thu Đông và Đông Xuân
Cây hoa mào gà (Celosia cristata) thuộc họ Rau Dền Thân nhẵn,
cao 30-70cm, lá mọc lệch có cuống, lá có các loại màu đỏ sẫm, xanh,xanh vàng, xanh đỏ, hoa mọc tập trung ở đỉnh như mào gà
Hạt màu đen tím Màu sắc hoa cũng rất đa dạng, thường gặp làmàu đỏ lửa, còn có các màu khác như tím, vàng da cam, trắng, vàng đỏ.Cây hoa mào gà được trồng nơi đình chùa, loại nhỏ trồng vào chậu Hoamào gà nguyên sản ở Ấn Độ Chúng ưa nóng, không chịu rét, sinh trưởngtrong môi trường không khí khô, đủ ánh sáng, đất cát, nhiều mùn
3.1.2 Giá thể
Các vật liệu sau được sử dụng để phối trộn giá thể trong các thí nghiệm:
Trấu hun: Vỏ trấu đem hun cháy không hoàn toàn, có tính thoát nước
và thông thoáng, nhẹ, xốp, không chứa nhiều chất dinh dưỡng, song hàmlượng kali rất cao (0,19 – 0,3 %), có tính kiềm
Trang 22 Đất phù sa: Có thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp, sạch cỏ dại vàđược xử lý bằng thuốc hóa học.
Xơ dừa: Vỏ quả dừa phơi khô, nghiền nhỏ, sau đó dốn thành bánh,chủ yếu để giữ cây, tạo độ thông thoáng cho giá thể Xơ dừa được làm giá thểtrong công nghệ trồng rau không dùng đất
Bèo hoa dâu: Là bèo lấy từ ao hồ, sông ngòi, ruộng lúa, và đượcphơi khô Có tính thoát nước, thông thoáng, nhẹ, xốp, không ảnh hưởng đếnpH
Phân ủ (compot) được làm từ phụ phẩm đồng ruộng (thân đậu, lạc,rơm rạ): có tính thoát nước, thông thoáng, nhẹ, xốp, giàu dinh dưỡng
3.1.3 Phân bón lá
Phân bón qua lá phức hữu cơ Pomior
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Nhà lưới của bộ môn RHQ – khoa Nông học, Đại học Nông
nghiệp Hà Nội
- Quy mô: nhà lưới 100 m2
- Thời gian thí nghiệm: Tháng 2/2010 – Tháng 6/2010
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần và tỷ lệ giá thể đến sinhtrưởng, phát triển, và chất lượng của hai loại hoa trồng chậu: cúc Vạn Thọ lùn
và Mào gà lùn
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá phức hữu cơ Pomior đếnsinh trưởng, phát triển và chất lượng của hai loại hoa trồng chậu: cúc Vạn Thọlùn và Mào gà lùn
3.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 23Tương ứng với mỗi nội dung nghiên cứu bố trí một thí nghiệm trongnhà lưới, ở điều kiện trồng chậu.
Thí nghiệm 1a Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể hữu cơ
đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa cúc Vạn Thọ lùn
Trên mỗi loại hoa thí nghiệm bố trí các công thức sau:
Công thức 1: Đất màu 100% (ĐC)
Công thức 2: Đất màu + Trấu hun + Compot
Công thức 3: Xơ dừa + Bèo hoa dâu + Compot
Công thức 4: Trấu hun + Bèo hoa dâu + Compot
Tỉ lệ phối trộn ở các công thức thí nghiệm là 1 : 1 : 1
Thí nghiệm 1b Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể hữu cơ
đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa Mào gà lùn
Các công thức thí nghiệm giống ở thí nghiệm 1a
Thí nghiệm 2a Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn giá thể đến
sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa cúc Vạn Thọ lùn
Công thức 1(ĐC): Đất màu (25%) + Compot (25%) + Trấu hun (25%) +bèo hoa dâu khô (25%)
Công thức 2: Đất màu (20%) + Compot (30%) + Trấu hun (20%) +bèohoa dâu khô (30%)
Công thức 3: Đất màu (10%) + Compot (40%) + Trấu hun (10%) + bèohoa dâu khô(40%)
Công thức 4: Đất màu (0%) + Trấu hun (0%) + Compot (50%) + Bèohoa dâu khô (50%)
Thí nghiệm 2b Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn giá thể đến
sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa Mào gà lùn
Trang 24Các công thức thí nghiệm giống ở thí nghiệm 2a.
