1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

77 703 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 13,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”

Trang 1

PHẦN I : MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài.

Nằm giữa biển và đất liền, rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái đặc trưng ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với tác động của con người Hệ động thực vật ở đây có những đặc tính sinh học thích nghi đặ

Nằm giữa biển và đất liền, rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái đặc trưng ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với tác động của con người Hệ động thực vật ở đây có những đặc tính sinh học thích nghi đặc biệt với môi trường bùn lầy, ngập nước mặn thường xuyên

Sự tồn tại của RNM có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về môi trường và kinh tế xã hội, RNM không những cung cấp các lâm sản có giá trị như : gỗ, than, củi, tanin, thức ăn, thuốc uống RNM còn là nguồn cung cấp mựn bó hữu cơ nuôi dưỡng các loài thủy sinh tại chỗ hay những loài sống ở vùng cửa sông, ven biển kế cận, là nơi trú đông của nhiều loài chim di cư, nơi làm tổ của nhiều loài chim nước (Phan Nguyên Hồng, 1991) [12] RNM có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, ngăn chặn gió bão, mở rộng diện tích lục địa, ngăn nước mặn lấn sâu vào đất liền RNM còn cung cấp thức ăn để chăn nuôi gia súc và thả ong, nhờ RNM mà cuộc sống của người dân nghèo ven biển được cải thiện RNM còn là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của nhiều khách

du lịch trong và ngoài nước, là nơi nghiên cứu và học tập của học sinh và sinh viên, các nhà khoa học nghiên cứu về hệ sinh thái RNM Tuy nhiên thảm thực vật RNM Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do hậu quả của chiến tranh Sau chiến tranh, do điều kiện kinh tế kém phát triển, sự bùng nổ dân số,

do nhận thức của người dân còn thấp nên việc khai thác RNM bừa bãi làm nguyên liệu, phá RNM làm đầm tôm, lấy đất canh tác, lấy đất làm ruộng muối dẫn đến diện tích RNM ngày càng bị suy giảm, chất lượng RNM cũng suy giảm theo, đất bị thoái hóa nghiêm trọng, hàng vạn hecta đất rừng bị bỏ hoang chưa được khôi phục, tài nguyên đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy hải sản vùng ven

Trang 2

biển bị suy giảm, môi trường bị ô nhiễm.

Nhận rõ tầm quan trọng của RNM, đặc biệt thấy được hậu quả của thiên tai, trong những năm gần đây ở những vùng ven biển bị mất RNM, phong trào trồng và khôi phục lại hệ sinh thái RNM đã và đang phát triển mạnh ở các vùng ven biển khắp cả nước như chương trình 327, chương trình trồng 5 triệu hecta rừng, cũng như các tổ chức quốc tế (PAM) và các tổ chức phi chính phủ (SCF

UK, ACTMANG, Hội chữ thập đỏ Đan Mạch và Nhật Bản…) hợp tác với trung tâm nghiên cứu hệ sinh thái RNM

Hải Hà là một huyện miền núi biên giới và hải đảo, với chiều dài bờ biển

là 35 km, tổng diện tích bãi triều là 8000 hecta, trong đó 1/3 diện tích là RNM, 1/3 diện tích nuôi trồng thủy sản và 1/3 diện tích còn lại là cửa sông bãi lầy chưa được sử dụng RNM tự nhiên có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế như bảo vệ đê điều, đầm tụm cỏ, cải tạo môi trường, là môi trường sống của các loài

thủy hải sản có giá trị kinh tế cao như ngán (Lucina philippinarum), vạng (Geloina coason), sá sùng (Sipunculus nudus), bông thùa (Phascolosoma

arcuatum), RNM còn là nơi nuôi dưỡng tôm và cua bố mẹ, nơi trú ngụ của tôm

cá con Tuy nhiên, tình trạng chặt phá RNM lấy nguyên liệu, đặc biệt phá RNM làm đầm nuôi tôm cua đang diễn ra hết sức nghiêm trọng, khiến diện tích RNM

bị suy giảm đáng kể, chỉ tớnh riờng xó Quảng Phong cho đến nay đã chặt phá hơn 90/420,36 hecta (theo số liệu của phòng lâm nghiệp Hải Hà năm 2004) [6] Bên cạnh đó, RNM tự nhiên sau khi chặt phỏ thỡ sự tái sinh lại của hệ thực vật

nghèo nàn, chủ yếu là các loài thuộc chi mắm (Avicennia) mọc thuần hoặc mọc xen với sú (Aegiceras corniculatum L.Blanco) những loài này đều thuộc dạng

thân bụi, phân cành sát đất, rừng đơn điệu và ít tầng, cây chậm lớn, chậm khộp tán Để khắc phục hiện tượng này cần có những biện pháp thích hợp quy hoạch bãi nuôi tôm, trồng thờm cỏc loài cây ngập mặn có kích thước lớn như trang

(Kandelia obovata, Sheue, Liu & Yong), đõng (Rhizophora stylosa Giff.)… Bên

cạnh đó cần nghiên cứu đưa vào trồng thờm cỏc loài cõy khỏc phù hợp với điều

Trang 3

kiện sống từng vùng làm tăng độ đa dạng sinh học và trả lại màu xanh cho RNM Hải Hà, song song với việc trồng rừng thì việc phát triển và bảo vệ RNM cũng cần được quan tâm hơn Xuất phát từ lí do trên, để việc gây trồng chăm sóc, bảo

vệ và phát triển RNM có hiệu quả cần có những kiến thức cơ bản về phân loại, sinh học, công dụng cũng như biết được thành phần loài, phân bố và tái sinh của các loài cây ngập mặn của vùng Mặc dự đó có nhiều tài liệu nghiờn cứu về RNM nhưng ở Hải Hà chưa có một công trình nào nghiên cứu về thành phần loài, sự phân bố và khả năng tái sinh của cây ngập mặn ở đây Xuất phát từ

những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”.

II Mục đích nghiên cứu

Đề tài xác định thành phần loài, nhận biết các loài cây ngập mặn chính để

so sánh khi đi thực địa nhằm mục đích: Phục vụ cho nghiên cứu RNM của huyện Hải Hà nhằm hiểu biết sâu sắc mối quan hệ giữa các nhân tố sinh thái môi trường với cây ngập mặn, thấy được sự sinh trưởng của chúng phụ thuộc vào những yếu tố nào, từ đó có thể đưa ra các loài cây ngập mặn nào phù hợp vào trồng rừng

Đề tài nghiên cứu khả năng tái sinh của một số cây ngập mặn , từ đó đưa

ra các biện pháp nhằm thúc đẩy khả năng tái sinh, với những cây có khả năng tái sinh thấp do điều kiện môi trường nhưng vẫn sinh trưởng và phát triển tốt thỡ cú biện pháp trồng rừng hợp lí

Thấy được hiện trạng của RNM hiện nay và những biến đổi của RNM ven biển dưới tác động của con người, từ đó đề xuất các biện pháp bảo vệ và phát triển RNM góp phần làm tăng độ đa dạng sinh học của cỏc cõy ngập mặn ở RNM Hải Hà

III Nội dung nghiên cứu

Trang 4

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

1 Điều tra thành phần loài cây ngập mặn khu vực ven biển cỏc xó ven biển của huyện Hải Hà (thấy được độ đa dạng sinh học của các loài cây ở đõy)

2 Nghiên cứu đặc điểm, sự phân bố của rừng và khả năng tái sinh của một số cây ngập mặn của RNM Hải Hà

3 Đề xuất một số phương hướng sử dụng hợp lí, bảo vệ và phát triển RNM Hải Hà

4 Xây dựng bộ tiêu bản mẫu khô và tiêu bản giải phẫu một số loài cây ngập mặn nhằm:

- Phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập của sinh viên và học sinh khi học cỏc mụn phân loại thực vật, giải phẫu thực vật, giúp học sinh, sinh viên so sánh được sự khác biệt về hình thái, cấu tạo của cỏc cõy ngập mặn với những cây sinh trưởng và phát triển trong đất liền

- Góp phần tham gia xây dựng bảo tàng thực vật

Trang 5

Phần II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU I.Thành phần loài và sự phân bố cây ngập mặn ở Việt Nam và trên thế giới.