Ghi chú: Ở cả 4 thí nghiệm: tỷ lệ các loại vật liệu được phối trộn theothể tích
Bổ sung vôi bột và phân khoáng hỗn hợp NPK Việt – Nhật ở các côngthức thí nghiệm với mức: 100g NPK Việt Nhật và 10g vôi bột, 10g bộtkhoáng, 10g bột đá cho 10 lít nguyên liệu hỗn hợp trước khi phối trộn giá thể
Chăm sóc thí nghiệm 1 và 2:
- Bón phân: phun phân bón lá Pomior 10 ngày/lần Bổ sung phân phânđạm thông qua tưới nước khi cần thiết dựa vào trạng thái sinh trưởng của cây
- Phòng trừ sâu, bệnh: tùy theo mức độ bị hại để phòng trừ kịp thời
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của các nồng độ khác nhau của
phân bón qua lá phức hữu cơ Pomior đến sinh trưởng, phát triển và chất lượngcủa 2 loại hoa thí nghiệm Trên mỗi loại hoa có công thức thí nghiệm như sau:
Công thức 1: Phun nước lã (ĐC)
Chăm sóc thí nghiệm: Bổ sung phân đạm khi cần thiết dựa vào trạngthái sinh trưởng của cây Phòng trừ sâu bệnh khi cây bị bệnh như ở thí nghiệm
1 và 2
3.5 Phương pháp bố trí thí nghiệm và chỉ tiêu theo dõi
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Trang 25Thí nghiêm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại gồm 5 chậu, mỗi côngthức 15 chậu, mỗi công thức theo dõi 15 cây
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi.
a Theo dõi các chỉ tiêu về giá thể: Tính chất lý, hóa học của giá thể
Các chỉ tiêu được theo dõi vào hai lần: Trước khi trồng (sau phối trộn giá thể)
và sau khi trồng (khi ra nụ rộ)
Trang 26Tổng số cây sống
Tỷ lệ sống (%) = x 100
Tổng số cây trồngThời gian ra lá mới sau trồng (ngày): Được tính từ lúc cây bắt đầu trồngvào chậu cho đến khi 50% số cây có lá mới
Thời gian trồng đến ra nụ rộ (ngày): Được tính từ ngày bắt đầu trồngvào chậu cho tới khi có 50% số cây ra nụ
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển thân, lá
Tổng chiều cao của các cây theo dõi (cm)Chiều cao cây (cm)/cây =
Tổng số cây theo dõi (cây)( Chiều cao cây được tính từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng của cây)
Tổng đường kính tán của cây theo dõi (cm)Đường kính tán (cm) =
Tổng số cây theo dõi (cây)
Tổng số lá trên thân chính của cây theo dõi
Số lá trung bình/ thân chính (lá) =
Tổng số cây theo dõi (cây)
Số lá/thân chính được tính từ gốc cây đến đỉnh ngọn của thân chính,đếm lá bằng cách đánh dấu sau mỗi lần theo dõi
Tổng số cành cấp 1(cành)
Số cành cấp 1 (cành) =
Trang 27Tổng số cây theo dõi (cây)
Số cành cấp 1 được tính từ gốc thân chính đến cành cuối cùng trên thân
Tổng chiều dài cành cấp 1 (cm)Chiều dài cành cấp 1 (cm) =
Tổng số cây theo dõi (cây)
Sử dụng thước dây để đo, chiều dài cành cấp 1 được tính từ gốc cànhđến đỉnh sinh trưởng của cành
Các chỉ tiêu về hoa
Tổng số nụ (nụ)+ Số nụ / cây (nụ) =
Tổng số cây theo dõi (cây)
Tổng đường kính hoa (cm) Đường kính hoa (cm) =
Tổng số hoa theo dõi (hoa)Đường kính hoa: đo vào thời điểm hoa nở rộ, dùng thước Panme để đo
2 đường kính vuông góc với nhau của hoa, sau đó cộng vào để lấy giá trị trungbình
Trang 28đến khi cây có 75 % hoa tàn)
Hiệu quả kinh tế của các công thức: Dựa vào việc tính toán tổng thu,tổng chi, từ đó tính ra lãi thuần
Lãi thuần = Tổng thu – Tổng chi
3.5.3 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu thu được, được sử lý theo phương pháp thống kê sinh học củaPhạm Chí Thành (1998); Phạm Tiến Dũng (2000) và chương trình IRRISTAR4.0 bao gồm phân tích hệ số biến động (CV %), và kiểm tra sai khác nhỏ nhất
có ý nghĩa giữa các công thức thí nghiệm (LSD 5%)
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Phân tích một số chỉ tiêu về giá thể.
Giá thể là yếu tố quan trọng đối với cây trồng chậu, nó ảnh hưởngtrực tiếp đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa trồng chậu Vì vậy
Trang 29nó phải đảm bảo các tính chất của giá thể bao gồm tính chất vật lý, hóa học vàtính kinh tế Do đó chúng tôi tiến hành phân tích một số chỉ tiêu của giá thể ởhai thời kỳ được thể hiện qua bảng 4.1 và 4.2
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của thành phần giá thể và tỉ lệ phối trộn đến
pH, EC của giá thể phối trộn trước khi trồng
Trấu hun: Vỏ trấu đem hun cháy không hoàn toàn, có tính thoát nước
và thông thoáng, nhẹ, xốp, không chứa nhiều chất dinh dưỡng, song hàmlượng kali rất cao (0,19 – 0,3 %), có tính kiềm
Đất phù sa: Có thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp, sạch cỏ dại
Xơ dừa: xốp, sạch bệnh, giữ nước tốt, dinh dưỡng phù hợp, tính đệmtốt nên rất ổn định
Bèo hoa dâu: Có tính thoát nước, thông thoáng, nhẹ, xốp, không ảnhhưởng đến pH
Phân ủ (compot): có tính thoát nước, thông thoáng, nhẹ, xốp, giàudinh dưỡng, kiềm tính
Trang 30Thí nghiệm 1: Các công thức đều có pH và EC trong khoảng an toàn,CT1 có thành phần giá thể là đất màu 100% nên có pH và EC thấp nhất, cáccông thức còn lại được phối trộn từ các thành phần giá thể hữu cơ có tínhkiềm, vì vậy pH và EC cũng cao hơn Trong đó CT4 có pH và EC cao nhất dotrong giá thể có hai thành phần có tính kiềm là compot và trấu hun Tuy nhiên
pH cao cũng không có lợi cho cây, CT3 có pH và EC thích hợp cho sinhtrưởng, phát triển của cây (pH 7,05, EC 1,96 mS/cm)
Thí nghiệm 2: Các công thức được phối trộn từ các vật liệu trên với tỷ
lệ khác nhau vì vậy sự ảnh hưởng của các tỷ lệ này đến pH và EC giá thể làkhác nhau CT4 được phối trộn thep tỷ lệ: Đất màu (0%) + Trấu hun (0%) +Compot (50%) + Bèo hoa dâu khô (50%), tỷ lệ compot là cao nhất do đó có
pH và EC là cao nhất, CT1 tỷ lệ compot là thấp nhất (25%) nên pH và ECcũng thấp nhất CT3 có pH và EC thích hợp cho cây (pH 7,18, EC 2,14mS/cm) với tỷ lệ compot là 40%
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của cây trồng đến các chỉ tiêu pH và EC của giá thể trồng cây
Trang 31CT4 7,31 2,05 7,03 1,89
Qua bảng 4.2.1 cho thấy pH và EC của các công thức đều giảm,điều này được giải thích như sau: pH và EC thay đổi do các hoạt độngquản lý sản xuất (bón phân, tưới nước…), do hoạt động của bộ rễ cây,đồng thời thành phần giá thể cũng ảnh hưởng đến pH và EC giá thể CT3