1 Trên thế giới

Từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu RNM vỡ nó không chỉ có

ý nghĩa lớn về kinh tế, khoa học mà nó cũn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường Người đầu tiên đề cập đến cây ngập mặn là Nearchus, một đô đốc của Alexander Đại đế cách đây hơn 2300 năm, khi ông đi tuần tra 5 tháng trên sông Indus và Euphrates (Java và Tan, 1986) (Theo Phan Nguyên Hồng, 1991) [12] Kể

từ đó cho đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học cựng cỏc công trình nghiên cứu về RNM xuất hiện

RNM chỉ có thể mọc tốt ở những vựng cú khí hậu ấm và ẩm, không sống được ở những vùng lạnh Trên thế giới có khoảng 16.670.000 hecta RNM với hơn 100 loài cây, trong đó châu Á chiếm 41 % diện tích (khoảng 7 triệu hecta), châu Mỹ có 5.781.000 hecta và châu Phi có 3.402.000 hecta Hai nước có diện tích RNM lớn nhất là Inđụnờxia và Braxin (mỗi nước có RNM rộng hơn 3 triệu hecta) (P.N.Hồng và cộng sự, 1997) [13]

Tomlinson (1986) phân chia các quần xã RNM làm 2 nhúm cú thành phần loài cây khác nhau Nhúm phía Đông tương ứng với vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương với số loài cây đa dạng và phong phú Nhúm phớa Tõy gồm bờ biển nhiệt đới châu Phi, châu Mĩ ở cả Đại Tây Duơng và Thái Bình Dương, số loài cây ở đõy ít chỉ bằng 1/5 ở phía đông (Spaluding và cộng sự, 1997) Các loài

chủ yếu là đước đỏ (Rhizophora mangle), mắm (Avicennia germinans),

Laguncularia racemosa Tuy nhiên kích thước của một số loài cây lại lớn hơn

nhóm phía Đông, ví dụ như ở Braxin đước đỏ cao trên 50 m và ở Ecuado loài này cao 63 m.(Theo Phan Nguyên Hồng, 1999) [15]

Còn rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về RNM nữa như Chapman (1975), Rao (1986), Blasco (1984)…

Trang 6

2 Ở Việt Nam

Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260 km và hệ thông sông ngòi dày đặc chở phù sa đổ ra cửa sông, ven biển tạo ra những bãi lầy tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành RNM Nơi có RNM phát triển tốt nhất là bán đảo Cà Mau Trước chiến tranh, diện tích RNM Việt Nam là 4 triệu hecta phân bố chủ yếu là

ở miền Nam Việt Nam Đến năm 1999, diện tích rừng còn lại 156.608 hecta trong đó rừng tự nhiên chiếm 38,1% và rừng trồng chiếm 61,95% (Phan Nguyên Hồng và cs, 2007) [16]

Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM ở Việt Nam đầu tiên là luận án tiến sỹ quốc gia của Humbert Vũ Văn Cương (1964): “Flore ve’ge’tation de la mangrove de la re’gion de Saigon, cap saint Jacques”, tác giả mô tả tỉ mỉ các quần

xã nước mặn, nước lợ ở vùng Sài Gòn - Vũng Tàu và các yếu tố đất Tác phẩm thứ hai là cuốn “Rừng ngập mặn Việt Nam” của Nguyễn Văn Thôn và Lâm Bỉnh Lợi (1972), chủ yếu là phân loại và lâm học (Theo P.N.Hồng, 1991) [12]

Từ năm 1972 tới nay, trong nhiều hội thảo khu vực và quốc tế đã có rất nhiều báo cáo của các nhà nghiờn cứu về RNM và luận án phó tiến sỹ, tiến sỹ sinh học về RNM đặc biệt là những nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng và ụng

đã trở thành giáo sư đầu ngành về nghiên cứu RNM ở Việt Nam

Số loài cây ngập mặn hiện biết ở ven biển Nam bộ (100 loài), phong phú hơn ven biển Trung bộ (69 loài) và ven biển Bắc bộ (52 loài) Có sự khác nhau

đó là do sự khác nhau về các đặc điểm khí hậu, địa lí, thuỷ văn (P.N.Hồng, 1999) [14]

Dựa vào các yếu tố địa lí, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám, P.N.Hồng (1991, 1993) đã chia RNM Việt Nam thành 4 khu vực và 12 tiểu khu:

Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn

Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường

Trang 7

Khu vực III: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu.

Khu vực III: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu.Khu vực IV: Ven biển Nam bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải - Hà Tiên

• Khu vực I: RNM phát triển rộng nhờ cỏc dãy đảo che chắn phía ngoài,

các loài cây chủ yếu là đõng (Rhizophora stylosa), trang (Kandelia obovata), vẹt

dù (Bruguiera gymnorrhiza (L)), sú ( Aegiceras corniculatum (L) Blanco), mắm biển (Avicennia marina) Do nhiệt độ không khí vào mùa đông lạnh nờn cõy cú

kích thước nhỏ, chỉ cao khoảng 1,5 – 7 m

• Khu vực II: Tuy có các bãi bồi rộng, giàu phù sa, nhưng ở đây bãi biển trống trải, không có các đảo che chắn gió bão nên chỉ có một ít RNM ở trong các

cửa sông với các loài cây chủ yếu như bần chua (Sonneratia caseolaris L.), trang (Kandelia obovata), sú (Aegiceras corniculatum (L) Blanco), cây thuộc họ Ôrô

(Acanthaceae) Bần có kích thước khá lớn, cao 8-12 m , đường kính 15-20 cm

• Khu vực III: Bãi bồi hẹp, ít phù sa do bờ biển dốc, nhiều gió bão nên rừng chỉ là các dải hẹp bên trong các cửa sông Các loài cây chủ yếu là các loài cây

thuộc họ Đước (Rhizophoracaea), vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L.) ), sú (Aegiceras corniculatum (L.) Blanco), mắm biển (Avicennia marina), cây

thường nhỏ, phân cành nhiều

• Khu vực IV: Ở đây có nhiều bãi bồi rộng, nhiều phù sa do hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long cung cấp, ít gió bão nên RNM phát triển rất tốt, đặc biệt là bán đảo Cà Mau Rừng có nhiều loài cây như đước, đưng, dà vôi, dà quánh, vẹt khang, vẹt tách, vẹt trụ, mắm trắng, mắm đen, mắm biển, mắm quăn, trang, dừa nước, cóc đỏ, cỏc cõy cú kích thước lớn

Theo cách phân chia này thì Hải Hà thuộc khu vực I và mang nhiều nét chung của khu vực này tuy nhiên cũng có những nét riêng biệt về địa hình dẫn tới hệ thực vật ngập mặn có nhiều đặc điểm khác biệt sẽ được nêu ở phần sau

Trang 8

II Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái tới sự phân bố và khả năng tái sinh của cây ngập mặn.

Sống ở môi trường sinh thái nào thỡ cỏc sinh vật sẽ chịu sự tác động đặc trưng của môi trường đú, cõy ngập mặn sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền là loại môi trường đặc biệt, các nhân tố sinh thái có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và sinh trưởng của các loài cây ngập mặn Hầu hết các tác giả khi nghiên cứu cây ngập mặn thường đề cập đến các nhân tố sinh thái chủ yếu như: khí hậu, thuỷ triều, độ mặn, địa hình Ngoài ra, yếu tố sinh học và con người cũng đóng vai trũ khụng nhỏ trong sự phân bố và khả năng tái sinh của cỏc cõy ngập mặn Một khó khăn lớn là nhiều loài cây ngập mặn có biên độ thích nghi rộng về khí hậu, đất, nước, độ mặn Do đó khi dựa vào một khu phân

bố cụ thể nào để nhận định tính chất của cây ngập mặn, có thể không áp dụng được ở vựng khỏc hoặc không thể suy ra tính chất chung cho loại thảm thực vật này (P.N.Hồng, 1991) [12]

2.1 Ảnh hưởng của khí hậu

Khí hậu gồm nhiều thành phần trong đó nhiệt độ, lượng mưa, gió có ảnh hưởng nhiều đến sự phân bố, số lượng và sự tái sinh của các loài cây ngập mặn

Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn cả hai quá trình quang hợp và hô hấp Điều

chỉnh phần lớn các quá trình trao đổi chất và năng lượng nội tại trong cơ thể thực vật ở những vựng cú nhiệt độ bình quân trong năm cao, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm, giữa cỏc mựa thấp (đồng thời độ ẩm cao) thì rừng ngập mặn phát triển về kích thước và số loài cây ngập mặn cao, số loài cây ngập mặn giảm hẳn khi nhiệt độ xuống quá thấp Ngược lại khi nhiệt độ lên quá cao (trên 35 0 C) cũng ảnh hưởng đến hoạt động sinh lí của cây về đốt nóng lá, khiến cho cõy thoỏt hơi nước nhanh và nhiều, hô hấp tăng, quang hợp giảm, năng suất sơ cấp giảm (P.N Hồng, 1991) [12]

Lượng mưa có ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự sinh trưởng và phân bố, tái

Trang 9

sinh của cây ngập mặn Theo Blasco, 1984 [36] cho rằng rừng cây ngập mặn phát triển mạnh mẽ về kích thước và thành phần ở những nơi có lượng mưa hàng năm cao và không có mùa khô.

Phan Nguyên Hồng (1991) [12] phân tích: Ở vùng nhiệt đới lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm ví dụ như khu vực Đông Nam Á có một mùa mưa và một mùa khô Ở Bắc bán cầu mùa khô kéo dài 6 tháng hoặc 4 tháng còn lại là mùa mưa Nơi nào có mùa mưa trùng với mùa sinh sản của cây ngập mặn thì nơi đó có rừng phát triển, còn nơi nào tuy có lượng mưa lớn nhưng không trùng với mùa sinh sản thì không có rừng vì thiếu nước ngọt, cây con không tái sinh được Còn ở những vùng mưa ít, hạn nhiều thì hệ thực vật nghốo nàn, thưa thớt, cây thấp bé và rừng không liên tục

Trần Thị Bình (2002) [2] nhận xét: Lượng mưa trong năm ở tất cả các huyện thị Quảng Ninh vào loại cao so với cả nước (>2000mm) thuận lợi cho RNM phát triển và có ảnh hưởng mạnh tới sự phân bố, kích thước cây mắm giữa các huyện thị

Gió có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hình thành của rừng ngập

mặn theo nhiều cách P.N.Hồng (1991) [12] đã nghiên cứu một số tác dụng của gió đến sự hình thành và phát triển của rừng ngập mặn như: Làm tăng lượng mưa ở vùng rừng ngập mặn (gió mùa), đưa nước triều vào sâu trong đất liền do

đó mà các cây nước lợ có thể phát triển dọc bờ sông vào sâu trong đất liền trên dưới 100 km, gió mạnh còn làm thay đổi khí hậu địa phương như giú mựa đông bắc (tháng 10 đến tháng 2) đem theo không khí lạnh và hanh khụ đó làm hạn chế

sự sinh trưởng của rừng ngập mặn

2.2 Thủy văn.

Thủy triều không những có tác động trực tiếp lờn cõy ngập mặn bởi mức

độ và thời gian ngập nước mà còn ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác như kết cấu

độ mặn của đất, sự bốc hơi nước, các sinh vật khác trong rừng, các yếu tố này tác động đến đời sống của cây ngập mặn Mặt khác thủy triều chịu tác động của

Trang 10

gió, lượng mưa và dòng chảy trong sông.

Tìm hiểu đặc điểm của thủy triều liên quan đến sự phân bố và phát triển của rừng ngập mặn Việt Nam và các nước Đông Nam Á, P.N.Hồng (1991) [12]

có nhận xét: Trong điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt nhau lớn thì ở vựng cú chế độ bán nhật triều cây ngập mặn phát triển tốt hơn vựng cú chế độ nhật triều vì thời gian cây bị ngập lâu hơn cây ở chế độ bán nhật triều nờn cõy thu được không khí trên mặt đất ít hơn, thời gian đất bị phơi trống ngắn hơn, hạn chế bớt sự thoát hơi nước trong đất và trong cây, nhất là thời kỡ núng nắng do vậy cây sinh trưởng chậm, ví dụ: Rừng ngập mặn ở Nam Bộ Việt Nam phát triển hơn vùng ven biển Quảng Ninh vì vùng biển Nam Bộ có chế độ bán nhật triều còn ở Quảng Ninh có chế độ nhật triều Ngoài ra biên độ triều cũng ảnh hưởng

rõ rệt đến sự phõn bố của cây ngập mặn, chỉ ở những nơi có biên độ triều cao trung bình (2-3m), địa hình bằng phẳng thì cây ngập mặn phân bố rộng và sâu vào trong đất liền, ví dụ ở lưu vực sông Cửu Long và phía đông Cà Mau, cỏc dũng triều chịu tác động của gió, nhất là gió mùa và lưu lượng sông vào mùa mưa, cỏc dũng triều không những tác động đến các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, sự vận chuyển trầm tích và dinh dưỡng ở trong và ngoài vựng rựng ngập mặn mà còn là nhân tố quan trọng trong việc phân tán hạt và cây con

Theo Mai Sỹ Tuấn (1980) [32] thì ở những vựng cú cùng mức độ thủy triều thì thời gian và mức độ ngập quyết định lớn đến sự sinh trưởng và phân bố

của cây ngập mặn nói chung và các cây thuộc chi mắm (Avicennia) nói riêng.

Hệ thống sông cung cấp nước ngọt và phù sa: Dòng nước ngọt do cỏc

sụng, rạch đem ra rừng ngập mặn ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển của cây ngập mặn vì nước sông mang theo chất phù sa cần thiết cho ngập mặn Mặt khác nước ngọt làm pha loãng độ mặn nước biển, phù hợp với một số loài cây

và các giai đoạn khác nhau của rừng ngập mặn Khi dòng chảy từ sông vào vùng ngập mặn bị giảm hoặc mất di thì một số loài cây ngập mặn sẽ bị còi cọc hoặc chết dần (Phan Nguyờn Hồng và cs, 1999) [14]

Trang 11

Nước ngọt rất cần thiết cho sự nẩy mầm, tái sinh sinh trưởng của cây con cho các quá trình sinh lý của cây trưởng thành.

2.3 Độ mặn.

Một đặc điểm khá thú vị của cây ngập mặn là có khả năng sinh trưởng và phát triển trên mọi môi trường nước mặn, ngập nước thường xuyên, cây ngập mặn có khả năng giữ cân bằng muối bằng cách thải lượng muối thừa hoặc tích muối trong lá già sau đó lá già rụng đi Nước mặn là một trong các nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng, tỉ lệ sống của các loài cây ngập mặn Loại rừng này phát triển tốt nhất ở nơi có nồng độ muối trong nước

10 - 25‰ kích thước cây và số loài cũng giảm đi khi độ mặn cao (40 - 80‰) (Blasco, 1984) [36], ở độ măn 90‰ chỉ có vài loại mắm sống được nhưng sinh trưởng chậm (Rao, 1986) [39] Những nơi có độ mặn quá thấp (<4‰) thì cũng không cú cõy ngập mặn mọc tự nhiên

Phần lớn cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển bình thường ở môi trường nước có nồng độ muối từ 15 - 35‰ Các loài còn lại thích sống ở những nơi có độ mặn vừa phải 7 - 25‰ Các loài cây nước lợ không chịu được nồng độ muối cao trên 30‰ (P.N Hồng và cs, 1997) [13]

Mai Sỹ Tuấn (1995) [33] đã nghiên cứu tác động của bẩy độ mặn khác nhau: (0,25;50;75;100;125;150‰) lên quá trình nảy mầm tăng trưởng và quang hợp của cây mắm con Kết quả cho thấy độ mặn thấp tỉ lệ nẩy mầm cao, tốc độ nảy mầm nhanh hơn so với độ mặn cao Khả năng hạt nẩy mầm và sinh trưởng tốt nhất ở 25‰

P.N.Hồng (1991) [12] đã chia cỏc cõy ngập mặn thành hai nhóm: Nhúm

có biên độ muối rộng và nhúm cú biên độ muối hẹp

Vậy độ mặn đóng vai trò lớn tới sự phân bố, sinh trưởng và khả năng tái sinh của cây ngập mặn

Trang 12

2.4 Thể nền

Đất RNM do phù sa cỏc sụng mang từ nội địa ra cùng với trầm tích biển do thủy triều đem vào Do đó, tính chất của loại đất này phụ thuộc vào nguồn gốc phù sa và trầm tích, nó rất dễ bị biến đổi dưới tác động của khí hậu, thủy văn, hệ động thực vật đất Cây ngập mặn có thể sống trờn cỏc thể nền ngập nước định kì khác nhau như bùn sét, bựn cỏt, cỏt thụ lẫn sỏi, than bùn Tuy nhiên từng loại thể nền khác nhau thì sự thích ứng và phân bố của cây ngập mặn là khác nhau và cây ngập mặn phát triển tốt nhất trên nền bựn sét cú mựn bó hữu cơ

Năm 1980, Mai Sỹ Tuấn [33] trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của

đất tới sự sinh trưởng của các loài thuộc chi mắm (Avicennia) trờn các nền đất

khác nhau đã thấy rằng : Đất ven biển Tuần Châu (Quảng Ninh) nhiều cỏt thụ và sỏi đỏ, nghốo dinh dưỡng nên sinh trưởng chậm, còi cọc, kích thước bộ, phõn cành sát gốc Đất Nam bộ giàu phù sa, giàu mựn bó hữu cơ nờn cõy sinh trưởng tốt

Các RNM vựng Yờn Hưng (Quảng Ninh) nhận phù sa từ đất lateritic ở vùng đồi do cỏc sụng Chanh, Bạch Đằng chuyển ra (cùng với điều kiện khí hậu không thuận lợi) nên các loài cây ở đây thường thấp bé RNM ở miền Tây nam bộ nhận phù sa giàu chất dinh dưỡng của sông Cửu Long và trầm tích của vùng biển nông nờn cõy sinh trưởng tốt (P.N.Hồng và cs, 1991) [12]

Nguyễn Đức Tuấn,1995 [32] đã nghiên cứu sinh trưởng của cõy đõng

(Rhizophora stylosa) ở Thạch Hà, Hà Tĩnh trên 2 khu vực có tính chất thể nền

khác nhau Kết quả cho thấy trên nền bựn sét mềm ớt cỏt thụ, cõy đõng sinh trưởng tốt hơn trên thể nền nhiều cỏt thụ, đất cao và cứng

Nói chung, thể nền và tính chất của thể nền là một trong những yếu tố thiết yếu cho sự sinh trưởng , phân bố và tái sinh của cây ngập mặn

2.5 Địa hình

Vùng bờ biển ở miền Nam Việt Nam mặc dù không có các đảo nổi nhưng nhờ có các vỉa san hô ngầm nằm dọc theo các thềm lục địa, làm yếu lực của sóng, ít chịu ảnh hưởng của bão (trừ trường hợp khí hậu biến đổi bất thường như

Trang 13

năm 1997) nên RNM cũng phát triển.