có pH và EC giảm chậm nhất (hay pH và EC ổn định) do rễ cây hoạtđộng mạnh hút thu dinh dưỡng cung cấp cho cây đồng thời xảy ra quátrình khoáng hóa của giá thể hữu cơ diễn ra mạnh, do đó pH và EC có sựcân bằng, cùng với đó là xơ dừa có tính đệm tốt nên pH và EC của giá thể
Trang 32Qua bảng 4.2.2 chúng ta có thể thấy tỷ lệ phối trộn giá thể khác nhau
pH và EC cũng khác nhau Sau khi trồng pH, EC của các công thức giảm, pH
và EC ổn định nhất ở CT3, là do ở công thức này cây sinh trưởng mạnh do đó
rễ cây hoạt động mạnh, cùng với đó là quá trình khoáng hóa của giá thể hữu
cơ diễn ra mạnh hơn nên pH và EC có sự cân bằng
4.2 Ảnh hưởng của thành phần giá thể hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa cúc Vạn Thọ lùn và mào gà lùn
Giá thể là yếu tố rất quan trọng đối với cây trồng chậu, nó ảnh hưởngtrực tiếp đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của hoa trồng chậu Nếuchọn được các loại giá thể phù hợp cây sẽ sinh trưởng, phát triển tốt và giảmđược công chăm sóc Còn loại giá thể chưa phù hợp thì sẽ làm cây sinh trưởngkém, trong quá trình chăm sóc phải thường xuyên bổ sung dinh dưỡng chocây Vì vậy chúng tôi đã tiến hành trồng cúc Vạn Thọ lùn và Mào gà lùn trongchậu với thành phần giá thể hữu cơ khác nhau (trình bày ở phần 3.1) để đánhgiá sử ảnh hưởng của những thành phần giá thể này đến sinh trưởng, phát triển
và chất lượng của 2 loại hoa trên
4.2.1 Ảnh hưởng của thành phần giá thể hữu cơ đến động thái sinh trưởng của cúc Vạn Thọ lùn và Mào gà lùn.
Đối với cây hoa trồng phục vụ trang trí trong chậu hoặc thảmthì yêu cầu sự sinh trưởng phát triển của cây ở mức vừa phải, saocho chiều cao cây không quá cao và cân đối với đường kính thân,đường kính tán của cây, nó quyết định tính chống đổ, tính thẩm mỹcủa cây, đặc biệt là giảm sâu bệnh hại cây Tán cây to, cân đối sẽlàm tăng giá trị của của chậu hoa cảnh và giảm mật độ trồng hoathảm
Mỗi giá thể khác nhau sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triểncủa cây Kết quả được thể hiện ở bảng 4.3
Trang 34Bảng 4.3 Ảnh hưởng của thành phần giá thể đến động thái sinh trưởng của cúc Vạn Thọ lùn và Mào gà lùn.
CT
Cúc Vạn Thọ lùn Mào gà lùnCCC (cm) ĐKTh (mm) ĐKT (cm) CCC (cm) ĐKTh (mm) ĐKT (cm)
Trang 35Hình 4.1 Ảnh hưởng của thành phần giá thể khác nhau đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của cúc Vạn Thọ lùn
Hình 4.2 Ảnh hưởng của thành phần giá thể khác nhau đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của Mào gà lùn
Trang 36Chiều cao cây: Giữa các công thức dao động từ 10,4 – 11,4 cm Sựchênh lệch giữa các công thức là nhỏ Điều này cho thấy thành phần giá thểảnh hưởng không lớn đến chiều cao cây.
Đường kính thân: thành phần giá thể có ảnh hưởng rõ rệt đến đườngkính thân Trong đó đường kính thân lớn nhất ở CT3 đạt 4,6 mm và thấpnhất là ở CT1 đạt 3,6 cm
Đường kính tán: đây là chỉ tiêu quan trọng liên quan đến năng suất
và giá trị thẩm mỹ của cây Trong các công thức thí nghiệm thì CT3 chođường kính tán cao nhất đạt 14,0 cm, CT1 đạt thấp nhất 10,5 cm
Từ hình 4.1 ta thấy: Giai đoạn từ 7 – 14 ngày sau trồng chiều cao cây
ở tất cả các công thức đều tăng chậm do thời kỳ đầu cây con mới đượctrồng vào trong chậu bộ rễ chưa phát triển ổn định nên khả năng hấp thuchất dinh dưỡng từ giá thể còn chưa cao Giai đoạn 21 – 28 ngày sau trồngchiều cao cây tăng trưởng mạnh nhất do lúc này bộ phát triển mạnh vàtương đối hoàn thiện nên khả năng đâm sâu, hấp thụ chất dinh dưỡng tốt.Bên cạnh đó bộ lá cũng tương đối hoàn thiện làm tăng khả năng quang hợp.Giai đoạn 35 ngày sau trồng cây ngừng sinh trưởng chiều cao cây, đườngkính tán và đường kính thân do giai đoạn này cây chuyển từ sinh trưởngsinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Đề tài được tiến hành trong vụXuân - Hè do điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài nên cũng ảnh hưởngkhông nhỏ tới quang hợp và hô hấp của cây trồng Do đó giá thể phù hợp sẽthúc đẩy cây sinh trưởng phát triển Như vậy, giá thể ở CT3 cho kết quả tốtnhất là do giá thể đã đảm bảo độ tơi xốp thoáng khí, giữ ẩm tốt giúp cho rễphát triển mạnh Trong các công thức phối trộn giá thể thì công thức cóthành phần giá thể là bèo hoa dâu có ảnh hưởng rất tốt tới tăng trưởng
Trang 37chiều cao cây, đường kính thân và đường kính tán, do bèo hoa dâu có khảnăng cung cấp thêm đạm tự nhiên cho cây
Đường kính tán và chiều cao cây kết hợp với đường kính thân tạonên thế của cây trồng chậu, do đó đường kính tán lớn và đường kính thânlớn kết hợp với chiều cây vừa phải thì cây sẽ có thế đẹp, mang tính thẩm
sự sai khác chỉ có CT3 và CT1 có sự sai khác ở mức ý nghĩa LSD0,05
Đường kính thân: trong các công thức thí nghiệm thì CT3 có đườngkính thân lớn nhất đạt 5,1 mm và thấp nhất vẫn là công thức đối chứng 4,6
mm Sự chênh lệch giữu hai công thức này là 0,5 mm, có ý nghĩa thống kê,các công thức còn lại hầu như không có sự sai khác
Đường kính tán: đạt cao nhất ở CT3 là 18,4 cm, thấp nhất là CT116,6 cm
Từ hình 4.2 ta thấy: Giai đoạn từ 7 – 14 ngày sau trồng chiều cao cây
ở tất cả các công thức đều tăng chậm, do thời kỳ đầu cây con mới đượctrồng vào trong chậu bộ rễ chưa phát triển ổn định nên khả năng hấp thuchất dinh dưỡng từ giá thể còn chưa cao Giai đoạn 21 – 28 ngày sau trồngchiều cao cây tăng trưởng mạnh nhất do lúc này bộ rễ phát triển mạnh vàtương đối hoàn thiện nên khả năng đâm sâu, hấp thụ chất dinh dưỡng tốt
Bên cạnh đó bộ lá cũng tương đối hoàn thiện làm tăng khả năng
Trang 38quang hợp Giai đoạn 28 - 35 ngày sau trồng tốc độ tăng trưởng chiều caocây chậm nhất Giai đoạn 35 ngày sau trồng chiều cao cây, đường kính tán
và đường kính thân đạt tối đa do giai đoạn này cây chuyển từ sinh trưởngsinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực, cây bắt đầu xuất hiện nụ hoa Đề tàiđược tiến hành từ tháng 2 – tháng 5 nên thích hợp cho cây Mào gà sinhtrưởng, phát triển Tuy nhiên giá thể phù hợp sẽ thúc đẩy cây sinh trưởng,phát triển mạnh hơn cho nhiều hoa và hoa có màu sắc đẹp Như vậy, CT3
có chiều cao cây, đường kính thân và đường kính tán lớn nhất là do giá thể
đã đảm bảo độ tơi xốp thoáng khí, giữ ẩm tốt giúp cho rễ phát triển mạnh.Trong các công thức phối trộn giá thể thì công thức có thành phần giá thể làbèo hoa dâu có ảnh hưởng rất tốt tới tăng trưởng chiều cao cây, đường kínhthân và đường kính tán, do bèo hoa dâu có khả năng cung cấp thêm đạm tựnhiên cho cây
Như vậy đối với chỉ tiêu tăng trưởng chiều cao cây, đường kính thân
và đường kính tán của Mào gà lùn thì CT3 là tốt nhất và CT1 là kém nhất
4.2.2 Ảnh hưởng của thành phần giá thể đến động thái ra lá trên thân chính của 2 loại hoa thí nghiệm.