Ở vùng ven biển đồng bằng Bác bộ Việt Nam, mặc dù cú cỏc bãi bồi phát triển mạnh giàu phù sa nhưng RNM không phân bố rộng là do địa hình trống trải, chịu tác động trực tiếp của bão từ Thái Bình Dương Dọc ven biển miền Trung cũng có rất ít RNM vì địa hình dốc, không giữ được phù sa, lại chịu tác động mạnh của bão và gió mùa đông bắc (P.N.Hồng, 1991) [12 ]

Địa hình cũng đóng vai trò quan trọng tới sự phân bố, sinh trưởng và tái sinh của cây ngập mặn RNM phát triển mạnh ở vùng bờ biển nụng, ớt sóng gió như trong các vịnh cửa sông hình phễu (estuary), sau các mũi đất , eo biển hẹp hoặc dọc bờ biển cú cỏc dãy đảo che chắn ở ngoài như bờ biển Quảng Ninh (P.N Hồng, 1991) [12 ]

2.6 Các nhân tố sinh học và tác động của con người.

Cùng với các yếu tố vô sinh, thành phần sinh vật trong môi trường bãi lầy, cửa sông ven biển cũng đóng góp đáng kể vào sự hình thành và phân bố RNM Nhờ những đặc điểm thích nghi với độ ngập triều sâu, nồng độ muối cao, chống chịu tốt với các tác động của sóng gió thủy triều nờn cỏc thực vật tiên phong

như các loài cỏ biển và loài thuộc chi mắm (Avicennia), đóng vai trò quan trọng

trong việc tạo điều kiện cho đất ổn định, cho các quần xó cõy ngập mặn đến sau phát triển

Vi sinh vật như nấm, vi khuẩn có ý nghĩa to lớn trong việc phân hủy các chất hữu cơ trong phù sa trầm tích thành các hợp chất khoáng cho cây Mặt khác chúng phân hủy các chất rơi rụng của cây ngập mặn tạo thức ăn dinh dưỡng cho động vật và thực vật trong RNM

Con người là nhân tố sinh học quan trọng đối với sự phát triển cũng như suy thoái RNM Chiến tranh, sự tăng dân số cùng với các hoạt động kinh tế của mỡnh đó làm diện tich RNM bị suy giảm, làm cho biến đổi tiêu cực tính chất lí hóa học của đất và lượng sinh vật, gây ra sự biến đổi các quẫn xã thực vật RNM

Ví dụ : Con người đã thải chất công nghiệp ra vùng ven biển nơi có RNM dẫn

Trang 14

tới cỏc cõy RNM bị chết, không tái sinh được.

Hải Hà cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, người dân ở đây chưa thấy được tầm quan trọng của RNM nên đã chặt phá RNM phục vụ lợi ích kinh

tế trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài Nơi RNM đã bị chặt phá, hệ thực vật mất

đi dẫn tới mất đi lượng chất rơi rụng của cây ngập mặn và khả năng cố định chất hữu cơ, dẫn tới đất thoái hóa chặt cứng, hệ thực vật chậm tái sinh, chậm phát triển nên chỉ có một số ít loài cây có khả năng sinh trưởng được như sú hoặc mắm nhưng chúng sinh trưởng chậm, còi cọc, rừng chậm khộp tán

Trang 15

PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, VỊ TRÍ, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

I Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng chúng tôi tiến hành nghiên cứu là các loài cây ngập mặn ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

II Thời gian nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát từ tháng 4/2008 đến tháng 2/2009, chia làm một số đợt khảo sát nhỏ ngoài thực địa, các đợt này khoảng cách đều nhau rơi vào các mùa xuân, hố, đụng tiện cho việc theo dõi khả năng tái sinh của cây ngập mặn

Đợt I: 30/4/2008, kéo dài 1 tuần

+ Thời gian này trùng với mùa ra hoa của sú, xuất hiện 1 số trụ mầm của trang trong rừng trồng rơi xuống bùn.Lần đi thực địa này chúng tôi khảo sát số lượng

trụ mầm trang (Kandelia obovatal) rơi xuống, tái sinh tự nhiên trong rừng của

cỏc xó Quảng Minh và Quảng Phong

Đợt II: Từ 01/07 đến 01/08/2008

+ Mưa nhiều, nhiệt độ và độ ẩm cao

+ Thời gian này, hoa trang, vẹt, mắm đang nở rộ, trụ mầm sú, đõng đang trưởng thành Chúng tôi khảo sát số cây trang con tái sinh sau 3 tháng rời khỏi cây mẹ

Đợt III: Từ 15/01 đến 25/01/2009

+ Nhiệt độ thấp, lượng mưa thấp

+ Trụ mầm trang đang trưởng thành và bắt đầu chín

Các đợt khảo sát này tiến hành ở các thời gian khác nhau với điều kiện khí hậu khác nhau nhằm tìm hiểu khả năng tái sinh, sống sót của cây con

Trang 16

III Đặc điểm địa điểm nghiên cứu.

Tọa độ địa lí: 210 12’ 46’’ - 1070 38’ 27’’ vĩ độ bắc

1070 30’ 54’’ - 107 051’ 49’’ kinh độ đông

Địa hình của huyện nói chung là dốc và phân cắt mạnh mẽ với nhiều sông suối và cửa sông như Mã Ham, Hà Cối, Pồ Lồ, Đường Hoa và sông Cái Đá Bàn

Trang 17

Phía ngoài biển được bao bởi 2 dãy đảo là Cỏi Chiờn và Vĩnh Thực tạo vùng vịnh kín gió, có hệ thống bãi triều thấp và phát triển rộng rãi.

3.2 Khí hậu.

Cũng như các huyện khác của tỉnh Quảng Ninh, huyện Hải Hà có chế độ khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa Hải Hà là huyện miền núi ven biển nên khí hậu vừa mang tính chất miền núi vừa mang tính chất miền biển, có mùa đông lạnh nhiệt độ thấp xuống tới 5 - 6 0C, thường có sương muối

Chế độ nhiệt phụ thuộc vào chế độ bức xạ nhiệt đới nội chí tuyến và thay

đổi theo gió mùa Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 22,7 0C, biên độ dao động trung bình cỏc thỏng trong năm từ 15 - 30 0C, nhiệt độ cao nhất vào tháng

7 là 31,2 0C Do biên độ nhiệt lớn đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây, một

số loài cây ngập mặn ở miền Nam không có mặt ở đây, cõy cú kích thước nhỏ so với miền Nam

Bức xạ tổng số là yếu tố quan trọng trong sự hình thành khí hậu, quyết định sự sống và phát triển của thực vật và sinh vật phù du Tổng bức xạ trung bình là 200 kcal/cm2/năm, cao nhất vào tháng 7 là 286 kcal/cm2 (Theo số liệu

2007, Hồ Thị Phương, trạm khí tượng thủy văn huyện Hải Hà)

Như vậy so với tỉnh Nam Định có nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,30C (Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia năm 2006 - 2007) thì Hải Hà có nhiệt

độ trung bình hàng năm thấp hơn 1,60C

Chế độ gió: Trong năm hình thành 2 chế độ gió mùa là gió mùa đông bắc

(tháng 10 - 3) và gió mùa tây nam (tháng 4 - 8) Tốc độ gió trung bình đạt 2,5 m/s và đạt cực đại 4,5 m/s trong mưa bão Mỗi năm trung bình có 3 – 4 cơn bão lớn nhỏ đổ bộ vào bờ biển

Chế độ mưa, độ ẩm: Phân thành mùa khô và mùa mưa rõ rệt Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, thấp nhất là vào tháng 1 (9,3 mm) và tháng 11 (11,1 mm) Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 -10, chiếm 80 – 85 % lượng mưa cả năm Thỏng có lượng mưa cao nhất

Trang 18

là tháng 6 (630,7 mm) Lượng mưa trung bình năm là 2630,4 mm Tổng lượng mưa 6 tháng đầu năm 2008 là 1267,5 mm và tháng 6 là 799,8 mm Độ ẩm trung bình đạt 85 – 90 %, tốc độ gió trung bình là 3m/s.

Do lượng mưa lớn như vậy đã tạo dòng nước ngọt tương đối phong phú thuận lợi cho sự phát triển của RNM Tuy nhiên, mùa mưa ở Quảng Ninh nói chung và ở Hải Hà nói riêng không thật trùng với mùa quả hoặc trụ mầm chín rụng và nảy mầm Theo P.N.Hồng và cộng sự (1999) thời gian trụ mầm hoặc quả chín của đõng vào tháng 8, trang vào tháng 3 - 4, vẹt dù có hai đợt 12 - 1 và tháng 6 - 7 Điều này có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển trực tiếp RNM ở đây

3.3 Thủy văn.

Hệ thống sông suối khá dày đặc với mật độ 2 km/km2, với hệ thống sụng chớnh là sông Hà Cối và một số sông nhỏ có hướng dòng chảy tây bắc - đông nam Nét đặc trưng của cỏc sụng ở đây là nhỏ, ngắn và dốc, trên sông có nhiều thác ghềnh, thượng lưu rộng còn hạ lưu hẹp Cửa sông chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều Cỏc sụng trong huyện đều có lưu lượng nước nhỏ tập trung vào mùa mưa lũ Tổng lượng bùn cát và hàm lượng chất lơ lửng thấp

Vùng ven biển huyện Hải Hà có 5 cửa sông, thứ tự các cửa sông từ bắc xuống nam là Mã Ham, Hà Cối, Pồ Lồ, Đường Hoa và sông Cái Đá Bàn Các cửa sông có dạng hình phễu

Thủy triều: Chế độ nhật triều điển hình với hầu hết số ngày trong tháng

là nhật triều Trong một thỏng có kỡ nước cường, biên độ dao động sóng 0,5 - 1m Đây cũng là khu vực có độ cao của triều lớn nhất dải ven biển Việt Nam, có thể đạt tới 4 - 5m Chế độ sóng phụ thuộc vào chế độ gió theo mùa và hình dạng địa hình khu vực Tuy nhiên, do địa hình vùng ven biển ven bờ huyện và cửa sông tương đối kớn nờn ớt chịu ảnh hưởng của sóng ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, sóng nội tại hình thành tương đối yếu, không quá 1m trong gió bão Điều này cũng tạo thuận lợi cho sự phân bố và sinh trưởng của cây ngập mặn

Trang 19

3.4 Độ mặn.

Độ mặn cao nhất vào mùa là 30 - 31‰ do thời kì này ít mưa Độ mặn thấp nhất là và mùa mưa là 10 - 15‰ Trong vùng cửa sông đổ ra vịnh, độ mặn thấp nhất có thể xuống tới 2 - 4‰ Độ mặn ở Thái Bình thấp hơn, vào mùa lũ từ 9 -

17 ‰ và mùa khô từ 23 - 30 ‰ Độ mặn ở đây tương đối cao phù hợp với sự sinh trưởng phát triển của những loài chịu mặn cao như mắm, sú

Do đặc điểm thể nền khác nhau như vậy đã dẫn tới hệ thực vật ở hai khu vực này cũng khác nhau, hệ thực vật Do đặc điểm thể nền khác nhau như vậy

đã dẫn tới hệ thực vật ở hai khu vực này cũng khác nhau, hệ thực vật ở Quang Phong, Tiến Tới, Đường Hoa phong phú và phát triển hơn ở cỏc xã Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền

(Số liệu theo “Dự thảo quy hoạch nuôi trồng thủy sản mặn lợ huyện Hải Hà giai đoạn 2006 - 2010’’, 2005)) [6]

Huyện Hải Hà có 7 xã ven biển theo mặt cắt từ phía bắ đến phía nam lần lượt là: Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền, Quảng Phong, Đường Hoa, Tiến Tới do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên chúng tôi chọn 4 xã là Quảng Thành, Quảng Minh, Quảng Phong và Tiến Tới để nghiên cứu được đánh dấu ở hình 2

Trang 20

Hình 2 Địa điểm nghiên cứuCác dấu gạch chéo đen chỉ địa điểm nghiên cứu.

Tổng diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn toàn huyện là 1046, thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1 Diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn ở huyện Hải Hà

Hoa

Tiến TớiDiện

Trang 21

a) Đo, đếm ngoài thực địa.

- Chọn bờ đê cao hoặc đỉnh các đồi đất cao ven biển tại các địa điểm nghiên cứu làm điểm đứng quan sát, nhận xét sơ bộ về thành phần loài, sự phân bố và cấu trúc quần xã thực vật

Theo Phùng Ngọc Đĩnh và cộng sự, 2001 [7] chọn tuyến nghiên cứu là việc quan trọng khi nghiên cứu thảm thực vật ngoài tự nhiên vỡ nó giỳp nghiên cứu hợp lí đầy đủ các loại hình thực vật khác nhau trên toàn bộ khu vực do sự thay đổi của các yếu tố tự nhiên và phải chú ý chọn tuyến nghiên cứu là :

- Tuyến được bố trí cắt ngang qua các dạng địa hình chủ yếu của khu vực

- Chọn tuyến nghiên cứu theo đường thẳng vuông góc với bờ đê, hướng ra phía ngoài biển, chiều dài tuyến phụ thuộc vào mục đích và mức độ nghiên cứu

- Chọn địa điểm đặt cỏc ụ tiêu chuẩn trên tuyến đại diện cho quần thể thực vật nghiên cứu

Chúng tôi chủ yếu nghiên cứu rừng bán tự nhiên và rừng trồng nên theo J Braun – Blanquet (1932) và K Fujiwara (1987), H.S.Suzuki và cộng sự (1985) (Theo Nguyễn Thị Kim Cúc, 2002) [4] chúng tôi lập cỏc ụ tiêu chuẩn như sau:

Bảng 2 Diện tớch cỏc ụ tiêu chuẩn nghiên cứu ngoài thực địa

Tại cỏc ụ tiêu chuẩn, chọn cỏc ụ có kích thước 5ì5m theo đường chéo của cỏc ụ tiêu chuẩn để điều tra thành phần loài, dạng sống, cấu trúc rừng, số cây trưởng thành, số cây tái sinh, đánh giá số lượng , chất lượng cây con tái sinh, số lượng cây trưởng thành

- Dùng phương pháp đánh dấu và đếm trực tiếp số lượng cá thể từng loài cây ngập mặn trong cỏc ụ 5ì5m trong cỏc vựng nghiên cứu

- Đánh giá độ che phủ (tính độ che phủ) tán lá: Tớnh số lượng cây

trung bỡnh có trong 25m2, sau đó đo đường kớnh tỏn cõy Từ đường kớnh tỏn

Trang 22

cõy và số lượng cây trong ô tiêu chuẩn 25m2, tính diện tích che phủ tỏn Tớnh tỷ

lệ che phủ (bằng diện tích vòng của Crown trên diện tích đất rừng) theo công thức:

L =S/G (Hall, D.O và cộng sự, 1986) [38]

Với L: tỷ lệ che phủ (%)

S: diện tích che phủ của tán (m2)G: diện tích mặt đất (m2)

- Đánh giá khả năng tái sinh của cây con: Tiến hành đếm số lượng cây

con tái sinh tổng số và phân loại các cây con tái sinh ở trong ô 5ì5m dưới tán rừng và 1ì1m ngoài tán và rìa bờ đê, bờ đầm, nhận xét kích thước độ nhiều, chất lượng lượng cây con tái sinh

- Dùng cây sào 5m đánh dấu tỉ lệ, thước dây và thước kẹp đo chiều cao và đường kính thân cây Để đo đường kính thân cây, người ta thường chọn một vị trí nào đó trên phần gốc cây (trong tầm với của điều tra viên) làm chuẩn Vị trí chọn là độ cao cách cổ rễ 1,3m hay đường kính ngang ngực Do đặc điểm của cây rừng ngập mặn với đặc thù riờng nờn chúng tôi xác định vị trí đo như sau:

* Trang (Kandelia obovata): cây thấp hơn 1,5m thì xác định đường kính tại

phần cổ bạnh gốc

* Sú (A conniaculatum) là cây bụi có chiều cao trung bình thấp nên đường kính

thân cũng xác định tại phần thân trên cổ rễ

* Các cây thuộc chi mắm (Avicennia) có thân phân cành không xác định hướng,

chiều cao cũng tương đối thấp nên cũng xác định đường kính tại phía trên cổ rễ

b) Lấy mẫu về phòng thí nghiệm định loại

Chúng tôi lấy tất cả những mẫu cây chưa định loại được ngay ngoài thực địa đem về phòng thí nghiệm để tiếp tục định loại (mẫu thu phải đạt yêu cầu 1 mẫu phân loại)

c) Chụp ảnh hình thái các loài cây nghiên cứu.

4.2 Trong phòng thí nghiệm.

Trang 23

a) Xử lý mẫu thu được.

Ngâm mẫu đã rửa sạch vào cồn 500 trong 2 ngày và chú ý lật mặt trên và dưới để mẫu thấm đều cồn Sau đó vớt ra, làm tiêu bản mẫu ộp khụ theo tài liệu hướng dẫn thực hành của các tác giả Hoàng Thị Sản và Hoàng Thị Bé (2000) [25] Mẫu còn lại đeo etiket, sau đó làm tiêu bản giải phẫu cố định theo hướng dẫn thực hành của các tác giả Hoàng Thị Sản và Nguyễn Tề Chỉnh, 1981 [26]

b) Thẩm định tên khoa học các loài cây ngập mặn thu được.