Bộ lá giữ vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình sinh trưởng,phát triển của cây Lá là cơ quan quang hợp chính của cây trồng từ đó tíchlũy chất khô trong cơ thể để thực hiện các quá trình trao đối chất, nuôi nụ
và hoa Lá quyết định đến sinh trưởng phát triển của cây cũng như quyếtđịnh đến chất lượng hoa sau này Do vậy, bên cạnh tìm hiểu về chiều caocây, đường kính thân và đường kính tán thì số lá trên thân chính cũng ảnhhưởng đến sinh trưởng phát triển của cúc Vạn Thọ và Mào gà lùn Kết quảđược thể hiện qua bảng 4.4
Trang 39Bảng 4.4 Ảnh hưởng của thành phần giá thể đến động thái ra lá trên thân chính của cúc Vạn Thọ lùn và mào gà lùn.
Hình 4.3 Ảnh hưởng của thành phần giá thể khác nhau đến động thái
ra lá trên thân chính của Mào gà lùn
Cúc Vạn Thọ lùn:
Kết quả bảng 4.4 cho thấy: số lá trên thân chính tăng nhanh tronggiai đoạn từ 7 – 14 ngày sau trồng Ở 14 ngày trồng thì CT3 có tốc độ ra lá
Trang 40nhanh nhất là 6,8 lá/thân chính, CT1 có tốc độ ra lá chậm nhất là 6,4 lá/thânchính, sau đó là CT2 với 6,6 lá/thân chính và CT4 với 6,5 lá/thân chính.Điều này chứng tỏ giá thể của CT2, CT3 cung cấp dinh dưỡng tốt hơn CT1,CT4, đánh giá cảm quan cũng cho thấy CT2, CT3 lá màu xanh đậm cònCT1, CT4 là màu xanh nhạt hơn Sau 21 ngày số lá trên thân chính đạt tối
đa là 8 lá, khi đó đỉnh sinh trưởng bắt đầu xuất hiện nụ hoa Đây là đặcđiểm của giống do vậy chúng ta chỉ có thể tác động vào giá thể làm cho cúcVạn Thọ lùn ra hoa sớm hay muộn thôi
Mào gà lùn
Kết quả bảng 4.4 và hình 4.3 cho chúng ta thấy các giai đoạn khácnhau thì tốc độ tăng trưởng số lá trên thân chính cũng khác nhau: giai đoạnđầu 7 – 14 ngày sau trồng số lá tăng chậm và đồng đều ở các công thức; đó
là do giai đoạn này cây mới phục hồi sinh trưởng nên khả năng hút thu dinhdưỡng còn kém Giai đoạn 14 – 21 ngày sau trồng số lá trên thân chính tăngmạnh nhất Trong đó CT3 có tốc độ tăng trưởng số lá lớn nhất với số liệutrung bình là 5,1 lá/tuần; CT1 có tốc độ tăng trưởng số lá nhỏ nhất 4,4lá/tuần Ở giai đoạn 14 - 28 ngày sau trồng thì số lá trên thân chính bắt đầutăng chậm lại và đến 35 ngày sau trồng số lá trên thân chính đạt tối đa, CT3