Chúng tôi chụp hình thỏi cỏc loài cây ngập mặn cần phân loại, đồng thời thẩm định luụn tên khoa học bằng phương pháp hình thái so sánh dựa vào các tài liệu thực vật RNM mang theo: “Thực vật rừng ngập mặn Việt Nam”, Nguyễn Hoàng Trí, 1996 [30] , “Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ”, Nguyễn Đỡnh Qỳy và cộng sự, 2002 [27]: “Cuộc hành trình xuyên suốt RNM Việt Nam qua hình ảnh”, P.N.Hồng và cộng sự, 2007 [16]

Hình ảnh và mẫu còn lại đem về phòng thí nghiệm định loại dựa vào tài liệu “Cõy cỏ Việt Nam” tập 1, 2, 3 của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [18], “Sổ tay cây ngập mặn ở Indonexia” của Shoro Kitamura và cộng sự, 1997 [39] Một

số mẫu khó, chúng tôi nhờ các chuyên gia kiểm tra giúp tên khoa học

Trong quá trình tra cứu mẫu, chúng tôi đồng thời tìm hiểu giá trị của các loài cây nghiên cứu

4.2.3 Thống kê và xử lý số liệu

- Xác định giá trị trung bình bằng công thức:

: Tổng các giá trị Xi từ 1→ n N: Tổng số mẫu đo

- Độ lệch chuẩn (δ) phản ánh độ sai lệch hoặc dao động của các giá trị so với giá trị trung bình cộng được xác định bằng công thức:

n

X X

n

i i TB

2

1 1

δ

Trang 24

Sai số m:

n

m= δ

Trang 25

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN.

CHƯƠNG I THÀNH PHẦN LOÀI CÂY NGẬP MẶN KHU VỰC VEN BIỂN

HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

1.1 Danh mục các loài cây ngập mặn ở khu vực nghiên cứu.

Sau khi nghiên cứu ngoài thực địa, thu và phân tích mẫu dựa vào các tài liệu và sự giúp đỡ của các chuyên gia, chúng tôi đã lập được bảng danh sách các loài cây ngập mặn ở khu vực bốn xã của Hải Hà, Quảng Ninh như sau: (các loài xếp theo thứ tự A,B,C, tên khoa học của các họ thực vật trong ngành và theo các loài trong họ)

Bảng 3 Danh mục các loài cây ngập mặn tại bốn xã ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

1 Acrostichum aureum Ráng biển + Dx 3,4 A

2 Acanthus ilicifolius L. ễrụ + C 2,3,5,8 A

3 Sesuvium porlulacastum Sam biển - M 3 QP

4 Annona glabra L. Na biển - G 3,4 QM

5 Centella asiatica L Cây rau má - C 3 A

6 Plucchea pteropoda Hemsl Sài hồ nam, cỏ lức - C 4,5 QM

7 Plucchea indica (L.) Lees Cúc tần - C 4,5 A

8 Wedelia biflora (L.) DC Cúc hai hoa - C 3,4 A

9 Avicennia lanata Ride. Mắm quăn + G 1,2 A

10 Avicennia marina (Forsk) Vierh Mắm biển + G 1,2 A

13 Suaeda maritima (L.) Dum Muối biển - M 3,4 A

14 Impomoea pes-caprae (L.) Br Muống biển - L 3,4,5,6 A

Trang 26

15 Excoecaria agallocha L. Giá + G 3,4,5 A

16 Canavalia obtusifolia (L.) DC. Đậu cộ - L 3,4 A

17 Deris heptaphilla (L.) Merr Cốc kèn - L 3,4 A

18 Scaevula taccada (Gaentn.) Robx Hếp - B 3,4 QT, TT

19 Hibiscus tiliaceus L. Tra làm chiếu - G 3,4 A

20 Thespesia populnea (L.) Soland Tra lâm vồ, Tra

22 Myoporum bontoides A Gray.

23 Bruguiera gymnorrhiza (l.) Vẹt dù + G 2,3 A

24 Kandelia candel L.Druce Trang + G 2,3 QP,QM,TT

25 Rhizophora stylosa Giff Đước + G 2,3 A

26 Datura metel L. Cà độc dược - dB 4 TT

27 Clerodendron inerme (L.) Ngọc nữ biển - B 2,4 A

30 Crinum assiaticum L. Náng hoa trắng - H 3,4 A

31 Phoenis paludosa Roxb Chà là - C 3,4,5 QM

32 Cyperus exltatus Rezt Cói ba cạnh - C 2,3,6 A

33 Cyperus malaccensis Lam. Cói, lác - C 2,3,6 A

34 Cyperus stoloniferus Retz Cỏ gấu biển - C 3,6 A

35 Eleocharis dulcis ( Burm.f)

35 Flagellaria indica L. Mây nước - L 3,4 TT

36 Pandanus odorratissimus L.f Dứa dại biển - H 4,5 A

37 Cynodon dactylon (L.) Pers. Cỏ gà - C 1,3,4,5 A

38 Paspalum vaginatum Sw. Cỏ san sát - C 1 A

39 Phragmitea karka (L.) Veldk Sậy - C 2,3,4 A

40 Sporobolus virginicus (L.)

Loài cây

Trang 27

+ : Loài cây ngập mặn chủ yếu

- : Loài cây tham gia vào RNM

L: Thân leo hoặc bò

M: Thân cây mọng nước

H: Các dạng khác : dạng cau dừa, quyết thực vật

Nơi sống

1 Cỏc bói bựn đang hình thành, phần lớn thời gian ngập nước, khi nổi lên còn chịu nhiều tác động của sóng biển

2 Vùng đất ngập triều tự nhiên đều đặn

3 Vùng đất cao, hay ven bờ đầm, nơi thường chịu hoặc ít chịu tác động của thủy triều

4 Vùng đất cao ở sườn đê chịu mặn của gió biển hoặc chịu tác động của các đợt triều cường

5 Vùng đất ngập triều đều đặn tự nhiên ở ven các lạch sông

6 Trong các đầm nuôi thủy sản

Trang 28

đầu chúng tôi mới khảo sát ở mỗi xã từ 2 đến 3 vệt cắt từ đê ra phía biển nên chúng tôi mới tìm thấy 40 loài thuộc 29 họ đã đưa ra ở bảng 2 Do giới hạn đề tài và không có đủ tài liệu để tra cứu nên một số loài sau chúng tôi vẫn chưa xác định được tên:

Trang 30

Ảnh 1, 2 Cây, hoa, quả của loài thực vật ngập chưa định được tên (1)

Trang 31

Ảnh 3 Cành mang hoa của loài thực Ảnh 4 Cành mang quả của loài thực

vật ngập chưa định được tên (2) vật ngập chưa định được tên (3)

Các loài trong quần xã trồng phi lao chúng tôi chưa có điều kiện xác định thành phần loài

Trong tổng số các loài tìm thấy có 19 loài thuộc lớp hai lá mầm (Chiếm 47,5% tổng số loài), ngành Dương xỉ có số loài ít nhất 1 loài chiếm 4% Từ kết quả này chúng tôi thấy rằng số lượng loài cây ngập mặn của huyện Hải Hà so với tỉnh Quảng Ninh là có 36 loài thuộc 24 họ (Ban quản lý vịnh Hạ Long, 1997) (Theo Trần Thị Bình, 2002) [2] là khá phong phú

Thành phần và tỉ lệ % các loài thực vật tìm thấy ở RNM Hải Hà thể hiện ở

Trang 33

Hình 3 Biểu đồ tỷ lệ các loài thực vật tìm thấy trong vùng RNM huyện Hải Hà (%).

Trong số các loài cây tìm thấy có 10 loài cây ngập mặn chính thức 30 loài tham gia rừng ngập mặn Do cũn hạn chế về điều kiện và thời gian nên chúng tôi chưa nghiên cứu được các loài cây ở trong nội địa phát tán ra vùngven biển, bờ đầm

Các loài cây ngập mặn chính thức có kích thước không lớn do biên độ

nhiệt cao và thể nền chủ yếu là cát bột lẫn sỏi ví dụ: Trang (Kandelia obovata)

tự nhiên có đường kớnh trung bình là 7,6cm, chiều cao trung bình là 2,26m trong khi đó trang mọc tự nhiên ở Thái Thụy, Thái Bình cò đường kớnh thõn trung bình là 10,4cm chiều cao trung bình là 2,52m (Nguyễn Thị Kim Cúc, 2002) [4] Các loài ưu thế là mắm hoặc sú do chúng là loài tiên phong cố định bói lầy hơn nữa chúng có khả năng thích nghi tốt hơn với độ mặn cao do có tuyến tiết muối thừa

Theo sự phân chia RNM thành các khu vực và tiểu khu thì Hải Hà thuộc khu vực I và nằm trong tiểu khu 1 từ Múng Cỏi đến Cửa Ông (P.N.Hồng,1999)

Trang 34

[14] Hệ thực vật ở đây mang những nét chung của khu vực là quần xã mắm biển mọc thuần loại hoặc lẫn sú nơi bãi mới bồi, ở bãi ngập triều trung bình có quần xã hỗn hợp gồm các loài đõng, trang, vẹt dù với các loài chủ yếu là sú và

mắm biển, nơi ngập triều cao có quần xã ưu thế là giá (Excoecaria agallocha

L)., cóc vàng (Lumnitzera racemosa (Gaud)), trên các bờ đầm chủ yếu là tra (Hibiscus tiliaceus L.), tra biển (Thespesia populnea (L.) Soland), vạng hôi (Clerodendron inerme (L.), hếp (Scaevula taccada (Gaentn.) Robx).

Ở bốn xã chúng tôi nghiên cứu có các cửa sông như sau: Mã Ham, Hà Cối, Pồ Lồ, Đường Hoa và sông Cái Đá Bàn, đõy đều là những con sông nhỏ, cửa sông hình phễu, độ dốc lớn, các bói bồi cửa sông nhiều sỏi đá lượng phù sa

ít, chủ yếu nước và phù sa có nhiều vào mùa lũ nên hệ thực vật ở các của sông này nghèo nàn hơn các vùng khác Ví dụ: ở cửa Ba Lạt huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đất chủ yếu do phù sa lắng đọng nên hệ thực vật phong phú có thực

vật ưu thế là các loài trang, sú và bần chua (Sonneratia caseolaris) (P.N.Hồng

và cs, 2004) [15] Hệ thực vật ở các cửa sông của huyện Hải Hà, tỉnh Quảng

Ninh chủ yếu là quần xã cỏ cáy (Sporobolus virginicus (L.) Keenth), ráng (Acrostichum aureum), những loài thực vật tiên phong RNM như mắm sú rất

ít , đặc biệt là những loài cõy nước lợ rất phổ biến ở các cửa sông khác của Thái

Bình, Nam Định như bần chua (Sonneratia caseolaris) và côi (Sciphiphora

hidrophirallacea) thì không thấy xuất hiện ở đõy

Qua khảo sát chúng tôi thấy dây cốc kèn (Deris heptaphilla) kém phát

triển, chỉ tìm thấy ở Quảng Phong còn cỏc xó khỏc không thấy Chúng leo dựa vào thân cây vẹt, ráng gần bờ đê (Ảnh 5)

Hệ thực vật phong phú nhất xã Quảng Phong và Tiến Tới nơi có thể nền chủ yếu là sét, mựn, cấp hạt mịn, một số nơi chưa bị người dõn chặt phá, đặc

biệt tìm thấy mây nước (Flagellaria indica) ở xã Tiến Tới mà cỏc xã còn lại

không thấy có Nơi chúng tôi tìm thấy mây nước đất trũng luôn ngập nước nhưng không ngập triều thường xuyên , các cá thể này chỉ tập trung ở rỡa đê

Trang 35

Tiến Tới Giá, tra làm chiếu mọc khá cao và xanh tốt, cú cõy giỏ cao tới 6 - 7m, quần hợp muối biển, ráng, ô rụ, mây nước, giá mọc lẫn nhau cú cõy muối biển cao tới 1m (Ảnh 6,7, 8)

Sau khi nghiên cứu và dựa vào bảng 3 chúng tôi có thể chia các dạng sống trong RNM thành 8 loại, thành phần và tỉ lệ được thể hiện ở bảng 5

Bảng 5 Các dạng sống của thực vật ngập mặn huyện Hải Hà, Quảng Ninh

Các loài cây gỗ chiếm 30% phần lớn là các loài cây ngập mặn chủ yếu như trang, đõng, vẹt dù và một số cây tham gia ngập mặn như giá, tra làm chiếu, tra lầm vồ, phi lao Kích thước thân cây gỗ ở đây nhỏ do biên độ nhiệt giữa cỏc mựa tương đối lớn, mùa đông lạnh, tỉ lệ mùn hữu cơ thấp Do độ mặn cao nên khả năng sinh trưởng và tái sinh của các cây con thấp Nghiên cứu này của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của P.N.Hồng, 1991 [12]

Các loài cây bụi chiếm 7,5%, các loài cây bụi chủ yếu là các loài thuộc họ

Cỏ roi ngựa, hếp, cây bụi thường mọc ven bờ đầm tôm và ven cửa sông

Cõy thân cỏ chiếm tỉ lệ 10% trong đó chủ yếu là các loài thuộc họ Lúa (Poaceae), họ Cói (Cyperaceae) gặp ở bãi triều ven đê và ven bờ đầm

Dây leo chỉ gặp 4 loài, Dương xỉ chỉ có 1 loài chiếm tỉ lệ thấp nhất trong tổng số loài tìm thấy

Nói chung thành phần loài thực vật ngập mặn của huyện Hải Hà tương đối đa dạng nhưng vẫn nghèo nàn so với toàn tỉnh và các tỉnh ven biển khác như Thái Bình, Nam Định thì thành phần loài ít hơn do độ mặn lớn trung bình 21-

Trang 36

22‰, vào mùa khô lên tới 32‰ trong khi đó RNM phát triển tốt nhất ở nơi có nồng độ muối trong nước 10-25‰ kích thước cây và số loài cũng giảm đi khi độ mặn cao (40-80‰) (Blasco, 1984) [36] và chưa có sự bảo vệ, phát triển mặc dù

đó cú một số chiến dịch trồng lại rừng ở Hải Hà nhưng chưa đem lại kết quả cao

để tạc tượng rất đẹp Lá và sọ quả dừa nước cũng được dùng làm đồ mĩ nghệ.(P.N.Hồng và cs, 2007) [13] Vẹt dù ở Hải Hà có cõy cao tới 5m đường kớnh 22cm tuy nhiên số lượng rất ít, để khai thác được các giá trị này thì cần có biện pháp phát triển các cõy ngập mặn ở đõy

RNM cung cấp tanin: Tanin chiết từ vỏ của cây đước, vẹt, trang, sú có chất lượng tốt dùng để nhuộm vải, lưới, thuộc da Trụ mầm của cỏc cõy trong họ Đước cũng chứa nhiều tanin Nhân dân ven biển Hải Hà trước đây đã khai thác tanin từ vỏ cõy và trụ mầm các loại cõy này để làm thuốc chữa bệnh tiêu chảy

và nhuộm lưới

CNM là có thể làm nguồn chất đốt, người dân vùng ven biển Hải Hà có thể bẻ cành khụ, góy làm cuỉ đun Than đước, vẹt có nhiệt lượng cao, lâu tàn được nhân dân các thành phố và thị trường thế giới ưa chuộng

RNM cung cấp thức ăn, đồ uống, thuốc chữa bệnh: Hầu hết lỏ cỏc loài cây ngập mặn là thức ăn giàu đạm cho gia súc Quả mắm nhiều đạm, có thể muối dưa, là thức ăn của cá Nhiều loài cây ngập mặn là những cây thuốc dân gian có giá trị.Hiện nay đã điều tra được 15 loài cây ngập mặn ở nước ta có thể

Trang 37

dùng để làm thuốc (P.N.Hồng và cs, 2007) [13] Vỏ và lá của sú dựng để nấu nước súc miệng chữa bướu cổ Thõn, lỏ rỏng sắc uống sát trùng trừ giun sán và cầm máu, cuống lá khô dùng làm chổi, đan làn xách tay (Nguyễn Đỡnh Qỳy, 2002) [27] Trước đõy người dõn Hải Hà dùng quả mắm để muối dưa ăn và dùng quả tươi về cho cá ăn nhưng hiện nay thì chúng tôi không thấy người dõn

sử dụng nữa vì nguồn thực phẩm hiện nay đã khá phong phú

RNM là nơi cung cấp mựn bó hữu cơ do cành, lá hoa, quả rụng xuống, được các vi sinh vật phân hủy làm thức ăn cho nhiều loài động vật vùng triều, đặc biệt là nhóm hải sản có giá trị kinh tế cao như: Tôm he, cua biển, sò, ốc, cá bớp, cá thủ vàng Vì thế, nghề đánh bắt hải sản ven bờ phụ thuộc rất nhiều vào RNM, mất RNM thì nguồn hải sản cũng mất dần (Theo P.N.Hồng và cs, 2007) [13]

RNM không những cung cấp các nguồn lợi về kinh tế như trên mà nó cũn

có tác dụng gián tiếp như điều hòa khí hậu, chống xói mòn, bảo vệ bờ biển, bờ sông tránh gió bão, mở rộng đất liền, hạn chế lũ lụt Đối với RNM vùng cửa sông, nơi bị tác động của giú, súng, những tác dụng này có ý nghĩa rất quan trọng (Theo P.N.Hồng và cs, 2007) [13] Hải Hà nằm trong vùng vịnh kín gió được che chắn bên ngoài bởi cỏc dãy đảo Cỏi Chiờn, Vĩnh Thực nên ít bị ảnh hưởng của gió bóo lớn Điều kiện này kết hợp với vành đai RNM liên tục và xanh tốt nữa thì Hải Hà sẽ là nơi an toàn cao về mặt sinh thái, chống thiên tai, ổn định cho chiến lược phát triển kinh tế trong tương lai

RNM Hải Hà có vai trò to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế và bảo

vệ môi trường ven biển Nhưng do chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của RNM

và những giá trị kinh tế của cây ngập mặn ở huyện Hải Hà nên người dõn chưa

có ý thức bảo vệ Qua khảo sát thực tế và tìm hiểu công dụng, giá trị của các loài cây ngập mặn Hải Hà, chúng tôi nêu một số giá trị chính của chúng, thể hiện ở bảng sau:

Trang 38

Bảng 6.Giá trị của các loài thực vật ngập mặn huyện Hải Hà

ST

T (Ngành/Họ/Tờn latinh)Tên khoa học (Ngành/Họ/Tờn Tên Việt Nam

Công dụng Làm

thuốc Lấy gỗ,

củi

Thực phẩm ăn gia Thức

súc

Bảo vệ đờ,chắn súng,giú

Làm cảnh Lấy mật,sợi

làm thủ công

Lấy tanin xanh,Phân

cải tạo đất

1 Acrostichum aureum Ráng biển + + + +

2 Acanthus ilicifolius L. ễrụ + + +

3 Sesuvium porlulacastum Sam biển + + +

4 Annona glabra L. Na biển + + + +

5 Centella asiatica L Cây rau má + +

6 Plucchea pteropoda Hemsl Sài hồ nam, cỏ

lức

7 Plucchea indica (L.) Lees Cúc tần + +

8 Wedelia biflora (L.) DC Cúc hai hoa + + +

9 Avicennia lanata Ride. Mắm quăn + + + + +

10 Avicennia marina (Forsk )

11 Lumnitzera racemosa (Gaud) Cóc vàng + +

12 Casuarina esqsetifoloa J.R

13 Suaeda maritima (L.) Dum Muối biển + + + +

14 Impomoea pes-caprae (L.) Br Muống biển + + + +

15 Excoecaria agallocha L. Gớa + +

16 Canavalia obtusifolia (L.) DC. Đậu cộ + + +

17 Deris heptaphilla (L.) Merr Cốc kèn + + +

18 Scaevula taccada (Gaentn.)

Robx

19 Hibiscus tiliaceus L. Tra làm chiếu + + + +

20 Thespesia populnea (L.) Soland Tra lâm vồ, Tra

21 Aegiceras corniculatum (L.)

Blanco

Ngày đăng: 19/05/2015, 16:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Thị Bình, 2000. Nghiên cứu sự phân bố và sinh trưởng của hai loài cây mắm biển (Avicennia marina (Forsk.) Vierh.) và mắm quăn (Avicennia lanata Ridl.) mọc tự nhiên ở vùng ven biển Quảng Ninh. Luận văn thạc sĩ khoa học sinh học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Avicennia marina" (Forsk.) Vierh.) và mắm quăn ("Avicennia lanata
8. Hoàng Thị Hà, 2000. Nghiên cứu tăng trưởng, biến động số lượng cá thể và cấu trúc tuổi của hai quần thể cây trang ( Kandelia candel (L.) Druce) tái sinh tự nhiên trên nền đất khác nhau ở vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kandelia candel
10. Nguyễn Thị Mỹ Hằng, Phan Nguyên Hồng, 1995. Tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đối với một số loài trong họ đước (Rhizophoraceae) trồng thí nghiệm trong tuyển tập hội thảo khoa học : “Phục hồi và quản lí hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam”. Đồ Sơn, 08-10/10/95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi và quản lí hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam
22. Lê Vu Lan, 1998. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng tái sinh và phát tán của cây trang (Kandelia candel) trồng tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Luận văn thạc sĩ sinh học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kandelia candel
33. Mai Sỹ Tuấn, 1980. Bước đầu tìm hiểu đặc điểm sinh thái các loài thuộc chi mắm (Avicennia) tại một số vùng ven biển Việt Nam. Luận văn cấp I. ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Avicennia
34. Mai Sỹ Tuấn, 1995. Phản ứng sinh lý, sinh thái của cây mắm con (Avicennia marina) mọc ở các độ mặn khác nhau. Tuyển tập Hội thảo khoa học: “Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặnViệt Nam”. Đồ Sơn, Hải Phòng 10/95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Avicennia marina") mọc ở các độ mặn khác nhau. Tuyển tập Hội thảo khoa học: “Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặnViệt Nam
35. Lê Xuân Tuấn, 1995. Ảnh hưởng của độ mặn (NaCl) đối với sự nảy mầm, sinh trưởng của bần chua trong điều kiện thí nghiệm. Trong tuyển tập Hội thảo khoa học: “Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam”. Đồ Sơn, Hải Phũng thỏng 10/1995.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam
1. Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, 2004. Tìm hiểu một số đặc điểm cấu tạo thích nghi cơ quan sinh dưỡng của một số loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam. Luận văn tốt nghiệp đại học Khác
3. Lương Thị Kim Cúc, 2004. Bước đầu nghiên cứu khả năng tăng trưởng của trang và đưng khi di thực từ Cần Giờ - TPHCM trồng trên vườn thực nghiệm xã Giao Lạc - Giao Thủy - Nam Định. Luận văn tốt nghiệp Khác
4. Nguyễn Thị Kim Cúc, 2002. Nghiên cứu xã hội thảm thực vật ngập mặn xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Luận văn thạc sĩ khoa học sinh học Khác
5. Nguyễn Đức Cự, 1993. Các đặc điểm địa hóa trầm tích bãi triều vùng cửa sông ven biển Hải Phòng - Quảng Yên. Luận án phó tiến sĩ địa hóa khoáng vật Khác
6. Dự thảo quy hoạch nuôi trồng thủy sản mặn lợ huyện Hải Hà giai đoạn 2006- 2010, 2005. Phòng nông lâm ngư nghiệp huyện Hải Hà Khác
7. Phùng Ngọc Đĩnh, Nguyễn Văn Âu, Phan Khánh, Hoàng Ngọc Oanh, 2001. Thực hành ngoài trời các thành phần tự nhiên. Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Khác
9. Nguyễn Thị Thúy Hà, 2001. Bước đầu điều tra và nghiên cứu cây làm cảnh Khác
11. Phan Nguyên Hồng,1970. Đặc điểm sinh thái và phân bố của hệ thực vật và thảm thực vật ven biển miền Bắc Việt Nam. Luận văn phó tiến sỹ sinh học Khác
12. Phan Nguyên Hồng,1991. Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam. Luận án tiến sỹ khoa học sinh học Khác
13. Phan Nguyên Hồng, Trần Văn Ba, Hoàng Thị Sàn, Lê Thị Trễ, Nguyễn Hoàng Trí, Mai Sỹ Tuấn, Lờ Xuõn Tuấn, 1997. Vai trò của rừng ngập mặn Việt Nam (kỹ thuật trồng và chăm sóc). Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Khác
14. Phan Nguyên Hồng, 1999. Rừng ngập mặn Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Khác
15. Phan Nguyên Hồng (chủ biên), 2004. Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng (đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế - xã hội – quản lý và giáo dục. NXB Nông nghiệp Khác
16. Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Thu Huệ, Lờ Xuõn Tuấn, Nguyễn Hữu Thọ, Vũ Đỡnh Thỏi, 2007.Cuộc hành trình xuyên suốt rừng ngập mặn Việt Nam qua hình, ảnh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ khu vực cỏc xó ven biển huyện Hải Hà Hải Hà là huyện miền núi, biên giới và hải đảo cách thành phố Hạ Long - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Hình 1. Bản đồ khu vực cỏc xó ven biển huyện Hải Hà Hải Hà là huyện miền núi, biên giới và hải đảo cách thành phố Hạ Long (Trang 16)
Bảng 3. Danh mục các loài cây ngập mặn tại bốn xã ven biển huyện Hải Hà, tỉnh  Quảng Ninh. - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3. Danh mục các loài cây ngập mặn tại bốn xã ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh (Trang 25)
Bảng sau: - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng sau (Trang 32)
Bảng 6.Giá trị của các loài thực vật ngập mặn huyện Hải Hà - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 6. Giá trị của các loài thực vật ngập mặn huyện Hải Hà (Trang 38)
Bảng 7. Các nhóm thực vật có giá trị ở vùng RNM Hải Hà. - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 7. Các nhóm thực vật có giá trị ở vùng RNM Hải Hà (Trang 40)
Bảng 9. Phân bố theo chiều cao và đường kính cây trong RNM tự nhiên xã  Quảng Thành. - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 9. Phân bố theo chiều cao và đường kính cây trong RNM tự nhiên xã Quảng Thành (Trang 45)
Bảng 11. Phân bố theo chiều cao và đường kính cây trong RNM tự nhiên - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 11. Phân bố theo chiều cao và đường kính cây trong RNM tự nhiên (Trang 49)
Bảng 12. Số lượng cây con tái sinh tại RNM xã Quảng Phong. - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 12. Số lượng cây con tái sinh tại RNM xã Quảng Phong (Trang 53)
Bảng 14. Nhận thức của người dân ven biển về vai trò của RNM - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 14. Nhận thức của người dân ven biển về vai trò của RNM (Trang 59)
Bảng 16. Hiểu biết của người dân ven biển về RNM. - Nghiên  cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 16. Hiểu biết của người dân ven biển về RNM (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w